Thứ Năm, 5 tháng 1, 2023
VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG ĐỘC LẬP, TỰ VỆ, VÌ HÒA BÌNH, BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Đoàn Khối Doanh nghiệp TƯ thực hiện nhiều hoạt động tình nguyện ý nghĩa
(ĐCSVN) – Trong năm 2022, tuổi trẻ Khối Doanh nghiệp Trung ương đã triển khai nhiều các hoạt động tình nguyện ý nghĩa với tổng trị giá hơn 67,4 tỷ đồng… Đồng thời, hiến hơn 11.280 đơn vị máu; tham gia tổ chức trồng mới hơn 550.000 cây xanh; xây dựng được 402 ngôi nhà yêu thương; hỗ trợ hơn 11.200 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
Chiều 05/01, tại Hà Nội, Đoàn Khối Doanh nghiệp Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2023. Đồng chí Hồ Xuân Trường, Phó Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương và đồng chí Nguyễn Tường Lâm, Bí thư Trung ương Đoàn đã tới dự.
Chia sẻ tại Hội nghị, đồng chí Hoàng Thị Minh Thu, Bí thư Đoàn Khối Doanh nghiệp Trung ương cho biết, trong năm 2022, công tác Đoàn và phong trào thanh niên Khối Doanh nghiệp Trung ương có nhiều đổi mới, đã đi vào chiều sâu, có sức lan tỏa và đạt nhiều kết quả đáng khích lệ góp phần tích cực vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương.
Tiêu biểu, công tác tuyên truyền, giáo dục của Đoàn đã được triển khai toàn diện, với nhiều nội dung đổi mới, sáng tạo, đặc biệt là công tác giáo dục truyền thống đã góp phần bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, niềm tin và lòng tự hào dân tộc cho thanh niên.
Đặc biệt, các phong trào hành động cách mạng của Đoàn được triển khai thiết thực, phù hợp với đặc thù của thanh niên trong Khối, khơi dậy và phát huy vai trò sáng tạo, tinh thần xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ, động viên thanh niên tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng doanh nghiệp phát triển bền vững.
Cụ thể, trong phong trào “Thanh niên xung kích đổi mới, sáng tạo nâng cao năng suất, hiệu quả Doanh nghiệp” được triển khai có hiệu quả, các cấp bộ Đoàn trong Khối đã đăng ký, đảm nhận thực hiện 4.447 công trình thanh niên, tổ chức gắn biển 1.281 công trình thanh niên các cấp chào mừng Đại hội Đoàn Khối Doanh nghiệp Trung ương lần thứ IV, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022 – 2027.
Bí thư Đoàn Khối Doanh nghiệp Trung ương chia sẻ, hoạt động tiêu biểu nhất trong các phong trào của tuổi trẻ Khối Doanh nghiệp Trung ương là đã đảm nhận thực hiện hơn 3.000 đề án nghiên cứu khoa học, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong lao động sản xuất, làm lợi cho doanh nghiệp gần 216 tỷ đồng.
Cùng với đó, trong năm qua, tuổi trẻ Khối Doanh nghiệp Trung ương đã đi khắp mọi miền đất nước, từ miền núi tới hải đảo, từ vùng sâu, vùng xa, nơi còn khó khăn để chung tay, giúp đỡ triển khai nhiều hoạt động tình nguyện ý nghĩa với tổng trị giá hơn 67,4 tỷ đồng… Đồng thời, tuổi trẻ trong Khối đã hiến hơn 11.280 đơn vị máu; tham gia tổ chức trồng mới hơn 550.000 cây xanh; xây dựng được 402 ngôi nhà yêu thương; hỗ trợ hơn 11.200 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
Những kết quả trên đã góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương. Từ thực tiễn hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh niên đã xuất hiện những tấm gương sáng trong học tập, lao động sáng tạo, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và đất nước. Nhiều tập thể, cá nhân và tổ chức Đoàn từ cấp cơ sở đến cấp Đoàn Khối vinh dự được đón nhận những phần thưởng cao quý của Trung ương Đoàn và Đoàn Khối. Thông qua các phong trào hành động cách mạng, Đoàn Khối đã phát hiện đoàn viên ưu tú và đã giới thiệu hơn 4.700 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp, trong đó 1.831 đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng.
Với những đóng góp của tuổi trẻ trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm 2022, nhân dịp này, Ban Thường vụ Đoàn Khối đã tặng Cờ thi đua xuất sắc cho 16 tổ chức Đoàn trực thuộc, trong đó Đoàn Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam là đơn vị xuất sắc dẫn đầu; Ban Thường vụ Đoàn Khối cũng tặng Bằng khen cho 18 tập thể tiên tiến trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm 2022./.
Đẩy mạnh tuyên truyền về xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng thời kỳ mới
(ĐCSVN) - Trong khuôn khổ buổi gặp mặt, Ban Tổ chức đã trao tặng Bằng khen cho 17 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền báo chí về các hoạt động của Tổng cục công nghiệp quốc phòng (CNQP) năm 2022 đến từ các đơn vị báo chí: Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam...
Sáng 5/1, tại Hà Nội, Tổng cục CNQP đã tổ chức gặp mặt các cơ quan báo chí đầu năm 2023. Trung tướng Nguyễn Mạnh Hùng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Tổng cục CNQP chủ trì buổi gặp mặt.
Dự gặp mặt còn có các đồng chí: Thiếu tướng Lương Thanh Chương, Ủy viên Thường vụ, Phó Chủ nhiệm, Tổng tham mưu trưởng Tổng cục CNQP; Thiếu tướng Nguyễn Việt Hùng, Ủy viên Thường vụ, Phó Chính ủy Tổng cục CNQP; Đại tá Lê Ngọc Thân, Ủy viên Thường vụ, Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục CNQP cùng đông đảo đại diện các cơ quan báo chí Trung ương, Hà Nội, báo chí quân đội tham dự. Buổi gặp mặt được tổ chức trong không khí vui tươi, phấn khởi chào đón năm mới 2023 và hướng tới chuẩn bị đón Tết cổ truyền Xuân Quý Mão.
Phát biểu tại sự kiện, Trung tướng Nguyễn Mạnh Hùng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Tổng cục CNQP khẳng định, đây là dịp quan trọng để đánh giá lại kết quả công tác tuyên truyền báo chí trong năm 2022, định hướng công tác tuyên truyền năm 2023; đồng thời thể hiện sự trân trọng, ghi nhận và cảm ơn những nỗ lực của các cơ quan báo chí đã đồng hành cùng Tổng cục CNQP trong suốt một năm qua, nhất là không ngừng quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất tuyên truyền về hoạt động của Tổng cục. Hệ thống báo chí trong và ngoài quân đội từ Trung ương xuống địa phương đã “hòa mình” cùng người lính quân giới, kịp thời đưa tin, phản ánh đậm nét mọi lĩnh vực hoạt động; từ đó, góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới cán bộ, chiến sỹ toàn quân và nhân dân cả nước về những chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng và phát triển CNQP trong giai đoạn mới, những thành tựu và sự kiện nổi bật nhất là trong hoạt động quân sự, quốc phòng, công tác đối ngoại, công tác chính trị cùng Tổng cục thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, chỉ tiêu trong năm 2022.
Báo cáo kết quả khái quát hoạt động của Tổng cục CNQP trong năm 2022, Đại tá Lê Ngọc Thân, Ủy viên Thường vụ, Chủ nhiệm Chính trị cũng đã khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của các đơn vị báo chí trong và ngoài quân đội từ Trung ương tới địa phương trong đồng hành cùng công tác của Tổng cục CNQP, góp phần tuyên truyền đậm nét về các hoạt động xây dựng, phát triển nền CNQP, an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội.
Trong khuôn khổ buổi gặp mặt, Ban Tổ chức trao tặng Bằng khen cho 17 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền báo chí về các hoạt động của Tổng cục CNQP năm 2022 đến từ các đơn vị báo chí: Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế…/.
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam
(ĐCSVN) - Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng. Những kết quả tích cực, toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội đã khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa; đồng thời là minh chứng sinh động, đập tan các âm mưu, luận điệu phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam.
Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước. Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn đan xen, song quá trình thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn.
Song với mục đích, động cơ đen tối, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại luôn tìm mọi cách để phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta. Thủ đoạn chúng thường thực hiện đó là lợi dụng những hạn chế, tiêu cực trong xã hội; những thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật ở từng bộ phận, địa phương, tổ chức, cá nhân, nhất là cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn của một bộ phận nhân dân, những người nghèo, vùng sâu, xa, biên giới, hải đảo; sự phân hóa, chênh lệch giàu nghèo… để xuyên tạc, chống phá. Chúng ra sức tuyên truyền luận điệu vu cáo Đảng, Nhà nước ta không quan tâm, chăm lo đến cuộc sống của người dân, thậm chí “bỏ mặc” nhân dân, chỉ chăm lo cho lợi ích của Đảng, lợi ích của cán bộ, đảng viên… Từ việc dựng lên một hình ảnh Việt Nam không có “dân chủ”, mất “công bằng”, các thế lực phản động, thù địch không ngừng kêu gọi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thực tiễn cho thấy, những luận điệu vô căn cứ nói trên xuất phát từ góc nhìn phiến diện, một chiều và động cơ chính trị đen tối của các thế lực thù địch, phản động. Cần khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó cũng chính là đường lối, chủ trương xuyên suốt của Đảng, hiện thực sinh động về tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta. Với việc khởi xướng công cuộc đổi mới, Đại hội VI (1986) đã đánh dấu bước đổi mới căn bản tư duy của Đảng ta về xây dựng CNXH, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam. Về bản chất, việc phát triển kinh tế trong CNXH đã hướng đến và bao hàm tiến bộ, công bằng xã hội. Tiến bộ, công bằng xã hội là mục tiêu hướng đến, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm để kinh tế phát triển lành mạnh. Như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”; “không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần” (1). Bám sát thực tiễn, Đảng ta đã kiên trì lãnh đạo thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển đất nước.
Đặc biệt, đến nay sau hơn 35 năm đổi mới, quá trình thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc gắn kết phát triển kinh tế với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đã được thực hiện có hiệu quả; tạo cơ sở kích thích, khơi dậy và phát huy tính tích cực, năng động của con người. Nhờ vậy, các giai tầng xã hội và các chủ thể kinh tế tự do, tự chủ đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi giảm từ 6,9% của năm 2001 xuống 3,22% năm 2021. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình trong 35 năm qua đạt khoảng 7%/năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng hơn 23 lần, từ 159 USD/năm (1985) lên 3.743 USD/năm (2021). Kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng từ 2,4 tỷ USD (1990) lên 660 tỷ USD (2021). Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật, được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều… Đây là cơ sở, điều kiện có tính quyết định để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trên phạm vi cả nước, an sinh xã hội được thực hiện ngày càng tốt hơn. Chính sách bảo trợ, hỗ trợ xã hội có nhiều tiến bộ. Riêng trong giai đoạn 2015 - 2020, cả nước đã hỗ trợ nhà ở cho 335,8 nghìn hộ người có công; hỗ trợ nhà ở cho hơn 181,4 nghìn hộ nghèo ở nông thôn và các vùng thường xuyên bị bão lụt; xây dựng hơn 6 triệu m2 nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại đô thị và công nhân các khu công nghiệp. Mới đây nhất, trong đại dịch COVID-19, Nhà nước dành nhiều nguồn lực, biện pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn, như giảm, giãn thuế, phí, lệ phí; giảm giá điện, nước, dịch vụ viễn thông; khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất tín dụng...
Nhất quán chủ trương thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt được nhiều thành tựu. Quy mô giáo dục phát triển, cơ sở vật chất được nâng cao, chất lượng đào tạo từng bước đáp ứng yêu cầu về nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho sự phát triển đất nước nhanh và bền vững. Số trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 chiếm 99%; số trẻ đi học và hoàn thành tiểu học sau 5 năm chiếm trên 92% (thuộc nhóm đầu của ASEAN). Hiện có 95% số người lớn biết đọc, biết viết; đã phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000, phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010. Hệ thống y tế được tổ chức đến tận cơ sở thôn, bản không những phát huy tốt hoạt động y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu mà trong nhiều lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật khám, điều trị, chữa bệnh đã đạt trình độ tiên tiến của thế giới, nhất là kỹ thuật ghép chi, ghép tạng và sản xuất vắc-xin... Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2021.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu nổi bật nêu trên, vẫn “có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa;... bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù” (2).
Khách quan nhìn nhận, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là vấn đề phức tạp; vừa phụ thuộc vào các điều kiện khách quan, nhất là trình độ kinh tế, vừa phục thuộc vào năng lực chủ quan của các chủ thể xã hội. Ở nước ta, chủ trương của Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội được triển khai thực hiện đồng bộ, thường xuyên đã tạo điều kiện để các giai cấp, tầng lớp nhân dân với đặc điểm, nhu cầu đa dạng, phong phú đều có cơ hội đóng góp cho đất nước; đồng thời, được thụ hưởng xứng đáng, phù hợp với thành quả phát triển từ các chính sách kinh tế, xã hội của đất nước.
Rõ ràng, với quan điểm xuyên suốt, nhất quán, Đảng và Nhà nước đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới. Những kết quả tích cực, toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội đã không chỉ khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa do Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng; mà còn là những minh chứng sinh động để đập tan các âm mưu, luận điệu phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam.
Mọi âm mưu, hành động xuyên tạc, phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua sẽ không thể đánh lừa được dư luận trong nước và quốc tế. Trực tiếp thụ hưởng thành quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, mọi người dân Việt Nam sẽ tiếp tục đoàn kết một lòng, hiện thực hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Tổng Bí thư: Tuyệt đối không chủ quan, thỏa mãn với những kết quả đã đạt được
Sáng 3/1, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị trực tuyến với 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm tổng kết công tác năm 2022 và triển khai Kết luận của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội Khóa XV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023.
Việt Nam là điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu
Nhìn về tổng thể, năm 2022 nhờ có quyết tâm cao và sự nỗ lực phấn đấu, đóng góp to lớn, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã thực hiện thắng lợi, khá toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ: Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả. Đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức 14/15 chỉ tiêu kế hoạch đề ra (chỉ còn 1 chỉ tiêu về tốc độ tăng năng suất lao động xã hội là không đạt được). Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định, Việt Nam là điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, trong bối cảnh tình hình kinh tế, thương mại toàn cầu suy giảm và gặp nhiều rủi ro, kinh tế nước ta vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh, đạt 8%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6 - 6,5% và là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Thu ngân sách nhà nước tăng 14% so với năm 2021; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 11,5% so với năm trước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức kỷ lục 732 tỉ USD, tăng 10% so với năm 2021. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát ở mức 3,15% so với cùng kỳ; các cân đối lớn của nền kinh tế nhìn chung được bảo đảm; thị trường tài chính - tiền tệ vẫn cơ bản ổn định...
Đặc biệt, Chính phủ và Ban Kinh tế Trung ương đã chủ động, tích cực chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổng kết lý luận và thực tiễn, xây dựng trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành các nghị quyết mới về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở toàn bộ 6 Vùng kinh tế - xã hội của cả nước.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được quan tâm chăm lo, đầu tư phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng, rõ nét; các cấp, các ngành và toàn hệ thống chính trị ngày càng nhận thức đúng đắn hơn và hành động tích cực hơn đối với vấn đề phát triển văn hóa, xã hội. Đã kiểm soát có hiệu quả đại dịch COVID-19 và các dịch bệnh khác cũng như nguy cơ "dịch chồng dịch", tạo cơ sở quan trọng cho việc mở cửa, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện.
Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả và đạt nhiều kết quả quan trọng, được xem là một điểm sáng trong năm vừa qua.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh, tăng cường, kế thừa, phát huy tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã đạt được trong thời gian qua, nhất là từ đầu nhiệm kỳ đến nay; kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn hơn giữa "xây" và "chống". Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tiếp tục được triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, bài bản, đi vào chiều sâu, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đã tạo ra sức răn đe, cảnh tỉnh rất lớn. Tham nhũng, tiêu cực từng bước được kiểm soát, đẩy lùi; nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng, nhất là các vụ án lớn, nghiêm trọng tiếp tục được phát hiện, điều tra, tiến hành khởi tố, truy tố, xét xử nghiêm minh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao, đồng tình ủng hộ...
Trong năm 2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã kịp thời ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị...
Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương và chân thành cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng các doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên và đồng bào, chiến sĩ cả nước về những kết quả, thành tích và những nỗ lực phấn đấu, đóng góp to lớn.
Tiếp tục đoàn kết với quyết tâm, nỗ lực cao hơn nữa
Nhấn mạnh trong năm 2023 là năm thứ ba, năm bản lề, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trung ương Đảng đã có Kết luận, Quốc hội đã có Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó xác định rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ cho năm 2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, cần chủ động đối với mọi tình huống, đặc biệt là những khó khăn, thách thức mới phát sinh; tuyệt đối không chủ quan, thỏa mãn với những kết quả, thành tích đã đạt được, vì mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ đề ra cho năm 2023 và cả nhiệm kỳ khóa XIII là rất cao, trong khi đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức lớn.
Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 - biểu hiện sinh động về vấn đề “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”
Giải pháp đấu tranh, ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong nội bộ
Để đấu tranh ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị - tư tưởng trong nội bộ Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ đảng viên, nhất là đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức. Quán triệt tinh thần đổi mới của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII và Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng, cần tập trung đổi mới nội dung giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Đồng thời, đổi mới nội dung tuyên truyền, giáo dục nhiệm vụ chính trị, quán triệt nghị quyết của Đảng cần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn của đường lối, chính sách, nhiệm vụ của đất nước, bộ, ngành, địa phương và mỗi cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở đó xác định chính xác những nội dung, nhiệm vụ mà mỗi tổ chức, từng cá nhân cần nắm vững và thực hiện để góp phần thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và lấy nội dung nhiệm vụ chính trị làm cơ sở để đấu tranh với những nhận thức sai trái, mơ hồ, thiếu trách nhiệm trong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Hai là, các cấp ủy đảng cần tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tổ chức thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác quản lý cán bộ, đảng viên, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái ngay từ khi mới xuất hiện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phát huy tính chủ động, tích cực tự tu dưỡng, tự rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đây là giải pháp trực tiếp quyết định đến nâng cao năng lực đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.
Ba là, đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong các tổ chức Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”. Nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, đổi mới và tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; tăng cường, chủ động nắm bắt tình hình, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh, chấn chỉnh các mặt hạn chế, yếu kém; đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên một cách thực chất; cụ thể, lượng hóa tiêu chí đánh giá phù hợp với từng loại hình tổ chức Đảng. Các cấp ủy, tổ chức Đảng và đảng viên cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, tầm quan trọng của đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng để từ đó đề ra các giải pháp xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với thực hiện các giải pháp khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình.
Bốn là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có tính định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân về những vấn đề kinh tế, chính trị, đối ngoại… quan trọng của đất nước; chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là với những cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cần kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục đạo đức trong Đảng và trong xã hội với tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên.
Tăng cường kỷ luật, công khai, minh bạch, dân chủ trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí và quản lý cán bộ, bảo đảm lựa chọn đúng người có đức, có tài vào bộ máy và cơ quan lãnh đạo các cấp; tạo môi trường xã hội, thể chế kinh tế lành mạnh, văn minh, khoa học để cán bộ, đảng viên không có điều kiện sa vào những tiêu cực, vi phạm đạo đức. Chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hoạt động chống phá và xâm nhập trái phép của các thế lực thù địch.
Năm là, giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, “lợi ích nhóm”; tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng ngày càng hợp lý, có hiệu quả.
Sáu là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng mạnh về mọi mặt là chính, nhất là giữ vững ổn định chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại. Chăm lo xây dựng nhân tố con người, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trước những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao “sức đề kháng” của cán bộ, đảng viên trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, hội nhập. Đây là biện pháp tốt nhất, tích cực, chủ động nhất để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.
Công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bên cạnh những thuận lợi cũng còn nhiều khó khăn, phức tạp, lại chịu sự tác động của nhiều yếu tố tiêu cực, nếu mỗi cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh chính trị, xa rời mục đích, lý tưởng, sa sút về phẩm chất đạo đức sẽ dễ bị cuốn vào vòng xoáy của lợi ích cá nhân, bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc, đi đến phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Vì vậy, muốn phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tự thân cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức, bản lĩnh vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng, bộ máy nhà nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
Nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và cán bộ, đảng viên
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là xu hướng chính trị tiêu cực, phản cách mạng, xa rời mục tiêu, lý tưởng, định hướng chính trị; dao động, mơ hồ, mất phương hướng, thực chất là sự biến đổi về tư tưởng chính trị theo chiều hướng xấu dần, từng bước xa rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng hiện nay sẽ góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi và đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống.
Khái niệm “tự diễn biến” dùng để chỉ quá trình tự vận động của sự vật, hiện tượng; là quá trình tự biến đổi bên trong của sự vật theo một chiều hướng nhất định. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng ta, “tự diễn biến” được hiểu là sự suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Thuật ngữ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng đánh dấu bước chuyển trong tư duy của Đảng về sự nhận diện một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ chính trị ở nước ta.
Khái niệm “tự chuyển hóa” dùng để chỉ quá trình tự biến đổi của sự vật, hiện tượng sang một cấu trúc, một dạng tồn tại, một chất mới. Trong các văn kiện của Đảng ta, “tự chuyển hóa” được sử dụng theo nghĩa là sự biến đổi về lập trường, quan điểm, tư tưởng, thái độ, hành vi, lối sống của cán bộ, đảng viên theo hướng đối lập với trạng thái ban đầu. Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu “tự chuyển hóa” là hệ quả tất yếu, sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến”, là quá trình biến đổi về chất các quan điểm, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một tổ chức và cá nhân. “Tự chuyển hóa” chính là quá trình thay đổi về chất trong quan điểm, tư tưởng, phẩm chất và hành động của chủ thể. Đây là cấp độ cao hơn của quá trình “tự diễn biến” biểu hiện sự thay đổi về chất của quan điểm chính trị, đạo đức, lối sống khiến cho mỗi cá nhân không còn là chính mình, chẳng những đánh mất vai trò tiên phong, gương mẫu mà có khi trở thành phản bội, chống lại Đảng và Nhà nước, thậm chí chuyển sang hàng ngũ kẻ thù.
Theo nghĩa đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình thay đổi từ bên trong của mỗi chủ thể theo chiều hướng xấu, từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ… nếu không ngăn chặn hiệu quả, khắc phục kịp thời sẽ dẫn đến tha hóa, biến chất. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên thì “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một quá trình tự vận động, thay đổi từ nhận thức đến hành động của chủ thể, từ lựa chọn chế độ XHCN sang lựa chọn chế độ tư bản chủ nghĩa. Quá trình này chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó nhân tố chủ quan là chủ yếu. Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều dẫn đến các mục tiêu, kết quả như: phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tế trong những năm qua cho thấy bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu thì công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ được giao. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn xảy ra, trong đó tập trung vào số đảng viên có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước. Nhiều tổ chức, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nguyên nhân của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài. Sự chống phá quyết liệt, nhất là hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.
Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XI của Đảng đánh giá: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”(1). Vấn đề đặt ra hiện nay là phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên, củng cố niềm tin của đảng viên và của Nhân dân đối với Đảng. Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng một lần nữa chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức”(2).
Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đây không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị thường xuyên nhằm quán triệt, triển khai nghị quyết của Trung ương mà còn có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt như một đợt “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(3).
.jpg)