Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện mới

 Trên cơ sở quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội theo hướng đồng bộ, hiệu quả, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XV tại huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng_Ảnh: TTXVN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội - cơ sở lý luận và thực tiễn

Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy định, quy trình, phong cách, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo, nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ phương thức lãnh đạo của Đảng, tập trung vào các nội dung chính là: Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ; Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị(1).

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội được triển khai, tổ chức nghiên cứu trên cơ sở các nội dung nêu trên. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Thông qua luật và nghị quyết, Quốc hội thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Đại hội XIII của Đảng xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị... Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao”(2).

Đại hội XIII của Đảng đề ra yêu cầu đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội, đặt trong tổng thể nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thực hiện Chương trình công tác toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Hội nghị Trung ương 6 đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” và Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17-11-2022, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”, trong đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong sự đổi mới tổng thể tổ chức bộ máy nhà nước.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Thực tiễn những năm qua cho thấy, vai trò lãnh đạo của Đảng với Quốc hội trong thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng ngày càng rõ ràng, hạn chế sự chồng lấn, bao biện, làm thay. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội thể hiện ở việc xác định đúng vai trò, vị trí của Quốc hội, đề ra định hướng cơ bản, phát huy dân chủ, tăng cường vai trò chủ động, sáng tạo và tạo điều kiện thuận lợi để Quốc hội hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Về quan điểm, nguyên tắc:

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo Cương lĩnh và các quan điểm, chủ trương của Đảng về tổ chức, hoạt động của Quốc hội; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà Hiến pháp, pháp luật quy định.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần đi đôi với đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và đặt trong tổng thể yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị theo phương châm thực hiện từng bước, có lộ trình hợp lý, phù hợp.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng tuân thủ nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tiễn của Việt Nam và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng; bảo đảm phát triển bền vững trong tương lai.

Về mục tiêu:

Mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là nhằm xây dựng Quốc hội vì nhân dân, thực sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, phát huy dân chủ, pháp quyền, khoa học, tăng tính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045; cụ thể là:

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để thực hiện hiệu quả hơn nữa chức năng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, vừa bảo đảm phát huy vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, vừa bảo đảm dân chủ trong hoạt động của Quốc hội. Tăng tính chuyên nghiệp, phát huy dân chủ, tính pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong khuôn khổ Hiến pháp; xác định rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội theo hướng rành mạch, chủ động, trách nhiệm, chuyên sâu, chuyên nghiệp, tăng tính nghiên cứu khoa học, nhạy bén, bao quát được hiệu lực hoạt động, đề xuất được sáng kiến nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Chất lượng hoạt động lập pháp được nâng cao, đổi mới quy trình, đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thực chất hơn; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát. Tăng tính công khai, minh bạch, bảo đảm thực hiện chức năng đại diện của nhân dân; đổi mới hình thức hoạt động của Quốc hội; xây dựng Quốc hội điện tử. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và cơ chế bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm các nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện bộ máy giúp việc khoa học, chủ động, chuyên nghiệp, chuyên sâu.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng Quốc hội khoa học, hiện đại, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch, dân chủ, hướng tới hoạt động thường xuyên, thực sự vì nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; thực hiện đầy đủ, chuyên nghiệp chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy và nhân sự cấp cao của các cơ quan nhà nước, hiến định vị trí, vai trò của Hội đồng bầu cử quốc gia, của cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Phát huy vị trí, vai trò trung tâm của đại biểu Quốc hội; xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, đồng bộ, thống nhất, ổn định, khả thi, công khai, minh bạch, thúc đẩy sáng tạo, bền vững, ứng phó kịp thời trước những chuyển biến nhanh của thực tiễn và hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo đảm giữ vững quốc phòng - an ninh trong điều kiện mới.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai biểu quyết thông qua nghị quyết về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV_Ảnh: Tư liệu

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách lớn

Trong thời gian qua, Quốc hội đã làm tốt nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành luật và nghị quyết của Quốc hội. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định nội dung thẩm tra bắt buộc về sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương của Đảng. Đảng đoàn Quốc hội đã phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc lãnh đạo, chỉ đạo đối với các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Các chủ trương, chính sách lớn, phức tạp đều được kịp thời báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư để có phương án giải quyết phù hợp, hiệu quả. Đảng đoàn Quốc hội luôn thực hiện nghiêm túc việc xin ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những định hướng lớn về nội dung các hoạt động của Quốc hội, những vấn đề chủ yếu của một số dự án luật, pháp lệnh quan trọng, có tác động và ảnh hưởng đến tình hình chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân.

Quốc hội kịp thời phản ánh với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những ý kiến, kiến nghị của nhân dân về xây dựng đất nước nhằm góp phần vào việc định hướng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, hoạt động của Đảng đoàn Quốc hội đã có nhiều đổi mới trong việc xin ý kiến Bộ Chính trị. Các nội dung báo cáo xin ý kiến được phân thành nhóm vấn đề, để vừa bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, vừa phát huy dân chủ trong thảo luận của Quốc hội, bao gồm vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo cụ thể, vấn đề báo cáo để Bộ Chính trị nắm thông tin và xin được trình Quốc hội xem xét, thảo luận.

Kế thừa những kết quả trong thời gian qua, trong giai đoạn tiếp theo cần đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính sách, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối chính trị để giúp Đảng lãnh đạo Nhà nước toàn diện, trong đó có lãnh đạo Quốc hội. Với vai trò của mình, Quốc hội có nhiệm vụ thực hiện đường lối chính trị được tuyên ngôn trong Cương lĩnh và những chủ trương lớn của Đảng. Đường lối chính trị được xác định cụ thể trong văn kiện các kỳ đại hội Đảng và cụ thể hóa tại các hội nghị Trung ương bằng các nghị quyết chuyên đề xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao chất lượng thảo luận về các vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh, ban hành kịp thời nghị quyết; trong đó, xác định rõ các mục tiêu, gợi ý giải pháp và công cụ chính sách phù hợp để Nhà nước thực hiện. Một mặt, Quốc hội là một thành tố trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu chính sách này; mặt khác, là cơ quan thực hiện quyền lập pháp và giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch, có sức cạnh tranh quốc tế theo yêu cầu, định hướng của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045. Đổi mới phương thức lãnh đạo gắn liền với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các mục tiêu chính sách trong các lĩnh vực, ngành trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đã được hoạch định.

Đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm Đảng không làm thay Nhà nước, trong đó có Quốc hội, trong việc tổ chức thực hiện chính sách trên tất cả các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội; đồng thời, trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách lớn, Đảng lãnh đạo Nhà nước, trong đó có Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện các chính sách cụ thể và thực hiện chính sách, đánh giá chính sách qua các chức năng của Quốc hội, như ban hành các nghị quyết, chương trình pháp luật, quyết định những vấn đề quan trọng, giám sát tối cao... Các mục tiêu chính sách cần được đo lường cụ thể bằng các chỉ số, các tiêu chí định lượng để thuận lợi cho việc thực hiện, giám sát đánh giá.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Quốc hội thực hiện chính sách bằng chương trình pháp luật (thông qua các luật) và chương trình giám sát, thực hiện chính sách thông qua các quyết định quan trọng; trong đó, quá trình thực hiện ngân sách Quốc hội cũng là việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, từ việc phân bổ ngân sách, quyết toán ngân sách. Do đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, qua các hoạt động của Quốc hội đều gắn với việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng với tư cách là thành tố cốt lõi lãnh đạo hệ thống chính trị đã hoạch định và xây dựng. Như vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng gắn liền với đổi mới hoạt động của Quốc hội, tạo thành xung lực lớn thúc đẩy quản trị quốc gia hiệu quả, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Thời gian qua, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, như giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, phòng, chống tham nhũng, ứng phó với biến đổi khí hậu, tự chủ và xã hội hóa cung ứng dịch vụ công, giáo dục - y tế, phòng, chống đại dịch COVID-19,... đều gắn với chương trình pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng, như quyết định ngân sách, quyết định đầu tư công phục hồi kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19. Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ ban hành luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo lập khung khổ pháp lý để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045.

Thứ ba, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn liền trách nhiệm kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách. Nhà nước, trong đó có Quốc hội, thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách thông qua chương trình pháp luật, thông qua các luật, bảo đảm hiệu lực các luật và hệ thống pháp luật, sự tuân thủ pháp luật thông qua hoạt động giám sát, căn cứ vào các mục tiêu chính sách của từng lĩnh vực, từng ngành với các chỉ tiêu, tiêu chí cụ thể.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng Đảng kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện các chính sách, tác động chính sách (sau thực hiện), thông qua sơ kết, tổng kết các nghị quyết được ban hành vào giữa nhiệm kỳ hoặc kết thúc nhiệm kỳ của Nhà nước, Quốc hội, để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát đánh giá kết quả thực hiện, tác động của các chủ trương, chính sách một cách đầy đủ nhất.   

Thứ tư, nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm tăng cường chất lượng phân tích chính sách, tham vấn chính sách, bảo đảm các mục tiêu chính sách phù hợp, đồng thuận đối với Nhà nước, nhất là Quốc hội với cộng đồng xã hội. Mấu chốt của việc đổi mới ở đây là, trên cơ sở đường lối chính trị thể hiện trong Cương lĩnh, các nghị quyết được ban hành “đúng” và “trúng”, nhất là các nghị quyết chuyên đề, tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội tổ chức thực hiện. 

Thứ năm, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để tạo sự chủ động, sáng tạo trong hoạt động của Quốc hội, nhất là hoạt động lập pháp đối với một số chủ trương, đường lối, chính sách mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị quyết định khung để Quốc hội thảo luận, quyết định cụ thể trong phạm vi chủ trương của Đảng; đồng thời, giúp Bộ Chính trị kịp thời điều chỉnh các nội dung chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề quan trọng, mà qua thảo luận tại Quốc hội còn có ý kiến khác nhau. Với từng nhiệm kỳ Quốc hội, Đảng có định hướng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ.

Đoàn Giám sát Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thực hiện giám sát tiến độ Dự án sân bay Long Thành tại tỉnh Đồng Nai_Ảnh: TTXVN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác tổ chức cán bộ

Đại hội VI của Đảng đánh dấu sự đổi mới trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, trong đó có quan điểm đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Báo cáo chính trị của Đại hội VI chỉ rõ: “Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Nêu cao vị trí và vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho các cơ quan dân cử thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo Hiến pháp quy định. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật... Chấn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh, gọn, có đủ năng lực thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể”(3).

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã đề cập thêm một nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước(4). Nhiệm vụ đặt ra với Quốc hội là kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, đổi mới quy trình ban hành luật. Quốc hội cần làm tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Thời gian qua, Đảng đoàn Quốc hội đã thực hiện nhiều quy trình chặt chẽ nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội và công tác tổ chức cán bộ của Quốc hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn những nhiệm kỳ vừa qua, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội về công tác tổ chức cán bộ như sau:

Một là, trước mỗi kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, Đảng đoàn Quốc hội xây dựng đề án công phu về các nội dung lớn của cuộc bầu cử, trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến; đồng thời, triển khai nghiêm túc kết luận của Bộ Chính trị về đề án bầu cử. Tuy nhiên, Đảng không làm thay, cụ thể là không ấn định về cơ cấu đại biểu, không quy định cơ cấu “cứng” phân bổ cho cơ quan, tổ chức. Thời gian qua, hầu hết người giới thiệu ứng cử trong cơ cấu “cứng” là lãnh đạo cơ quan, tổ chức làm cho tỷ lệ đại biểu là nhà khoa học và các giới, các ngành chưa cao, dẫn đến việc tỷ lệ không nhỏ đại biểu Quốc hội “gánh nhiều cơ cấu”. Xu hướng tăng dần đại biểu Quốc hội chuyên trách từ khoảng 5 - 6% tổng số đại biểu Quốc hội đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX lên 25,1% ở Quốc hội khóa XI(5), khoảng 35 - 40% ở Quốc hội khóa XIII và tăng khoảng 5% ở mỗi nhiệm kỳ tiếp theo là tín hiệu tốt; bởi vì, việc tăng số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách sẽ giúp Quốc hội hoạt động hiệu quả, chất lượng hơn.

Hai là, đổi mới công tác cán bộ, lựa chọn người đủ đức, đủ tài tham gia vào Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nhân sự cấp chiến lược phải chịu trách nhiệm trước Đảng về thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, tức là gắn việc lựa chọn nhân sự cấp chiến lược với thực hiện chính sách; nói cách khác là tích hợp phương thức lãnh đạo bằng công tác cán bộ với phương thức lãnh đạo bằng chính sách. Nhân sự cơ cấu vào các ủy ban của Quốc hội như hiện nay về cơ bản là phù hợp, bảo đảm sự kết nối giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các ủy ban, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm có 3 cơ quan giúp việc về các lĩnh vực công tác đại biểu, dân nguyện, lập pháp(6). Đặc biệt, Ban Công tác đại biểu làm tốt công tác tham mưu, việc phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân đi vào nền nếp; nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Trong thời gian qua, Đảng đã lãnh đạo Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ là cơ quan thường trực của Quốc hội, chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phân công Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, nghị quyết và các báo cáo, dự án khác theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; thực hiện các nội dung thuộc chương trình giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ba là, cần có cơ chế tăng cường vai trò, sự tham gia của Đảng đoàn Quốc hội và tổ chức đảng ở Thường trực Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội từ sớm, từ xa trong tham mưu với Đảng để quyết định chủ trương, đường lối, chính sách; có quy định về sự phối hợp giữa Đảng đoàn Quốc hội và cơ quan trình nội dung nghị quyết ra Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhằm tạo sự đồng thuận trong hoạt động của Quốc hội. Đề cao vai trò của Bí thư, Phó Bí thư Đảng đoàn Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả hoạt động của Quốc hội, mở rộng thêm phạm vi đánh giá và cụ thể hóa bằng việc đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng đã hoạch định.

Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo qua các tổ chức đảng trong Quốc hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng Dân tộc và 9 ủy ban(7) (từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII) thông qua các tổ chức đảng tại đây. Hội đồng Dân tộc và các ủy ban có thường trực, gồm chủ tịch/chủ nhiệm, phó chủ tịch/phó chủ nhiệm và ủy viên hoạt động chuyên trách. Cần sớm hoàn thiện tổ chức đảng trong Quốc hội để gắn kết, quản lý chặt chẽ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quy định rõ vai trò của tổ chức đảng ở Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong lãnh đạo cơ quan tương ứng của Quốc hội; có mô hình tổ chức đảng đặc thù trong Quốc hội khi tăng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Năm là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn đại biểu Quốc hội, tập trung vào các đại biểu Quốc hội chuyên trách, giúp Đoàn đại biểu Quốc hội phát huy được vai trò là cầu nối giữa đại biểu và công dân cử tri, cung cấp thêm nhiều thông tin, dữ liệu minh bạch hơn cho hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, giúp đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ.

Sáu là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng qua tìm kiếm, lựa chọn nhân tài là nhân sự cấp chiến lược vào bộ phận hỗ trợ, tham mưu cho Quốc hội, điển hình như vị trí Tổng Thư ký Quốc hội và tăng cường kỷ cương hành chính, mục tiêu cải cách hành chính đối với Văn phòng Quốc hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác vận động, tuyên truyền

Quốc hội thông qua cử tri, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là vận động nhân dân thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ nhất, Đảng chú ý lắng nghe ý kiến, tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân. Để đổi mới hiệu quả phương thức lãnh đạo của Đảng bằng công tác vận động, tuyên truyền, mỗi đảng viên tham gia Quốc hội phải ra sức rèn luyện đạo đức gắn với học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về phát huy sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... để có phương pháp đúng đắn, hiệu quả trong việc vận động, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Thứ hai, đại biểu Quốc hội là cầu nối giữa cử tri và Quốc hội, lắng nghe tiếng nói của cử tri về những vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, tập hợp những ý kiến đó, chuyển tải đến Đảng; đồng thời, tập hợp, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan, hội đồng, các ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội có nhiệm vụ tham vấn minh bạch đối với nhu cầu, ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân về các chủ trương, đường lối và chính sách, đánh giá tác động của chính sách, pháp luật trong chương trình pháp luật, đánh giá thực hiện chính sách, tác động chính sách; từ đó, tham mưu với Đảng hoạch định “đúng” và “trúng”, kịp thời những vấn đề phát triển kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh trong bối cảnh mới.

Thứ tư, công tác dân nguyện không chỉ tham mưu thực hiện tốt công tác dân nguyện của Quốc hội, mà còn chủ động tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn, thư của công dân, đi sâu phân tích, đánh giá kiến nghị cử tri, đôn đốc các cơ quan giải quyết kiến nghị của cử tri; từng bước khắc phục được tình trạng chuyển đơn, thư qua lại giữa các cơ quan của Quốc hội, thực hiện khẩn trương, hiệu quả hơn việc trả lời và thực hiện kiến nghị của cử tri. Chú trọng nắm bắt tâm tư, ý chí, nguyện vọng của nhân dân về các chủ trương, đường lối, chính sách, thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội kịp thời chuyển tải đến các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Thứ năm, thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội cần phải ra sức học tập đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện “nói đi đôi với làm”, trở thành tấm gương sáng trong cơ quan và bên ngoài xã hội; từ đó, tạo uy tín, sức hút tự nhiên đối với các tầng lớp nhân dân trong xã hội./.

VTT (St)

Những thách thức đối với an ninh tư tưởng ở nước ta hiện nay

 rong điều kiện không gian mạng nói chung và các phương tiện truyền thông xã hội nói riêng phát triển mạnh mẽ như hiện nay, an ninh tư tưởng của đất nước đang đứng trước những thách thức mới và phức tạp. 

Thứ nhất, với tính chất rộng mở, tự do của các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch xác định đây là một trong những mặt trận chính để thực hiện mục tiêu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta; chia rẽ nội bộ, phá hoại mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; làm cho người dân hoài nghi về vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ cắt xén, thêm bớt, ngụy tạo các sản phẩm thông tin thật - giả rất khó phân biệt, phát tán trên các nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến, như Facebook, Instagram, Youtube... để tuyên truyền sai sự thật về tình hình chính trị trong nước; kết nối, tập hợp lực lượng nhằm chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, các phần tử thù địch, phản động từ nước ngoài ra sức hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” các đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, khiến công tác đấu tranh của ta thêm khó khăn, phức tạp.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động không ngừng đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng phi mác-xít, cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời, không ngừng rao giảng, đề cao tư tưởng phương Tây, khoác áo “khách quan học thuật”, “văn hóa, văn minh” để quảng bá về cái gọi là “các giá trị phương Tây”.

Thứ ba, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các biện pháp kỹ thuật để tấn công mạng, đe dọa an toàn, an ninh mạng của nước ta. Mỗi năm, có hàng nghìn trang mạng của nước ta bị tấn công, chỉnh sửa, chèn thêm nội dung, cài mã độc, trong đó có hàng trăm trang tên miền “gov.vn” của các cơ quan nhà nước. Nhiều thiết bị kết nối internet tồn tại lỗ hổng bảo mật, tạo cơ hội để tin tặc khai thác thông tin phục vụ mục đích an ninh, tình báo, thương mại, theo dõi các nguồn tin, nghe trộm các cuộc thoại; thu chặn, sửa đổi hoặc nghe lén các gói tin truyền trên internet; từ đó khuấy động, xuyên tạc thông tin, tạo dư luận giả, gây hoang mang cho công chúng và tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của nhân dân. 

Để đấu tranh bảo đảm an ninh tư tưởng của đất nước trên các phương tiện truyền thông xã hội có hiệu quả, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng, công tác an ninh mạng nói riêng và an ninh quốc gia nói chung. Trên không gian mạng, chủ động tăng cường nội dung mang tính tích cực, lan tỏa những giá trị tốt đẹp, nhất là những giá trị về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới…

Thứ hai, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, chuẩn bị các luận cứ khoa học thuyết phục, phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc; làm cho không gian mạng thực sự lành mạnh, an toàn. Tập trung đi sâu nghiên cứu, giải đáp những vấn đề mà dư luận xã hội còn nhiều ý kiến khác nhau. Tiếp tục nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những giá trị tư tưởng, văn hóa tinh hoa của nhân loại, làm phong phú đời sống tư tưởng, tinh thần của xã hội, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội.

Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến hệ tư tưởng chủ đạo trên các phương tiện truyền thông xã hội bằng hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp. Trong thời đại internet với sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông xã hội, cần đổi mới công tác tư tưởng bằng nhiều hình thức sinh động và dễ lan tỏa, hấp dẫn, có khả năng tương tác mạnh mẽ.  

Thứ tư, cần xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các dư luận viên trên không gian mạng. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các KLO trên không gian mạng, là những người có uy tín, có ảnh hưởng lớn trên các phương tiện truyền thông xã hội (người của công chúng, các trí thức, văn nghệ sĩ); hướng dẫn họ thể hiện các quan điểm, nhận xét phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, tăng cường theo dõi, rà quét để kịp thời phát hiện và ngăn chặn sự xâm nhập của các luồng tư tưởng lai căng, phức tạp, đi ngược lại những giá trị tư tưởng, văn hóa, chuẩn mực trên các phương tiện truyền thông xã hội. Cần hết sức quan tâm đến lực lượng thanh, thiếu niên - là lực lượng tích cực nhất trên các phương tiện truyền thông xã hội hiện nay - cung cấp thông tin đầy đủ giúp họ đủ nền tảng kiến thức, có đủ “sức đề kháng” để nhận diện đúng - sai và không bị xúi giục, làm theo những tư tưởng, lối sống lệch lạc, xa lạ với truyền thống tư tưởng, văn hóa của dân tộc.

Thứ năm, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và quản lý không gian mạng thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội coi trọng tuân thủ pháp luật, chuẩn mực đạo đức xã hội, văn hóa, đủ năng lực nhận biết, phân biệt đúng - sai, thật - giả, tích cực đấu tranh, phê phán các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, độc hại trên không gian mạng. Quản lý chặt chẽ các dịch vụ trên không gian mạng xuyên biên giới vào Việt Nam; các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trên lãnh thổ Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Rà soát, quy hoạch lại các hệ thống kết cấu hạ tầng cung cấp dịch vụ viễn thông, internet bảo đảm ngăn chặn hiệu quả tấn công mạng và loại bỏ thông tin gây nguy hại đến an ninh quốc gia; tập trung quản lý chặt chẽ các loại hình thông tin trên không gian mạng, đặc biệt là mạng xã hội, trang thông tin điện tử, blog… hoạt động theo đúng quy định của pháp luật./.

VTT (St)

Các phương tiện truyền thông xã hội đối với an ninh tư tưởng ở nước ta hiện nay

 Sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông xã hội đã tác động đến mọi mặt đời sống xã hội và đang đặt ra những thách thức to lớn đối với vấn đề an ninh quốc gia, trong đó có an ninh tư tưởng ở nước ta. 

Trong thời đại internet với sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông xã hội, cần đổi mới công tác tư tưởng bằng nhiều hình thức sinh động và dễ lan tỏa, hấp dẫn, có khả năng tương tác mạnh mẽ_Ảnh: TTXVN

Theo khoản 22, Điều 3, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-7-2013, của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, mạng xã hội (social network) - loại hình chủ đạo trong các phương tiện truyền thông xã hội (social media) - “là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác”. 

Các phương tiện truyền thông xã hội ở nước ta hiện nay có 2 loại: 1- Các phương tiện truyền thông xã hội trong nước với các ứng dụng có số lượng người sử dụng khá lớn, như: Zalo, Zing, Otofun, Gapo và Lotus…; 2- Các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài, như Facebook, Youtube, Instagram, Twitter… Trong đó, các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài có nhiều ứng dụng nổi trội hơn hẳn nhờ cấu trúc phong phú, giao diện thu hút, khả năng tương tác và liên kết cộng đồng cao. 

Với số lượng hàng tỷ người trên thế giới tham gia và gia tăng nhanh chóng từng ngày, từng giờ, các phương tiện truyền thông xã hội đang tạo ra một xã hội “ảo” tồn tại song song với xã hội thực và trở thành một “mặt trận” mới về an ninh ở các quốc gia. 

An ninh tư tưởng là một vấn đề lớn, vừa thuộc phạm trù chính trị, vừa thuộc phạm trù văn hóa và liên quan mật thiết đến an ninh quốc gia. Mục tiêu của công tác an ninh tư tưởng trong bối cảnh các phương tiện truyền thông xã hội bùng nổ là bảo đảm hệ tư tưởng của Đảng ta giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta, chiếm vị trí quan trọng trên không gian mạng và có khả năng dẫn dắt các xu hướng tư tưởng khác; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống lại các âm mưu chống phá và các hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, truyền bá những nội dung phản văn hóa… diễn ra trên không gian mạng. 

Bảo vệ an ninh trên các phương tiện truyền thông xã hội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các quốc gia hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cần có sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, quan điểm, phương pháp, cách thức triển khai, cũng như việc xác định đối tượng hướng tới để có những giải pháp hiệu quả, thiết thực, phù hợp với điều kiện mới.

Thực tiễn một số nước trên thế giới trong những năm gần đây cho thấy, các phương tiện truyền thông xã hội đã có những tác động, ảnh hưởng lớn đến chính trị. Các phương tiện truyền thông xã hội đóng vai trò là những công cụ tập hợp lực lượng, dẫn dắt trong các cuộc biểu tình, đấu tranh, như các trường hợp của “mùa Xuân Arập” ở Bắc Phi và Trung Đông (năm 2010), hay như phong trào biểu tình ở Hong Kong (năm 2014), phong trào “biểu tình áo vàng” ở Pháp (2018 - 2019)… Các biến động chính trị này xảy ra do nhiều nguyên nhân và trong những điều kiện khác nhau, nhưng đều có điểm chung là sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phát tán những thông tin tiêu cực, kích động rất nhiều người đến từ các vùng, miền khác nhau tham gia biểu tình chống phá… Hình ảnh về cuộc biểu tình được chia sẻ rộng rãi trên các phương tiện truyền thông xã hội đã kích động những người khác tiếp tục xuống đường và làm cho các cuộc biểu tình này diễn ra liên tiếp theo nhiều đợt khác nhau(1), phá rối an ninh, thậm chí gây bạo loạn quy mô lớn, như phong trào biểu tình “Chiếm phố Wall” được phát động từ mạng xã hội lan rộng trên khắp nước Mỹ, sau đó lan ra hơn 1.500 thành phố trên toàn thế giới chỉ sau một tháng. Ngoài ra, các phương tiện truyền thông xã hội còn là môi trường cho các tổ chức khủng bố quốc tế, như IS, Al Qaeda... hoạt động tuyên truyền, tuyển lựa, huấn luyện và chỉ đạo hoạt động, gây ra mối lo ngại sâu sắc cho cộng đồng quốc tế(2). Các phương tiện truyền thông xã hội đang tồn tại rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với an ninh chính trị của các quốc gia. 

Theo số liệu thống kê của tổ chức Internet World Stats, tính đến tháng 1-2022, Việt Nam là quốc gia có lượng người sử dụng internet cao thứ 14 trên thế giới và đứng thứ 8 trong tổng số 35 quốc gia, vùng lãnh thổ khu vực châu Á(3); có hơn 72,1 triệu người dùng internet, tương ứng với 73,2% dân số cả nước, với khoảng có 76,95 triệu người dùng các phương tiện truyền thông xã hội, tương đương với 78,1% dân số, tăng 5 triệu tài khoản so với năm 2021. Điều này khiến cho các phương tiện truyền thông xã hội trở thành một kênh thông tin quan trọng của người dân... Hằng ngày, mỗi người Việt Nam dành 6 giờ 38 phút để truy cập internet (gần tương đương với mức bình quân của thế giới là 6 giờ 58 phút), xếp thứ 26 trên thế giới về lượng thời gian sử dụng internet mỗi ngày; trong đó, khoảng 2 giờ 28 phút sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, gần tương đương với mức trung bình của thế giới (2 giờ 27 phút)(4). Các phương tiện truyền thông xã hội được sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam lần lượt là: Facebook, Zalo, Messenger, Tiktok, YouTube, Instagram, Twitter(5)... Trung bình mỗi người dùng khoảng 7,4 nền tảng phương tiện truyền thông xã hội khác nhau để phục vụ những nhu cầu như liên lạc với bạn bè, gia đình, đọc tin tức, “bắt trend”,… Facebook giữ vị trí dẫn đầu với 93,8% tài khoản dùng thường xuyên hằng tháng và Zalo vươn lên vị trí thứ hai với 91,3%. Theo sau là Facebook Messenger, TikTok, Instagram, Twitter… Điều này tạo nên một cộng đồng các phương tiện truyền thông xã hội Việt Nam hết sức đông đảo, đa dạng về thành phần, trình độ, văn hóa...

VTT (St)

Kiên quyết đấu tranh và sử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối dại đoàn kết toàn dân tộc

 


Lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng là âm mưu cố hữu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để nhằm mục tiêu cơ bản là xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân, xóa bỏ CNXH. Hiện nay âm mưu của các thế lực lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào tôn giáo chống lại đường lối quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập quần chúng tôn giáo với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm chệch hướng XHCN của sự phát triển đất nước. Thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt, đó là: ra sức tuyên truyền cho cái khẩu hiệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” nhân danh các công ước quốc tế để pháp lý hóa nhằm can thiệp vào nội bộ các tôn giáo, như: dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế” ký hiệu HR2431. Chúng kích động tín đồ các tôn giáo, tìm mọi cách cho ra đời các “Giáo hội độc lập, ly khai” theo kiểu “Tin lành Đề ga” với sự tiếp tay hậu thuẫn từ bên ngoài. Đồng thời chúng tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để lôi kéo quần chúng lạc hậu gây rối loạn trật tự xã hội để tạo cớ can thiệp vào nước ta. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động dùng vật chất để lừa mị, xúi dục các tín đồ đòi “tự do tôn giáo”, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân hoặc xúi dục tín đồ đòi đất, khiếu kiện,,,, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc như một thủ đoạn chiến lược lâu dài để chống phá cách mạng. Các thế lực thù địch đã rất kiên trì tuyên truyền, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp “dân tộc thiểu số” “đàn áp tôn giáo” để mê hoặc dư luận thế giới, mê hoặc tín đồ, kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để can thiệp vào nội bộ nước ta.

 

HỆ GIÁ TRỊ HỒ CHÍ MINH

Bàn về Hệ giá trị Việt Nam là phải tìm hiểu sâu sắc “Hệ giá trị Hồ Chí Minh” - một con người tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Bao năm qua, chúng ta hay hát bài hát về Bác Hồ với câu mở đầu: “Nhớ Bác Hồ trồng cây năm xưa”. Vâng, nhớ Bác Hồ trồng cây, là nhớ Bác Hồ chăm chút dạy dỗ những chồi non, cây non là các cháu thiếu nhi. Bác Hồ từng viết hai câu thơ thật giản dị như thế này: "Trẻ em như búp trên cành/Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan". Tại sao chỉ cần “Biết ăn ngủ, biết học hành” đã là ngoan rồi? Vì ăn ngủ không chỉ là nhu cầu tồn tại, nếu nó được hướng dẫn từ nhỏ, nó sẽ thành bản tính. Mà “bản tính thì khó dời"! Bản tính, nếu là bản tính tốt, nó sẽ định hướng, sẽ dẫn dắt cho con người suốt đời. Và đó sẽ là con người tốt. Những câu thơ giản dị nhất của Bác Hồ, nếu ta hiểu sâu xa, thì nó ẩn chứa nhiều điều mà Bác muốn trao truyền lại, nhất là cho thiếu nhi, cho thế hệ trẻ. Những trao truyền ấy thực sự giản dị, nhưng nếu ta hiểu ra, ta làm được, thì dần nó sẽ thành “của để dành” của mỗi con người. Gọi là “Hệ giá trị” vậy thôi, chứ nói như Bác Hồ, thì có thể hiểu một cách nhẹ nhàng lắm. Bác Hồ xuất thân từ Nho học. Sau vì khát khao cứu nước nên Người xuất dương sang Pháp, rồi đi khắp thế giới, nhiều nhất là các nước phương Tây, để học hỏi, trải nghiệm, để tìm đường cứu nước, để nhận ra chân thực các giá trị. Sau ngày 2/9/1945, nước nhà đã độc lập, Bác Hồ lại tìm về những giá trị nhân ái, đạo đức truyền thống của dân tộc, những điều cha mẹ dạy con từ thuở thiếu thời. Những lời hay, ý đẹp ấy đã đúc kết trong ca dao, dân ca, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân. Nó là những trải nghiệm và đúc kết của cả một dân tộc qua bao nhiêu đời, nhưng hình thức thể hiện lại rất giản dị, rất dễ đi vào lòng người, kể cả trẻ em, thiếu nhi, nam phụ lão ấu đều có thể tiếp thu một cách tự nhiên được. Học những điều lớn lao lại nhẹ nhàng như “biết ăn ngủ, biết học hành” hằng ngày, đó là triết lý của dân tộc Việt Nam. Đến tuổi này, tự nhiên tôi thấm thía những điều cứ ngỡ như bình thường, cứ ngỡ như quê mùa ấy. Trong 5 điều dạy của Bác Hồ với thiếu nhi Việt Nam, đều là những điều rất lớn lao, nhưng được thể hiện dưới hình thức thật bình thường, thật nhỏ bé, cứ như chuyện trẻ em phải ăn ngủ, phải học hành hằng ngày, là ngoan: Điều 1: Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Điều 2: Học tập tốt, lao động tốt. Điều 3: Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt. Điều 4: Giữ gìn vệ sinh thật tốt. Điều 5: Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Nếu bạn đã qua thời thiếu nhi, bạn đều biết 5 điều Bác Hồ dạy thiếu nhi được đúc kết bằng những câu ngắn gọn như vậy. Trong từng câu đều có sự liên kết: “Yêu Tổ quốc” liên kết với “Yêu đồng bào”, "Học tập" liên kết với "Lao động", đã "Đoàn kết" thì phải giữ "Kỷ luật"... Năm điều ấy lại kết thành một khối hoàn chỉnh, học sinh rất dễ nhớ, dễ thuộc. Và quan trọng hơn là dễ làm theo. Làm được 5 điều ấy, thì không chỉ là học sinh tiên tiến, mà có những căn cứ vững chắc để khi trưởng thành, đó là những con người có lẽ sống tốt đẹp, từ đó thành con người ưu tú của dân tộc Việt Nam. Khi viết 5 điều dạy này, Bác Hồ đã cân nhắc từng chữ, có vài điều phải sửa đi sửa lại, vì Bác Hồ biết, khi chúng ta gọi 5 điều dạy thiếu nhi này là một Hệ giá trị, thì từng từ ngữ tự nó phải có giá trị tối ưu. Chúng ta bàn với nhau về Hệ giá trị, nhưng từ tháng Giêng năm 1946, Bác Hồ đã nói lên cốt lõi của Hệ giá trị ấy, khi trực tiếp nói về khát vọng lớn nhất của đời mình, khi trả lời các nhà báo quốc tế. Khát vọng ấy, được Bác gọi là “sự ham muốn”, nó chỉ thế này: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Bây giờ, chúng ta phải đọc lại để thấm từng chữ cái ham muốn tột bậc ấy của Bác Hồ, vì nó không thể giản dị hơn. Vậy mà chúng ta hiện vẫn đang phấn đấu từng ngày để đạt cho được cái ham muốn giản dị ấy, vì nó là ham muốn của cả dân tộc, chứ không riêng ham muốn của Bác Hồ. Về bản thân mình, Bác Hồ chỉ ao ước như thế này: "Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui... Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi". “Hệ giá trị Hồ Chí Minh” chính là như thế. Và suốt đời Bác Hồ đã tuân theo, đã thực hiện Hệ giá trị này, công khai và minh bạch. Bàn về Hệ giá trị Việt Nam là phải tìm hiểu sâu sắc “Hệ giá trị Hồ Chí Minh” - một con người tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Khi chúng ta thực sự mong muốn học tập và làm theo lý tưởng và đạo đức của Người, thì phải thấu cảm được những điều giản dị mà Bác mong muốn chúng ta không chỉ phấn đấu mà có, còn phải tự nhiên mà có. Vì đó cũng là cốt lõi của Hệ giá trị Việt Nam./.#HD Tác giả: Thanh Thảo Nguồn: Báo Quảng Ngãi

Phát huy nguồn lực của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc


 Phát huy nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước được biểu hiện trên những vấn đề chủ yếu sau: Phát huy nguồn lực của tôn giáo, bằng việc không những phát huy các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo mà còn cải tạo, phát triển, xây dựng hệ giá trị mới phù hợp với điều kiện mới để con người có niềm tin, sức mạnh tinh thần vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong cuộc sống; Phát huy nguồn lực của tôn giáo bằng việc phát huy vị trí, vai trò, chức năng tích cực của các chức sắc, chức việc, tín đồ có uy tín trong việc tuyên truyền vận động các tín đồ chấp hành và thực hiện tốt mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; Phát huy nguồn lực của tôn giáo cũng đồng thời là phát huy sức mạnh vật chất, tinh thần của tín đồ tôn giáo, sống “tốt đời, đẹp đạo” để phát huy hết khẳ năng sẵn có của hơn 24 triệu tín đồ tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Sử dụng nguồn lực lao động do “dư lợi dân số” mang lại ở Việt Nam hiện nay

 


Để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động cần xác định chiến lược đào tạo, cơ cấu trình độ đào tạo phù hợp cho lực lượng lao động bước vào độ tuổi lao động, lực lượng lao động chuyển đổi nghề và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm giải quyết phù hợp với cung – cầu của kinh tế thị trường lao động và xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Giải quyết lao động tạo việc làm và hạn chế tình trạng thất nghiệp. Tính đến ngày 1/4/2017, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước đạt 54,5 triệu người, tăng gần 105 ngìn người so với thời điểm năm 2016, bao gồm 28 triệu lao động là nam và 26,5 triệu lao động là nữ. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý I/2017 ước tính là 74%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I ước tính là 2,3% (quý I 2016 là 2,25%). Theo các chuyên gia thì năm 2017 có khoảng 200.000 cử nhân thất nghiệp. Giảm tỷ lệ lao động nông, lâm, thủy sản tăng tỷ lệ lao động khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Nghị quyết 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045: Giảm tỷ lệ lao động khu vực Nông, Lam nghiệp, thủy sản, phấn đấu tỷ lệ lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ sớm đạt ngưỡng 70%. Hạn chế lao động giản đơn: Hiện nay nhóm nghề lao động giản đơn thu hút nhiều lao động nhất 33,2% (so với 10 năm trước giảm mạnh: giảm 7,1 điẻm %). Cần phải tận dung: “dịch vụ cá nhân”, “bảo vệ và bán hàng”, thợ thủ công và các thợ khác có liên quan: “thợ lắp ráp, thờ vận hành máy móc thieét bị cũng là nhóm nghề thu hút nhân lực.

Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước

 


Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc và dân tộc; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo, tăng cường sự đồng thuận giữa người có và không có tín ngưỡng, tôn giáo; giữa các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống các hoạt động tà đạo, mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm phương hại lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo làm cho các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo đi sâu vào đời sống vật chất, tinh thần của xã hội, lấn át đi những mặt tiêu cực, sùng bái, mê tín dị đoan, mê hoặc con người, phi nhân tính có hại đối với cuộc sống.

Di cư tăng sức ép đô thị, khó khăn trong ổn định cuộc sống

 


Điểm đến của luồng di cư nông thôn- Đô thị và Đô thị - Đô thị chủ yếu ở những vùng có các khu công nghiệp và ở hai thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Số lượng di cư và hướng di cư cho thấy các cơ hội việc làm phần lớn là ở khu vực này. Mô hình di cư này làm tăng sức ép đô thị hóa ở các thành phố lớn. Hầu hết những người di cư tới vùng Tây Nguyên làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (trên 50%) và đến từ các vùng nông thôn khác. Cả nước có khoảng 1/3 số người di cư gặp khó khăn ở nới đến, tuy nhiên có tới 60% số người di cư ở Tây Nguyên gặp phải vấn đề này. Hiện nay có khoảng 100 ngàn hộ gia đình di cư đang chưa được ổn định chỗ ở tại vùng Tây Nguyên. Trong đó có khoảng 50% là đồng bào dân tọc thiểu số. Kết quả khảo sát năm 2015 cho thấy, điều kiện nhà ở tại những nới đến là điều làm cho nhiều người di cư không hài lòng. Gần 1/3 số người di cư cho rằng điều kiện tại nơi ở mới kém hơn so với quê cũ của họ. Nhiều người di cư phàn nàn về việc phải thuê nhà với giá điện nước quá cao. Hơn 40% số người di cư ở diện tích bình quân đầu người thấp hơn 10m2, trong khi tỷ lệ này ở người không di cư là 16%. Các thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú phức tạp đối với những người di cư. Nhiều người di cư (49%) đăng ký tạm trú và có 13,5% số người di cư không đăng ký tạm trú, tạm vắng. Không đăng ký hộ khẩu thường trú có khó khăn: Tiếp cận giá dục cho con cái; chăm sóc sức khỏe; vay vốn các nguồn chính thức; đăng ký phương tiện đi lại

Đảng và nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

 


Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Nhưng quyền con người có nội hàm phong phú như ngày nay là thành quả chung của cả nhân loại trong việc trinh phục tự nhiên và giải phóng con người khỏi mọi sự tha hóa, khôi phục bản thể vốn có của con người. Thuật ngữ “quyền con người” ra đời khá muộn, gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản, nhưng tư tưởng và nội hàm về quyền con người đã xuất hiện sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa. Lịch sử đã chứng minh, những tư tưởng về quyền con người cũng như những quy định trong pháp luật và kết quả đạt được về quyền con ngươi là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, qua mọi thời kỳ phát triển của lịch sử. Mỗi bước tiến của lịch sử nhân loại đều đánh dấu nấc thang mới trong nhận thức và việc hiện thực hóa các quyền con người. Quyền con người vừa là sản phẩm của văn minh nhân loại, vừa là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của con người chống lại áp bức, bất công, làm chủ thiên nhiên và tự hoàn thiện chính mình…Thực tiễn nói trên là cơ sở để Đảng khẳng định: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó quyền con người trở thành giá trị chug của nhân loại”

 

ĐÁM RƯỚC ĐẶC BIỆT TÁI HIỆN NGHI LỄ TẾT CỔ TRUYỀN TRÊN PHỐ CỔ HÀ NỘI

Ban quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội cùng các nhà nghiên cứu văn hóa tổ chức phỏng dựng các nghi lễ truyền thống như đoàn rước dâng lễ cửa Đình, lễ Cáo yết Thành Hoàng và cúng Tổ nghề... Tối 8/1, tại đình Kim Ngân, số 42-44 Hàng Bạc, phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, Ban quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội phối hợp cùng các đơn vị khai mạc chuỗi hoạt động văn hóa chào mừng Tết Nguyên đán Quý Mão “Tết Việt - Tết Phố 2023” nhằm giới thiệu đến người dân Thủ đô và du khách nét đẹp văn hóa Tết cổ truyền. Tại đây, nhiều nghi lễ truyền thống của Tết Nguyên đán được tái hiện, thu hút sự quan tâm của đông đảo mọi người. Trước lễ khai mạc, Ban quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội cùng các nhà nghiên cứu văn hóa tổ chức phỏng dựng các nghi lễ truyền thống như đoàn rước dâng lễ cửa Đình, lễ Cáo yết Thành Hoàng và cúng Tổ nghề, lễ dựng cây Nêu… Đoàn rước xuất phát từ Ngôi nhà Di sản 87 Mã Mây đi qua phố Đào Duy Từ, Ô Quan Chưởng, Hàng Chiếu, Hàng Giầy, đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, phố Tạ Hiện, rạp Chuông Vàng về phố Hàng Bạc và dừng tại đình Kim Ngân. Đoàn rước kéo dài 3 giờ đồng hồ, nhận được sự hưởng ứng và phấn khích của người dân trên đường đi. Tại lễ khai mạc, Ban quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội phối hợp với một số đơn vị tổ chức chương trình biểu diễn nghệ thuật “Giao lưu diễn xướng âm nhạc truyền thống các vùng miền” với sự tham gia của các đoàn nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu, Hải Phòng, Phú Thọ… Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Quốc Hoàn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm cho biết: “Tết Việt - Tết Phố 2023” cũng như các hoạt động văn hóa khác trong khu Phố cổ Hà Nội đã kết nối với các đơn vị, cá nhân, để phần lớn các hoạt động sẽ do cộng đồng chung tay thực hiện. Chương trình năm nay có sự tham gia của các nghệ nhân, nghệ sỹ từ khắp các vùng miền của đất nước, hứa hẹn giới thiệu tới công chúng nhiều giá trị di sản tiêu biểu. Đây đồng thời là cơ hội tốt để giao lưu, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa nhằm thu hút du lịch của các địa phương. Trong những ngày diễn ra chuỗi hoạt động văn hóa “Tết Việt - Tết Phố 2023,” người dân và du khách cũng được hòa mình trong không gian đậm sắc màu văn hóa của Tết truyền thống tại đình Kim Ngân với những đồ trang trí Tết, những bức tranh và hiện vật về con giáp của năm Quý Mão hay các dòng tranh dân gian Hàng Trống, Kim Hoàng, Đông Hồ…Tại đây cũng có hoạt động ông đồ viết thư pháp, cho chữ và xin chữ đầu năm. Tại Ngôi Nhà Di sản 87 Mã Mây, phường Hàng Buồm, Ban Tổ chức sắp đặt và giới thiệu không gian sinh hoạt, đón Tết của một gia đình Hà Nội xưa như tổ chức gói bánh chưng; các hoạt động chuẩn bị cho ngày lễ cúng ông Công, ông Táo và ngày Tất niên (nghi thức chuẩn bị các mâm lễ rước ra đình Kim Ngân); giới thiệu nghệ thuật gọt, tỉa và chơi hoa thủy tiên... Cũng trong thời gian này, người dân và du khách yêu nghệ thuật có thể thưởng lãm trưng bày tranh chủ đề “Mèo” của nhóm các họa sỹ Hà Nội, giới thiệu con giáp của năm Quý Mão; thưởng thức nghệ thuật Đờn ca Tài tử Bạc Liêu; tìm hiểu di sản âm nhạc Bắc Bộ “Chuyện nhạc đồng Bằng” của Nhóm Đông Kinh Cổ Nhạc tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội, 50 Đào Duy Từ, phường Hàng Buồm Còn tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật 22 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm sẽ diễn ra hoạt động trang trí không gian, giới thiệu các sản phẩm trưng bày chủ đề “Từ di sản tới đương đại” và tổ chức các hoạt động giao lưu âm nhạc truyền thống. Tại Trung tâm Thông tin Văn hóa Hồ Gươm, số 2 Lê Thái Tổ, phường Hàng Trống sẽ có trưng bày chủ đề “Chào Xuân Quý Mão - Đại Cát 2023”; tổ chức cuộc thi vẽ tranh "Bé vẽ màu dân tộc" chủ đề hình ảnh con mèo; trưng bày các tác phẩm gốm chủ đề Mão của nghệ sỹ Nguyễn Văn Toán và phòng trải nghiệm thực tế ảo thông qua công nghệ 3D. Sau khi hoàn thành việc chỉnh trang, cải tạo, không gian Bích họa phố Phùng Hưng, phường Hàng Mã, trong dịp này các nghệ nhân và thợ thủ công của các làng nghề Việt Nam giới thiệu các sản phẩm dân gian truyền thống như tranh dân gian, thư pháp, gốm sứ, mây tre đan, đồ chơi tò he, các sản phẩm mặt hàng phục vụ ngày Tết… Các ngày cuối tuần sẽ trình diễn giao lưu một số các loại hình âm nhạc truyền thống vùng miền hát xẩm, múa xòe Thái, đờn ca tài tử… Chuỗi hoạt động văn hóa nhằm thúc đẩy sự quan tâm của giới trẻ đến những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông; nâng cao ý thức của cộng đồng về một lễ hội lành mạnh, giàu bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Đây đồng thời là cơ hội tốt để quảng bá lịch sử, văn hóa, du lịch Phố cổ Hà Nội nói riêng, quận Hoàn Kiếm nói chung tới du khách trong nước và quốc tế. “Tết Việt - Tết Phố 2023” mở rộng sự tham gia của cộng đồng, tạo cơ hội để người Việt khắp đất nước cũng như kiều bào ở xa Tổ quốc cùng hướng về cội nguồn, gắn kết với nhau, cùng chia sẻ những giá trị văn hóa đặc sắc vùng miền và chung tay tham gia vào các hoạt động bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống. Chuỗi hoạt động văn hóa “Tết Việt - Tết Phố 2023” diễn ra đến hết ngày 28/1, riêng hoạt động tại không gian bích họa phố Phùng Hưng diễn ra đến hết ngày 20/1./. #HD Tác giả: Đinh Thuận Nguồn: TTXVN/VIETNAM+ 19

SỰ TRI ÂN CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ BIÊN PHÒNG ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO NƠI BIÊN GIỚI, HẢI ĐẢO

Ngày 8-1, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) phối hợp với Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức Chương trình giao lưu nghệ thuật "Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản 2023” tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư dự, tham gia các hoạt động trong chương trình. Tham dự chương trình còn có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Hà Thị Nga, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Lê Trường Lưu, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế; Trung tướng Lê Đức Thái, Tư lệnh BĐBP. Cùng dự còn có Thiếu tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và đại biểu ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương; đại biểu nước bạn Lào cùng đông đảo nhân dân, đồng bào các dân tộc huyện A Lưới. Phát biểu tại chương trình, đồng chí Võ Văn Thưởng biểu dương Bộ tư lệnh BĐBP và chính quyền địa phương, các cơ quan, đơn vị đã tổ chức Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản 2023". Chương trình thực sự là ngày hội của đồng bào các dân tộc nơi biên giới, hải đảo; tạo nên hoạt động văn hóa giàu ý nghĩa, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, mang lại niềm vui, không khí hồ hởi, phấn khởi cho đồng bào các dân tộc khu vực biên giới khi mùa xuân tới. Chương trình đã thể hiện trách nhiệm, tình cảm, sự tri ân của cán bộ, chiến sĩ biên phòng đối với đồng bào đang ngày đêm bám trụ, làm “cột mốc sống” nơi biên giới, hải đảo; khẳng định tình đoàn kết quân dân gắn bó, nhân lên sức mạnh, niềm tin, ý chí quyết tâm cùng nhau bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng mong rằng, các cấp, các ngành, đoàn thể từ Trung ương tới địa phương tiếp tục quan tâm, phối hợp chặt chẽ với BĐBP duy trì thường xuyên, tổ chức tốt chương trình này, cùng các hoạt động chăm lo, giúp đỡ đồng bào nơi biên giới, hải đảo, nơi “phên giậu” quốc gia, bảo đảm thực chất, hiệu quả cao nhất, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, cùng chung tay, đoàn kết, đồng lòng bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Các tiết mục nghệ thuật trong chương trình đã lan tỏa không khí mùa xuân; giao lưu, trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ, nhân dân về cuộc sống, thực hiện nhiệm vụ công tác ở biên giới. Dịp này, Ban tổ chức chương trình khám sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho hơn 500 lượt người dân huyện A Lưới; tặng 10 căn nhà, 15 con bò giống giúp người nghèo biên giới; thăm, chúc Tết và tặng quà cán bộ lão thành cách mạng; trao 550 suất quà tặng các gia đình chính sách, hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn; trao 178 suất học bổng tặng các học sinh trong Chương trình “Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn biên phòng” và các học sinh giỏi, có hoàn cảnh khó khăn; trao quà tặng cấp ủy, chính quyền huyện, xã, trường học và các đồn biên phòng trên địa bàn huyện A Lưới. Bên cạnh đó, chương trình còn tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, các trò chơi dân gian theo phong tục địa phương, trưng bày sản phẩm nông sản của địa phương và tổ chức gian hàng “0 đồng”./.#BTM Tin bài: Hoa Lê – Thái Hưng Nguồn: Báo QĐND

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

“Thanh niên là một cái nguồn vô tận, từ nguồn ấy mà chúng ta đào tạo những cán bộ tốt cho hiện tại và tương lai của nước nhà” Lời của Chủ tịch Hồ Chi Minh trong Bài "Thanh niên nông dân", đăng trên báo Nhân dân, số 159, từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, trong bối cảnh, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện c.hống t.hực d.ân Pháp của dân tộc ta giành được nhiều thắng lợi lớn; lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng; trong đó, lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng dân công với đại đa số là thanh niên nông dân. Qua lời của Bác, chúng ta thấy Người nhận rõ đặc điểm và thế mạnh của lực lượng thanh niên Việt Nam, chủ yếu là con em của nông dân, bị phong kiến, địa chủ á.p b.ức, b.óc l.ột t.àn t.ệ..., nhưng họ có lòng yêu nước nồng nàn, nhiệt tình cách mạng, cần cù chịu khó, cần phải tổ chức giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thành những cán bộ tốt đế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong hiện tại và trong tương lai của nước nhà. Lời huấn thị của Người không chỉ đặt ra yêu cầu và định hướng cho các tổ chức đảng, các cấp, các ngành phát động phong trào, tổ chức giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, nhất là thanh niên nông dân, mà còn khơi dậy tinh thần nhiệt huyết cách mạng, hăng hái thi đua học tập, huấn luyện, rèn luyện, tích cực đóng góp sức mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Hiện nay, lời nói của Chủ tịch Hồ Chi Minh, trên đây vẫn nguyên giá trị; được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào đường lối cách mạng trong tình hình mới; chủ trương xây dựng chiến lược phát triến nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực với những giải pháp đồng bộ; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Thấm nhuần lời của Người, thanh niên Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, ham hiểu biết, phấn đấu tự mình nâng cao trình độ về mọi mặt, say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội hăng hái thi đua "tiến công vào khoa học kỹ thuật", “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, v.ũ k.hí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hoàn toàn thắng lợi./.#HD Nguồn: Sách Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011, tập 8, trang 386. 14

Con người ở Việt Nam được phát triển toàn diện

 


Phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển KT-XH. Việc phê phán, đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, chống các quan điểm, hành vi sai trái gây hại đến văn hóa, lối sống con người được trú trọng. Từng bước hoàn thiện đồng bộ và thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội, chính sách dân tộc tôn giáo; phát triển thị trường lao động, hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế. Bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, quan tâm nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân; thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công; tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương; mở rộng bảo hiểm xã hội; tỷ lệ bảo hiểm y tế đạt trên 90%. Hệ thống y tế tiếp tục được kiện toàn. Quy mô năng lực, chất lượng y tế dự, khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe có bước phát triển, tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong phòng, chống đại dịch COVID-19. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở xã hội được quan tâm; đã hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, trong đó có nhiều mục tiêu về giảm nghèo, y tế, giáo dục hoàn thành trước thời hạn, được đánh giá là điểm sáng; đang tích cực triển khai thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

           

Việt Nam thực hiện tốt nhân quyền

 


Đất nước được độc lập, tự do, người dân được sống dưới chế độ bình đẳng, không có áp bức bất công, được khỏa sức cống hiến cho quê hương, đất nước. Quyền tham chính của người dân ngày càng cao, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Người dân được tự do thực hiện phát triển kinh tế trong kinh tế thị trường, định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, được pháp luật bảo vệ, tôn trọng và phát huy. Bằng những chính sách xã hội thỏa đáng, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và  thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc.

Tình hình di cư hiện nay ở Việt Nam

 


Di cư là động lực tích cực thúc đẩy phát triển KT-XH, góp phần phân bố lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh teé lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm phát triển bền vững. Hiện nay di cư nông thôn – thành thị là xu hướng nổi trội (Đánh giá chung di cư nông thôn- thành thị gấp 3 lần so với luồng di cư đô thị - nông thôn; đặc biệt các khu vực Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long quy mô luồng di cư nông thôn- đô thị gấp 5 lần so với luồng di cư đô thị - nông thôn.Di cư nông thôn- đô thị có tác động trực tieép làm thay đổi nghề nghiệp, hành vi, lối sống của những người di cư. Hầu hết những người di cư nông thôn – đô thị chuyển đổi từ các việc làm trong nông nghiệp sang việc làm phi nông nghiệp với thu nhập cao hơn và nâng cao vị thế của họ (bản chất của di cư nông thôn- thành thị). Kết quả năm 2015 cho thấy hầu hết  những người di cư đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp (chiếm 95,5%). Gần 60% những người di cư nhận thấy rằng thu nhập của họ tăng lên sau khi di cư, và việc tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục cũng tốt hơn. Người di cư chủ yếu là thanh niên cho nên ở đô thị cũng được bổ sung và trẻ hóa.Mang lại lợi ích cho các hộ gia đình và cộng đồng có người di cư qua việc nhận được các khoản tiền gửi về quê hương của người di cư. Kết quả điều tra năm 2015, trong 12 tháng trước điều tra có gần 30% số người di cư gửi tiền về cho gia đình. Theo đó trung bình một người gửi về là 27,5 triệu đồng/năm.

Giải pháp ngăn ngừa văn hóa ưa thích con trai ở Việt Nam

 


Một số văn bản chính sách và phương tiện thông tin đại chúng thường đề cập chung chung đến việc phát huy các truiyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc nhưng không làm rõ đó là truyền thống gì. Mặc dù bất thành văn nhưng mô hình phụ hệ lại luôn được coi là nền tảng của truyền thống văn hóa Việt Nam. Dó đó nếu chỉ nói tới truyền thống văn hóa một cách chung chung có thể sẽ khuyến khích những hành động trọng nam, khinh nữ. Vì thế rất cần thiết phải định nghĩa lại thế nào là những truyền thống văn hóa Việt Nam theo cách giúp củng cố vị thế cho phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình dòng tộc. Truyền thống văn hóa tốt đẹp nên được đánh giá là những truyền thống coi trọng phụ nữ ngang bằng với nam giới. Luật bình đẳng giới đã nêu rõ về việc cần thiết áp dụng những biện pháp xóa bỏ những hủ tục lạc hậu đang ngăn cản việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận

 


 Bảo đảm các tổ chức tôn giáo và các tín đồ nhận thức sâu sắc về chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, để từ đó chấp hành nghiêm túc mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó thực hiện tốt phương châm sống “tốt dời, đẹp đạo”. Tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật có liên quan đến tôn giáo như: Đất đai, văn hóa, giáo dục, y tế…bảo đảm đồng bộ với pháp luật về tôn giáo và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Tổ chức tuyên truyền và thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, kịp thời xây dựng mới cũng như bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật. Triển khai thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo, siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. Trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật tôn giáo, tín ngưỡng cần tiếp thu nghiêm túc những ý kiến phản ánh, những kết quả giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và của cán bộ, nhân dân về những bất cập, hạn chế của công tác tôn giáo nói chung và của chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.

Những nội dung cơ bản về quyền con người đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam

 


Quyền con người và quyền công dân được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và trong Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959). Nhà nước Việt Nam cũng bước đầu tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế trong hoàn cảnh đất nước đang phải tiến hành kháng chiến chống xâm lược, đó là một nỗ lực to lớn. Hiện nay được ghi nhận rất cụ thể trong hiến pháp 2013 và được thực hiện tốt trên thực tế. Quyền tham gia và quản lý công việc Nhà nước và xã hội được tăng cường, (được thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm khóa sau chất lượng hơn khóa trước). Quyền khiếu nại tố cáo được thực hiện chất lượng. Ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ quan phải công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động; kê khai tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn vị…Các quyền tự do dân chủ được thực hiện tốt. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo.  Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau.

Quá trình đổi mới tư duy lý luận và thực tiễn phát triển đất nước đã giúp Đảng nhận thức ngày càng rõ hơn về thời đại, về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Trong đó có vấn đề tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

 


Đại hội VI của Đảng vì nhiều lý do cả chủ quan và khách quan, trong văn kiện Đại hội chưa đề cập khái niệm quyền con người, nhưng quan điểm xuyên suốt là: “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà hiến pháp đã quy định”  và “…đảm bảo quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân”

Đại hội VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, lần đầu tiên khái niệm quyền con người chính thức được ghi nhận trong cương lĩnh, Đó là: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người”.

Năm 1992, Xuất phát từ tình hình trong nước và thế giới có nhiều diễn biến mới, Ban Bí thư Trưng ương Đảng ban hành Chỉ thị số 12- CT/TW ngày 12/7/1992 về Vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta

Đại hội VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh “Ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh các các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ưu tiên xây dựng các luật về kinh tế, về các quyền công dân (…) nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với những quy định cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện”

Đại hội IX của Đảng (2010 nêu rõ: “ Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Đại hội X của Đảng (2006) tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; Nhà nước phải thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người”. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và giải quyết các vấn đề, quan điểm khác nhau về quyền con người, Đảng chủ trương: “Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan đến vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.

Đại hội XI của Đảng (2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ ;lên CNXH (Bổ sung phát triển năm 2010 trong đó nhiều quan điểm về tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được tổng kết và rút ra như: “Con người là trung tam của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”.

Đại hội XII của Đảng (2016) cùng với việc đưa nội dung quyền con người vào tất cả các văn kiện đại hội, đã nhấn mạnh nhiệm vụ tiếp tục: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 (…) hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”

Đại hội XIII: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh than yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân”.

Văn hóa truyền thống về ưa thích con trai ở Việt Nam

 


Số liệu của cuộc tổng điều tra năm 2019 cho thấy một bức tranh về tình trạng mất cân nbằng giới tính của cả nước theo các vùng. Các số liệu cho thấy, đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ số giới tính cao nhất với 115,5, cao hơn 4 điểm phần trăm so với mức trung bình của cả nước. Hai vùng có tỷ số giới tính cao hơn mức trung bình của cả nước đều nằm ở phía Bắc. Khi phân tích các số liệu này theo đơn vị tỉnh, thành phố thì đa số các địa phương ở trong nhóm 10 tỉnh/ thành phố có tỷ số giới tính cao nhất nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng. Với kết quả trên có thể khẳng định rằng: Yếu tố văn hóa truyền thống về ưa thích con trai hơn con giá là nguyên nhân xã hội chủ yếu của tình trạng mất cân bằng giới tính ở nước ta hiện nay. Vùng đồng bằng Sông Hồng là cái nôi của văn hóa truyền thống Việt Nam. Việc tiếp tục duy trì những truyền thống văn hóa về sự giúp đỡ và sự chăm sóc lẫn nhau nhưng đồng thời lại lồng gép những truyền thống đó vào một hệ thống gia tộc bình đẳng hơn về giới chính là thách thức chủ yếu trong các nỗ lực nhằm giải quyết tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính ở nước ta hiện nay

Thực trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam

 


Hiện tượng mất cân bằng khi sinh sảy ra từ sau năm 2005, khi đó tỷ số giới tính khi sinh khoảng 106-107. Tỷ số giới tính tăng đến 110 năm 2009, và tiếp tục tăng những năm sau đó (năm 2018:114,8 bé trai/100 gái; năm 2019:111,5/100 gái. Xét theo chiều cạnh mức sống thì có sự khác biệt về mất cân bằng giới tính khi sinh về điều kiện kinh tế. Nhóm nghèo nhất (chiếm khoảng 20% dân số) thì chỉ số xác định phân bố mức sinh theo giới tính ở mức bình thường là 105,2, thì ở nhóm trung bình, nhóm giàu và nhóm giàu nhất tình trạng mất cân bằng mức sinh theo giới tính lại rất cao. Cụ thể mức sinh theo giới tính giàu là 111,7 và nhóm giàu nhất là 112,9. Mức sinh theo giới tính thấp nhất ở nhóm phụ nữ không biết chữ (107) và tăng dần theo trình độ học vấn, lên đến 114 ở nhóm các bà mẹ có trịnh độ cao dẳng trở lên. Theo ước tính nhân khẩu học, nếu tỷ số giới tính vẫn mất cân bằng như những năm vừa qua, đến năm 2050, trong cơ cấu dân số Việt Nam sẽ thừa 12% nam giới ở độ tuổi dưới 50 (2.3 - 4,3 triệu nam giới). Tình trạng thiếu phụ nữ sẽ khiến hàng triệu nam giới khó tìm được bạn đời (người ngheog và học vấn thấp…) để lại một loạt hậu quả về mặt nhân khẩu học và mặt xã hội, bao gồm nạn ép buộc kết hôn, buôn bán, bạo hành phụ nữ, trẻ em gái và cả nguy cơ bất ổn xã hội do sự bất mãn về xã hội và tình dục của nam giới…vấn đề di cư trong nước và nước ngoài vì mục đích hôn nhân có thể tăng lên, làm cho xã hội càng mất ổn định hơn

Phát huy dân chủ trong công tác tôn giáo

 


Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật; luôn đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức vận động đồng bào tín đồ phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của từng tôn giáo cụ thể. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Phát huy tinh thần của đồng bào có đạo trong tự giác, phối hợp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo cùng với lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ gìn, củng cố an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam- thực tế đáng báo động

 


Tỷ số giới tính là số nam trên 100 nữ trong tập hợp dân số. Tỷ số giới tính khi sinhlà một chỉ số thống kê được xác định bằng số trẻ em trai được sinh ra trên 100 trẻ em gái (Tỷ số này thông thường là từ 104-106 trẻ em trai/100 em gái và giá trị của chỉ số này thường là rất ổn định qua thời gian).

Tỷ số giới tính khi sinh là chỉ số cơ bản làm thước đo phản ánh cơ cấu dân số về giới tính và phản ánh mức độ cân bằng giới tính của số bé trai và bé gái khi được sinh ra. Tỷ số này ở mức cân bằng sinh học tự nhiên giao động từ 103-106 bé trai/1000 bé gái sinh ra sống tùy theo từng quốc gia/vùng lãnh thổ. Ở Việt Nam, tỷ số giới tính khi sinh ở mức cân bằng tự nhiên là 105. Nếu không có sự can thiệp một cách có chủ đích của con người thì tỷ số giới tính tự nhiên sẽ thường trong khoảng từ 103-106 bé trai/100be gái và khi bước vào độ tuổi hôn nhân tỷ số giới tính tự cân bằng

 

Phát huy tinh thần yêu nước của các tín đồ tôn giáo

 


Đối với đồng bào tín đồ tôn giáo, chúng ta cần tuyên truyền, giải thích cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Muốn làm cho đồng bào tin thì cán bộ tuyên truyền nói phải đi đôi với làm, chính sách phải đem lại kết quả thiết thực. Chúng ta cần học tập các cha cố truyeèn đạo về tính kiên nhẫn, bền bỉ, không nóng vội. Điều quan trọng là không được mắc sai lầm dẫn đến mất lòng tin của đồng bào và để kẻ thù lợi dụng bôi xấu cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Lực lượng của chúng (của kẻ thù) gồm có: một là, lực lượng của bản thân chúng; hai là: khuyết điểm của cán bộ ta. Những khuyết điểm mà cán bộ ta phạm phải là đồng minh đắc lực của địch”[1]. Để nâng cao hiệu quả vận động quần chúng tín đồ, đòi hỏi chúng ta khi tuyên truyền phải khéo léo, tinh tế, biết kết hợp giữa giá trị các tôn giáo với giá trị của cách mạng trong tuyên truyền, giáo dục; đồng thời cần làm cho đồng bào nhận rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm của địch lợi dụng tôn giáo, làm phương hại đến sự đoàn kết dân tộc và đời sống đồng bào, để đồng bào tín đồ đứng lên đấu tranh vạch mặt kẻ địch.



[1] Hồ Chí Minh: Sđd, tr.77

Nhận thức về nhân quyền thời kỳ đổi mới (1986) đến nay ở Việt Nam

 


 Khẳng định rõ bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ XHCN, là mục tiêu của nhà nước ta và động lực của sự phát triển đất nước. Hình thành được những quan điểm cơ bản về quyền con người, làm cơ sở cho việc xem xét, thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Xác định những nhiệm vụ ưu tiên trong việc thực thi quyền con người ở Việt Nam: Coi việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có ý nghĩa then chốt đối với việc bảo đảm phát triển quyền con người; Hệ thống thiết chế về quyền con người được xây dựng và không ngừng hoàn thiện, bảo đảm các chính sách của nhà nước được triển khai một cách có hiệu quả trên thực tiễn. Những thành tựu cơ bản có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp bảo đảm phát triển quyền con người: Duy trì môi trường hòa bình ổn định; Coi phát triển kinh tế là tiền đề quan trọng cho việc thực thi dân chủ, bảo đảm quyền con người; Chủ trương gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Đời sống tâm linh, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được mở rộng; Tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội một cách trực tiếp; Phương tiện thông tin đại chúng phát triển nhanh chóng về loại hình, phong phú về nội dung; Quyền lợi của nhân dân được bảo đảm và thúc đẩy các hội, hiệp hội mà họ là thành viên; Đời sống đồng bào dân tộc liên tục được cải thiện; Quan tâm đến các nhóm người dễ bị tổn thương; Thực hiện lệnh đặc xá; Mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và xây dựng vì mục tiêu chung là bảo đảm quyền con người; Tham gia ngày càng có hiệu quả và tích cực diễn đàn đa phương

Thời kỳ “dân số vàng” ở Việt Nam

 


Giai đoạn năm 2005 đến nay, tỷ trọng dân số trẻ em giảm chỉ còn khoảng 24-25%, trong khi đó tỷ trọng dân số người cao tuổi (từ 65+) đang còn tăng chậm (năm 2019 mới có 7,7%), dó đó tỷ trọng dân số lao động tăng lên nhanh, nước ta bước vào thời kỳ có “cơ cấu dân số vàng” (ước tính từ năm 2007). Trong thời kỳ này, số người trong độ tuổi lao động (15-64) nhiều hơn gấp đôi số người phụ thuộc (0-14 và 65+) hoặc tỷ số phụ thuộc dưới 50/100.

Theo các số liệu cho thấy, tỷ số phụ thuộc dân số ở nước ta bắt đầu giảm từ 63,3/100 vào năm 1999 xuống 44,4/100 năm 2009 và bắt đầu tăng trở lại 47/100 vào năm 2019, như vậy thời kỳ “dân số vàng” ở nước ta đã vượt qua đỉnh và có thể kéo dài đến năm 2037-2040.

Hiện trạng giảm tỷ trọng trẻ em ở Việt Nam

 


Quá trình giảm sinh mạnh mẽ trong hơn 30 năm qua ở nước ta đã dẫn đến việc thay đổi rõ rệt cơ cấu các nhóm dân số theo độ tuổi. Trước hết có thể thấy ngay là tỷ trọng trẻ em trong dân số đã giảm nhanh. Tỷ trọng trẻ em trong dân số ở nước ta đã giảm từ 39,2% năm 1989, xuống 33,1% năm 1999; 24,5% năm 2009 và còn 24,3% năm 2019. Tương ứng với mức sinh ở các năm đó lần lượt là 3,8; 2,3; 2,1; và 2,1 con/phụ nữ. Có thể nhận xét là, trong 10 năm trở lại đây (2009- 2019), mức sinh thay thế được giữ ổn định (2,1 con). Dó đó mục tiêu cơ bản của chính sách dân số hiện nay là duy trì mức sinh thay thế. Những tỉnh/thành phố có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần có các giải pháp chính sách để đưa mức sinh lên ngang bằng với mức sinh thay thế. Nhóm các tỉnh/thành phố đang có mức sinh thay thế ổn định tiếp tụch duy trì mức sinh thay thế này

 

MỤC TIÊU XÂY DỰNG VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Thứ nhất, gắn các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa và xây dựng con người với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, vùng và địa phương, từng cơ quan, đơn vị; phát huy năng lực, trách nhiệm người đứng đầu trong việc phát triển văn hóa, xây dựng con người. việc xác định phát triển văn hóa và xây dựng con người là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị. Theo đó, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử lý đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý văn hóa; nhất là trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng con người.

Thứ hai, tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.

Thứ ba, hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ, nhân văn, hướng tới chân - thiện - mỹ; gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Thứ tư, phát huy vai trò của văn học - nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách, lối sống của con người.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực ngành văn hóa, văn nghệ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt, đặc thù.

Thứ sáu, chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể. Trong đó, trọng tâm là củng cố, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, thực hiện sâu, rộng văn hóa tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Thứ bảy, phát triển thị trường văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa để đáp ứng nhu cầu tiếp nhận, hưởng thụ của người tiêu dùng và thị trường ngoài nước; xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các cơ chế, chính sách có tính đột phá để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong thời kỳ mới.

 

QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM, QUY LUẬT KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

 


Bằng thế giới quan cách mạng, phương pháp luận biện chứng, các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra: Tiến trình lịch sử - tự nhiên của xã hội loài người là quá trình vận động phát triển thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội, bao hàm cả sự phát triển tuần tự đối với lịch sử phát triển toàn thế giới, cả sự phát triển “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế xã hội đối với một số quốc gia, dân tộc cụ thể. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội mang tính phong phú, nhiều vẻ, đa dạng, phức tạp, bao gồm cả những bước quanh co, thậm chí những bước thụt lùi lớn; bao gồm cả khả năng rút ngắn, bỏ qua những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử.

 Con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với tính quy luật của việc “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế - xã hội trong sự phát triển lịch sử, là phù hợp với quy luật phát triển rút ngắn trong lịch sử loài người. Chúng ta tin tưởng rằng; dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và bằng sự nỗ lực cố gắng của toàn dân tộc, nhất định mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta sẽ thắng lợi hoàn toàn.

 

PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH MỚI

 


            Trong giai đoạn hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần chú trọng nâng cao hiệu quả phòng, chống sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam nhằm giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta và Bộ đội Cụ Hồ. Trong đó cần quan tâm một số vấn đề sau. 

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Vì vậy, sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta, bảo đảm giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Để bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam tiếp tục được giữ vững và phát huy trong thời kỳ mới, phải chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh; tăng cường rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội thực sự là hạt nhân, nòng cốt trong việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ.

Hai là, tăng cường sự quản lý của Nhà nước trong việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Để phát huy vai trò của Nhà nước trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ, Nhà nước cần ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách trong xây dựng quân đội, thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước đối với quân đội. Trong đó, Nhà nước cần có chính sách bảo đảm tốt hơn về vật chất, tinh thần; về trang bị, phương tiện kỹ thuật cho quân đội đáp ứng yêu cầu xây dựng QĐND Việt Nam trong tình hình mới. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; chính sách đối với những người có công với cách mạng, thương binh và gia đình liệt sĩ; chính sách tạo điều kiện việc làm cho quân nhân xuất ngũ...

Ba là, phát huy tốt vai trò của đồng bào các dân tộc trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. “Quân với dân như cá với nước” là một cách thể hiện rất độc đáo trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ mật thiết giữa quân đội và nhân dân Việt Nam, bắt nguồn từ trong bản chất, truyền thống của quân đội cách mạng do Đảng ta giáo dục và rèn luyện. Trong tình hình hiện nay, trước những tác động của điều kiện kinh tế-xã hội, nhất là trước những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, thì sự thương yêu, giúp đỡ của nhân dân đối với quân đội càng có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ.

Bốn là, phát huy vai trò của quân đội trong giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Vấn đề cơ bản có tính quyết định trực tiếp là sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu, công tác và lao động sản xuất của quân đội trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, mọi nhiệm vụ. Việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ là công việc của chính mỗi cán bộ, chiến sĩ; thể hiện cụ thể trong thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác và lao động sản xuất, cũng như trong sinh hoạt đời thường của mỗi quân nhân. Để giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Năm là, tích cực triển khai đấu tranh phòng, chống sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm thù địch, sai trái, xuyên tạc, phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Bảo đảm các hoạt động đấu tranh theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao. Huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan báo chí, truyền thông... tiến công chống các quan điểm thù địch, sai trái xuyên tạc, phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ. Bên cạnh đó, cần chủ động cung cấp đầy đủ những thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức để kịp thời định hướng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận bản chất, truyền thống của QĐND Việt Nam, của Bộ đội Cụ Hồ./.

Già hóa dân số ảnh hưởng đến sinh kế, chăm sóc y tế người già ở Việt Nam

 


Hiện nay cho thấy, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và từ tiền công lao động là thu nhập chủ yếu của hộ gia đình người già. Những khoản thu nhập có tính bảo đảm cuộc sống cho người già thì không còn đủ sức lao động như tiết kiệm, hưu trí và các khoản bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội khác tỷ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu nhập của hộ gia đình người già. Khi tuổi càng tăng lên thì nguồn thu nhập từ sản xuất, kinh doanh của người già càng giảm do khả năng lao động ngày càng suy giảm theo. Khi các nguồn thu nhập có tính dự phòng như hưu trí hoặc trợ cấp xã hội quá thấp sẽ ảnh hưởng tới việc bảo đảm mức sống của nhóm dân số người già (ước tính hieenj nay mới có khoảng 25% số người già đã tham gia bảo hiểm xã hội và có lương hưu trí). Như vậy nếu không nhanh chóng mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội đối với nhóm dân số đang trong độ tuổi lao động, trong vòng 20 năm tới có khoảng gần 10 triệu người già (từ 65 tuổi trở lên) nằm ngoài bảo hiểm xã hội. Dó đó việc thực hiện thành công các mục tiêu về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội theo quyết định của nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 có ý nghĩa rất quan trọng đối với sinh kế của người già

So sánh với các nhóm dân số khác, nhóm người già có nhu cầu chăm sóc y tế lớn nhất. Mô hình bệnh tật của người già chuyển từ các bênh lây nhiễm sang bệnh mãn tính, không lây nhiễm đang là thách thức lớn cho ngành y tế hiện nay. Ước tính chi phí chữa bệnh trung bình cho mpột người già cao hơn 7-8 lần so với trẻ em. Trong bối cảnh “chưa giàu đã già”, hàng triệu người già ở nước ta trong tương lai gần sẽ đối mặt với thách thức về chi phí khám chữa bệnh cao trong khi chỉ có thu nhập thấp. Đây là một yếu tố tiềm tàng có thể dẫn tới mất ổn định xã hội

Phát huy hơn nữa vai trò của các chức sắc, chức việc tôn giáo

 


Đối với các chức sắc, chức việc tôn giáo, chúng ta luôn chủ động, tranh thủ, tiếp cận, thuyết phục giác ngộ họ, kéo họ về với sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Sự giác ngộ về lợi ích quốc gia dân tộc của các chức sắc tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tập hợp tín đồ trong mái nhà chung của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vì tiếng nói của họ có sức mạnh to lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Vì vậy Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương cần trú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đối tượng là các chức sắc, chức việc của các tôn giáo, để qua họ tác động đến đông đảo tín đồ nâng cao nhận thức, hành động vì sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước.