Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

Giữ vững mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân để nâng cao vị thế, vai trò và trách nhiệm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Giữ vững mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân để nâng cao vị thế, vai trò và trách nhiệm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một vấn đề rất lớn, hệ trọng và có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn trong điều kiện một đảng cầm quyền ở Việt Nam. Giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam...

1- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã làm một cuộc cách mạng về thế giới quan và nhân sinh quan trong đời sống xã hội khi khẳng định vai trò to lớn của nhân dân với luận điểm “Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử”.

Theo C. Mác, cách mạng vô sản muốn thắng lợi, phải được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, người lao động. V.I. Lê-nin cho rằng, nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của mình thì giai cấp vô sản sẽ không thể thực hiện cách mạng thành công. Chân lý đó khẳng định rõ, mối quan hệ giữa đảng cộng sản và nhân dân là mối quan hệ máu thịt, không tách rời nhau và đòi hỏi đảng có trách nhiệm dẫn dắt toàn thể quần chúng nhân dân tiến hành theo Cương lĩnh chính trị của đảng. Vấn đề đảng cầm quyền đã được V.I. Lê-nin đặt ra rất sớm, từ trước khi Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra năm 1917, theo tư tưởng: Đảng “bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng đứng ra nắm toàn bộ chính quyền”. Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga, ngày 27-3-1922, lần đầu tiên V.I. Lê-nin đưa ra khái niệm “Đảng cộng sản cầm quyền” có nghĩa là đảng lãnh đạo chính quyền, làm cho mọi hoạt động của chính quyền được thực hiện theo Cương lĩnh chính trị của đảng và phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động.

V. I. Lê-nin cho rằng, giữ vững mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa đảng cộng sản với nhân dân là thể hiện sâu sắc nhất bản chất giai cấp công nhân của đảng và đáp ứng đòi hỏi đảng dẫn dắt toàn thể quần chúng tiến lên. Đây chính là nguyên lý cơ bản, nguyên tắc bất di bất dịch đối với việc xây dựng một chính đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Theo V.I. Lê-nin, mối quan hệ giữa đảng cộng sản lãnh đạo với nhân dân là không thể tách rời, và đảng không những không được tách rời quần chúng mà còn phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng, sống trong quần chúng, biết tâm trạng quần chúng, hiểu quần chúng, giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng. Do đó, một trong những nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất và sẽ là một tai họa thật sự của một đảng cộng sản cầm quyền là nguy cơ xa rời quần chúng. Vì thế, vấn đề then chốt là cần phải xây dựng đảng cộng sản cầm quyền trong sạch, vững mạnh và tăng cường xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa đảng và nhân dân.

2- Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nguồn gốc lý luận và phương pháp luận cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ Đảng - Dân.

Hồ Chí Minh luôn gọi Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng của giai cấp công nhân đồng thời là Đảng của dân tộc là “Đảng ta”, gọi một cách mộc mạc và thân thiết, hai từ chứa đựng nội dung sâu sắc và có ý nghĩa vô cùng to lớn. Sự kiện “Đảng ta” ra đời đầu năm 1930 có đặc điểm riêng không giống các đảng cộng sản ra đời ở phương Tây, đó là có thêm một yếu tố mới là dân tộc trong ba bộ phận cấu thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời và phát triển của Đảng bởi ba bộ phận cấu thành là chủ nghĩa Mác - Lê-nin được Nguyễn Ái Quốc hóa, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ cội nguồn dân tộc và ăn sâu bám rễ, phát triển trong lòng dân tộc. Đặc điểm đó khẳng định Đảng tồn tại và lớn mạnh vì lợi ích của dân tộc, Đảng gắn bó máu thịt với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, kết hợp sự tự nỗ lực đầy trách nhiệm của Đảng với trách nhiệm của nhân dân để xây dựng Đảng, để có sức mạnh của Đảng và của nhân dân ta. Hồ Chí Minh nói “Đảng ta” là vừa nói đến đặc điểm ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là của giai cấp công nhân hay của đội ngũ đảng viên mà còn là Đảng của toàn dân tộc.

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II của Đảng (tháng 2-1951), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(1), khẳng định Đảng ta có cơ sở xã hội sâu rộng và mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân trong thực tế ngay từ buổi bình minh của Đảng, đòi hỏi Đảng ta phải có trách nhiệm với dân tộc và là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(2) vì “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin”(3). Thực hiện tư tưởng Dân là gốc của nước, của cách mạng, là chủ của đất nước, của xã hội và là chủ vận mệnh của chính mình; nhân dân có tiềm năng to lớn, tiềm năng vô tận, nhưng không thuần nhất mà có nhiều tầng lớp khác nhau và nhiều dân tộc, có trình độ phát triển chênh lệch nhau; cách mạng muốn thành công phải đoàn kết, phải dựa vào lực lượng công nông làm gốc và phải có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dành tất cả nỗ lực và tâm huyết xây dựng được một đảng cách mạng chân chính, một đảng tiên phong của dân tộc và cùng toàn dân tộc Việt Nam làm nên mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng nước ta trong 85 năm qua.

Từ tư tưởng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấu hiểu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình phát triển của Đảng với mục đích là phấn đấu hy sinh đến cùng vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Đảng tồn tại vì quyền làm chủ thực sự của nhân dân và làm thay đổi vị thế của người dân từ thân phận nô lệ lên địa vị làm chủ. Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là Đảng cầm quyền” có nghĩa là, Người khẳng định bước ngoặt vĩ đại đánh dấu sự chuyển biến về chất trong vị thế của Đảng và Dân, từ chưa có chính quyền trở thành có chính quyền của Dân, do Dân, vì Dân; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, xây dựng và thực hiện một đường lối chính trị đúng đắn với những bước đi và phương pháp thích hợp để “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, Dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là Đảng cầm quyền” là nói Đảng ta lãnh đạo toàn diện xã hội, sử dụng bộ máy chính quyền quy tụ và phát huy sức mạnh của nhân dân, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng do Đảng đề ra vì lợi ích của nhân dân. Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải luôn luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của mình, phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao vai trò lãnh đạo và vị thế cầm quyền của Đảng, làm tốt công tác xây dựng Đảng mà đội ngũ cán bộ là mấu chốt.

3- Vì Dân và dựa vào Dân để xây dựng Đảng là một trong những tư tưởng lớn, ở tầm chiến lược, định hình trong chủ thuyết xây dựng Đảng cầm quyền của Hồ Chí Minh, làm nên lịch sử vẻ vang của Đảng ta.

Để có một chính đảng lãnh đạo được quần chúng nhân dân các dân tộc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng và củng cố Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một tổ chức chính trị trong sạch, vững mạnh, gắn bó máu thịt với nhân dân. Vì Dân và dựa vào Dân mà xây dựng Đảng luôn được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, đích thân Người chỉ đạo thực hiện và xem đây là điều kiện cốt yếu của lý luận về xây dựng Đảng, cũng như định hình rõ ràng mối quan hệ giữa Đảng với Dân và yêu cầu Đảng phải chăm lo xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận, trí tuệ, đạo đức cách mạng vì mục đích phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, xứng đáng hơn với niềm tin yêu của nhân dân đối với Đảng của mình. Tư tưởng chiến lược đó đã được Hồ Chí Minh thể hiện cô đọng trong 456 từ ở 12 điều “Xây dựng Đảng cách mạng chân chính” tại tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, do Người viết vào năm 1947.

Với quan điểm Đảng nhất thiết phải gắn bó máu thịt với nhân dân, Hồ Chí Minh coi đây không chỉ là tiêu chuẩn của một đảng cách mạng chân chính, mà còn là một trong những quy luật tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mối quan hệ giữa Đảng và Dân được Hồ Chí Minh xác định là mối quan hệ biện chứng, nó hình thành và phát triển gắn với quá trình cách mạng. Người luôn nhắc nhở chúng ta phải hiểu sâu sắc ý nghĩa, vai trò của nhân dân trong mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Theo Người, để giữ gìn và phát triển bền vững mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Đảng ta phải luôn nhận thức đầy đủ và giải quyết tốt bốn vấn đề cơ bản: Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác; Đảng phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân; Đảng phải gần gũi quần chúng, học hỏi quần chúng, lãnh đạo quần chúng; Đảng phải là người tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong Di chúc thiêng liêng của Hồ Chí Minh, Người nói rõ “Đảng ta là một Đảng cầm quyền” mà hạt nhân, cốt yếu và hệ trọng là sự gắn bó giữa Đảng với Dân.

Nhân dân ta có Đảng lãnh đạo, đã làm nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, minh chứng cho sức mạnh của Đảng và sức mạnh của nhân dân. Tổng kết những bài học lớn của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” và “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi”. Cho nên, điều cốt yếu và hệ trọng của lý luận về Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền là xây dựng và phát triển mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Dân, bảo đảm cho ý Đảng phản ánh đúng lòng Dân và đường lối của Đảng thuận lòng Dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam, đặc biệt gần 30 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng về xây dựng mối quan hệ Đảng - Dân là: Đảng lắng nghe Dân, vì Dân, dựa vào Dân và Dân tin Đảng trở thành nhân tố bảo đảm sự đúng đắn và thành công của đường lối cách mạng của Đảng; Đảng gắn bó với Dân và được Dân ủng hộ, đã làm nên những thành tựu rất quan trọng, có ý nghĩa lịch sử; Đảng chăm lo xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với Dân là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc tạo nên sức mạnh của Đảng; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và thực hiện ngày càng có hiệu quả Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tạo nên niềm tin của Dân và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong khó khăn, thử thách của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn lắng nghe ý kiến và sáng kiến của nhân dân, xem xét cách giải quyết của quần chúng và nghiên cứu học tập những nhân tố mới trong nhân dân. Trước yêu cầu lịch sử và thử thách to lớn của công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy ở thời kỳ nào công tác vận động và tổ chức quần chúng làm cách mạng cũng có ý nghĩa chiến lược”(4). Do đó, mối quan hệ Đảng - Dân không chỉ là lý luận công tác dân vận của Đảng mà còn là chỗ kết tinh, là hợp điểm của toàn bộ nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và tổ chức cán bộ của Đảng ta.

4- Phát huy vai trò của Đảng và vai trò của Dân trong mối quan hệ Đảng - Dân để nâng cao vị thế của Đảng.

Vai trò của Đảng thể hiện rõ ở chỗ, đi đôi với xây dựng đường lối đúng đắn, Đảng ta đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ của một đảng cầm quyền, lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn kiên định vai trò lãnh đạo và coi trọng làm tốt công tác xây dựng Đảng, giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của Đảng, nâng cao trình độ trí tuệ và chất lượng công tác nghiên cứu tổng kết lý luận của Đảng, chú trọng đổi mới tổ chức và cán bộ bảo đảm giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Vai trò của Đảng thể hiện ở chỗ, Đảng lãnh đạo phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra” theo Chỉ thị số 30-CT/TW, của Bộ Chính trị khóa VIII, ngày 18-02-1998, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở”; Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25-02-2010, của Bộ Chính trị, “Về Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”; Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Đảng lãnh đạo nhân dân làm tốt công tác giám sát, phản biện và góp ý xây dựng Đảng, chính quyền theo Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị. Đảng đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo đối với nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và hội quần chúng.

Vai trò của nhân dân thể hiện rõ trong việc góp ý xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng; trong việc tham gia xây dựng Đảng, hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình của nhân dân, thật thà góp ý và phê bình Đảng; tham gia phòng, chống tệ nạn quan liêu, tham nhũng và lãng phí; giám sát cán bộ và đại biểu dân cử.

Trong giai đoạn hiện nay, phải thực hiện tốt các giải pháp xây dựng Đảng về tiềm lực tư tưởng, lý luận, trí tuệ và tổ chức cán bộ; mở rộng công khai và dân chủ trong Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và khối đoàn kết liên minh công nhân - nông dân - trí thức; giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu bức xúc chính đáng của nhân dân./.

Một số giải pháp góp phần tăng cường công tác đấu tranh, ngăn chặn âm mưu chống phá, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, nhất là trên không gian mạng

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên…

Trước thềm đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch ở trong nước và ngoài nước ngày càng gia tăng các hoạt động quyết liệt và thâm hiểm nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trọng tâm của sự chống phá là xuyên tạc về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng và công tác nhân sự đại hội đảng các cấp... nhằm hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước ta.

Thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch tập trung chủ yếu chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phê phán, đả kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bóp méo sự thật về đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang...; lợi dụng vấn đề chống tham nhũng, nhất là sau một số vụ án tham nhũng kinh tế, các đối tượng thù địch thông qua các trang mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam; tuyên truyền những nội dung xấu, độc, trá hình, bới móc, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của các cấp ủy, chính quyền địa phương….

Trước tình hình trên, các cơ quan báo chí cách mạng của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tổ chức nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đấu tranh vẫn còn những hạn chế, chưa ngăn chặn được triệt để các thông tin xấu, độc, dẫn đến có những tác động tiêu cực tới nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và con đường phát triển đất nước.

Để nâng cao hiệu quả, góp phần tăng cường công tác đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá, luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, nhất là trên không gian mạng, cần thực hiện tốt một vài giải pháp chủ yếu sau:

Một là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, không gian mạng phát triển như “vũ bão”, thông qua “thế giới ảo”, các thế lực thù địch không đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống mà các hình thức chống phá của chúng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, do vậy đòi hỏi nội dung, phương thức đấu tranh của chúng ta cũng phải từng bước hoàn thiện cho phù hợp. Nội dung, phương pháp giữ vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng; nội dung đấu tranh phong phú, hình thức đa dạng, biện pháp cụ thể, sáng tạo, phù hợp thì hoạt động này mới có hiệu quả cao.

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng…

Bên cạnh những giá trị đích thực, thì những mặt trái, tiêu cực của không gian mạng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý. Một số quốc gia đã dựng lên các “biên giới ảo” trên nền Internet để kiểm soát “lãnh thổ” của mình. Với chúng ta, song hành cùng các giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch trên không gian mạng, thì cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ, như: bảo vệ tốt thông tin cá nhân; kỹ thuật phát tán thông tin trên không gian mạng; kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của đối phương... có vị trí vô cùng quan trọng, góp phần quyết định đến thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng hiện nay.

Ba là, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng. Phổ biến các điều khoản của Bộ luật Hình sự 2015 (Mục 2, Điều 285-294) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ và Thông tư số 09/2014/BTTTT ngày 19/8/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng mạng xã hội. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật An ninh mạng năm 2018. Luật An ninh mạng được xây dựng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên mạng của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật An ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi. Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin; góp ý xây dựng chương trình giáo dục an toàn thông tin mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến an toàn thông tin mạng.

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 09 THÁNG 01 NĂM 1954!

         “Thanh niên là một cái nguồn vô tận, từ nguồn ấy mà chúng ta đào tạo những cán bộ tốt cho hiện tại và tương lai của nước nhà”!
     Lời của Chủ tịch Hồ Chi Minh trong Bài "Thanh niên nông dân", đăng trên báo Nhân dân, số 159, từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, trong bối cảnh, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp của dân tộc ta giành được nhiều thắng lợi lớn; lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng; trong đó, lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng dân công với đại đa số là thanh niên nông dân.
     Qua lời của Bác, chúng ta thấy Người nhận rõ đặc điểm và thế mạnh của lực lượng thanh niên Việt Nam, chủ yếu là con em của nông dân, bị phong kiến, địa chủ áp bức, bóc lột tàn tệ..., nhưng họ có lòng yêu nước nồng nàn, nhiệt tình cách mạng, cần cù chịu khó, cần phải tổ chức giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thành những cán bộ tốt đế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong hiện tại và trong tương lai của nước nhà.
     Lời huấn thị của Người không chỉ đặt ra yêu cầu và định hướng cho các tổ chức đảng, các cấp, các ngành phát động phong trào, tổ chức giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, nhất là thanh niên nông dân, mà còn khơi dậy tinh thần nhiệt huyết cách mạng, hăng hái thi đua học tập, huấn luyện, rèn luyện, tích cực đóng góp sức mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
     Hiện nay, lời nói của Chủ tịch Hồ Chi Minh, trên đây vẫn nguyên giá trị; được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào đường lối cách mạng trong tĩnh hình mới; chủ trương xây dựng chiến lược phát triến nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực với những giải pháp đồng bộ; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Thấm nhuần lời của Người, thanh niên Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, ham hiểu biết, phấn đấu tự mình nâng cao trình độ về mọi mặt, say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội hăng hái thi đua "tiến công vào khoa học kỹ thuật", “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hoàn toàn thắng lợi./.
Yêu nước ST.

 

Phê phán quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam

Hiện nay, trên không gian mạng xã hội đang lan truyền quan điểm “dân sự hóa” Quân đội, với những thủ đoạn che giấu tinh vi của các thế lực thù địch, đã khiến cho không ít người nhẹ dạ cả tin. Vì vậy, việc nhận diện kịp thời và phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Một số học giả nước ngoài đang ra sức tuyên truyền cho quan điểm “siêu giai cấp” của Quân đội, “dân sự hóa” Quân đội và đi đến kết luận: Quân đội là công cụ của toàn xã hội. Họ cho rằng, "sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không có bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị” và phải được “dân sự hóa” triệt để”. Thực chất của quan điểm trên nhằm thực hiện mưu đồ “vô hiệu hóa” quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa dẫn đến dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hướng tới xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Đây là một thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động cần phải lên án, phê phán quyết liệt âm mưu, thủ đoạn của địch trong tình hình hiện nay./.

08.01

Nhận diện một số phương thức, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực xây dựng pháp luật ở Việt Nam


Thứ nhất, thông qua tài trợ các chương trình, dự án hợp tác về xây dựng pháp luật với nguồn kinh phí lớn trong vỏ bọc hỗ trợ xây dựng pháp luật nhưng lại đưa ra những yêu cầu, khuyến nghị sửa đổi pháp luật, can thiệp, tác động vào quá trình xây dựng, ban hành pháp luật của Việt Nam, nhất là trong giai đoạn dự thảo chương trình, đề án, dự án xây dựng luật, giai đoạn soạn thảo luật và thảo luận, giai đoạn tiếp thu, chỉnh lý, thông qua dự án luật. Mặt khác, các thế lực thù địch lợi dụng việc triển khai các dự án, chương trình tài trợ, hội nghị, hội thảo với vỏ bọc hỗ trợ các cơ quan có chức năng lập pháp Việt Nam xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật để thu thập thông tin có giá trị về hệ thống pháp luật Việt Nam phục vụ cho mục đích tác động, hướng lái pháp luật Việt Nam theo ý đồ của họ…

Thứ hai, tìm cách quan hệ, móc nối, tiếp xúc với cán bộ làm việc tại các cơ quan tham mưu, hoạch định, xây dựng chính sách, pháp luật, với mục đích tác động, hướng lái pháp luật Việt Nam, như mời cán bộ thuộc các cơ quan lập pháp, tư pháp của Việt Nam đi tham quan, nghiên cứu mô hình hệ thống tư pháp ở nước ngoài nhằm tác động làm thay đổi quan điểm, tư tưởng, nhận thức; thậm chí tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Thứ ba, tác động, kích động các đối tượng chống đối, bất mãn tuyên truyền, phê phán việc xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung, hệ thống pháp luật nói riêng và công cuộc cải cách tư pháp của Nhà nước ta nhằm làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Chẳng hạn, hoạt động lấy danh nghĩa tài trợ cho giới luật gia Việt Nam mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho luật sư trong nước để tác động, khuyến khích họ phát biểu, phê phán hệ thống pháp luật Việt Nam; lôi kéo số luật gia có trình độ, có uy tín nhưng có tư tưởng đa nguyên, những đối tượng chống đối, có dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuyên truyền, xuyên tạc quan điểm, chính sách, pháp luật Việt Nam, tuyên truyền các quan điểm pháp lý tư sản.

Thứ tư, lợi dụng các hiệp định thương mại, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia để tác động, yêu cầu sửa đổi pháp luật. Gần đây nhất là việc nước ta ký kết tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó cài ẩn một số điều khoản tạo tiền đề pháp lý để các “tổ chức xã hội” trong nước phát triển, dần tự do và thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước Việt Nam, tiến tới hình thành tổ chức chính trị đối lập.

Thứ năm, đưa ra các tuyên bố, kiến nghị tập thể, kích động biểu tình, gây rối để tuyên truyền, gây sức ép đến các cơ quan nhà nước mỗi khi có những chính sách, pháp luật mới được ban hành hoặc trong quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật nhằm mục đích gây bất ổn tình hình chính trị - xã hội. Thông qua các cơ chế dân chủ, nhân quyền, các phiên đối thoại song phương, các tổ chức nước ngoài đưa ra những đánh giá sai lệch rằng, pháp luật Việt Nam không bảo đảm các cam kết quốc tế, yêu cầu Việt Nam phải sửa đổi pháp luật theo ý đồ của họ. Chẳng hạn, như yêu cầu Việt Nam phải sửa đổi, ban hành các luật liên quan đến thể chế chính trị, thể chế kinh tế, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, quyền con người... Bên cạnh đó, lợi dụng các vụ, việc phức tạp về an ninh, trật tự trong nước, các đối tượng phản động bên ngoài móc nối với các đối tượng chống đối trong nước tuyên truyền, xuyên tạc tình hình, tạo dư luận tiêu cực, phản đối chính sách, pháp luật, kích động biểu tình, bạo loạn…

Thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, các cơ quan, ban, ngành và các lực lượng chức năng, mà nòng cốt là lực lượng an ninh nhân dân, đã chủ động tổ chức công tác phòng ngừa, phát hiện, sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp đấu tranh hết sức linh hoạt và hiệu quả đối với hoạt động “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật. Nhờ đó, các đơn vị chức năng đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động can thiệp, tác động, chuyển hóa quá trình xây dựng pháp luật ở nước ta. Cũng qua thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh, đã góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về âm mưu, phương thức, thủ đoạn, sự nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” đối với lĩnh vực xây dựng pháp luật mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Trên cơ sở đó, từng bước đổi mới tư duy, quan điểm, biện pháp để vừa phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả mà vẫn có thể góp phần phục vụ tích cực cho chủ trương đẩy mạnh hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút các nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội nói chung và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng. 

Nhân quyền ngày càng được bảo đảm dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

     Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước” và “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân; tăng cường tạo đồng thuận xã hội” tiếp tục là một nội dung quan trọng được khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng. Bởi rằng, ở Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (nền dân chủ cho đại đa số nhân dân lao động, phục vụ lợi ích cho đại đa số) khác với các nền dân chủ tư sản (nền dân chủ cho thiểu số, phục vụ lợi ích cho thiểu số); trong đó, nội dung cốt lõi là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân được quy đinh trong Hiến pháp. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ, pháp luật, kỷ cương xã hội không loại trừ, mà thống nhất biện chứng, là tiền đề phát triển của nhau nhằm phát huy mọi khả năng của con người trong vai trò làm chủ, trong việc thụ hưởng giá trị của tự do, dân chủ, được sống, được hạnh phúc… trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Các luận điệu xuyên tạc sự thật mà các thế lực thù địch hay nhóm những người giả danh dân chủ, nhân quyền, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền “vinh danh những cá nhân đã hoạt động tích cực đấu tranh cho nhân quyền của người dân Việt Nam” nhằm mục đích khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam như việc trao “giải thưởng nhân quyền năm 2022” cho Nguyễn Tường Thụy… chỉ là sự cổ xúy cho những người đã “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm” nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các hoạt động đó không phải là “sự quy tụ của những người có nhiệt huyết, trách nhiệm, hoạt động vì tình yêu đất nước và thương dân” và “bị chụp mũ cho cái tên phản động”, mà đó đích thị là các hoạt động lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, nhằm gây sức ép và hạ uy tín của Việt Nam để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng.

Cho nên, cần phải nhận diện đúng và tiếp tục khẳng định rằng: Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhân quyền/quyền con người, quyền công dân đã được thực thi, được bảo đảm bằng Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Việc cần phải bác bỏ mọi luận điệu bôi đen, bịa đặt, xuyên tạc, thâm chí vu khống về tình hình thực thi nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực thù địch là quan trọng và cần thiết!./.

08.01

Tích cực đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo

 


 

Những âm mưu, thủ đoạn mới lợi dụng vấn đề tôn giáo của địch, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân cần nhận diện rõ ràng, để luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng ý chí kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng, để thực hiện tốt cần thực hiện tốt các kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, coi trọng tuyên truyền giáo dục làm cho đồng bào tôn giáo thấu suốt quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức, lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với lực lượng phản động bên trong lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào tôn giáo, đi ngược lại đạo pháp và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, phương pháp công tác tôn giáo cần tuân theo bốn quy cách: có lý, đúng luật, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ; thống nhất đồng bộ giữa ba bộ phận (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng là các tín đồ, chức sắc và tổ chức giáo hội)

Ba là, trong xử lý vấn đề lợi dụng tôn giáo hoạt động trái pháp luật, phải bình tĩnh, nắm chắc tình hình, không định kiến, nóng vội, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục; cần tránh hai khuynh hướng: hữu khuynh lừng chừng để kẻ địch có cơ hội lôi kéo, lừa gạt quần chúng hoặc tả khuynh tuyên chiến với tôn giáo, đánh nhầm vào quần chúng tín đồ tốt. Ở những nơi thường xảy ra diễn biến phức tạp cần thành lập các tổ công tác hoặc ban chỉ đạo, những nơi chưa xảy ra phức tạp, phải chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn, giải quyết ngay từ cơ sở không để lây lan, kéo dài.

Bốn là, chủ động sâu sát cơ sở địa bàn có tôn giáo để nắm chắc tình hình, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; thực hiện tốt ba cùng: cùng ở, cùng làm, cùng sinh hoạt với dân; phải thường xuyên nắm chắc âm mưu, hoạt động của kẻ xấu để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn. Khi xảy ra “điểm nóng” cần phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, chính quyền địa phương với Ban Chỉ đạo Trung ương ở ttừng khu vực để giải quyêt dứt điểm, không để lan sang các vùng khác và phải tuyệt đối tránh tiếp xúc với người nước ngoài.

Năm là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với vấn đề dân tộc. Đó là, phải chăm lo giải quyết vấn đề đời sống, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Công tác tôn giáo phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược quốc phòng an ninh, thực hiện chính sách định canh, định cư, chống di dịch cư tự do trong đồng bào các dân tộc ít người, theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Vì vừa qua, kẻ địch đã triệt để lợi dụng tập quán này để truyền đạo trái phép rất phức tạp.

Cung cấp kịp thời thông tin chính thống, minh bạch cho công chúng chính là chìa khóa “miễn dịch”

 Cũng như cơ thể con người, nếu con người ta khỏe mạnh, cường tráng, có thể đủ sức đề kháng, thì chúng ta sẽ tự miễn dịch được các dịch cúm, đẩy lùi được các bệnh tật nguy hiểm. Vì vậy, cách tốt nhất là tạo sức đề kháng cho công chúng, cộng đồng mạng trước các thông tin xấu độc là để mỗi công dân tiếp nhận đầy đủ thông tin, tri thức. Từ đó, mỗi người dân chủ động, tự giác, phản ứng, đấu tranh, phản bác kịp thời với các quan điểm sai trái phát tán trên in-tơ-nét.

Cuộc đấu tranh địch - ta trên không gian mạng của trận địa tư tưởng tuy thầm lặng nhưng ngày càng khốc liệt hơn. Đối phó, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái trên mạng xã hội là lâu dài, không bao giờ ngưng nghỉ. Chúng ta cũng cần khách quan, nhìn nhận nó theo hướng đối phó, đấu tranh, ngăn chặn để giảm thiểu tác hại của nó chứ không thể suy nghĩ theo kiểu “zero covid”. Vì đây là mưu đồ phá hoại của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. “Chúng dã tâm chống phá ta đến cùng”.

Nếu thực hiện giải pháp bóc, gỡ tin, bài xấu độc thì chúng lại tung lên mạng các tin, bài khác. Do vậy, chúng ta trong môi trường thông tin số, "sống chung với lũ", thích ứng với nó và có giải pháp căn cơ, bền vững, lâu dài là tư duy đúng đắn nhất. Tư duy đó cần phải được mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân với tư cách công dân mạng của chúng ta hiểu đúng. Như vậy mới giúp chúng ta có chiến lược, có giải pháp khả thi, hữu hiệu để đẩy lùi quan điểm sai trái, thông tin xấu độc.

Chính vì vậy, chìa khóa căn cơ lâu dài là cung cấp thông tin chính thống, minh bạch kịp thời để nâng cao nhận thức, tri thức giúp cộng đồng mạng đủ sức nhận thức, phân biệt đúng - sai, tích cực - tiêu cực, xấu - tốt, từ đó đủ sức đề kháng, dần dần hình thành cơ chế "tự miễn dịch" trước thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch.

08.01

Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ


Là một trong 10 cá nhân được tặng Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia năm 2022, Thượng úy Nguyễn Trung Hải (sinh năm 1983) cảm thấy vô cùng vinh dự, song cũng xác định trách nhiệm lớn lao của bản thân để tiếp tục phấn đấu trong thời gian tới. Sinh ra và lớn lên ở Cao Bằng, tuổi nhỏ, cậu bé Nguyễn Trung Hải đã chịu nhiều thiệt thòi do gia đình quá khó khăn. Năm lên 8 tuổi, Nguyễn Trung Hải theo bố mẹ vào Đắk Lắk làm kinh tế mới. Chính tại nơi đây, anh đã thấu hiểu được những khó khăn của người dân, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới.

Là một quân nhân chuyên nghiệp, công việc khá bận rộn, song Thượng úy Nguyễn Trung Hải luôn cố gắng dành thời gian cho hoạt động xã hội. Anh “bén duyên” với công tác thiện nguyện từ năm 2014 và đến năm 2016, anh đứng ra thành lập nhóm thiện nguyện “Cư Mgar - Người người làm thiện nguyện” với hơn 100 thành viên.

Đến nay, anh đã vận động các doanh nghiệp, nhà hảo tâm giúp đỡ hơn 400 gia đình có hoàn cảnh éo le, có người mắc bệnh hiểm nghèo; xây được 13 căn nhà Tình thương; tặng sổ tiết kiệm, giống cây trồng, vật nuôi làm vốn sản xuất cho các hộ nghèo… với tổng trị giá hơn 5 tỷ đồng. Riêng năm 2022, anh đã trực tiếp triển khai các hoạt động vì cộng đồng với tổng kinh phí hơn 700 triệu đồng. Qua đó, giúp đỡ hơn 30 trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, bị bệnh hiểm nghèo; tặng dê giống cho 3 gia đình đặc biệt khó khăn; xây dựng 1 nhà Tình thương; tặng 500 suất quà cho các gia đình chính sách, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn...

“Khi nhận được thông tin được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tặng Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia, tôi rất vui mừng và luôn tự nhủ bản thân phải nỗ lực nhiều hơn nữa để công tác thiện nguyện ngày càng phát triển, giúp đỡ được nhiều hoàn cảnh khó khăn” - lời chia sẻ mộc mạc ấy của Thượng úy Nguyễn Trung Hải khiến tôi thêm trân quý những việc làm nhân văn mà rất đỗi thầm lặng của anh. Được biết, phần lớn các hoạt động thiện nguyện được anh triển khai ở vùng sâu, vùng xa, trong đó có nhiều chương trình hỗ trợ đồng bào ở khu vực biên giới.

Với những cống hiến thầm lặng của mình, Thượng úy Nguyễn Trung Hải đã nhận được nhiều phần thưởng xứng đáng. Đặc biệt, ngày 27/11/2020, anh được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen “Vì đã có thành tích trong lĩnh vực an sinh xã hội và tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc”; tháng 6/2020, anh được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen trong phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”./. 

Để phòng, chống hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

     Khi cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng, thực sự thông suốt về tư tưởng, những vướng mắc được giải quyết kịp thời thì sẽ có sức đề kháng tốt, không mắc "căn bệnh" nguy hiểm "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đối với nội dung về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc"... Để tránh hệ lụy nguy hiểm từ "căn bệnh" này, chúng ta cần có biện pháp phòng, chống hiệu quả.

Trước hết, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên ở cơ sở. Bởi vì, nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng có được giữ vững và nâng cao, phải trên cơ sở từng cán bộ, đảng viên nắm vững những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Để thực hiện tốt việc này, cần chú trọng việc nâng cao chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng về lý luận chính trị, pháp luật, tránh tình trạng nặng về hình thức, còn nội dung giảng dạy chưa đạt được độ sâu sắc, thuyết phục, chưa gắn với thực tiễn kinh tế-xã hội đang diễn ra. Đặc biệt, phải kiên quyết khắc phục hiện tượng dạy học không nghiêm túc, dùng “cơ chế, quan hệ” để đạt được điểm cao và đủ điều kiện được cấp chứng chỉ, văn bằng về trình độ lý luận chính trị...

Các cơ quan chức năng phải tích cực, chủ động đấu tranh với những thông tin xấu, độc trên các mạng xã hội và trong những ấn phẩm do thế lực phản động, thù địch tuồn vào nước ta nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tiếp tục xử lý nghiêm khắc những đối tượng tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật và đạo đức, lối sống; kiên quyết làm trong sạch đội ngũ nhằm củng cố, nâng cao niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thường xuyên chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch đội ngũ, bảo đảm không có "vùng cấm", xử lý nghiêm khắc bất kể người vi phạm là ai, Đảng, Nhà nước cần chủ động công khai, minh bạch các vụ việc, đối tượng vi phạm để nhân dân được biết và góp phần cảnh báo, răn đe; tránh để các đối tượng thù địch lợi dụng "tung hỏa mù", sử dụng "thuyết âm mưu", gây hoang mang, dao động trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc sinh hoạt tự phê bình và phê bình, tự soi, tự sửa theo Kết luận 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Duy trì thực hiện nền nếp, nghiêm túc, chặt chẽ chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình, nhất là ở cấp chi bộ, bởi lẽ, chi bộ là nơi mọi cán bộ, đảng viên thường xuyên sinh hoạt, gắn bó chặt chẽ và hiểu rõ về nhau cả về ưu điểm, nhược điểm, những mối quan hệ xã hội và nguy cơ mắc sai lầm, khuyết điểm... Sinh hoạt tự phê bình và phê bình nếu làm tốt, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; giảm vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, kỷ luật và đạo đức, lối sống; không để cán bộ, đảng viên sa ngã, vi phạm kéo dài, gây bức xúc trong cơ quan, tổ chức, địa phương...

Tiến hành đồng bộ các giải pháp về công tác chính sách, chăm lo bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần; tiến hành công tác tổ chức-cán bộ và khen thưởng, kỷ luật thực sự dân chủ, khách quan, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên thực sự "tâm phục, khẩu phục", tránh nảy sinh tư tưởng bất mãn, tiêu cực; thực hiện đúng quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị...

Khi cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng, thực sự thông suốt về tư tưởng, những vướng mắc được giải quyết kịp thời thì sẽ có sức đề kháng tốt, không mắc "căn bệnh" nguy hiểm "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". 

08.01.

Đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong thực hiện công tác tôn giáo

 


Thực hiện tuyên truyền vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng, đồng thời làm cho các tín đồ hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong tuyên truyền cần nhận thức rõ tôn giáo là một vấn đề tâm linh đã ăn sâu, bén rễ trong đời sống của không ít người trong nhiều dân tộc qua nhiều thế hệ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phụng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý, với truyền thống của dân tộc; nâng cao đạo đức, nhân cách con người, sống “tốt đời, đẹp đạo” chủ động đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc bóp méo sự thật, thay trắng, đổi đen lừa mị tín đồ của các thế lực thù địch, phản động. Phải gắn đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo với cuộc đấu tranh chống nghèo nàn, lạc hậu. Một trong những thủ đoạn mà kẻ địch lợi dụng là dựa vào đời sống còn khó khăn của các tín đồ để dụ dỗ, kích động họ chống lại chính quyền. Vì vậy, đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phải gắn với động viên các tín đồ tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần. Đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, bởi các vấn đeè đó có mối quan heẹ chặt chẽ, đa xen với nhau. Trên lĩnh vực đối ngoại, đây là lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm mà các thế lực thù địch lợi dụng để can thiệp, chống phá nước ta. Chúng dựng lên cái gọi là “tự do tôn giáo ở Việt nam”, “nhân quyền ở Việt Nam” để lừa bịp dư luận thế giới, trắng trợn, vu cáo Nhà nước ta “đàn áp tôn giáo”… Do đó chúng ta cần quán triệt phương châm tích cực, chủ động, mềm dẻo, linh hoạt bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh: đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo trên lĩnh vực quốc phòng an ninh được biểu hiện trực tiếp ở việc làm thất bại mọi mưu đồ chính trị, khuấy lên những khác biệt, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng người Việt; mưu đồ hỗ trợ chủ nghĩa cực đoan, cuồng tín, làm bùng lên những vụ gây rối, bạo loạn ly khai, mưu đồ tạo dựng, hình thành những nhân tố chống đối từ bên trong, xây dựng phát triển lực lượng đối lập để lật đổ chính quyền của các thế lực thù địch, phản động. Thực tế cho thấy, có lúc vấn đề tôn giáo đã tạo nên những “điểm nóng” như: vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Tây Nguyên tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004 với cái gọi là “Nhà nước Đề ga” “Hội thánh Tin lành Đề ga”, việc truyền đạo trái phép và “xưng vua” ở Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tháng 5 năm 2001 và tình hình truyền đạo trái phép ở Nghệ An, Thái Bình, Hải Phòng… Những vụ việc đó đã ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đến xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Từ thực tiễn xử lý các vụ việc này cho thấy, trong đấu tranh chống dịch lợi dụng vấn đề tôn giáo phải kiên quyết và khôn khéo, dứt điểm, không để lây lan kéo dài; phải phát huy được sức mạnh tổng hợp đấu tranh trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh phải kết hợp chặt chẽ với các lĩnh vực khác, trong đó đặc biệt là công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ đồng bào tín đồ tích cực phát triển kinh tế - xã hội…nhằm tạo sức đề kháng từ bên trong của mỗi tín đồ tôn giáo, của mỗi địa phương và cả nước.

 

Không để những "chuyện nhỏ" ảnh hưởng xấu tới đất nước

 

Thời gian qua, trên một số trang mạng, các thế lực thù địch, phản động không chỉ thường xuyên đăng tải theo kiểu thổi phồng (cả quy chụp, xuyên tạc, bịa đặt) những vụ việc tiêu cực ở Việt Nam, trong đó có hiện tượng tham nhũng và cán bộ, công chức ứng xử, phát ngôn không đúng, mà chúng còn tìm đăng những hình ảnh về cảnh nhếch nhác, rồi "bình loạn", chụp mũ rằng Việt Nam nghèo đói, kém phát triển, môi trường sống không an toàn... Với thủ đoạn cố tình lờ đi tất cả những điều tốt đẹp, những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã làm được; chỉ xoi mói, tìm kiếm những sự việc tiêu cực, hình ảnh xấu để bêu riếu, các đối tượng thiếu thiện chí đã khiến không ít bạn bè quốc tế có cái nhìn chưa khách quan, toàn diện về đất nước và con người Việt Nam. Vì thế, bên cạnh công tác đấu tranh, vạch trần những âm mưu, luận điệu sai trái, chúng ta phải kiên quyết chấn chỉnh, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật trong nội bộ; kiên quyết xử lý những tập thể, cá nhân thiếu trách nhiệm, để xảy ra cảnh xấu xí, nhếch nhác, làm tổn hại tới uy tín, hình ảnh của đất nước, ví dụ như việc để sân vận động quốc gia Mỹ Đình bị chê là mất vệ sinh, không chuẩn bị chu đáo cho các trận thi đấu bóng đá với các đội tuyển quốc tế cuối năm 2022 vừa qua, hay vấn nạn xả rác tùy tiện, nạn ăn xin đeo bám, "chặt chém" khách du lịch...   

Âm mưu của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta không bao giờ thay đổi, đồng thời, phương thức, thủ đoạn chống phá của chúng ngày càng tinh vi, nham hiểm, quyết liệt, triệt để lợi dụng mọi sơ hở của ta để công kích. Do đó, chính chúng ta phải kiên quyết và nỗ lực khắc phục những hạn chế, yếu kém, tự làm đẹp mình hơn nữa để nhân dân thêm tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; bạn bè quốc tế thêm hiểu và yêu mến đất nước, con người Việt Nam. Thực tế thời gian qua, nước ta đã đạt được nhiều thành quả ấn tượng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh; tích cực tham gia đóng góp vào giữ gìn hòa bình, ổn định, vì sự phát triển của khu vực và thế giới; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đây là sự thật hiển nhiên mà không ai có thể phủ nhận. Thế nhưng những chuyện "tưởng nhỏ" nêu trên đang tiềm ẩn nguy cơ lớn, cần được Đảng, Nhà nước và toàn dân ta quyết tâm chấn chỉnh, khắc phục bằng được để đất nước phát triển vững mạnh, góp phần củng cố "thế trận lòng dân", không để kẻ xấu lợi dụng chống phá.

08.01

Những phát ngôn khiến dư luận bất bình

 Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến không ít trường hợp cán bộ, công chức, viên chức có phát ngôn thiếu nghiêm túc, nực cười (cả phát biểu trực tiếp và viết trên mạng xã hội), chủ yếu để bao biện, né tránh trách nhiệm... Điển hình gần đây là một cán bộ Sở Xây dựng TP Hà Nội lý giải rằng đá lát vỉa hè (loại mà trước đó được khẳng định có độ bền 70 năm) bị nứt vỡ một phần là do mưa nhiều thì giãn nở, tự vỡ. Bên cạnh đó, thi thoảng vẫn có một số địa phương, cơ quan ban hành các văn bản có nội dung không đúng, thiếu tính khả thi, thậm chí vi phạm pháp luật... nhưng khi dư luận phát hiện thì người ký văn bản lại đổ lỗi cho... nhân viên đánh máy.

Trên thực tế, có những cán bộ, công chức, viên chức thực sự lỡ lời, vô tình nói thiếu câu từ, diễn đạt chưa hết ý dẫn đến sự hiểu lầm đáng tiếc. Nhưng cũng không hiếm người có trách nhiệm phát ngôn tùy tiện, thiếu cả tâm và tầm, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của cán bộ đó mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước; trở thành cái cớ, cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, kích động nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, chống phá cách mạng nước ta. Vì vậy, các cơ quan, tổ chức cần xem xét xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phát ngôn thiếu tâm và tầm, nhất là để bao biện, né tránh trách nhiệm một cách vô lý, nực cười, khiến dư luận bất bình.

08.01

Dẹp "chuyện nhỏ" để tránh họa to

 

Lâu nay có những việc mà nhiều người coi là "chuyện nhỏ" nhưng lại gây hậu quả rất nghiêm trọng, là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng thổi phồng, chống phá, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, thậm chí ảnh hưởng tới uy tín của đất nước. Những việc này cần được nghiêm túc chấn chỉnh, khắc phục, không để "chuyện nhỏ" gây họa to!

Cuối năm 2022 vừa qua, dư luận không khỏi bất bình trước việc ông Nguyễn Viết Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Bí thư Chi bộ Công ty Cổ phần Tập đoàn Đất Quảng, đại biểu HĐND tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2021-2026, trong lúc bực dọc đã dùng gậy golf đánh nữ nhân viên phục vụ tại sân golf khiến cô này phải vào bệnh viện sơ cứu. Trước đó, một cán bộ của Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường TP Đà Nẵng có hành vi ném trả tiền lẻ mà chủ quán ăn trả lại cho con mình và dùng những lời bất nhã đe dọa sự tồn tại của quán này.

Đây là hai ví dụ về cán bộ, đảng viên-những người có trách nhiệm phải nêu gương phẩm chất đạo đức, ứng xử, tôn trọng nhân dân thì lại thể hiện sự hống hách, có hành vi xúc phạm người dân, bị dư luận lên án mạnh mẽ. Thực tế đã có không ít video clip chia sẻ trên mạng xã hội hình ảnh cán bộ, công chức, viên chức ở cấp cơ sở thể hiện sự hách dịch, trịch thượng, thiếu văn hóa, cậy quyền cậy thế, rõ ràng mình sai mà vẫn ngang ngược dọa dẫm kiểu "Biết tao là ai không?"-khiến người dân rất bức xúc.

Không chỉ hống hách với người dân, một số cán bộ còn "quân phiệt miệng", thiếu tôn trọng cấp dưới, nhất là đối với những nhân viên trẻ tuổi. Biểu hiện rõ nhất là quát mắng vô cớ, làm cho nhân viên sợ sệt, khi cấp dưới đến gặp thì lạnh lùng, đe nẹt, thái độ xem thường, không hướng dẫn, giúp đỡ mà chỉ tìm cớ quát tháo, chì chiết, phê bình không phải trên tinh thần đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp mà cố tình thể hiện uy quyền, tạo khoảng cách trên-dưới nhằm bắt cấp dưới phải cầu cạnh, cung phụng mình. Cá biệt, có cán bộ còn "nói một đằng, làm một nẻo", ví dụ như yêu cầu cấp dưới phải triệt để thực hành tiết kiệm nhưng bản thân mình thì lãng phí, tùy tiện sử dụng tài sản công vào những việc riêng, thậm chí phục vụ cả gia đình, họ hàng... Cán bộ cấp trên mà như vậy khiến cấp dưới chán nản, mất niềm tin và động lực phấn đấu, thậm chí sinh ra bất mãn. Hiện tượng này cần phải phê phán, đấu tranh mạnh mẽ vì đó là nguyên nhân gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, suy yếu tổ chức và vô cùng nguy hiểm khi các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.

08.01

Xây dựng hệ thống an sinh xã hội người cao tuổi.

 


Xây dựng hệ thống an sinh cho người cao tuổi có tầm nhìn chiến lược, phù hợp với thực tiễn hiện nay và xu hướng tỷ trọng người già tăng nhanh, đặc biệt là heẹ thống an sinh với người cao tuổi. Hiện nay có khoảng 70% người cao tuổi ở Việt Nam tự lao động kiếm sống, khoảng 30% người có lương hưu/trợ cấp xã hội; 72,3% sống cùng con cháu; tình trạng người cao tuổi sống cô đơn cao. Nữ giới chiếm tỷ trọng cao trong dân số cao tuổi và phụ nữ cao tuổi sống cô đơn gấp 5,44 lần nam giới. Số người cao tuổi không có tích lũy vật chất chiếm 70% trong đó 62,3% khó khăn thiếu thốn (nông thôn 68%, thành thị 50%). Tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Chúng ta phấn đấu đến năm 2030 tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khẻo mạnh đạt tối thieeur 68 nawm, 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y teé, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung. Kết quả điều tra về người cao tuổi năm 2011 cho thấy; tuy tuổi thọ trung bình người Việt nam cao (73 tuổi), nhưng gấnh nặng bệnh tật của người cao tuổi cũng cao, gánh nặng bệnh tật kép (95% có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền), 67,2% tình trạng sức khỏe yếu, rất yếu, sức khỏe tốt chỉ có 5%)

Tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Hiện nay, trước những tác động tiêu cực đa chiều, nhất là mặt trái của kinh tế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch,... một số cán bộ, đảng viên đã không giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính tri, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước buộc phải xử lý… Để giữ gìn đạo đức cách mạng, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.

Việc rèn luyện đạo đức cách mạng không phải dễ dàng, bởi ai cũng muốn, thậm chí ham muốn được phát triển, có quyền lực, có điều kiện kinh tế, có cuộc sống sung túc, muốn được hưởng thụ, thậm chí còn muốn được xa hoa,… do vậy, đấu tranh để thắng những ham muốn của bản thân mình là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và phải do tự mình “chiến đấu”. Khó, nhưng không phải không làm được. Tấm gương tự tu dưỡng, tự rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và biết bao đảng viên khác để đưa đất nước đến ngày hôm nay là minh chứng rõ nét. Sinh thời, Chủ tịch  Hồ Chí Minh chỉ rõ, kẻ địch cần chống trước hết là chống thói quen và truyền thống lạc hậu; đặc biệt là chống chủ nghĩa cá nhân đang ẩn chứa trong mỗi con người, khi có điều kiện tác động nó sẽ phát triển. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình”. Và, phải chủ động đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng của quân nhân.

Hai là, tích cực nghiên cứu, học tập. Trước hết, phải thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không nắm vững, không thấm nhuần nền tảng tư tưởng của Đảng thì không thể tu dưỡng được đạo đức cách mạng, đồng thời cũng không thể bảo vệ, phát triển, thậm chí còn làm tổn hại tới nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc tự học tập là rất quan trọng, hiện nay, hoạt động này đang bị tác động tiêu cực từ nhiều mặt. Cản trở lớn nhất là sự phát triển của công nghệ giải trí, của mạng xã hội với vô vàn các nội dung khiến một số cán bộ, đảng viên thiên về “thỏa mãn” nhu cầu giải trí, sao nhãng việc nghiên cứu, học tập. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình kế hoạch tự học tập phù hợp, hiệu quả, khả thi và thực hiện nghiêm túc. Giải quyết hài hòa giữa nhu cầu thư giãn, giải trí, tái tạo sức lao động với nhu cầu trau dồi kiến thức nền tảng của người cán bộ, đảng viên. Để việc tự học tập đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đối tượng.

Ba làthực hiện hiệu quả các nguyên tắc trong tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. 

Thực hiện lời dạy của Bác: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, việc làm gương phải thực hiện ở mọi nơi, mọi việc, từ cán bộ cấp cao tới cơ sở;tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm, trách nhiệm, chức trách, nhiệm vụ của mỗi người và sự đóng góp xây dựng của tập thể. Trong cuộc sống thường nhật, ai cũng có mặt mạnh, mặt hạn chế, không ai có thể đạt tới sự hoàn mỹ một cách tuyệt đối. Cho nên, mỗi đảng viên phải biết và dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bản thân con người mình và dựa vào tập thể để thấy cái tốt, cái hay để phát huy, cái xấu, cái ác để khắc phục. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải gắn liền với thực tiễn hoạt động công tác; phải bền bỉ, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới những vi phạm của một số tổ chức, cá nhân thời gian qua, đó cũng là căn nguyên làm xói mòn đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để tự tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì cần nhận thức đúng đắn và thống nhất về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Nắm chắc nội dung, yêu cầu của nguyên tắc trong tình hình mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Quá trình thực hiện dân chủ phải đi đôi với tập trung; phát huy dân chủ phải đồng thời gắn liền với chống dân chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo kỷ cương, phép nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng và trong mối quan hệ đồng bộ với các nguyên tắc khác, như tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhất thiết phải được tập thể cấp ủy (ban thường vụ), chi bộ thông qua trước khi thực hiện. Từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, phát biểu thẳng thắn, trung thực, khách quan; thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, trên nguyên tắc luôn luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết. Không cơ hội, vụ lợi; chạy theo mục tiêu trước mắt, ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Chỉ khi nào cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh thì khi đó chủ nghĩa cá nhân mới được đẩy lùi và đạo đức cách mạng mới được bồi đắp, phát huy.

Thực hiện hiệu quả việc tự tu dưỡng, rèn luyện là cơ sở, nền tảng để xây dựng và phát huy phẩm chất, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đó cũng là yếu tố gốc rễ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

08.01

  

Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 

            Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật là vấn đề hết sức quan trọng, góp phần bảo đảm cho quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được hiện thực hóa, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao và cấp bách nhằm đáp ứng sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của Đảng là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, mà trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nội dung quan trọng. Để đạt được mục tiêu đó, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ quan lập pháp đã tập trung thực hiện công tác xây dựng pháp luật, trong đó, chú trọng sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều bộ luật, xây dựng các luật quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, môi trường, dân tộc, tôn giáo, y tế, quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội phù hợp với tình hình thực tiễn... nhằm tạo lập hệ thống pháp lý vững chắc, lành mạnh, hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24-5-2005, “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2-6-2005, “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, công tác xây dựng pháp luật đã có những kết quả rất tích cực, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, từ tháng 5-2005 đến tháng 8-2021, Quốc hội đã ban hành hơn 300 văn bản pháp luật (mỗi năm trung bình khoảng 19 văn bản); trong khi, 20 năm đổi mới trước đó (1986 - 2005) mới ban hành tổng số 140 văn bản pháp luật, trung bình mỗi năm khoảng 7 văn bản (1).

Xây dựng pháp luật là hoạt động phức hợp bao gồm nhiều hoạt động nối tiếp nhau theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền với chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Mỗi giai đoạn trong quy trình xây dựng pháp luật được hoàn thành là một lần củng cố thêm tính logic, khoa học, phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội. Xây dựng pháp luật là một trong những phương diện hoạt động quan trọng nhất của Nhà nước, nhằm mục đích trực tiếp tạo ra các quy phạm pháp luật, cũng như sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy phạm một cách phù hợp nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đang diễn ra. Hiểu một cách khái quát, xây dựng pháp luật là hoạt động soạn thảo, ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định của pháp luật cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội.

 “Diễn biến hòa bình” là khái niệm đã được nhiều công trình nghiên cứu, đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Hiểu một cách phổ biến và khái quát: “Diễn biến hòa bình” là diễn biến dần dần, đi đến cuối cùng chuyển sang một chế độ chính trị khác, không qua bạo lực (thường nói về chiến lược không dùng chiến tranh mà dùng hàng loạt phương thức và thủ đoạn, nhằm tạo ra một quá trình diễn biến hòa bình để lật đổ chế độ chính trị ở nước khác) (2).

“Diễn biến hoà bình” trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam là hoạt động của các thế lực thù địch thông qua các phương thức, thủ đoạn phi quân sự tác động, can thiệp, gây sức ép vào quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam, từ đó, hướng lái, chuyển hóa, tiến tới thay đổi bản chất hệ thống pháp luật và chế độ chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, các thế lực thù địch tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với nước ta trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, hiện nay, lĩnh vực xây dựng pháp luật được coi là tâm điểm công phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Bởi, pháp luật không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề sống còn của chế độ chính trị, của thượng tầng kiến trúc xã hội.

Hệ thống pháp luật nước ta thể hiện vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng; ý chí, bản chất chính trị của Nhà nước, là công cụ để quản lý, điều hành xã hội, duy trì trật tự, kỷ cương, pháp chế của Nhà nước. Do đó, thế lực thù địch luôn hướng tới mục tiêu chi phối quá trình lập pháp, gây sức ép, tác động, chuyển hóa, hướng lái hệ thống pháp luật Việt Nam theo ý đồ của chúng là thay đổi bản chất hệ thống pháp luật Việt Nam theo quan điểm giá trị dân chủ, nhân quyền phương Tây; tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho việc thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, thay đổi bản chất giai cấp, bản chất chế độ chính trị của hệ thống pháp luật, tiến tới thay đổi chế độ chính trị của Nhà nước ta.