Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

Nhận diện và đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc kết quả phòng, chống dịch Covid - 19 ở nước ta hiện nay

 


          Đại dịch Covid-19 bắt nguồn từ thành phố Vũ Hán, trung Quốc từ đầu năm 2020 và đã lan rộng trên khắp thế giới, gây ra tổn thất nặng nề về con người, khó khăn về kinh tế, xã hội. 

Ở Việt Nam, với những chủ trương đúng đắn của Đảng, sự vào cuộc quyết liệt của Nhà nước, Chính phủ, chính quyền các địa phương, của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực, đoàn kết chung tay phòng, chống đại dịch của toàn dân đã giành được những kết quả bước đầu, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tuy vậy, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo nhằm gây nhiễu loạn thông tin, phủ nhận kết quả phòng chống, dịch ở nước ta. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của đợt dịch bùng phát lần thứ tư, các đối tượng phản động đã tung ra những thông tin bịa đặt, các luận điệu xuyên tạc, vu cáo trắng trợn nỗ lực phòng, chống Covid-19 tại nước ta. Phủ nhận mọi nỗ lực và thành quả chống dịch bằng các luận điệu như: “Đừng ngộ nhận về hình mẫu chống dịch Covid-19 của Việt Nam”; “Việt Nam chậm trễ, bị động; Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine Covid-19”. Thậm chí chúng còn cho rằng “Việt Nam đưa ra các biện pháp cách ly y tế hay phong tỏa khu vực dân cư có người nhiễm Covid-19, hạn chế tụ tập đông người là vi phạm nghiêm trọng tự do của mỗi người”. Chúng lập luận rằng “Mọi người được tự do cư trú” nhưng người nhiễm virut Covid-19 và cả những người tiếp xúc gần đều bị đưa đi cách ly ở các khu vực do Nhà nước quy định, như vậy thì người dân không được tự do lựa chọn nơi cư trú theo mong muốn của bản thân, làm cho nhân dân có những suy nghĩ, nhận thức sai lệch về “Tự do”, kích động cổ vũ nhân dân chống phá Đảng, chống phá chính quyền trong công tác phòng, chống dịch.

Nghiêm trọng hơn, chúng còn xuyên tạc rằng Việt Nam “Giấu thông tin về dịch bệnh, số người thực tế nhiễm và tử vong do Covid-19 cao hơn nhiều so với con số được công bố”. Đồng thời, cho rằng Chính phủ các nước tư bản tung các gói cứu trợ cho người dân, hỗ trợ phòng, chống dịch cho quốc tế và các hình thức hỗ trợ khác để phòng, chống dịch bệnh còn Chính phủ, UBMTTQ Việt Nam kêu gọi vận động hỗ trợ, quyên góp ủng hộ quỹ vaccine phòng chống dịch Covid-19. Từ đó, so sánh và xuyên tạc rằng chính quyền Việt Nam yếu kém chỉ biết "xin tiền" nhân dân… Đây là những luận điệu xuyên tạc với mục đích công kích, phủ nhận nỗ lực chống dịch của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, nhằm gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi về công tác phòng, chống dịch nhằm gây bất ổn chính trị - xã hội trong nước. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, phản bác làm thất bại những luận điệu sai trái trên bằng một số biện pháp đó là:

Một là, cung cấp thông tin đảm bảo “Kịp thời - Minh bạch - Chính xác và Tin cậy” bằng các lực lượng, phương tiện, sử dụng triệt để các hình thức tạo ra chiến dịch truyền thông để nhân dân nhận thấy quyết tâm “chống dịch như chống giặc” của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị cùng tham gia phòng, chống dịch bệnh. Đưa thông tin chính thống, chính xác tạo một dòng chảy chủ đạo của truyền thông trong phòng chống đại dịch Covid-19 và tạo được niềm tin của người dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các cấp, các ngành, các lực lượng. Đồng thời, khẳng định các giải pháp chống dịch của chúng ta đã và luôn được thế giới đánh giá cao, hiệu quả.

Hai là, tuyên truyền cho nhân dân nhận thức rõ những nỗ lực, thành tựu của đất nước trong phòng, chống đại dịch. Với quan điểm thực hiện “mục tiêu kép” vừa chống dịch hiệu quả vừa phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội cho nhân dân, Chính phủ đã chủ động bình ổn giá thị trường, ngăn chặn, phát hiện, xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, tự ý nâng giá bán nhu yếu phẩm. Quản lý chặt chẽ hoạt động xuất, nhập cảnh; siết chặt cách ly những người đi, về từ vùng dịch. Công tác tuyên truyền người dân nâng cao ý thức phòng ngừa dịch bệnh được tăng cường với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Tăng cường đầu tư trang thiết bị, vật tư y tế về các địa phương, nhất là địa bàn cơ sở xã, phường giúp phòng ngừa, khoanh vùng và dập dịch tại chỗ. Đặc biệt trong đợt dịch này, Chính phủ đưa ra gói hỗ trợ lần 2 (26.000 tỉ đồng) để hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng vì đại dịch, góp phần giảm bớt khó khăn cho nhân dân.

Ba là, tích cực, chủ động đấu tranh với luận điểm “Việt Nam chậm trễ, bị động; Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine Covid-19” mà địch xuyên tạc làm cho nhân dân hiểu rõ: cùng với các biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn, kiểm soát, chúng ta cũng đã rất tích cực, khẩn trương, chủ động, tìm mọi cách để có thể nhanh chóng tiếp cận, tìm nguồn, nhập vaccine phòng Covid-19 và triển khai tiêm cho nhân dân, trước hết là lực lượng trên tuyến đầu chống dịch, các đối tượng ưu tiên. Chính phủ, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định về việc phê duyệt kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối, sử dụng vaccine phòng Covid-19 trong giai đoạn 2021-2022 do COVAX Facility (Giải pháp tiếp cận vaccine phòng Covid-19 toàn cầu) hỗ trợ. Đến nay Việt Nam đã đặt hàng 170 triệu liều vaccine phòng Covid-19 từ nhiều nguồn, nhiều nhà cung cấp trong năm 2021 để tiêm 2 mũi cho khoảng 70% số dân là những người đủ 18 tuổi trở lên. Đây cũng là tỷ lệ tiêm vaccine ngừa Covid-19 để đạt được miễn dịch cộng đồng. Vì thế, “Chiến lược 5K + Vaccine” và gần đây nhất Bộ Y tế vừa phát đi “Thông điệp 5T”, trở thành “pháo đài” mới trong giai đoạn chống dịch tiếp theo của Việt Nam là một chiến lược đúng đắn, hiệu quả và căn cơ để đẩy lùi đại dịch Covid-19, đưa mọi hoạt động kinh tế-xã hội trở lại trạng thái bình thường mới.

Bốn là, nêu cao tinh thần đoàn kết, sự sẻ chia cộng đồng và nhận thấy rõ tính ưu việt của Đảng, Nhà nước ta trong chính sách phòng, chống dịch. Cần nhận thức đúng đắn rằng: Chính phủ, UBMTTQ Việt Nam vận động hỗ trợ, quyên góp ủng hộ phòng chống dịch Covid-19 là hoàn toàn tự nguyện. Toàn bộ kinh phí vận động đều được sử dụng một cách công khai, minh bạch trong công tác phòng, chống dịch như: hỗ trợ y bác sĩ, hỗ trợ người cách ly tập trung, sản xuất trang thiết bị, vật tư y tế.... Bên cạnh đó, với tinh thần “lá lành đùm lá rách” đã xuất hiện nhiều tổ chức, cá nhân có các hoạt động tình nghĩa, các đoàn công tác, y bác sỹ không ngại nguy hiểm, khó khăn gian khổ xung phong vào nơi tuyến đầu chống dịch. Nhiều cây “ATM gạo”, “gian hàng không đồng”, phần quà miễn phí được triển khai để hỗ trợ cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn thể hiện nghĩa cử cao đẹp của một dân tộc luôn đoàn kết trong những lúc khó khăn. Điều đó khẳng định, không có bất kỳ ai bị bỏ quên trong cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19.

Đại dịch Covid-19 bùng phát trở lại, diễn biến phức tạp là cơ hội để kẻ xấu lợi dụng, tăng cường chống phá. Chính vì vậy, là công dân có trách nhiệm, chúng ta cần phải tỉnh táo, biết “gạn đục khơi trong”, luôn lạc quan, tin tưởng vào công tác phòng, chống dịch bệnh của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các ngành, địa phương. Chỉ có đoàn kết, chung sức, đồng lòng, chúng ta mới vững vàng trước mọi khó khăn, sớm chiến thắng trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19./.

XUAN THUY-01.2023

 

 

XÂY DỰNG PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ, coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng. Người thường xuyên căn dặn cán bộ phải rèn luyện phương pháp, tác phong công tác, trong đó phong cách làm việc dân chủ được Người đặc biệt coi trọng. Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ rất cần thiết, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng dân chủ, coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Trong Đảng, Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”; “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” và phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ”. Đối với Nhà nước, Người cho rằng: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”. Người luôn coi trọng cán bộ, khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phong cách, tác phong công tác của cán bộ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc. Bởi vậy Người luôn căn dặn cán bộ “Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”. Muốn có tác phong dân chủ, “cán bộ phải đi sát sản xuất, đi sát quần chúng và phải dân chủ với dân”. Như vậy, vừa là phát huy dân chủ nhân dân, vừa rèn luyện tác phong dân chủ của người cán bộ.

Trong cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách làm việc giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc, quyết đoán, hòa mình vào quần chúng nhân dân, coi nhân dân là cội nguồn của mọi thắng lợi. Người coi dân chủ là “chìa khóa vạn năng” để khơi dậy tính sáng tạo của nhân dân, huy động và sử dụng nguồn lực nhân dân vào các lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động khác nhau, bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Người đã nhấn mạnh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”.

Bởi vậy, Người nhắc nhở cán bộ, trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác…

Phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải “nói đi đôi với làm”. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tức là để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm. Ở bất kỳ đâu, làm bất cứ việc gì, ở cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mọi người, phát huy trí tuệ của tập thể, đề cao những kinh nghiệm, sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong công việc. Người chỉ rõ: “Gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống… Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí dân chủ, cởi mở trong làm việc, cũng như trong cuộc sống; từ đó, tạo động lực, niềm tin cho mỗi người có thể tham mưu, hiến kế, đề xuất những cách thức, biện pháp nâng cao năng suất lao động, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đồng thời, đề cao phong cách làm việc dân chủ nhưng không đồng nghĩa với dân chủ quá trớn, mạnh ai người nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; làm bất kỳ việc gì phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên…

Bồi dưỡng phong cách làm việc dân chủ cho đội ngũ cán bộ hiện nay

Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách làm việc dân chủ đã đạt nhiều kết quả, góp phần chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ. Song, trước yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược nâng cao hơn nữa về chất lượng, vững kiến thức chuyên môn, có năng lực quản lý, điều hành, phong cách làm việc dân chủ, khoa học... Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, đưa ra được những quyết định sáng suốt, hiệu quả, phù hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), triển khai kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12-6-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng phải vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”. Có thể thấy, yêu cầu xây dựng, bồi dưỡng phong cách làm việc cho cán bộ, trong đó có phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết.

Để công tác này thực hiện có hiệu quả, trước hết, cần thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022 về luân chuyển cán bộ; Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ… Việc thực hiện nghiêm các quy định trong công tác cán bộ là cách thức để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mỗi tổ chức đảng. Đồng thời để cán bộ phải tự ý thức rèn luyện phong cách làm việc dân chủ.

Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ, bảo đảm tính chặt chẽ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho cán bộ có môi trường rèn luyện, phấn đấu, phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới công tác tác đánh giá cán bộ, bởi đây là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá không đúng về cán bộ dẫn tới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ không đúng, có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng; triệt tiêu nhân tố tích cực, thúc đẩy chủ nghĩa cơ hội, tiêu cực, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ được đánh giá khách quan, công tâm, được lựa chọn và bố trí đúng sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực… Để đánh giá đúng cán bộ, cần đánh giá đa chiều, thông qua năng lực, phẩm chất và uy tín; dựa vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc cụ thể. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và tham khảo ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân cán bộ tự đánh giá, tập thể đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá, huy động các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia đánh giá cán bộ.

Cần có cơ chế, chính sách thu hút, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương gắn với các chế độ, chính sách như tiền lương, thu nhập, cải thiện cuộc sống, môi trường, điều kiện làm việc… cho cán bộ. Việc đổi mới, thực hiện tốt cơ chế, chính sách trên cơ sở kiểm soát tốt quyền lực, vừa đảm bảo chất lượng cán bộ, vừa phát huy dân chủ, phòng, chống được tiêu cực…

Thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cũng là cách để rèn luyện tác phong dân chủ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng đều nêu rõ vấn đề về vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” cũng đã khẳng định quan điểm đó. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trong nhiệm kỳ qua, “việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”.

Cán bộ phải sâu sát cơ sở, nắm vững thực tiễn, kịp thời giúp cơ sở giải quyết các khó khăn và vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là tác phong công tác cần phải có của mỗi cán bộ. Đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, để có phong cách lãnh đạo sâu sát, cần phải dành thời gian đi cơ sở, trực tiếp trao đổi, đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…, từ đó tránh được bệnh quan liêu, hạn chế tình trạng ra các quyết định, chủ trương thiếu tính thực tiễn, duy ý chí. Mặt khác, cần xem phong cách sâu sát cơ sở, thực tiễn là một tiêu chí, một yêu cầu cần thiết trong quy hoạch, đề bạt cán bộ giữ vị trí người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cùng với làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”. Như vậy đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao về chất lượng, góp phần thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng.

XÂY DỰNG, CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GẮN BÓ MÁU THỊT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN

 Thực tiễn lịch sử dân tộc ta, thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới đã chứng minh một chân lý: Có dân là có tất cả; mất dân cũng có nghĩa là mất tất cả.

Sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết với nhân dân: “Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên”. Ông cha ta đã để lại những tư tưởng bất hủ, như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”; “Lật thuyền mới biết dân như nước”; “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; Cái gốc của nhạc là ở nơi “thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu”... An Dương Vương chủ quan, mất cảnh giác, chỉ dựa vào vũ khí, không biết dựa vào sức mạnh nhân dân để chống giặc ngoại xâm nên kết cục là mất nước.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đặt vị trí của nhân dân lên một tầm cao mới, khẳng định nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, tạo ra mọi của cải, vật chất và những giá trị văn hóa, tinh thần. Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan niệm rất độc đáo, sáng tạo về nhân dân; không những khẳng định dân là gốc của nước, của cách mạng mà còn đặt nhân dân ở vị trí tối thượng. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân”; “... Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân; nhân dân cần Đảng dẫn đường.

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn tỏ rõ là một Đảng cách mạng chân chính, hết lòng phấn đấu vì nhân dân, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn được củng cố, tăng cường. Sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, đó chính là nền tảng, nguồn gốc tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng. Lênin từng căn dặn rằng: Nguy cơ lớn nhất của một đảng cầm quyền là sai lầm về đường lối và quan liêu, xa rời quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: Đảng phải gần dân, trọng dân, tin dân, học dân để lãnh đạo dân. Củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của Đảng ta.

Để xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, cần nắm vững và làm tốt những vấn đề cơ bản sau đây:

Một là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân.

Chính quyền phải gần dân, sát dân, thân dân. Khi đã trở thành đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trước hết và chủ yếu ở mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân thông qua pháp luật, chính sách, thông qua hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. “Tất cả cán bộ chính quyền... đều phải phụ trách dân vận” như Bác Hồ đã căn dặn. Cần tránh quan niệm cho rằng, cán bộ chính quyền chỉ làm công tác hành chính, không làm công tác dân vận. Không hiểu công tác dân vận và không thực sự làm dân vận thì chưa thể là cán bộ, công chức, viên chức cách mạng, công bộc của dân. 

Hai là, giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.

Không giải quyết tốt vấn đề này thì khó có thể xây dựng được mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân và xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc một cách vững chắc, lâu dài. Lợi ích là nhân tố nổi lên hàng đầu, là vấn đề mấu chốt trong việc củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo chính quyền quản lý xã hội thì vấn đề quan trọng nhất là các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải đáp ứng lợi ích thiết thân của nhân dân, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong sự hài hòa giữa các lợi ích, thống nhất quyền lợi, nghĩa vụ công dân. 

Chủ trương, chính sách đúng với đường lối của Đảng, hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được tổ chức thực hiện dân chủ, mang lại lợi ích thiết thực, cơ bản cho dân sẽ có ý nghĩa cực kỳ to lớn để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và dân. Nếu chúng ta không chăm lo đến những lợi ích thiết thực của dân, các thế lực thù địch sẽ tập trung khai thác mặt yếu này để tranh thủ quần chúng, kích động khiếu kiện, biểu tình gây mất ổn định chính trị-xã hội.

Ba là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng-một vấn đề mấu chốt để củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân là cầu nối rất quan trọng thắt chặt mối quan hệ giữa và Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, qua đó tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố sự nhất trí về chính trị tinh thần trong xã hội, củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân. 

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội và phải luôn được củng cố, phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Chính trong sự đoàn kết đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân được củng cố, tăng cường và phát triển. Đảng phải là hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phải tiêu biểu cho sự đoàn kết đó.

Bốn là, phát huy vai trò làm chủ và thực hiện tốt quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững kỷ cương phép nước.

Đảng cần phải tăng cường lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền chăm lo phát huy và thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật, tăng cường đồng thuận xã hội. Các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân, tôn trọng những người có ý kiến khác; làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những biểu hiện vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, cũng như những biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân dân, gây rối trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ có thực sự phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa mới có đồng thuận xã hội và đoàn kết thực sự, bền vững. 

Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập của Đảng, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền phải luôn nêu cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính; phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Có như vậy, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân mới được củng cố, tăng cường. Khi Đảng đã gắn bó máu thịt với dân, dân tin yêu Đảng thì Đảng sẽ có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi thác ghềnh, vững tay chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam thẳng hướng đi lên, cập bến quang vinh.

KIÊN QUYẾT CHỐNG "GIẶC NỘI XÂM"

 Người xưa có câu: “Quốc dĩ dân vi bản, dân dĩ thực vi tiên”, nghĩa là: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu. Nói cho dễ hiểu là nhân dân quan trọng như gốc của cây, cây không thể không có gốc, nếu gốc không vững chắc thì cây không thể phát triển tốt và tồn tại vững bền. Được nhân dân đồng lòng, đồng sức ủng hộ thì nước mới mạnh và muốn nhân dân đồng thuận ủng hộ thì phải chăm lo cho cuộc sống của nhân dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Đặc biệt, Người nhắc nhở rất ngắn gọn, dễ hiểu mà vô cùng sâu sắc, trở thành nguyên tắc hành động đối với các cơ quan, tổ chức, mọi cán bộ cách mạng: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, phải tiền phong, gương mẫu. Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Việc gì có lợi cho dân dù nhỏ nhất vẫn phải cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ nhất cũng phải tránh. 

Theo quan điểm ấy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tiền phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm; luôn phấn đấu vì nhân dân, đất nước nên quy tụ được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc-nhân tố quyết định để đánh thắng những kẻ thù xâm lược. 

Tuy nhiên, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, chúng ta nhận thấy hiện nay, việc huy động sức mạnh lòng dân để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước đang gặp phải những rào cản từ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất với các biểu hiện: Nói, viết và làm không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, việc dễ làm; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi khó khăn; chỉ tập trung giải quyết những vấn đề có lợi cho mình...

Nhân dân không khỏi tâm tư trước tình trạng một số cán bộ, công chức "giàu thần tốc" không phải từ thu nhập chính đáng. Rồi trong thời kháng chiến, rất nhiều con cháu cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước xung phong vào quân ngũ, xông pha nơi gian khổ, hiểm nguy nhưng bây giờ ngày càng ít con cháu cán bộ cấp cao tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc xông pha nơi khó khăn, gian khổ. Một số cán bộ không những nuông chiều con cháu thái quá mà còn tìm cách ưu ái để con cháu được thăng tiến “thần tốc”, được công tác ở những vị trí nhàn nhã...

Ở góc độ khác, có những cán bộ, đảng viên không chỉ vô trách nhiệm mà còn vô liêm sỉ, trục lợi trên nỗi đau khổ của người dân (mà vụ án liên quan đến Công ty Việt Á và vụ lợi dụng những chuyến bay giải cứu đồng bào ở nước ngoài trong lúc cao điểm dịch Covid-19, với hàng chục, hàng trăm cán bộ, đảng viên vi phạm đã và đang bị nghiêm trị-là điển hình của loại cán bộ thoái hóa, biến chất).  

Quần chúng cũng không khỏi bất bình trước hiện tượng một số cán bộ ưu ái và bảo kê cho "doanh nghiệp sân sau"; doanh nghiệp ngang nhiên sai phạm mà cán bộ sở tại, lực lượng chức năng vẫn phớt lờ "cho qua" dù người dân nhiều lần phản ánh, kiến nghị cần kiểm tra, xử lý.

Tư tưởng tính toán thực dụng, háo danh, hám lợi, làm gì cũng chỉ đặt lợi ích của bản thân và gia đình mình lên trên hết, trước hết là biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa cá nhân-kẻ thù nguy hại số một đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, thổi phồng nhằm chống phá cách mạng, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ ta. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân bởi đó chính là "giặc nội xâm", là kẻ thù của những người cách mạng, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. 

Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, nhất là chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đang được Đảng ta tiến hành mạnh mẽ với quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai", được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ. Đó là phương thức vô cùng quan trọng để giữ vững và củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ-giữ vững "thế trận lòng dân". Tuy nhiên, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn hiện hữu là thực tế cần được nghiêm túc xem xét, đề ra giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn và quyết liệt đấu tranh, khắc phục hiệu quả, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử hư hỏng, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

Ngày 1-8-2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW về một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực, trong đó xác định rõ 19 nhóm hành vi tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị) phải tập trung đấu tranh, xử lý. Việc quy định rõ những hành vi vi phạm này là hết sức cần thiết, có tác dụng cảnh báo, răn đe để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức soi xét lại hành vi của mình nhằm tránh vi phạm; đồng thời làm cơ sở cho nhân dân giám sát, phòng, chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức từ cấp trung ương tới cơ sở. Mong rằng, tổ chức đảng các cấp quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm hướng dẫn này để phòng, chống hiệu quả tham nhũng, tiêu cực và những hành vi là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, qua đó giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chính quyền để thế trận lòng dân thêm vững chắc.     

Thấm nhuần quan điểm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự là một đột phá lý luận của Đảng ta

 


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định quan điểm “kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Bài viết đã lột tả đầy đủ được tính bản chất và sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trả lời câu hỏi định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam? Đặc biệt tôi rất tâm đắc khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích rất kỹ đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định, “một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển... Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Quả thực, chúng ta chưa bao giờ “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Một điển hình hết sức sinh động cho quan điểm này chính là công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam thời gian qua. Ngay từ đợt dịch đầu tiên, mặc dù nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề nhưng để đảm bảo an sinh xã hội, gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng đã được ban hành, triển khai ngay nhằm hỗ trợ khoảng 20 triệu người dân đang gặp khó khăn bởi đại dịch Covid-19. Trong suốt hơn 1 năm ứng phó với dịch bệnh, Việt Nam luôn kiên trì thực hiện mục tiêu kép: “Vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, vừa phát triển kinh tế-xã hội”. Chính nhờ quan điểm “không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”,  trong cuộc chiến với dịch bệnh, Việt Nam đã nổi lên như một điểm sáng, một hình mẫu của thế giới.

Có thể khẳng định, những phân tích, luận giải về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa làm sáng rõ, là kim chỉ nam cho công cuộc Đổi mới của đất nước trong thời gian tới. Tôi tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta sẽ tiếp tục giành những thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

XUAN THUY-01.2023

 

 

 AI ĐÃ GIÚP NGƯỜI KHMER THOÁT KHỎI NẠN DIỆT CHỦNG ? 

Đại tướng Hun Manet, con trai Thủ tướng Hunsen đăng bài phát biểu nhân ngày lễ Chiến thắng Khmer Đỏ (07/01/1979), trong đó có đoạn: "Có nhiều người nói quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia là ngày hận thù. Vậy ai đã giúp hàng triệu người Khmer thoát khỏi nạn diệt chủng?". 

Bài phát biểu ông Hun Manet cũng giải thích bốn vấn đề về lịch sử cuộc chiến chống Khmer Đỏ vốn đã và đang bị bóp méo trong những tháng ngày vừa qua.

1. Trong giai đoạn 1975-1979, chế độ Pol Pot đã tàn sát nhân dân Campuchia như thế nào?

2. Đảo chính 1963 liệu có giúp Pol Pot ngưng thảm sát người dân Campuchia hay không?

3. Tại sao không nhờ quốc tế giải cứu? 

4. Vì sao người Khmer không tự đứng lên lật đổ chế độ Pol Pot? 

Đại tướng Hun Manet còn nói thêm rằng, thế giới không biết đến việc người Khmer đang bị thảm sát, người dân chúng ta phải trốn chạy và không đủ mạnh để chống lại. Những người Việt Nam ở ngay cạnh chúng ta và cha tôi đã gửi lời đến họ, họ đắn đo rất nhiều nhưng vẫn đưa đôi tay giúp đỡ. Họ là hàng xóm của chúng ta, là những ân nhân của chúng ta. 

TẠO SỨC ĐỀ KHÁNG ĐỂ KHÔNG MẮC CĂN BỆNH NGUY HIỂM "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA”

 Khi cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng, thực sự thông suốt về tư tưởng, những vướng mắc được giải quyết kịp thời thì sẽ có sức đề kháng tốt, không mắc "căn bệnh" nguy hiểm "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đối với nội dung về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc"... Để tránh hệ lụy nguy hiểm từ "căn bệnh" này, chúng ta cần hiểu rõ nguyên nhân, từ đó có biện pháp phòng, chống hiệu quả.

Xét về nguyên nhân khách quan, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là môi trường xã hội mới làm sản sinh ra những yếu tố tích cực của mỗi con người, như: Năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đổi mới trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội...

Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ thông tin, internet, mạng xã hội phát triển rất nhanh với nhiều thông tin đa chiều, nhạy cảm đã tác động mạnh, ảnh hưởng đến mỗi cán bộ, đảng viên.

Chính trong môi trường đó, các thế lực thù địch với cách mạng nước ta đã sử dụng nhiều chiêu trò, thủ đoạn chống phá vừa ngấm ngầm, vừa công khai, hết sức tinh vi, xảo quyệt.

Cách thức phổ biến là: Lợi dụng văn học, nghệ thuật để cài cắm văn hóa, tư tưởng xấu độc, phản động; dùng tiền tài, địa vị mua chuộc, lôi kéo, làm tha hóa cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức quyền; đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông, nhất là mạng xã hội nhằm xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước ta; lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và các sự việc tiêu cực... để suy diễn, quy chụp, vu khống, bôi nhọ chế độ; kích động, cổ vũ các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị lên mạng xã hội bày tỏ ý kiến chống đối Đảng, Nhà nước; xúi giục lực lượng do chúng tài trợ gây rối loạn chính trị, xã hội, lôi kéo cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là công nhân, giới trẻ biểu tình, đình công, tiến tới bạo loạn lật đổ theo kiểu "cách mạng màu" v.v..

Về nguyên nhân chủ quan, lúc nào, ở đâu tổ chức Đảng không cảnh giác, không tích cực, chủ động trong công tác phòng, chống "diễn biến hòa bình", để tiêu cực lấn lướt tích cực, không làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng thì ở đó dễ có cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thực tiễn cũng đã cho thấy, chính bản thân những cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh, thiếu tinh thần cảnh giác, không làm chủ được mình đã bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nói và viết trái với đường lối, quan điểm của Đảng, thậm chí rơi vào vòng xoáy tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật và đạo đức, lối sống. Theo thông tin tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa được tổ chức, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 413 tổ chức Đảng và gần 5.600 đảng viên vi phạm, trong đó có nhiều vi phạm về chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm, tham nhũng, cố ý làm trái các quy định của pháp luật...

Trong 6 tháng đầu năm 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật đối với 295 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái, tăng 117 đảng viên so với cùng kỳ năm 2021. Điều đó cho thấy, mặc dù Đảng, Nhà nước ta đã tăng cường các biện pháp phòng, chống, thế nhưng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn diễn ra và đây là “căn bệnh” vô cùng nguy hiểm, cần phải tiếp tục quyết liệt thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để ngăn chặn, đẩy lùi.

Nhận thức rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan là căn cứ khoa học để chúng ta đề ra những giải pháp phòng, chống có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong thời gian tới. Theo đó, cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Trước hết, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên ở cơ sở. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, bởi vì, nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng có được giữ vững và nâng cao, phải trên cơ sở từng cán bộ, đảng viên nắm vững những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Để thực hiện tốt việc này, cần chú trọng việc nâng cao chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng về lý luận chính trị, pháp luật, tránh tình trạng nặng về hình thức, còn nội dung giảng dạy chưa đạt được độ sâu sắc, thuyết phục, chưa gắn với thực tiễn kinh tế-xã hội đang diễn ra. Đặc biệt, phải kiên quyết khắc phục hiện tượng dạy học không nghiêm túc, dùng “cơ chế, quan hệ” để đạt được điểm cao và đủ điều kiện được cấp chứng chỉ, văn bằng về trình độ lý luận chính trị...

Ở cơ sở, nhất là chi bộ tại địa phương, khu dân cư, cần chú trọng tận dụng, phát huy kiến thức, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã nghỉ hưu có nhận thức, trình độ lý luận cao, uy tín, bản lĩnh chính trị vững vàng để tham gia công tác tuyên truyền, giáo dục về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng; làm nòng cốt trong việc định hướng tư tưởng ở cơ sở, kịp thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn, quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận rõ đúng-sai, tốt-xấu, không dao động tư tưởng.

Cùng với đó, các cơ quan chức năng phải tích cực, chủ động đấu tranh với những thông tin xấu, độc trên các mạng xã hội và trong những ấn phẩm do thế lực phản động, thù địch tuồn vào nước ta nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Giải pháp này rất quan trọng, bởi vì, các thông tin xấu độc đang được lan truyền bằng nhiều loại phương tiện, đặc biệt là trên các mạng xã hội, xuất hiện thường xuyên, liên tục và hết sức nguy hiểm; trong khi những thông tin chính thống phản bác lại thông tin xấu độc, sai sự thật này lại chưa kịp thời, thậm chí nhiều lúc còn "bỏ ngỏ", mặc cho các thế lực thù địch, phản động đăng tải những thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, sai trái. Điều đó dẫn đến không ít cán bộ, đảng viên hoài nghi, bị lây nhiễm những tư tưởng, thông tin xấu độc, dần trở thành “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Việc đặc biệt quan trọng là Đảng, Nhà nước cần tiếp tục xử lý nghiêm khắc những đối tượng tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật và đạo đức, lối sống; kiên quyết làm trong sạch đội ngũ nhằm củng cố, nâng cao niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đây là giải pháp cực kỳ quan trọng trong tình hình hiện nay, nếu chúng ta không làm tốt thì sẽ làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, các thế lực thù địch với cách mạng nước ta sẽ lợi dụng những vụ việc tiêu cực để thổi phồng, quy chụp, tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu chế độ.

Cùng với thường xuyên chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch đội ngũ, bảo đảm không có "vùng cấm", xử lý nghiêm khắc bất kể người vi phạm là ai, Đảng, Nhà nước cần chủ động công khai, minh bạch các vụ việc, đối tượng vi phạm để nhân dân được biết và góp phần cảnh báo, răn đe; tránh để các đối tượng thù địch lợi dụng "tung hỏa mù", sử dụng "thuyết âm mưu", gây hoang mang, dao động trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Biện pháp hết sức quan trọng nữa là phải tổ chức thực hiện nghiêm túc sinh hoạt tự phê bình và phê bình, tự soi, tự sửa theo Kết luận 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Theo đó, các cấp ủy, tổ chức Đảng phải duy trì thực hiện nền nếp, nghiêm túc, chặt chẽ chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình, nhất là ở cấp chi bộ, bởi lẽ, chi bộ là nơi mọi cán bộ, đảng viên thường xuyên sinh hoạt, gắn bó chặt chẽ và hiểu rõ về nhau cả về ưu điểm, nhược điểm, những mối quan hệ xã hội và nguy cơ mắc sai lầm, khuyết điểm... Sinh hoạt tự phê bình và phê bình nếu làm tốt, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; giảm vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, kỷ luật và đạo đức, lối sống; không để cán bộ, đảng viên sa ngã, vi phạm kéo dài, gây bức xúc trong cơ quan, tổ chức, địa phương...

Ngoài những giải pháp chủ yếu nêu trên, để phòng, chống hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, cần tiến hành đồng bộ các giải pháp về công tác chính sách, chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần; tiến hành công tác tổ chức-cán bộ và khen thưởng, kỷ luật thực sự dân chủ, khách quan, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên thực sự "tâm phục, khẩu phục", tránh nảy sinh tư tưởng bất mãn, tiêu cực; thực hiện đúng quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị...

Khi cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng, thực sự thông suốt về tư tưởng, những vướng mắc được giải quyết kịp thời thì sẽ có sức đề kháng tốt, không mắc "căn bệnh" nguy hiểm "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". 

Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


           Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.

          Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

XUAN THUY-01.2023

 

Nhận diện: Lợi dụng vấn đề dân tộc trong chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch

 



        Tây Nguyên của Việt Nam là nơi quy tụ đồng bào thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Các thế lực thù địch đang tập trung vào địa bàn này để chống phá. Được thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ, chúng tìm mọi cách vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là "nhà nước Đê Ga tự trị", tạo cớ để nước ngoài nhảy vào can thiệp. Chúng đã gây nên các cuộc bạo loạn chính trị ở nhiều nơi trên địa bàn Tây Nguyên (năm 2001 và 2004).

        Một số nét cơ bản về âm mưu, thủ đoạn chống phá hiện nay cho thấy, lợi dụng vấn đề dân tộc đã thực sự trở thành một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Qua công tác đấu tranh, chúng ta nhận diện âm mưu, thủ đoạn của địch trong "diễn biến hòa bình" về vấn đề dân tộc với một số nét cơ bản sau:

        - Vấn đề dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm của "diễn biến hoà bình", được coi là vấn đề then chốt của địch nhằm phá vở khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, chia rẽ Nhân dân vvới Đảng, Nhà nước.

        - Trong vấn đề dân tộc, địch tập trung tuyên truyền nhằm "khoét sâu", "nới rộng" mâu thuẫn nội bộ dân tộc thông qua triệt để khai thác, nhào nặn thông tin, tuyên truyền tiêu cực về dân sinh, dân trí, dânchủ, môi trường tự nhiên và văn hóa, xã hội.

        - Kích động hình thành tâm lý kỳ thị, phân biệt trong một bộ phận Nhân dân; xây dựng 'ngọn cờ" nhằm tập hợp lực lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số.

        - Tuyên truyền xuyên tạc về tình hình dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương. Một mặt nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặt khác vừa tạo 'tiếng vang', kêu gọi tài trợ, vừa thúc đẩy sự can thiệp, gây sức ép của các tổ chức Quốc tế vào đời sống chính trị nước ta.

        Thứ nhất, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiên lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam.

        Về mục tiêu, việc lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đều là loại hoạt động tiến công chông phá cách mạng nước ta, đi đến loại trừ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.

        Về nội dung tiến công, phá hoại, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

        Về biện pháp thực hiện, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chủ yếu bằng các hoạt động phi vũ trang, bằng chính lực lượng từ bên trong có sự trợ lực, răn đe bằng sức mạnh toàn diện ở bên ngoài.

        Thứ hai, bắt nguồn từ đặc điểm Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và tầm quan trọng đặc biệt của các dân tộc trong cách mạng Việt Nam hiện nay.

        Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (chiếm trên 86% dân số cả nước) là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc (chiếm gần 16% dân số cả nước). Tuy là các dân tộc thiểu số nhưng 53 dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng và Nhà nưởc ta luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề dân tộc, coi thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

        Thấy được tầm quan trọng của các dân tộc hợp thành quốc gia dân tộc Việt Nam, kế tục chính sách mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực hiện trước đây, ngày nay các thê lực thù địch càng ráo riết, triệt đề khai thác, tận dụng vấn đề dân tộc, coi đó là một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nưởc ta.

        Thứ ba, vùng các dân tộc thiểu số ở nước ta đang có những khó khăn mà kẻ địch có thể lợi dụng chống phá.

        Mặc dù, đã có sự quan tâm toàn diện và sâu sắc của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân ta, song do nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý... và cả những hạn chế, sai sót trong tổ chức thực hiện, cho đến nay vùng các dân tộc thiểu số của nưốc ta vẫn còn nhiều khó khăn cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiêu số nhiều nơi còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá, đời sống và quốc phòng, an ninh còn nhiều bất cập. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những hạn chế đó để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đây là một lý do giải thích vì sao lợi dụng vấn đề dân tộc trở thành một trọng điểm của chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thê lực thù địch đối vối cách mạng Việt Nam hiện nay. Từ đó, ta cần nhận thức sâu sắc và nêu cao cảnh giác, đối phó./.

XUAN THUY-01.2023

"BỘ ĐỘI CỤ HỒ" - BIỂU TƯỢNG CỦA SỨC MẠNH, NIỀM TIN CHIẾN THẮNG

 Quân đội ta do Đảng và Bác Hồ kính yêu tổ chức, giáo dục và rèn luyện, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bằng tâm huyết, bản lĩnh, trí tuệ và những chiến công xuất sắc của mình, Quân đội ta đã được nhân dân tin yêu trao cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành tài sản riêng và giá trị văn hóa quân sự độc đáo của Quân đội và nhân dân ta. Đây cũng là tiêu chí quan trọng để phân biệt Quân đội ta với quân đội các nước khác. Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam: Tổ quốc, Đảng, Bác Hồ, nhân dân và hòa bình, độc lập, tự do là những giá trị thiêng liêng nhất. Thế nhưng, vẫn còn có những nhận thức chưa đúng về sự thật ấy.

Vẫn còn những cái nhìn lạc lõng

Trên thực tế, vì không đủ kiến thức, thiếu thực tiễn hoặc vì những lý do nào đó mà có những quan điểm nhận thức không đúng về Quân đội ta, về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới. Vẫn có người ngộ nhận rằng, bộ đội bây giờ lương cao, “được thụ hưởng cuộc sống sung túc, đủ đầy”; “bộ đội bây giờ không còn vất vả”; Quân đội với “bộ máy cồng kềnh, gây hao tốn ngân sách quốc gia, kéo chậm sự phát triển đất nước”...

Cũng với tầm nhìn hạn hẹp, chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”, các thế lực thù địch đã “vơ đũa cả nắm”, tuyệt đối hóa hiện tượng rồi nâng lên thành bản chất; quy kết một số quân nhân vi phạm pháp luật đến mức phải kỷ luật..., đã làm cho “quân đội hư hỏng”. Từ đó, chúng tung tin, đồn thổi rằng: “QĐND Việt Nam đã thoái hóa, biến chất”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”; “cần phải phi đảng”, “phi chính trị hóa" Quân đội... Đó là những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, mà thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa" Quân đội rất phi lý, không thể chấp nhận. Kịch bản và các chiêu thức mới trong sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin xấu, độc; tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ là tiếp nối chiêu trò “hà hơi, tiếp sức” để thực hiện ý đồ “phi đảng”, “phi chính trị hóa" Quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Cho nên, dù có ngụy trang, che đậy kín đáo đến đâu thì “cái đuôi xảo trá, phản động vẫn lòi ra”; các ẩn ý sâu cay vẫn lộ diện, từ cách giật tít bài viết, tung các hình ảnh “nhạy cảm”, gây sự tò mò đến các giọng điệu lừa bịp, ngụy tạo để thu hút sự quan tâm “khám phá” của cư dân mạng, tìm kiếm sự chia sẻ, a dua, cùng vào hùa chống phá Đảng của mấy nhóm người bất mãn, cơ hội chính trị, phản động. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Bộ đội Cụ Hồ đã từng đánh thắng những tên xâm lược đầu sỏ trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, khắc nghiệt, thì nay trong thời bình, họ không hề run sợ trước bất cứ âm mưu, thủ đoạn chống phá nào dù chúng “ẩn hình”, “ném đá giấu tay” trên không gian mạng, trà trộn trong dân cư hay lẫn khuất ở bên ngoài biên cương Tổ quốc.

Vì sao các thế lực thù địch lại rắp tâm xuyên tạc, bôi đen hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ? Để tồn tại và thõa mãn tham vọng cá nhân “trả thù chế độ”, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị cấu kết với các thế lực thù địch, triệt để lợi dụng mạng xã hội để tung tin giả, xấu, độc nhằm xuyên tạc sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ, mất niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Tim đen của chúng là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị-một mắt khâu quan trọng để thực hiện “phi chính trị hóa” toàn quân, chia rẽ Quân đội với nhân dân; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của người lính Cụ Hồ; đánh mất bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; làm cho Quân đội ta không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân.

Xuyên tạc, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch đã bị phơi bày. Nó chẳng những phủ định sạch trơn giá trị lịch sử, chà đạp lên sự yêu quý, ngưỡng mộ và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội, mà còn khước từ sự chia sẻ, cảm thông đối với những người lính Cụ Hồ về những khó nhăn, gian khổ, thiệt thòi, hy sinh, mất mát và đổ máu trong thời chiến cũng như trong thời bình mà họ và gia đình đã và đang phải gánh chịu.

 Đã thế, chúng còn rắp tâm cướp đi sức mạnh, niềm tin của nhân dân đối với Bộ đội Cụ Hồ, phủ nhận mối quan hệ máu thịt, “cá với nước” của quân và dân ta vì chúng biết rõ rằng trong tái tim người dân Việt Nam yêu nước, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ có vị trí đặc biệt quan trọng. Bác Hồ là lãnh tụ tinh thần, là niềm tin, tình yêu, biểu tượng dẫn dắt dân tộc Việt Nam tiến lên. Phủ nhận nguồn gốc, bản chất, truyền thống của Quân đội, chúng không muốn thế hệ trẻ kế thừa sự nghiệp của cha anh, không muốn thế hệ chủ nhân của đất nước hiểu rằng Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà nhân dân dành riêng khen tặng và gửi gắm niềm tin vào Quân đội ta. Qua đó, đánh cắp niềm vinh dự, tự hào: Quân đội ta được mang tên lãnh tụ kính yêu; không muốn thế hệ trẻ biết rằng, trên thế giới, duy nhất chỉ có Quân đội ta có được niềm vinh dự, tự hào và hạnh phúc lớn lao ấy.

Chưa hết, thâm độc và xảo trá hơn thế, các thế lực thù địch đang rắp tâm hạ bệ hình ảnh cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, từ đó phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch mong muốn Quân đội ta chỉ là những người lính “đánh thuê”, đội quân nhà nghề “ô hợp”, không còn sự thôi thúc hoàn thành nhiệm vụ từ mệnh lệnh trái tim, sự tự nguyện, tự giác phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng chiến đấu: Vì Tổ quốc phụng sự, vì nhân dân phục vụ, “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”; không muốn cán bộ, chiến sĩ thực hiện 10 Lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật của quân nhân và 3 chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Chiều sâu của tội ác là cái đích cuối cùng họ hướng đến thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Quân đội, biến Quân đội ta trở nên vô dụng. Chúng ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu thâm độc ấy và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi hành vi chống phá; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ.