Không gian mạng có đặc điểm là dung lượng thông tin lớn, tốc độ
truyền tải nhanh, vừa có độ bao phủ rộng khắp, vừa tương tác thông tin mạnh,
tức thời. Trong thời đại internet thì mỗi một người chính là một IP; trong thời đại internet vạn vật thì mỗi một vật phẩm là
một IP; trong thời đại trí tuệ nhân tạo thì mỗi một người máy cũng là một IP.
Sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ liên tục những ranh giới, những
biên giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính
liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều
và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực
của con người ngày càng nhiều, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng
nhanh, chính vì vậy nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý
luận ở Việt Nam hiện nay.
Một là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận
với thực tiễn trên không gian mạng.
Không ngừng nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực
tiễn cụ thể, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút và khái quát lý
luận là yêu cầu đầu tiên, là nhiệm vụ căn bản. Trận địa tư tưởng cần vũ khí
quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không
phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của
cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra
hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian
mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn
là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không
có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng,
không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền
tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trong trận địa tư
tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không
liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và
quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện
nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư
tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy
mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng
dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không
thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên
mặt trận trực tuyến.
Hai là,
lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên địa hạt
không gian mạng.
Dù trong tình huống nào đi nữa, nhất là trên không gian mạng,
chúng ta càng cần phải tuân thủ nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, nghĩa là chúng ta
cần cần có sự ủng hộ của những người quản trị , người điều hành , người điều
tiết, người gây ảnh hưởng ,… cũng như của toàn thể cư dân mạng. Chúng ta cần
phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần
chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực
tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên
tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân
thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta.
Định hướng tư tưởng bằng công tác lý luận không thể tách rời việc
xây dựng đội ngũ những người làm công tác lý luận. Định hướng tư tưởng, lãnh
đạo dư luận bằng chuyên gia và học giả là xu thế tất yếu. Mối quan hệ biện
chứng giữa “xây” và “chống” chính là thể hiện ở đây. Những người làm công tác
tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đòi hỏi phải có tầm cao của tư tưởng, độ
sắc nét của các nhận định, đánh giá và độ vững chắc của lý luận. Giống như Bác
Hồ trước đây nói ai cũng hiểu, ai cũng thấm thía, những người làm công tác tư
tưởng, lý luận cũng phải học theo phương pháp diễn ngôn đó. Nói một cách hình
ảnh, lý luận không chỉ như một món ăn cầu kỳ dành cho khách sành ăn trong nhà
hàng sang trọng, mà cần thiết hơn, nó còn phải là món ăn đường phố cho người
lao động, món ăn hàng ngày trong mỗi gia đình. Những vấn đề lý luận mà quần
chúng quan tâm cần được giải thích rõ ràng, cặn kẽ bằng ngôn ngữ của quần
chúng; người làm lý luận phải nắm vững cách nói của quần chúng, sử dụng ngôn
ngữ sinh động, gần gũi với nhiều hình thức đa dạng để dễ được quần chúng chấp
nhận, để lý luận thực sự bén rễ và đi vào suy nghĩ,cũng như trở thành hành động
cụ thể, thiết thực của người dân.
Ba là,truyền
thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn, hấp dẫn hơn.
Thời đại thông tin ngày nay tạo
ra những thay đổi lớn trong cấu trúc dư luận, thay đổi cách thức và phương tiện
truyền thông, thậm chí còn tái tạo lại “hệ sinh thái” mới của nội dung. Trên
không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều.Trên
không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp
cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung
tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông
ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày
càng tăng lên. Nội dung thể hiện luận điểm của những người tham gia không gian
mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang
trên các diễn đàn trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài
dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên
Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên
Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ
dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý
luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan
với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn
đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu
thích của không chỉ đảng viên, mà cả của người dân, đặc biệt là giới trẻ./.
Là một trong những nước XHCN còn lại
đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, cho nên, Việt Nam là một trong
những trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Chúng đang ra sức đẩy mạnh
chiến lược DBHB và không loại trừ khả năng tiến hành CMM để chống phá cách mạng
nước ta. Một trong những thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được
Đảng ta chỉ ra là: “Hoạt động “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế
lực thù địch sẽ gia tăng. Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng chiêu bài dân
chủ, nhân quyền để can thiệp vào nội bộ ta”. Đây là nguy cơ lớn đối với sự ổn
định và phát triển của đất nước.
Để phòng, chống DBHB và CMM của các thế
lực thù địch, các cấp, các ngành, LLVT và toàn dân phải tỉnh táo trước những âm
mưu thủ đoạn DBHB và CMM của các thế lực thù địch, phản động. Kiên quyết đấu
tranh ngăn chặn các hoạt động chống Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch,
phản động; đảm bảo an ninh chính trị nội bộ; phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy
ra CMM trong mọi tình huống. Nâng cao ý thức cảnh giác của cán bộ, đảng viên và
quần chúng nhân dân trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, từ đó
tham gia vào công tác phòng, ngừa, ngăn chặn làm thất bại ý đồ thực hiện
CMM.
Từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ các
nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến CMM ở nước ta. Trong đó tập trung giải
quyết dứt điểm các “điểm nóng” về an sinh xã hội như khiếu kiện, đình công, chủ
động triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh trên lĩnh vực chính trị, tư
tưởng, văn hóa, xã hội, kinh tế, tài chính, thông tin truyền thông, an ninh
mạng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, không để các thế lực thù
địch, phản động lợi dụng để tập hợp lực lượng, hình thành, công khai hóa tổ
chức chính trị đối lập ở trong nước, tiến hành các hoạt động biểu tình, bạo
loạn trên quy mô lớn nhằm thực hiện CMM ở Việt Nam.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố
bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình
trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, vi phạm pháp luật, nhất là
trong hàng ngũ cán bộ các cấp. Kiên quyết loại trừ các điều kiện hình thành tổ
chức chính trị đối lập, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối
lập.
Củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân
dân đối với Đảng và chế độ XHCN. Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng
hợp tác quốc tế tạo nền tảng, sức mạnh chính trị, phục vụ phát triển kinh tế,
tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo giải quyết triệt để mầm mống,
nguy cơ CMM ở Việt Nam.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam, do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước XHCN quản lý, điều hành; kết hợp
chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phòng, chống DBHB và CMM.
Đây là một nguyên tắc chiến lược, quán triệt quan điểm tổng hợp trong lãnh đạo
và tổ chức đấu tranh phòng, chống DBHB và CMM. Sức mạnh tổng hợp của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc được định hướng và quy tụ bởi chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
là một đặc trưng bản chất và là một ưu thế vượt trội để giành chiến thắng trong
suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Nhờ đó, chúng ta có thể
tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ to lớn của các lực lượng yêu chuộng hoà
bình và tiến bộ trên thế giới, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giành chiến thắng./.
Trước tình hình trong nước, thế giới và khu vực, các thế lực thù địch
đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin
xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật
- giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và
định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh
tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin.
Song do nhận thức của một bộ phận cán
bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng,
văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn
hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu
tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về
nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc
thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một
số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện
ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những
yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù
địch với nước ta.
Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản
động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những
thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn
thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các
báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những
nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan
tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các
thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu,
nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra,
các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó
kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội
tạo sức lan tỏa lớn.
Để đấu tranh chống các quan điểm
sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng
cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng,
nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời
luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp
cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế
lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin
xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách
tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền
thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên
sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động
thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa
những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học
tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày...
“lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin
theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp
phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các
thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia,
góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
TCCS - Sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, trong bối cảnh nước Nga bước vào thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội với muôn vàn gian khó, V.I. Lê-nin đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Những chỉ dẫn quý báu của V.I. Lê-nin vẫn tiếp tục có ý nghĩa to lớn đối với quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ở Việt Nam hiện nay.
Quan điểm của V.I. Lê-nin về xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh
Thứ nhất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước - nhân dân và xã hội.
V.I. Lê-nin khẳng định, khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng là hạt nhân lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội trên mọi phương diện, trong mọi lĩnh vực của đời sống. Đây là vấn đề nguyên tắc, vì “nếu không có sự thống trị của giai cấp vô sản trong nhà nước thì cũng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”(1). Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhân dân và xã hội bằng hệ tư tưởng khoa học và cách mạng - đó là chủ nghĩa Mác, “lý luận cách mạng duy nhất đúng”, một học thuyết hoàn bị vững như đá hoa cương. Trên cơ sở nền tảng lý luận khoa học này, Đảng vạch ra cương lĩnh chính trị, chiến lược, sách lược đúng đắn; đồng thời, vận động, tập hợp, thuyết phục quần chúng đi theo, ủng hộ và tham gia tích cực, vì “trong quần chúng nhân dân, chúng ta chỉ tựa như một giọt nước trong đại dương, và chỉ khi nào biểu hiện được đúng ý nguyện của nhân dân, thì chúng ta mới quản lý nhà nước được. Nếu không, Đảng cộng sản sẽ không lãnh đạo được giai cấp vô sản, giai cấp vô sản sẽ không lôi cuốn được quần chúng theo mình, và tất cả bộ máy sẽ tan rã”(2).
Mặc dù khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhưng V.I. Lê-nin cũng nhấn mạnh đến việc phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hai chủ thể này; trong đó, Đảng tuyệt đối không được lấn sân, làm thay Nhà nước. Do vậy, Người yêu cầu: “cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của Đảng... với nhiệm vụ của Chính quyền Xô-viết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán bộ Xô-viết và các cơ quan Xô-viết, còn về đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt”(3).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động quản lý, phục vụ xã hội nhằm hiện thực hóa chủ trương, đường lối, cương lĩnh của Đảng vào cuộc sống thông qua hệ thống của mình từ Trung ương đến các địa phương, thông qua các cơ quan, các tổ chức nhà nước; do vậy, phải thiết lập các cơ quan xô-viết (các tổ chức của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa). V.I. Lê-nin viết: “Chừng nào mà những cơ quan xô-viết còn chưa được thiết lập trên khắp nước Nga, chừng nào mà việc xã hội hóa ruộng đất và việc quốc hữu hóa công xưởng chỉ là những ngoại lệ, thì tất nhiên sự quản lý xã hội đối với nền kinh tế quốc dân chưa thể thoát khỏi (nếu chúng ta xét theo quy mô toàn quốc) cái giai đoạn chuẩn bị sơ bộ với những cuộc tranh luận, thảo luận và giải thích”(4).
Thứ hai, chỉ rõ tác hại của những suy thoái, tiêu cực trong Đảng và trong bộ máy của Nhà nước.
Cùng với việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I. Lê-nin cũng chỉ rõ những bất cập, những tiêu cực trong Đảng và trong Nhà nước cần phải được nhận diện và loại bỏ triệt để, bởi nếu không, chúng sẽ làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ, khiến cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ không thể thành công.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những tệ nạn, tiêu cực xã hội len lỏi vào các cơ quan đảng và bộ máy nhà nước, gây ra những ung nhọt phá hoại uy tín, sức mạnh của Đảng và của Nhà nước, tàn phá xã hội. Những biểu hiện tiêu cực đó rất đa dạng. V.I. Lê-nin tập trung nhận diện những biểu hiện cơ bản sau:
Một là, chủ nghĩa cơ hội, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng nhằm bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân. Biểu hiện của nó là “trên đầu lưỡi thì thừa nhận cách mạng mà trên thực tế thì từ bỏ cách mạng”(5). Đối với học thuyết Mác, “chúng tước hết nội dung của học thuyết cách mạng, tầm thường hóa học thuyết đó và làm cùn khía cạnh sắc bén cách mạng của nó... Chúng lãng quên, chúng xóa nhòa, chúng xuyên tạc khía cạnh cách mạng, tinh thần cách mạng của học thuyết ấy”(6). Điều này vô cùng nguy hiểm, vì chủ nghĩa cơ hội làm nhụt ý chí đấu tranh, gây mơ hồ trong nhận thức lý luận, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, khiến họ “bị chủ nghĩa đế quốc mua chuộc và làm hư hỏng”(7). V.I. Lê-nin chỉ rõ rằng, “mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản”(8). Do vậy, theo V.I. Lê-nin, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong Đảng và Nhà nước, rộng hơn là trong phong trào công nhân, không chỉ là vấn đề của riêng nước Nga, mà còn là vấn đề chung của mỗi đảng cộng sản.
Hai là, quan liêu, tham nhũng, suy thoái về đạo đức, lối sống. Theo V.I. Lê-nin, bản chất của quan liêu là tư tưởng đề cao địa vị, bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân, chạy theo danh lợi, chức quyền: “chủ nghĩa quan liêu có thể dịch ra tiếng Nga bằng danh từ: chủ nghĩa địa vị. Chủ nghĩa quan liêu, tức là đem lợi ích của sự nghiệp phục tùng lợi ích của tư tưởng danh vị, tức là hết sức chú trọng đến địa vị mà không đếm xỉa đến công tác; tức là tranh giành nhau để được bổ tuyển”(9). Những kẻ quan liêu chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân mà trở thành những kẻ lười nhác, ích kỷ; thành những kẻ kiêu ngạo, hống hách, những nhân vật có đặc quyền, đặc lợi, thoát ly quần chúng và đứng trên quần chúng. Họ lợi dụng chức quyền, địa vị để thăng quan tiến chức. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, chủ nghĩa quan liêu nặng về giấy tờ hành chính và cán bộ mắc “bệnh quan liêu” thì chỉ biết nghe báo cáo và thường dùng mệnh lệnh để hối thúc công việc, xa rời thực tiễn, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ; do vậy, muốn tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội có kết quả thì cần phải tiếp tục đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu.
Nguy hiểm hơn, từ quan liêu dẫn đến hối lộ, tham nhũng phát tác, trở thành hiện tượng nhức nhối, thật sự điển hình của nước Nga và là một trong “ba kẻ thù chính đang đứng trước mỗi người, bất kể người đó làm việc gì, ở cương vị nào... kẻ thù thứ nhất - tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa; kẻ thù thứ hai - nạn mù chữ; kẻ thù thứ ba - nạn hối lộ”(10). Nạn hối lộ, tham nhũng không chỉ làm thiệt hại, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, mà còn để lại những hậu quả chính trị - xã hội nghiêm trọng và là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội. V.I. Lê-nin phê phán mạnh mẽ tệ nạn này và chỉ rõ: “nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được... Trong những điều kiện đó, không thể làm được một thứ chính trị nào hết”(11). Vậy mà, một bộ phận cán bộ, đảng viên “bị tiêm nhiễm, bị hủ hóa bởi bầu không khí đó, dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống, vi phạm những tính xấu như: tính nhu nhược, tính tản mạn, chủ nghĩa cá nhân, từ lạc quan chuyển sang bi quan”(12), thoái hóa, biến chất, lợi dụng chức quyền, cơ hội để “đục nước béo cò”. Do vậy, ngăn chặn nạn hối lộ, tham nhũng, làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước trở thành nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là cuộc chiến đầy cam go, quyết liệt và hết sức phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm cao của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Ba là, căn bệnh kiêu ngạo cộng sản; vô tổ chức, vô kỷ luật. Theo V.I. Lê-nin, bệnh kiêu ngạo cộng sản thể hiện ở chỗ: “một người ở trong đảng cộng sản, và chưa bị thanh trừng ra khỏi đảng, tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình” chủ yếu thông qua “công tác giáo dục chính trị. Hoàn toàn không phải thế! Đấy chỉ là tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa mà thôi”(13). Do kiêu ngạo cộng sản, họ thường tự cao, tự đại và khi mắc khuyết điểm, sai lầm thì tìm mọi cách che giấu, lấp liếm, không dám thừa nhận và chính căn bệnh này sẽ khiến cho đảng bị tiêu vong. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”(14).
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước lạc hậu, sản xuất nhỏ, “những tập tục của xã hội cũ” còn tồn tại dai dẳng, dẫn đến thói vô tổ chức, vô kỷ luật. Biểu hiện của nó trong Đảng và trong bộ máy nhà nước là phủ nhận tính đảng và kỷ luật đảng, mắc những tính xấu của giai cấp tiểu tư sản là tính tản mạn, tính bấp bênh, không thể kiên quyết, đoàn kết, thống nhất hành động được. Những thói hư, tật xấu này tồn tại dai dẳng do “Sức mạnh của tập quán ở hàng triệu và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất”(15). Những biểu hiện tiêu cực này mà lan rộng trong phong trào, thì sẽ “hoàn toàn tước vũ khí của giai cấp vô sản, làm lợi cho giai cấp tư sản”. Đây là một cuộc đấu tranh dai dẳng, phức tạp vì “Chiến thắng bọn đại tư bản tập trung còn nghìn lần dễ hơn là “chiến thắng” hàng triệu và hàng triệu tiểu chủ; mà những người này thì do hoạt động hàng ngày của họ, hoạt động quen thuộc, khó thấy, khó nhận ra, có tác dụng... làm cho giai cấp tư sản phục hồi”(16).
Thứ ba, chỉ ra phương thức xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả.
Trên cơ sở nhận diện rõ những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ đảng viên và cán bộ chính quyền, V.I. Lê-nin đã chỉ ra những phương thức cơ bản để xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Đó là:
Bảo đảm phương châm “thà ít mà tốt”, tinh gọn, hiệu quả. Thực hiện phương châm này đòi hỏi công tác xây dựng Đảng và đổi mới, cải cách bộ máy nhà nước, nhất là ở các cơ quan trung ương phải coi trọng chất lượng, không chạy đua theo số lượng; do vậy, cần rà soát thực hiện sáp nhập, tinh gọn bộ máy, bảo đảm chất lượng kiểu mẫu và phải hoạt động phù hợp với trình độ khoa học hiện đại.Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được tuyển chọn kỹ lưỡng theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt cả về số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, được trang bị lý luận cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt và “những phần tử ưu tú ấy phải không sợ thừa nhận bất cứ một khó khăn nào và không lùi bước trước bất cứ một cuộc đấu tranh nào để đạt được mục đích”(17).
Thực hành nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, vì đó là thuộc tính cơ bản của đảng cách mạng đã được V.I. Lê-nin rút ra từ trong thực tiễn cách mạng; theo đó, “chế độ tập trung tuyệt đối và kỷ luật hết sức nghiêm minh của giai cấp vô sản là một trong những điều kiện căn bản để chiến thắng giai cấp tư sản”(18). Yêu cầu đặt ra là phải thực hành kỷ luật đảng hết sức nghiêm minh, duy trì kỷ luật sắt và mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức phấn đấu trau dồi tri thức, rèn luyện tác phong, tăng cường phẩm chất đạo đức cộng sản.
Thực hành nghiêm tự phê bình và phê bình để tạo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, để Đảng luôn được củng cố và phát triển. Tự phê bình và phê bình phải là một nội dung quan trọng, thường xuyên trong sinh hoạt đảng. V.I. Lê-nin viết: “Công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm... - đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình, đó là giáo dục và huấn luyện giai cấp, rồi đến quần chúng”(19).
Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả. Công tác này nếu không được thực hiện tốt thì vô cùng nguy hại, vì “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số. Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy”(20).
Để kiểm soát quyền lực, phải xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp nhằm bảo đảm hoạt động của Đảng và của Nhà nước theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, đồng thời thực thi dân chủ của nhân dân. Đây là một tất yếu khách quan và là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra. Việc kiểm soát quyền lực còn được thực hiện bằng công tác tổ chức. Đảng kiểu mới, Nhà nước kiểu mới phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học, luôn thống nhất về tổ chức, không chấp nhận sự phân tán, ô hợp và bè phái mất đoàn kết nội bộ. V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Trong cuộc đấu tranh để giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là sự tổ chức... sự thống nhất tư tưởng của giai cấp vô sản dựa trên cơ sở những nguyên lý chủ nghĩa Mác được củng cố bằng sự thống nhất vật chất của tổ chức tập hợp hàng triệu người lao động thành một đạo quân của giai cấp công nhân”(21); đồng thời, phải làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát đối với tổ chức, con người và công việc. Buông lỏng kiểm tra cũng có nghĩa là buông lỏng lãnh đạo và quản lý; từ đó, dẫn đến sự suy yếu tổ chức và bộ máy, sự hư hỏng và thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.
Hơn nữa, để kiểm soát tốt quyền lực, cần thực hành dân chủ rộng rãi, gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước. Đây là một phương thức hết sức quan trọng, bởi vì sự thành bại của cách mạng phụ thuộc vào niềm tin, vào sự đồng thuận của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
Đồng thời,Đảng, Nhà nước phải phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị và về đạo đức; thực hành nghiêm chế độ bãi miễn bất cứ lúc nào đối với những người được bầu ra, nhưng thoái hóa, biến chất. Theo V.I. Lê-nin, cần phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược để làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước.
Ý nghĩa đối với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ở Việt Nam hiện nay
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị_Ảnh: TTXVN
Thấm nhuần tư tưởng của V.I. Lê-nin, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên cơ sở phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Điều này được cụ thể hóa và thường xuyên được bổ sung, phát triển trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thể hiện tập trung trong Kết luận, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 các khóa XI, XII và XIII của Đảng. Nghị quyết của Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, đi vào thực tiễn cuộc sống và tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội; qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đồng thời tạo sự đoàn kết, nhất trí giữa “ý Đảng, lòng dân” và góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, như “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn diễn biến phức tạp”(22); một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, sa sút ý chí chiến đấu, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật; cơ chế kiểm soát quyền lực ở nhiều lĩnh vực, nhất là đối với những người có chức, có quyền trong Đảng và trong hệ thống chính trị chưa thực sự hiệu quả; hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(23).
Thực tế đó cho thấy, những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin đến nay còn nguyên giá trị và là vấn đề vô cùng hệ trọng. Do vậy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị cần được tăng cường theo tư tưởng, chỉ dẫn của V.I. Lê-nin và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những giải pháp cơ bản sau đây:
Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tuyên truyền, triển khai sâu rộng nội dung Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng.
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Để đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, một mặt, phải coi trọng việc học tập, nghiên cứu, tiếp tục bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay; mặt khác, cấp ủy các cấp, các tổ chức đảng phải nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền, học tập, quán triệt, thực hiện Nghị quyết, Kết luận đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục đích, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, Kết luận đồng thời nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện. Đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến từng chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý”.
Hai là, quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng và phương pháp của V.I. Lê-nin để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về tổ chức.
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị theo tinh thần “thà ít mà tốt”, vì “Chỉ có làm cho bộ máy của chúng ta trong sạch đến tột mức, chỉ có giảm đến mức tối đa những cái không tuyệt đối cần thiết, chúng ta mới có thể đứng vững được”(24).
Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu vừa có đức, vừa có tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ gắn bó, hài hòa với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị và với nhân dân.
Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số”(25). Do vậy, Đảng phải thường xuyên liên hệ gần gũi, hòa mình với quần chúng, thực hành dân chủ rộng rãi, thu hút đông đảo nhân dân tham gia vào việc giám sát hoạt động của Đảng và hệ thống chính trị.
Việc giám sát quyền lực của nhân dân đối với hệ thống chính trị được thực hiện chủ yếu thông qua cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Do vậy, “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”(26).
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức hoạt động nhằm phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tác phong, lối sống và vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị; thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Bốn là, kết hợp giữa nêu gương người tốt, việc tốt với chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực.
Tiếp tục thực hiện tốt Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””, coi đây là công việc thường xuyên, hằng ngày của mỗi tổ chức, cá nhân, đơn vị với nhiều nội dung phong phú và thiết thực, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tiếp tục thực hiện tốt Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Theo đó, chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; đổi mới phong cách, lề lối làm việc, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm túc Quy định số 37-QÐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”.
Chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị dưới mọi hình thức. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, hoặc lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội... để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ.
Xây dựng các lực lượng đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vững mạnh, đủ sức phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước, qua đó góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Hiện đại hóa các biện pháp kỹ thuật để phục vụ hiệu quả cho công tác đấu tranh; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các lực lượng chuyên trách trong công tác này.
Đồng bào dân tộc Lô Lô ở xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng nghe phổ biến về pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026_Ảnh: TTXVN
Năm là, chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực quan trọng, then chốt.
Chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy đổi mới, sáng tạo. Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ, kiến tạo phát triển, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả.
Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị, đi đôi với chống chạy chức, chạy quyền. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để lọt những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời, kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, bổ sung những cán bộ, đảng viên thực sự có đức, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết.
Từ những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện của đất nước nhằm không ngừng tăng cường hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng dân” để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.
TCCS - Đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng là một bộ phận cấu thành đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, trực tiếp tham mưu cho cấp ủy những chủ trương, nghị quyết về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị liên quan đến tổ chức, bộ máy, cán bộ, đảng viên và nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ trong Đảng... Do vậy, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, việc xây dựng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng có đủ năng lực, phẩm chất là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(1). Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh tới vai trò trọng yếu của công tác tổ chức, cán bộ và khẳng định, nếu xác định công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt thì công tác tổ chức, cán bộ của Đảng giữ vị trí “then chốt của then chốt”. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng; vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ này là vấn đề luôn được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp đặc biệt chú trọng.
Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc với đồng bào Ba-na tại làng Wâu, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai_Ảnh: TTXVN
Tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã hết sức quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Trong các văn kiện quan trọng về công tác tổ chức, cán bộ, Đảng luôn nhấn mạnh vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” xác định, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới và chỉnh đốn tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ: “Các cấp ủy, tổ chức đảng và đích thân cán bộ đứng đầu phải chăm lo xây dựng, đổi mới tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác cán bộ”, “nâng cao phẩm chất, trình độ kiến thức và năng lực của đội ngũ làm công tác cán bộ. Có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn những người công tâm, trung thực, trong sáng, có kinh nghiệm làm công tác cán bộ”. Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Hội nghị Trung ương 9 khóa X đã ban hành Kết luận số 37-KL/TW, ngày 2-2-2009, “Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020”; trong đó, nhấn mạnh nhiệm vụ “đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, xây dựng tổ chức và con người làm công tác tổ chức, cán bộ”, “tăng cường giáo dục ý thức trách nhiệm, năng lực và phẩm chất, đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ”.
Cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ phải đáp ứng tiêu chuẩn chung theo quy định của Đảng; đồng thời, phải có những phẩm chất, đáp ứng yêu cầu riêng của ngành tổ chức xây dựng Đảng. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, công tác tổ chức, cán bộ nói riêng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác liên quan đến con người, nên rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người, đòi hỏi mỗi người cán bộ làm công tác này vừa phải luôn tự phê bình, phân tích, mổ xẻ những ưu điểm, khuyết điểm của chính bản thân mình; lại vừa phải nhận xét, đánh giá về người khác. Do đó, nếu không thật tự giác, chân thành, công tâm, khách quan thì cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ rất dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí, thường chỉ thấy ưu điểm, mặt mạnh của mình nhiều hơn người khác và chỉ thấy khuyết điểm, mặt yếu của người khác nhiều hơn mình.
Bàn về vấn đề này, đồng chí Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương các kỳ Đại hội III, IV, V của Đảng, đã nhiều lần nhấn mạnh: “Cấp ủy lãnh đạo nhưng hàng ngày theo dõi cán bộ là do bộ phận tham mưu; nếu tham mưu mà làm sai cũng rất nguy hiểm. Bởi vậy, cấp ủy, đảng đoàn phải rất coi trọng kiện toàn cơ quan tổ chức để nó thực sự là cơ quan tham mưu đắc lực cho lãnh đạo”(2). Đồng chí nhiều lần nhắc nhở:“Làm cán bộ tổ chức có hai điều phải chú ý, đó là công bằng, vô tư; đó là điều quan trọng nhất”(3); bởi vì, “nếu cán bộ tổ chức mà lệch lạc sẽ làm cho nội bộ xáo trộn, lủng củng”. Đối với cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng phải có tiêu chuẩn cao, phải là người hết sức trung thực, thẳng thắn, công bằng. Năng lực của cán bộ tổ chức là năng lực hiểu biết con người; cho nên không thể để những cán bộ đầy cảm tính, nể nang, có hành động móc ngoặc, ăn hối lộ làm công tác tổ chức. Cán bộ tổ chức phải thực sự công minh, nếu là “yêu nên tốt, ghét nên xấu” thì không thể làm công tác tổ chức. Đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: “Cần tăng cường công tác nghiên cứu tổng kết để đào tạo bồi dưỡng nâng cao dần trình độ lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ tổ chức, khắc phục tình trạng sự vụ, kinh nghiệm chủ nghĩa trong công tác tổ chức”(4). Người làm công tác cán bộ phải sâu sát, đánh giá đúng từng cán bộ thuộc trách nhiệm quản lý; nắm rõ quá trình, kết quả thực hiện nhiệm vụ, ưu điểm, khuyết điểm và triển vọng của cán bộ để đề xuất, kiến nghị chính sách đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí cho phù hợp; tránh tình trạng quản lý hời hợt, chỉ đánh giá cán bộ trên hồ sơ, qua những báo cáo chung chung, không nắm chắc phẩm chất, năng lực của cán bộ thông qua kết quả thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước. Bên cạnh yêu cầu phải bám sát thực tiễn, cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng phải chủ động nghiên cứu lý luận dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là lý luận về công tác tổ chức xây dựng Đảng, những văn bản của Đảng, pháp luật có liên quan; nhằm không ngừng bổ sung, hoàn thiện phương pháp làm việc đúng đắn, khoa học, dân chủ, tránh rơi vào chủ quan, duy ý chí, áp đặt, phiến diện; đồng thời, phải tích cực, chủ động nghiên cứu các vấn đề về khoa học tổ chức, quản lý nhân lực, lãnh đạo học, tâm lý học,... để hiểu sâu sắc, toàn diện và có giải pháp đúng đắn về công tác tổ chức, cán bộ. Cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ phải là những người có phẩm chất, tư cách tốt, trung thực, khách quan, vô tư, có tinh thần trách nhiệm; có trình độ, năng lực, phương pháp xem xét, đánh giá con người một cách đúng đắn. Theo đồng chí Lê Đức Thọ, khi xem xét cán bộ thì người làm công tác tổ chức phải tìm hiểu người cán bộ đó một cách toàn diện, bởi ai cũng có ít nhiều khuyết điểm, vì thế, cần phải xem khuyết điểm nào là căn bản, khuyết điểm nào là phụ; phải biết xét xem ưu điểm của người cán bộ đó là căn bản hay khuyết điểm là căn bản; đồng thời, cán bộ tổ chức cũng phải luôn nghiêm khắc với bản thân mình và cơ quan, tổ chức cũng phải lắng nghe ý kiến từ nhiều phía, nếu có sai lầm thì phải kiên quyết sửa chữa.
Ban Tổ chức Trung ương tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện các văn bản mới của Trung ương về công tác tổ chức xây dựng Đảng_Ảnh: TTXVN
Xây dựng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng trong bối cảnh mới - Yêu cầu và một số giải pháp chủ yếu
Tính đến tháng 10-2022, có 1.677 cán bộ đang công tác tại các ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; 4.672 cán bộ đang công tác tại các ban tổ chức cấp ủy cấp huyện. Tỷ lệ cán bộ nữ công tác tại các ban tổ chức cấp ủy cấp tỉnh chiếm 37%, tại cấp huyện chiếm 42%; tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số tại các ban tổ chức cấp ủy cấp tỉnh trung bình cả nước là 7%, cấp huyện là 11%. Cán bộ công tác tại ban tổ chức cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện chủ yếu được đào tạo từ các chuyên ngành: kinh tế, tài chính (26%, 22%), khoa học xã hội (20%, 21%), luật, nội chính (17%, 19%), xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước (12%, 11%), còn lại là từ các chuyên ngành khác. Số cán bộ đang công tác ở các ban tổ chức cấp ủy cấp tỉnh có thâm niên công tác trong ngành tổ chức xây dựng Đảng từ 10 năm trở lên chiếm 54%, ở các ban tổ chức cấp ủy cấp huyện là 24%. Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức của Đảng đã làm tốt vai trò tham mưu về công tác tổ chức xây dựng Đảng và công tác cán bộ, góp phần rất quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong xây dựng Đảng và phát triển đất nước.
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ tham mưu về tổ chức xây dựng Đảng chưa đồng đều, một bộ phận còn hạn chế về phẩm chất, năng lực, thiếu kinh nghiệm thực tiễn, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, phương thức triển khai công việc còn lúng túng, chưa khoa học, kém hiệu quả. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã thẳng thắn chỉ ra rằng, công tác xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ còn chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; phẩm chất, năng lực và uy tín của không ít cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; công tác xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ chưa được quan tâm đúng mức...
Trong khi đó, Đại hội XIII của Đảng đã xác định yêu cầu phát triển đất nước thời gian tới với mục tiêu tổng quát là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(5). Để thực hiện được mục tiêu trên, yêu cầu, nhiệm vụ rất quan trọng là tiếp tục xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên, mức độ chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta còn thấp. Do đó, chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu, khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó có cơ quan tổ chức cán bộ các cấp của Đảng. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động, ảnh hưởng đến công tác bố trí, sử dụng nhân sự của ngành tổ chức xây dựng Đảng, tác động đến việc xây dựng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại vào công tác quản lý tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo mật thông tin, khai thác sử dụng các dữ liệu, góp phần cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan tổ chức cán bộ các cấp.
Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định, phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng “đoàn kết, trung thành, trung thực, trong sáng, gương mẫu, tinh thông, chuyên nghiệp”, nhất là cán bộ tham mưu cấp chiến lược, chuyên gia đầu ngành đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ phát triển mới. Chú trọng lựa chọn và bố trí đúng người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy các cấp(6). Đây là nhiệm vụ quan trọng, nhưng đầy khó khăn, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và quyết liệt trong tổ chức thực hiện để xây dựng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Các cấp ủy phải có các tiêu chí cụ thể, kế hoạch và giải pháp căn cơ để xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; cụ thể là:
Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện vị trí việc làm và tiêu chuẩn cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng.
Đây là nội dung quan trọng đầu tiên của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng, gắn liền với xây dựng, kiện toàn các cơ quan làm công tác tham mưu về tổ chức, cán bộ của Đảng. Để hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trước hết các cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ của Đảng phải có năng lực, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Muốn vậy, bản thân các cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ của Đảng phải tinh gọn, được tổ chức một cách khoa học, chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất. Để đáp ứng được yêu cầu đó, việc xây dựng, hoàn thiện vị trí việc làm trong các cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ là hết sức quan trọng. Đây là cơ sở đầu tiên để xác định quy mô, mô hình, cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ của Đảng ở các cấp và là cơ sở đầu tiên để xác định số lượng, yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng. Việc xây dựng, hoàn thiện vị trí việc làm và tiêu chuẩn cán bộ, một mặt, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng và hiệu quả của công tác cán bộ, là cơ sở để thực hiện sắp xếp các bộ phận trong tổ chức một cách khoa học hơn; mặt khác, góp phần nâng cao chất lượng, thuận tiện hơn cho công tác quản lý cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng, công tác tuyển dụng cũng như đánh giá và thực hiện chính sách đối với cán bộ.
Thứ hai, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng.
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng là nhằm giúp đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được tốt hơn, phù hợp hơn với điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”(7).
Để thực hiện tốt nội dung trên, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về vị trí, vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng. Chủ động xây dựng và hoàn thiện các quy chế, quy định, chế độ học tập lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp; đồng thời, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng. Tăng cường công tác quản lý nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp; siết chặt kỷ cương, kỷ luật học tập, khơi dậy tinh thần ham học, tự học, nhất là lý luận chính trị, nghiệp vụ tổ chức xây dựng Đảng cho đội ngũ cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ.
Ngoài nội dung về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp vụ công tác, một nội dung quan trọng khác trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức chính là rèn luyện kỹ năng, đúc rút kinh nghiệm đánh giá, nhìn nhận con người và kỹ năng, phương pháp, kinh nghiệm xử lý các tình huống về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ. Tổ chức xây dựng Đảng là một lĩnh vực đặc thù, do đó, cần có những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và năng lực đặc biệt; đó là khả năng biết “nhìn người”, tìm người, nhìn nhận, đánh giá, sử dụng, phát huy được tiềm năng của cán bộ. Trong bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng”, Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn rất sâu sắc và đề ra yêu cầu rất cao đối với các đồng chí thuộc Tiểu Ban nhân sự rằng, cán bộ làm công tác tổ chức phải “thật sự tin cậy, tuyệt đối trung thành, trung thực, trong sáng, công tâm, khách quan, đặc biệt là phải rất tỉnh táo, tinh tường (“đừng nhìn gà hóa cuốc”, “đừng thấy đỏ tưởng chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong”)... không quá cầu toàn, không quá tuyệt đối hóa..., con người ta ai cũng có điểm mạnh, điểm yếu. Ngọc còn có vết nữa mình với ta”(8).
Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá, bố trí, đề bạt, sử dụng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng.
Thực hiện tốt nội dung này là điều kiện để cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng phát huy năng lực, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng. Chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xét cách sinh hoạt của họ. Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không”(9). Để trưởng thành và có kinh nghiệm làm công tác tổ chức, cán bộ, đòi hỏi chính bản thân đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng phải được luân chuyển, trải nghiệm nhiều môi trường công tác khác nhau. Luân chuyển cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng sẽ giúp cho cán bộ có môi trường thực tiễn để rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành.Thông qua luân chuyển, cán bộ có thể “hiểu thấu” tình hình, thấy được chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đã phù hợp với thực tế hay chưa, cần được bổ sung, uốn nắn ở khâu nào, việc gì? Việc luân chuyển cán bộ sẽ góp phần khắc phục tình trạng cán bộ cấp trên “chỉ biết trông từ trên xuống”, còn cán bộ ở địa phương “chỉ biết trông từ dưới lên”. Đó cũng là căn cứ để bố trí, sắp xếp và sử dụng cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng theo quy hoạch và có hiệu quả.
Thứ tư, xây dựng phong cách, lề lối, tác phong làm việc chuyên nghiệp, khoa học cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng.
Công việc của ngành tổ chức xây dựng Đảng là một khoa học và nghệ thuật trong việc thiết kế mô hình tổ chức bộ máy và xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đó cũng là ngành xây dựng và thực hiện những quy định, quy chế, nguyên tắc, chế độ, chính sách đối với con người, là sự ứng xử giữa người với người - cán bộ, đảng viên của Đảng; do đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức không chỉ là những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ, năng lực, mà còn phải có phong cách, lề lối, tác phong làm việc có trách nhiệm, khoa học, trung thực, công tâm, khách quan. Để thực hiện nội dung, nhiệm vụ này, cần phải thống nhất nhận thức trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị về yêu cầu cấp bách phải đổi mới, chỉnh đốn lề lối, phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng nói riêng; phải xem công việc này không chỉ nhằm hoàn thiện nhân cách của từng cá nhân con người, mà còn là một giải pháp cơ bản để xây dựng tổ chức vững mạnh. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, quy định, chuẩn mực về lề lối, phong cách làm việc của cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng làm cơ sở cho đánh giá, giám sát, quản lý cán bộ. Ứng dụng tốt hơn thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong công tác lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin để minh bạch hóa thái độ và hành vi của cán bộ khi thực hiện các quy trình giải quyết công việc, nhờ đó mà người dân có điều kiện giám sát cụ thể./.
9 ngày giải cứu bé trai mắc kẹt trong trụ bê tông sâu 35m; 6 chiến sĩ công an Bình Phước gặp nạn khi làm nhiệm vụ… là những tin đáng chú ý trong tuần qua.
Ông Trần Hồng Hà và ông Trần Lưu Quang trở thành tân Phó Thủ tướng
Chiều 5/1, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn bổ nhiệm ông Trần Hồng Hà - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, và ông Trần Lưu Quang - Bí thư Thành ủy Hải Phòng, giữ chức Phó thủ tướng.
Kết quả, toàn bộ 481/481 đại biểu tham gia biểu quyết đều tán thành thông qua Nghị quyết.
Trước đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính trình Quốc hội đề nghị phê chuẩn việc bổ nhiệm ông Trần Hồng Hà - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, và ông Trần Lưu Quang - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng, giữ chức Phó thủ tướng.
Quốc hội trước đó cũng đã hoàn tất quy trình miễn nhiệm chức vụ phó thủ tướng Chính phủ đối với ông Phạm Bình Minh và ông Vũ Đức Đam.
9 ngày bé trai mắc kẹt trong trụ bê tông sâu 35m
Liên quan đến cuộc giải cứu bé Thái Lý Hạo Nam mắc kẹt trong trụ bê tông sâu 35m ở Đồng Tháp, chiều 8-1, lực lượng cứu hộ đã vận chuyển thêm các thiết bị cần thiết như gầu cạp đất, cẩu 80 tấn, đầu khoan cọc nhồi đường kính 0,6 – 1m, ống vách đường kính 1m và 2m… đến hiện trường, chuẩn bị cho công tác nhổ trụ bê tông có bé trai bị mắc kẹt bên trong.
Đến 16 giờ cùng ngày, các lực lượng đã đào, chuyển đi được được 4m đất trong khung vây, gia cố được 2/5 khung chống để gia cố khung vây và đang tiến hành hàn đặt được 1/5 khung chống.
Trước đó, vào ngày 31-12-2022, em Thái Lý Hạo Nam (10 tuổi) cùng ba người bạn đi vào công trình cầu Rọc Sen nằm trên đường tỉnh 857, xã Phú Lợi, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Lúc này công trường ngừng làm việc và công nhân đang nghỉ trưa.
Tại đây, Hạo Nam lọt vào trụ bê-tông có đường kính ngoài 50cm, đường kính trong 25cm.
Quá trình giải cứu bé Hạo Nam, yếu tố cản trở quá trình cứu nạn là do ảnh hưởng về địa chất địa tầng, thiết bị được vận chuyển từ nơi xa đến nên lực lượng chức năng không thể chủ động được, phải thay đổi nhiều phương án cứu hộ. Đây là lý do chậm rút trụ bê-tông lên theo như dự tính trước đó.
Đến tối 4-1, cơ quan chức năng xác nhận bé Hạo Nam đã tử vong.
Hiện lực lượng chức năng quyết định chọn phương án đóng cọc ván thép xung quanh trụ bê tông có cháu bé, sau đó lấy đất lên đưa trụ này lên khỏi mặt đất.
6 chiến sĩ công an Bình Phước gặp nạn khi làm nhiệm vụ
Đại tá Nguyễn Huy Hải, Phó Giám đốc Công an tỉnh Bình Phước cho biết, từ ngày 1 đến ngày 6/1, Công an thị xã Phước Long được giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự cho chuỗi hoạt động chào mừng ngày giải phóng Phước Long và giải Việt dã leo núi toàn quốc "Chinh phục đỉnh cao Bà Rá".
Thực hiện nhiệm vụ trên, chiều 5/1, Phòng cảnh sát PCCC và CNCH đã điều động 1 xe ô tô chữa cháy chuyên dụng cùng 6 cán bộ chiến sĩ tham gia.
Khi xe đi đến địa bàn ấp Thuận Hòa, xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú thì ô tô bị tai nạn. Sự việc khiến 2 chiến sĩ Thiếu úy Ngô Quang Sang (SN1998) và Binh nhất Hồ Kiết Tường (SN 2003, chiến sỹ nghĩa vụ) tử vong, 3 chiến sĩ bị thương nặng và 1 chiến sĩ bị thương nhẹ.
Đại tá Hải cho biết kết quả điều tra ban đầu xác định nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do đến đoạn đường cong, có dốc, trời đang mưa nhỏ, mặt đường ẩm ướt dẫn đến trơn trượt, trọng lượng xe lớn (chứa 4m3 nước), vận tốc của xe khoảng 50km/h, lái xe phanh gấp, xe trượt vào dải phân cách giữa đường dẫn đến bị lật.
Tuyên án vắng mặt với Nguyễn Thị Thanh Nhàn AIC
Ngày 4/1, TAND TP Hà Nội đã ra phán quyết đối với Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (Công ty AIC) và 35 bị cáo trong vụ án xảy ra tại Công ty AIC. Trong đó, bị cáo Nhàn cùng 7 bị cáo khác đang bỏ trốn bị tuyên án vắng mặt.
Theo đó, bị cáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn bị phạt 14 năm tù về tội Đưa hối lộ, 16 năm tù về tội Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Tổng hợp hình phạt chủ tịch Công ty AIC phải lĩnh là 30 năm tù.
Cùng với đó, Tòa cấp sơ thẩm tuyên cựu bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Trần Đình Thành 11 năm tù, cựu chủ tịch UBND tỉnh Đinh Quốc Thái 9 năm tù cùng về tội Nhận hối lộ; cựu giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai Phan Huy Anh Vũ bị phạt mức án 9 năm tù về tội Nhận hối lộ, 10 năm tù về tội Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Tổng hình phạt buộc bị cáo Vũ chấp hành 19 năm tù.
HDXX buộc các bị cáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Trần Mạnh Hà và Hoàng Thị Thúy Nga và Công ty AIC bồi thường tổng số tiền còn lại là hơn 148 tỉ đồng. Cụ thể, HĐXX tuyên bà Nhàn phải bồi thường hơn 103 tỉ đồng; các bị cáo Nga, Hà và Công ty AIC bồi thường 15 tỉ đồng mỗi trường hợp.
Trung tâm đăng kiểm đưa chủ nợ không biết chữ lên làm giám đốc
Công an TP HCM đang phối hợp với Công an huyện Nhà Bè tiếp tục mở rộng điều tra các sai phạm xảy ra tại nhiều trung tâm đăng kiểm xe cơ giới trên địa bàn, trong đó có Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới số 50-17D ở huyện Nhà Bè.
Theo điều tra bước đầu, năm 2019, Nguyễn Thanh Phong (SN 1981, ngụ quận 1) lập Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 50-17D.
Do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên hoạt động bị đình trệ, dẫn đến nợ nần. Từ đó ông Phong mượn tiền của ông Hồ Hữu Tài (52 tuổi, ngụ H.Nhà Bè, Giám đốc Trung tâm đăng kiểm 50-17D). Để trả nợ cho ông Tài, ông Phong đưa ông Tài lên làm Giám đốc Trung tâm đăng kiểm để trả nợ dần.
Khi bị bắt giữ, ông Tài không biết viết, đọc chữ và khai chỉ học tới lớp 3. Cũng theo ông Tài, mọi hoạt động của trung tâm đều giao lại hết cho cấp dưới, việc ký giấy xác nhận đăng kiểm cũng do Phó giám đốc phụ trách.
Từ năm 2021 đến lúc bị khám xét, Tài và Phong chỉ đạo nhân viên bỏ qua các lỗi vi phạm khi phương tiện đến kiểm định để nhận hối lộ.