Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong các cơ quan đảng, nhà nước và doanh nghiệp

Vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia.

Vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia.

Bối cảnh, tình hình xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành

Quyết định số 27-QĐ/TW, ngày 10-8-2021 của Ban Bí thư về việc ban hành Chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan đảng giai đoạn 2021-2025 nêu rõ mục tiêu tổng quát: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc và cải cách hành chính trong Đảng; tăng cường kết nối, trao đổi thông tin, dữ liệu, phát triển, nâng cấp các hệ thống thông tin, phần mềm ứng dụng, hỗ trợ tích cực, hiệu quả cho công tác tham mưu, thông tin, phục vụ và công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tại các cơ quan đảng, đồng thời, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan đảng phù hợp với Chương trình chuyển đổi số quốc gia”.

Tại Nghị quyết về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6-2021 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương (Nghị quyết số 75/NQ-CP ngày 14-7-2021), Chính phủ đã quyết nghị việc đẩy mạnh chuyển đổi số, trong đó, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tranh thủ thời cơ để đẩy mạnh chuyển đổi số trong bối cảnh đại dịch Covid-19; phát triển các loại hình thương mại, dịch vụ trực tuyến, tăng cường cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn; thực hiện mạnh mẽ chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt.

Tại Nghị quyết về phiên họp Chính phủ trực tuyến toàn quốc với các địa phương về tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2021 (Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 12-8-2021), Chính phủ đã giao Bộ Thông tin truyền thông tập trung xây dựng và triển khai các giải pháp công nghệ phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19. Chính phủ cũng đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 (Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15-7-2021). Trong đó, giao Bộ Thông tin truyền thông chủ trì triển khai nội dung phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Ngày 2-9-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030.

Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia đã được xây dựng, từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương. Đến tháng 12-2020, có 22/22 bộ, cơ quan ngang bộ; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ/tỉnh và kết nối với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, đạt tỷ lệ 100%. Tổng số hệ thống đã kết nối với dữ liệu quốc gia là 220 hệ thống thông tin của 90 cơ quan, đơn vị; trong đó, có 85 dữ liệu cấp bộ/tỉnh của bộ, ngành, địa phương; 5 cơ sở dữ liệu và 9 hệ thống thông tin có quy mô, phạm vi từ Trung ương đến địa phương.

Thực tiễn quá trình xây dựng một số cơ sở dữ liệu

Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cưBộ Công an đã vận hành chính thức Hệ thống CSDL quốc gia về dân cư từ ngày 1-7-2021. Bộ Công an đã thực hiện cấp số định danh cá nhân cho khoảng 98 triệu công dân thu thập vào CSDL quốc gia về dân cư; hoàn thành việc triển khai thí điểm phần mềm thuộc Dự án CSDL quốc gia về dân cư tại công an 16 tỉnh, thành phố. Bộ Công an đã phối hợp với Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Tư pháp kết nối thành công CSDL quốc gia về dân cư với hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch của Bộ Tư pháp qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia để thực hiện cấp và huỷ số định danh cá nhân; thực hiện xác thực thông tin công dân theo yêu cầu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Từ cơ sở dữ liệu quan trọng này, Bộ Công an đã cấp mã số định danh cá nhân cho 100% công dân. Đồng thời đã triển khai thu nhận hơn 60 triệu hồ sơ cấp căn cước có gắn chíp điện tử với nhiều ưu điểm nổi bật cho công dân, đã in và trả hơn 50 triệu thẻ đến tay người dân… Bộ Công an cũng đã triển khai kết nối thử nghiệm thành công với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của một số bộ ngành và các tỉnh, thành phố trên cả nước. Đặc biệt, trong đợt cao điểm chống dịch vừa qua, Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai các ứng dụng để kiểm soát đi lại, phòng chống dịch bệnh mang lại hiệu quả. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cũng góp phần tích cực trong việc bảo đảm an sinh xã hội cho hơn 43 triệu người. Việc tổ chức chiến dịch tiêm chủng thần tốc, lớn nhất trong lịch sử cho gần 100% dân số để Việt Nam “đi sau về trước” trong chiến lược vắc-xin…

Người dân đi làm căn cước công dân.

Người dân đi làm căn cước công dân.

Đối với chiến dịch cấp Căn cước công dân, Bộ Công an đã tổ chức hội nghị và có các văn bản chỉ đạo để thống nhất nhận thức thực hiện trong toàn quốc, giao chỉ tiêu cụ thể cho từng địa phương gắn với tận dụng tối đa số lượng máy móc, thiết bị được trang cấp. Trong đó tập trung thực hiện điểm tại 10 địa phương trọng điểm có đông dân cư, nhiều tạm trú (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bình Dương, Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Ninh). Trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp. Công an các địa phương nghiên cứu những cách làm sáng tạo vừa đảm bảo tiến độ thu nhận hồ sơ cấp thẻ Căn cước công dân, vừa đảm bảo an toàn chống dịch cho cả người dân đến làm Căn cước công dân và cán bộ làm nhiệm vụ.

Với những nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự chung tay, giúp sức của đông đảo quần chúng nhân dân, lực lượng Công an nhân dân đã chiến thắng trong chiến dịch đầy gian nan, thử thách này, tạo nên những chiến công hiển hách, được Đảng, Nhà nước và nhân dân vinh danh. Đến nay, Bộ Công an đã cơ bản hoàn thành theo tiến độ xây dựng, triển khai hai Dự án. Đã xây dựng được Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư hiện đại, kết nối đường truyền đến tận cấp xã, bảo đảm an ninh, an toàn, theo đúng nguyên tắc đã đề ra là "hiện đại, đồng bộ, bảo mật cao, tránh lãng phí". Việc xây dựng thành công Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân đã góp phần thúc đẩy xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.

Cơ sở dữ liệu về bảo hiểmCSDL quốc gia về Bảo hiểm là cơ sở dữ liệu của Chính phủ được xây dựng thống nhất trên toàn quốc, dùng chung cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm cung cấp chính xác, kịp thời thông tin về bảo hiểm phục vụ công tác quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu chính đáng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hiện nay, CSDL của bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đang quản lý thông tin của toàn bộ người tham gia, thụ hưởng chế độ, chính sách BHXH, bảo hiểm y tế.

Theo thống kê, năm 2020, toàn Ngành BHXH Việt Nam tiếp nhận và giải quyết 87 triệu hồ sơ giao dịch điện tử, và khoảng 170 triệu hồ sơ đề nghị thanh toán chi phí khám, chữa bệnh liên thông trên hệ thống Giám định Bảo hiểm y tế. Từ tháng 1-2021 đến nay, cũng đã có 38,1 triệu hồ sơ giao dịch điện tử được tiếp nhận và giải quyết. Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu này góp phần giúp Ngành BHXH Việt Nam thực hiện các biện pháp cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ, cũng như hiệu quả quản lý và cải cách hành chính phục vụ nhân dân, đáp ứng các yêu cầu xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Hiện nay, BHXH Việt Nam tiếp tục tiến hành làm sạch, đồng bộ dữ liệu, bổ sung thông tin để làm giàu thêm CSDL chuyên ngành BHXH, sẵn sàng cung cấp dữ liệu cho CSDL quốc gia về bảo hiểm; tiếp tục kết nối, chia sẻ dữ liệu với Bộ Y tế, Tổng cục Thuế, Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tư pháp; kết nối, chia sẻ dữ liệu với CSDL quốc gia về dân cư để thực hiệc xác thực đối với toàn bộ nhân khẩu thuộc CSDL của phần mềm Cấp mã số BHXH và quản lý bảo hiểm y tế hộ gia đình; đã hoàn thành việc kết nối, cung cấp số liệu với Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia; đã hoàn thiện chức năng tổng hợp báo cáo số liệu hằng ngày, thông kê tình hình hỗ trợ nhóm đối tượng tại Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 7-7-2021 của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốcTừ tháng 10-2020 đến nay, Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung của Bộ Tư pháp đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với hơn 20.000 người dùng tại 10.933 UBND cấp xã, 710 phòng tư pháp và 63 sở tư pháp. Tính đến ngày 20-9-2021, Hệ thống đã có 20.028.021 dữ liệu đăng ký khai sinh, trong đó có 6.140.683 trẻ em được cấp Số định danh cá nhân theo Quy định; 3.960.437 dữ liệu đăng ký kết hôn; 2.759.011 dữ liệu đăng ký khai tử và 5.406.532 dữ liệu khác. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiếp tục hỗ trợ các địa phương triển khai số hoá sổ hộ tịch; đồng thời, đang nghiên cứu, bổ sung đối với việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, xã trên Hệ thống thông tin đăng ký, quản lý hộ tịch.

Phần mềm này đã giúp giải quyết hầu hết các nghiệp vụ đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch trên hệ thống mạng, máy tính và được kết nối với Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công và Hệ thống một cửa điện tử cấp tỉnh. Do đó, người dân có thể thực hiện nhiều thủ tục đăng ký hộ tịch theo phương thức trực tuyến; lấy số định danh cá nhân cho trẻ em khi đăng ký khai sinh. Qua đó cung cấp nguồn thông tin hộ tịch đầu vào, cập nhật dữ liệu “sống” cho CSDL quốc gia về dân cư.

Bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn việc triển khai xây dựng một số CSDL nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Một làCSDL cần bảo đảm luôn “đúng, đủ, sạch, sống”. Từ đó đòi hỏi phải bố trí nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ thông tin để thường xuyên cập nhật dữ liệu, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, phản ánh chân thực và phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Hai là, quá trình xây dựng CSDL, lãnh đạo các cấp các ngành cần quan tâm chỉ đạo, quyết liệt, sâu sát, sáng tạo, bản lĩnh, đột phá, tâm huyết, trách nhiệm. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ.

Ba là, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các đơn vị trong và ngoài Ngành, tranh thủ kế thừa nguồn dữ liệu sẵn có, tận dụng, kết nối, chia sẻ dữ liệu thông tin bảo đảm đồng bộ, liên thông, thống nhất.

Bốn là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, lồng ghép thực hiện đồng thời các dự án nhằm tiết kiệm, chống lãng phí về kinh phí, nhân lực và thời gian. Sử dụng tài nguyên thông tin, dữ liệu thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, nhưng tài nguyên chuyển đổi số càng khai thác càng hiệu quả, càng phát triển.

Năm là, việc xây dựng CSDL cần chú trọng gắn kết chặt chẽ với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, an ninh quốc gia, bảo vệ thông tin cá nhân. Trong đó, công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá, giám sát, bảo đảm an toàn, an ninh mạng cho các hệ thống thông tin cần tiếp tục được quan tâm thường xuyên. 

Xuất hiện vi-rút Việt Á trong lĩnh vực kiểm định phương tiện giao thông

 Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 12-2022, Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng Bộ Công an đã thông tin thêm về diễn biến các vụ án liên quan đến Công ty CP. Việt Á, “chuyến bay giải cứu” và sai phạm tại các trung tâm đăng kiểm.

Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng Bộ Công an. Ảnh: VGP

Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng Bộ Công an. Ảnh: VGP.

Phấn đấu kết thúc điều tra vụ Việt Á trong quý I-2023

Trung tướng Tô Ân Xô cho biết, liên quan đến vụ Việt Á và chuyến bay giải cứu, Cơ quan điều tra sẽ cố gắng phấn đấu để kết thúc điều tra trong quý I-2023. Về con số, liên quan đến vụ Việt Á, đến nay, đã khởi tố 29 vụ với 102 bị can, còn vụ “chuyến bay giải cứu” là 39 bị can.

Về số tiền, đã kê biên, phong tỏa và các bị can đã nộp để khắc phục hậu quả trong vụ Việt Á là 1.670 tỷ đồng và vụ “chuyến bay giải cứu” là 80 tỷ đồng.

“Rất nhiều khả năng là số bị can sẽ tăng trong thời gian tới”, Trung tướng Tô Ân Xô thông tin.

 Hơn 70.000 phương tiện cơ giới đã được kiểm định theo dạng “làm luật”

Trả lời về sai phạm tại các trung tâm đăng kiểm nổi lên thời gian qua, Trung tướng Tô Ân Xô cho biết, trong mấy tuần vừa qua, Công an TP. Hồ Chí Minh và các cục nghiệp vụ của Bộ Công an đã phát hiện và đấu tranh, làm rõ hành vi sai phạm, tiêu cực trong quá trình cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tại một số trung tâm kiểm định các phương tiện giao thông cơ giới trên địa bàn các tỉnh, thành phố như TP. Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Bến Tre, Bắc Giang, Bắc Ninh…

Riêng Công an TP. Hồ Chí Minh đã ra lệnh khám xét 12 trung tâm kiểm định, khởi tố 6 vụ án với 43 bị can, với các tội danh là “môi giới hối lộ”, “đưa hối lộ” và “giả mạo trong công tác”.

Thông tin về thủ đoạn “lót tay” của các trung tâm này, Chánh Văn phòng Công an cho biết, các trung tâm kiểm định này bỏ qua lỗi vi phạm trong công đoạn kiểm tra thủ công hoặc cho thuê phụ tùng thay thế các phụ tùng không đảm bảo tiêu chuẩn, sử dụng phần mềm để can thiệp vào hệ thống đăng kiểm để thay đổi thông số kiểm định…

Sơ bộ, ước tính có khoảng hơn 70.000 phương tiện cơ giới đã được kiểm định theo dạng “làm luật” như vậy. Các trung tâm kiểm định này đã cấp khoảng hơn 52.300 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật về bảo vệ môi trường, thu lợi bất chính hàng chục tỷ đồng.

Một số trung tâm đăng kiểm không đủ tiêu chuẩn nhưng vẫn lập ra, lập danh sách kiểm định viên ảo để hợp thức hóa một số quy định của Chính phủ về kiểm định chất lượng xe cơ giới. “Cá biệt có Giám đốc Trung tâm Kiểm định 50-17D ở Nhà Bè (TP. Hồ Chí Minh) còn không biết chữ. Học hết lớp 3 cách đây 50 năm”, Trung tướng Tô Ân Xô cho biết.

Trung tướng Tô Ân Xô khẳng định, những hành vi này làm cho việc giám sát số lượng, chất lượng phương tiện an toàn giao thông và bảo vệ môi trường bị ảnh hưởng, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, xâm phạm trật tự quản lý công cộng, gây thiệt hại tài sản cho người dân, gây dư luận xấu cho xã hội, gây nguy cơ mất an toàn cho người điều khiển và người dân.

“Chúng tôi coi những hành vi trên như một loại vi-rút Việt Á trong lĩnh vực kiểm định phương tiện giao thông. Bộ Công an đang tích cực triển khai các biện pháp để ngăn chặn vi-rút này trên phạm vi toàn quốc. Số lượng bị can chắc sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới”, Trung tướng Tô Ân Xô nói.

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công tác tổ chức xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua việc triển khai các giải báo chí toàn quốc

 Các ý kiến phát biểu tại Hội nghị đã đánh giá cao kết quả của Đề án “Nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công tác tổ chức xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua việc triển khai các giải báo chí toàn quốc”. Bám sát định hướng nghiên cứu, Đề án đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công tác tổ chức xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua việc triển khai các giải báo chí toàn quốc, trong đó có Giải báo chí quốc gia, Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (mang tên Búa liềm vàng), Giải báo chí toàn quốc về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực… Những kết quả nghiên cứu của Đề án sẽ là tài liệu tham khảo, góp phần cung cấp cơ sở khoa học, thực tiễn để các cơ quan lãnh đạo, quản lý, nhất là quản lý về báo chí chọn lọc, tham khảo, từng bước nâng cao chất lượng các giải báo chí toàn quốc, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền về công tác tổ chức xây dựng, chỉnh đốn Đảng.  

 

Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao sự nghiêm túc, nỗ lực và trách nhiệm của Ban Chủ nhiệm Đề án trong quá trình chuẩn bị. Các sản phẩm Đề án thể hiện sự bài bản, công phu trong nghiên cứu, tìm tòi. Đây là một sản phẩm mang tính ứng dụng cao, có giá trị làm cơ sở để trình cấp có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo thực hiện. Sau khi phân tích, cân nhắc, trao đổi, Hội đồng nghiệm thu cấp ban đảng đã thống nhất đánh giá kết quả nghiên cứu của Đề án đạt loại Xuất sắc.

PGS.TS Vũ Văn Phúc phát biểu kết luận hội nghị.

PGS, TS. Vũ Văn Phúc phát biểu kết luận.

Phát biểu kết luận, PGS, TS. Vũ Văn Phúc, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan đảng Trung ương khẳng định hướng nghiên cứu của Đề án là khó, mới, có tính cấp thiết và đánh giá cao tinh thần dám làm, sự nghiêm túc của các thành viên tham gia Đề án. Qua các ý kiến phản biện, trao đổi tâm huyết, sâu sắc của các thành viên Hội đồng với những gợi mở, góp ý thiết thực, PGS, TS. Vũ Văn Phúc đề nghị Ban Chủ nhiệm Đề án nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc để chỉnh sửa, hoàn thiện, nộp lại báo cáo tổng hợp và các sản phẩm của Đề án theo quy định.

Ban Chủ nhiệm đề án chụp ảnh lưu niệm cùng các thành viên hội đồng.

Ban Chủ nhiệm đề án chụp ảnh lưu niệm cùng các thành viên Hội đồng nghiệm thu.

Nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới

 Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội. Đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ của nhân dân là đầu tư cho sự phát triển của đất nước. Thời gian qua, Ngành Y tế đã nhiều cố gắng trong việc hoàn thành sứ mệnh đặc biệt trong chăm lo sức khỏe nhân dân, góp phần bảo đảm an sinh, an toàn xã hội và phát triển bền vững đất nước. Tuy nhiên, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, cần có giải pháp khắc phục triệt để.

Ảnh minh họa

Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Ảnh minh họa.

Chủ trương của Đảng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Năm 1986 khi bước vào thời kỳ “Đổi mới”, nền y tế nước ta đứng trước những thách thức rất gay gắt. Tuy kinh tế từng bước tăng trưởng và đời sống nhân dân được cải thiện, nhưng chăm sóc sức khỏe lại đứng trước những thử thách hết sức gay gắt.

Năm 1993, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đề ra Nghị quyết để “phục hồi và phát triển nền y tế trong thời kỳ đổi mới”. Năm 2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 06/CT-TW về “Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở và đến năm 2005", Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 46/NQ/TW về “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”.

Ngày 25-10-2017, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về “Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”, đã bổ sung và nêu rõ 5 quan điểm trong chỉ đạo công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. 

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã chỉ rõ một số nhiệm vụ trong công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân trong đó tập trung nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ. Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Đổi mới cơ chế tài chính y tế, hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ y tế. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ y tế. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện, phát triển hình thức khám chữa bệnh trực tuyến. Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng.

Thực hiện đúng hướng, hiệu quả xã hội hoá trong lĩnh vực y tế. Bảo đảm bình đẳng giữa y tế nhà nước và y tế ngoài nhà nước. Xây dựng, phát triển mô hình bác sĩ gia đình. Phát triển mạnh ngành công nghiệp dược và thiết bị y tế. Phát triển thể dục, thể thao toàn dân để tăng cường sức khoẻ của nhân dân. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông, an toàn thực phẩm và thuốc chữa bệnh. Tập trung kiểm soát đại dịch COVID-19, tiêm chủng đại trà vắc-xin COVID-19 cho cộng đồng.

Yêu cầu đổi mới công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ. Tuy nhiên, các yếu tố an ninh phi truyền thống, tình hình thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu dự báo diễn biến khó lường thời gian qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Quá trình đô thị hóa khiến cho chất lượng môi trường ở nhiều nơi xuống cấp, nhất là tại các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, lưu vực một số con sông… ngày càng tác động, ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe nhân dân, trong khi đó nguồn lực về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai còn hạn chế. Tình trạng buôn bán và sử dụng động vật hoang dã còn diễn ra khá phổ biến, sự xuất hiện của các loại hình dịch bệnh mới diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, có thể gây ra suy thoái và khủng hoảng kinh tế sẽ tác động lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, văn hóa, phong tục tập quán của người Việt cũng đặt ra những thách thức trong chăm sóc sức khỏe nhân dân đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động nhanh, sâu rộng đến mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường khiến cho nước ta cần đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số. Do vậy, lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân cần phải có sự thay đổi phù hợp. Ngoài ra, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra những yêu cầu đối với công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đặc biệt liên quan đến các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, tầm vóc người Việt, an toàn thực phẩm … ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự xuất hiện ngày càng nhiều những mô hình, dịch vụ chăm sóc sức khỏe mới (các tổ chức phi lợi nhuận, bệnh viện tư …) đòi hỏi cần giải quyết hài hóa mối quan hệ giữa “Nhà nước”, “Thị trường” và “Xã hội” trong cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được thực hiện dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền con người và đề cao giá trị đạo đức bởi liên quan đến chất lượng nòi giống và an ninh con người. Chi phí cho chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn, trong khi về cơ bản nước ta vẫn còn là nước nghèo.

Tuy nhiên, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đang tồn tại một số hạn chế như: Nhận thức của một số ban cán sự đảng, đảng đoàn, một số cấp ủy, chính quyền, một bộ phận đảng viên và nhân dân về công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới còn tương đối hạn chế hạn chế.

Hệ thống y tế chưa được đổi mới triệt để, nhiều đầu mối, chưa có sự phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các đơn vị y tế ở cả cấp Trung ương và địa phương. Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý đối với các đơn vị thuộc tuyến y tế cơ sở hiện đang rất đa dạng và thiếu sự thống nhất giữa các địa phương, nhất là y tế tuyến huyện.

Hiệu lực quản lý nhà nước về y tế còn nhiều hạn chế. Việc quản lý điều hành các cơ sở y tế, nhất là các bệnh viện công còn chậm đổi mới, quản lý còn yếu, chưa phát huy được tiềm năng của nhân lực và cơ sở vật chất. Phương thức quản lý và hoạt động của các đơn vị y tế công lập chưa phát huy được tính năng động và sáng tạo của người thầy thuốc. Quản lý về nhập khẩu, đấu thầu mua sắm thuốc, vật tư y tế còn nhiều yếu kém, sai phạm.

Chất lượng khám, chữa bệnh chưa đáp ứng nhu cầu, có sự chênh lệch lớn về chất lượng dịch vụ y tế giữa các vùng miền; việc khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện còn chậm, chưa vững chắc; chất lượng khám chữa bệnh BHYT chưa thu hút được người dân, khả năng đáp ứng của dịch vụ y tế còn hạn chế, nhất là ở tuyến y tế cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chưa thực hiện tốt việc quản lý, tư vấn, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân trên địa bàn. Một số dịch bệnh lưu hành, kể cả các dịch bệnh có thể dự phòng bằng vắc xin như sởi, bạch hầu... có nguy cơ quay trở lại. Tỷ lệ tiêm chủng ở một số vùng, nhóm dân tộc, các đối tượng di cư còn thấp.

Việc đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ y tế còn chưa hợp lý. Công tác đào tạo nhân lực y tế chưa theo nhu cầu phát triển hệ thống, đào tạo còn nặng về kiến thức khoa học, chưa nhấn mạnh đào tạo dựa trên năng lực và chưa có cơ chế hữu hiệu để giảm tình trạng mất cân đối về nguồn nhân lực giữa các vùng, các tuyến; nhiều tỉnh thiếu nghiêm trọng bác sĩ và nhân viên y tế, nhất là những thầy thuốc có tay nghề cao...

Chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế còn nhiều điểm bất hợp lý, chưa được thực hiện đầy đủ theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW, chưa tương xứng với tuyển dụng, đào tạo và sử dụng; chưa có chính sách đột phá thu hút cán bộ y tế có trình độ chuyên môn, tay nghề tốt làm việc lâu dài tại các địa phương, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa.

Năng lực dự báo, y tế dự phòng, quản trị rủi ro của Ngành Y tế còn hạn chế; chưa có kinh nghiệm trong việc dự báo và ứng phó với các loại hình dịch bệnh mới; năng lực nghiên cứu y học đặc biệt là lĩnh vực y sinh học còn hạn chế.

Hệ thống văn bản pháp luật đã được hoàn thiện từng bước nhưng còn nhiều vướng mắc, chưa đầy đủ, chưa thể chế được các quan điểm, đường lối chính sách tại Nghị quyết/20-NQ-TW, Nghị quyết 21/NQ-TW; nhiều quy định pháp luật sau một thời gian thực hiện đã phát sinh các bất cập, lạc hậu, một số nội dung tính khả thi thấp.

Nhiệm vụ và giải pháp với công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và của toàn xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Các cấp ủy đảng, chính quyền phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; đưa các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân vào nghị quyết, chương trình, kế hoạch chiến lược của địa phương.

Thứ hai, tập trung nâng cao sức khỏe nhân dân. Quan tâm các điều kiện để mỗi người dân được bảo vệ, nâng cao sức khỏe, đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi, hải đảo. Bảo đảm an toàn thực phẩm, khuyến khích phổ biến chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn phù hợp cho từng nhóm đối tượng, nguồn nguyên liệu, khẩu vị người Việt. Tiếp tục tập trung chỉ đạo công tác phòng, chống và cai nghiện ma túy; thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm thiểu tiêu thụ rượu, bia, thuốc lá; tăng cường hoạt động thể dục, thể thao; tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường; xóa bỏ các tập tục lạc hậu ảnh hưởng xấu đến sức khỏe đặc; thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo nâng cao đời sống cho nhân dân.

Thứ ba, nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới y tế cơ sở. Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng; phát triển mạng y tế cơ sở, y tế dự phòng, sàng lọc và phát hiện sớm, chữa trị kịp thời, hiệu quả các loại dịch bệnh mới; sắp xếp các trung tâm, đơn vị làm nhiệm vụ y tế dự phòng cấp tỉnh và trung ương, hình thành hệ thống trung tâm kiểm soát dịch bệnh ở tất cả các cấp và kết nối với mạng lưới của thế giới.

Thứ tư, nâng cao chất lượng, khám, chữa bệnh, khắc phục căn bản tình trạng quá tải bệnh viện; phát triển hình thức khám chữa bệnh trực tuyến; áp dụng công nghệ số trong khám, chữa bệnh; kết nối số giữa các bệnh viện trong khám, chữa bệnh. Bảo đảm bình đẳng giữa y tế nhà nước và y tế ngoài nhà nước; phát huy mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội trong cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tổ chức cung cấp dịch vụ y tế công, bảo đảm các dịch vụ cơ bản, người dân được quản lý, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, khắc phục căn bản tình trạng quá tải bệnh viện tuyến trên, phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh. Xây dựng, phát triển mô hình bác sĩ gia đình. Đổi mới phong cách, thái độ, phục vụ, nâng cao y đức.  

Thứ năm, đẩy mạnh phát triển, quản lý Ngành Dược và thiết bị y tế; bảo đảm thuốc đủ về số lượng, tốt về chất lượng, giá hợp lý, đáp ứng nhu cầu. Quản lý chặt chẽ nhập khẩu thuốc. Nâng cao năng lực nghiên cứu, chủ động sản xuất vắc-xin, thuốc sáng chế; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất thuốc, vắc-xin, sinh phẩm, thiết bị vật tư y tế, tăng cường hội nhập quốc tế trong chuỗi giá trị dược phẩm.

Thứ sáu, phát triển nhân lực và khoa học - công nghệ y tế; đào tạo, đào tạo lại, luân phiên cán bộ y tế, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới. Khuyến khích người có trình độ chuyên môn làm việc tại y tế cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo; nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học - công nghệ y tế, dược và y sinh học; có cơ chế đãi ngộ thỏa đáng đối với các bệnh viện, viện nghiên cứu, bác sĩ, nhà khoa học tham gia đào tạo nhân lực y tế; tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ y tế. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy chế chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.

Thứ bảy, đổi mới hệ thống quản lý và cung ứng dịch vụ y tế. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Sắp xếp các trung tâm, đơn vị làm nhiệm vụ y tế dự phòng cấp tỉnh và trung ương, hình thành hệ thống trung tâm kiểm soát dịch bệnh ở tất cả các cấp và kết nối với mạng lưới của thế giới. Thí điểm hình thành các chuỗi bệnh viện, khuyến khích phát triển các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng ngoài công lập, đặc biệt là các mô hình hoạt động không lợi nhuận.

Thứ tám, về phòng, chống dịch bệnh, nghiên cứu dự báo các biến thể và các loại hình bệnh tật mới có khả năng xuất hiện; tham mưu cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, tuyên truyền để đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội trong công tác phòng, chống dịch bệnh; bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân ở địa phương liên quan đến tình hình dịch bệnh; đẩy mạnh đấu tranh phản bác các thông tin, luận điệu, sai trái, thù địch về phòng, chống dịch bệnh.

Nhận thức đúng vai trò của kiểm tra, giám sát

 Gợi mở một số nội dung công tác năm 2023, Thường trực Ban Bí thư chỉ rõ cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu, phải nhận thức đúng, đầy đủ vai trò, tác dụng của kiểm tra, giám sát.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN).

Ngày 10-1, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2023.

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến đến tất cả các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng dự và chỉ đạo Hội nghị. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú chủ trì Hội nghị.

Cùng dự tại điểm cầu có các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện ban cán sự đảng, đảng đoàn trực thuộc Trung ương; đại diện thường trực tỉnh ủy, thành ủy; đảng ủy và ủy ban kiểm tra cấp ủy trực thuộc; các vụ, đơn vị của cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Không dừng, không nghỉ

Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Văn Rón cho biết năm 2022, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng tiếp tục được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện với tinh thần quyết tâm, quyết liệt “không dừng, không nghỉ”, “không chùng xuống”, góp phần khẳng định trách nhiệm và quyết tâm cao trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Cấp ủy các cấp đã kiểm tra 58.069 tổ chức đảng và 324.403 đảng viên. Ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 3.533 tổ chức đảng và 10.475 đảng viên (tăng 17,57% tổ chức đảng và 16,62% đảng viên so với năm 2021).

Qua kiểm tra, kết luận có 2.333 tổ chức đảng và 8.003 đảng viên có vi phạm; phải thi hành kỷ luật 333 tổ chức đảng và 3.909 đảng viên; đã thi hành kỷ luật 244 tổ chức đảng, 3.595 đảng viên.

Cấp ủy các cấp và chi bộ đã thi hành kỷ luật 410 tổ chức đảng, 16.202 đảng viên. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng 4 đảng viên; Bộ Chính trị thi hành kỷ luật 11 tổ chức đảng; Ban Bí thư thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng, 43 đảng viên; có 10 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên ủy viên Trung ương Đảng bị thi hành kỷ luật. Ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 101 tổ chức đảng và 5.356 đảng viên.

Nội dung vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên chủ yếu về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; công tác cán bộ; quản lý, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản; thực hiện đề án nghiên cứu khoa học, dự án đầu tư; mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19; giải cứu đưa công dân về nước trong đại dịch COVID-19. Một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, trách nhiệm nêu gương, những điều đảng viên không được làm...

Coi trọng việc kiểm soát quyền lực trong công tác kiểm tra

Phát biểu chỉ đạo, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đánh giá cao, biểu dương những thành tích mà các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã đạt được trong năm 2022.

Thường trực Ban Bí thư đánh giá, năm 2023 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tình hình thế giới, khu vực dự báo còn diễn biến phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định. Đất nước ta mặc dù đạt được những thành tựu rất quan trọng nhưng vẫn còn không ít khó khăn, thách thức. Tình hình vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn, ngày càng tinh vi, khó phát hiện.

Gợi mở một số nội dung công tác năm 2023, Thường trực Ban Bí thư chỉ rõ cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu phải nhận thức đúng, đầy đủ vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, cơ quan, tổ chức; xác định công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là một phương thức lãnh đạo quan trọng.

"Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: 'Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi'. Bài học trong hai nhiệm kỳ qua cho thấy, ở đâu người đứng đầu quan tâm, thường xuyên chỉ đạo, theo dõi, định hướng cho công tác kiểm tra thì ở đó công tác kiểm tra, giám sát chuyển biến mạnh, khuyết điểm, vi phạm ít đi", Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh.

Từ nhận thức trên, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra cấp dưới thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Việc xác định phương hướng, nhiệm vụ, xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát phải khả thi, thực chất, phù hợp với điều kiện, tình hình của địa phương, đơn vị; tiếp tục quán triệt phương châm "giám sát phải mở rộng" để kịp thời phát hiện, nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa xảy ra vi phạm từ sớm, không để khuyết điểm, vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng dẫn đến vi phạm kỷ luật của đảng và pháp luật.

Bên cạnh đó, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm; xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”; thực hiện đồng bộ giữa kiểm tra và giám sát, chú trọng địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, những nơi có nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp, kéo dài, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tập trung giám sát, kiểm tra đảng viên có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa, việc chấp hành quy định về những điều đảng viên không được làm, thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, tổ chức đảng, cán bộ chủ chốt để xảy ra tham nhũng, tiêu cực.

Quang cảnh Hội nghị. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN).

Quang cảnh Hội nghị. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN).

Thường trực Ban Bí thư lưu ý, ủy ban kiểm tra các cấp nghiêm túc, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh giao. Đặc biệt, phải tập trung kiểm tra, làm rõ sai phạm của các tổ chức đảng, đảng viên có liên quan đến các vụ án, vụ việc xảy ra tại Tập đoàn FLC, Vạn Thịnh Phát, Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC)…

Bên cạnh việc kiểm tra các vụ án, vụ việc cụ thể, ủy ban kiểm tra các cấp phải chủ động tham mưu cho cấp ủy, tổ chức đảng tiến hành kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là việc cụ thể hóa, thể chế hóa thành pháp luật, chính sách để chủ trương, đường lối của Đảng thực sự đi vào cuộc sống.

Thường trực Ban Bí thư yêu cầu phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tham mưu của cấp ủy trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra các nội dung công tác thuộc lĩnh vực mình phụ trách; tăng cường phối hợp giữa ủy ban kiểm tra các cấp với cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử trong công tác kiểm tra và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Nhấn mạnh để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác kiểm tra đảng trong tình hình hiện nay, điều kiện tiên quyết là phải tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực, trình độ chuyên sâu, Thường trực Ban Bí thư đề nghị tiếp tục thực hiện tốt chủ trương của Ban Bí thư về luân chuyển cán bộ kiểm tra các cấp sang công tác ở các ngành, các cấp và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp làm công tác kiểm tra của Đảng. Bên cạnh đó, phải hết sức coi trọng việc kiểm soát quyền lực trong công tác kiểm tra, bảo đảm mỗi quyết định của ủy ban kiểm tra luôn khách quan, chính xác, có lý, có tình, là quyết định của lẽ phải, của trách nhiệm và tình đồng chí, của “công lý” trong Đảng.

Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú đề nghị ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện kịp thời các quy định, quy chế, quy trình về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, đảm bảo chặt chẽ, khoa học, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Đồng thời, kịp thời phát hiện, kiểm tra, kiên quyết xử lý đối với tổ chức đảng, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa, vi phạm những điều đảng viên không được làm, vi phạm nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm và những vụ, vụ việc bức xúc trong xã hội...

Tại Hội nghị, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đã trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ vì đã nhiều thành tích xuất sắc, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.