Thứ Tư, 11 tháng 1, 2023

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước thời kỳ mới

 Xây dựng, củng cố và hoàn thiện thể chế văn hóa là cơ sở quan trọng để phát huy tối đa các nguồn lực, làm cho văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, việc đánh giá toàn diện quá trình xây dựng, củng cố và hoàn thiện thể chế văn hóa ở nước ta thời gian qua, chỉ ra những điểm nghẽn và xác định những yêu cầu đổi mới là vô cùng cần thiết để thúc đẩy văn hóa phát triển, góp phần gia tăng sức mạnh quốc gia trong thời kỳ mới.

Đánh giá hiệu quả xây dựng, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực phát triển văn hóa

Các kết quả đạt được

Thứ nhất, quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã hình thành nền tảng pháp lý toàn diện và hệ thống, góp phần tăng cường sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước của văn hóa.

Trong lĩnh vực văn hóa, hiện nay nước ta có 5 luật (Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thư viện), 50 nghị định, 14 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và trên 100 thông tư, thông tư liên tịch được điều chỉnh trực tiếp. Các luật này đã từng bước tạo ra một khuôn khổ pháp lý tương đối nhất quán, góp phần thể chế hóa và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng, tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa của người dân. Đồng thời, việc thể chế hóa hệ thống pháp luật đã từng bước giúp điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống văn hóa theo hướng hài hòa và lành mạnh hơn. Nhà nước từ vị trí người chỉ huy đã chuyển sang vai trò của nhà quản lý và bảo trợ. Từ sự chuyển dịch mang tính cấu trúc này, vai trò của hệ thống chính sách, pháp luật trong lĩnh vực văn hóa được đề cao.

Thứ hai, khung chính sách đã tạo môi trường thể chế cho phép các ngành công nghiệp văn hóa khai thác, chuyển hóa các nguồn tài nguyên văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa.

Sự ra đời của “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” (năm 2016) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi cho các ngành công nghiệp văn hóa khai thác và chuyển hóa các nguồn tài nguyên văn hóa thành các sản phẩm và dịch vụ văn hóa có sức hấp dẫn. Các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tích cực triển khai công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Những thay đổi tích cực về thể chế, chính sách đã thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam có những bước tiến mới, mang lại những đóng góp nhất định vào tăng trưởng GDP của cả nước. Theo thống kê, các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam đạt 3,61% GDP cả nước năm 2018 (so với mức 2,68% năm 2015). Công nghiệp văn hóa Việt Nam bước đầu phát huy hiệu quả tài nguyên văn hóa và chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, hệ thống các văn bản pháp luật về thuế, khuyến khích xã hội hóa, thu hút nguồn lực từng bước tạo cơ sở pháp lý cho việc huy động mọi nguồn lực trong xã hội đầu tư cho văn hóa.

Trong giai đoạn 2014 - 2019, tỷ lệ đầu tư cho văn hóa từ ngân sách nhà nước tăng dần theo các năm, đầu tư cho phát triển văn hóa thông qua nguồn vốn cấp về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là 5.735,442 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển là 918,653 tỷ đồng, vốn ngân sách sự nghiệp là 4.816,789 tỷ đồng. Đầu tư cho phát triển văn hóa các địa phương trong giai đoạn trước năm 2016 được thực hiện thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Trong giai đoạn 2014 - 2015, Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã được cấp 546 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển là 290 tỷ đồng, vốn ngân sách sự nghiệp là 256 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2016 - 2020, tổng nguồn vốn của Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa là 10.620 tỷ đồng(1). Về cơ bản, nguồn vốn đầu tư từ các chương trình này có tính chất “vốn mồi” đã đem lại hiệu quả để thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, nhất là đồng bào tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Bên cạnh đó, chủ trương xã hội hóa được xác lập qua các văn bản(2) đã tạo cơ chế, chính sách ưu đãi (về thuế, phí, tín dụng, quyền sử dụng đất...), các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng từ các cá nhân, tổ chức xã hội đã được huy động cho việc phát triển văn hóa. Nhà nước cũng khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo, khuyến học, phát triển nhân tài, quảng bá văn học nghệ thuật, phát triển điện ảnh, hỗ trợ xuất bản... Ví dụ, Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định đối tượng không chịu thuế tại khoản 12, Điều 5. Theo đó, lĩnh vực văn hóa (bao gồm hoạt động văn hóa, triển lãm; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập phim, phát hành và chiếu phim) được hưởng mức thuế suất ưu đãi 5%. Đối với các hàng hóa, dịch vụ khác chịu mức thuế suất 10% (trong đó có các dịch vụ, hoạt động du lịch). Trong thời điểm đại dịch COVID-19, Nhà nước đã có những chính sách kịp thời, giảm thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế để hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực văn hóa, du lịch... Ngoài ra, các nguồn lực khác cần thiết cho phát triển văn hóa ở Việt Nam, như nhân lực, kết cấu hạ tầng, kiến thức chuyên môn,... cũng được huy động và phát huy góp phần quan trọng trong việc tạo ra những kết quả tích cực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật nước nhà.

Thứ tư, cơ chế, chính sách đang từng bước góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Tính đến ngày 30-6-2021, tổng số nhân lực ngành văn hóa, thể thao, du lịch trong cả nước là 899.950 người, trong đó lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật: 19.751 người; lĩnh vực thể dục - thể thao: 10.199 người; lĩnh vực du lịch: 870.000 người, trong đó 18.907 người phục vụ ở cả 3 lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao và du lịch(3). Trong thời gian qua, các quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn về quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng, bổ nhiệm... cán bộ được xây dựng bài bản, đổi mới phù hợp với tình hình thực tiễn, khắc phục những hạn chế trước đó. Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ ngành đang được quy hoạch bài bản, điều chỉnh cơ cấu độ tuổi, trình độ hợp lý. Các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, phát hiện tài năng văn hóa, nghệ thuật và tôn vinh nhân tài cũng được thực hiện nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao cho lĩnh vực văn hóa.

Thứ năm, quá trình hoàn thiện thể chế đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, di sản, di tích lịch sử - văn hóa.

Quá trình hoàn thiện thể chế đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, di sản, di tích lịch sử - văn hóa vốn vô cùng dồi dào, đa dạng của Việt Nam. Bên cạnh những chương trình cụ thể nhằm hiện thực hóa “Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030”, như Chương trình bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2025; Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2022 - 2026 trong công tác giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên thông qua các di tích, di sản văn hóa phi vật thể, các bảo tàng từ Trung ương đến địa phương (Chương trình phối hợp số 217/CTr-BGDĐT- BVHTTDL, ngày 4-3-2022), nước ta cũng tiếp tục các nỗ lực nhằm nâng cao vị thế trong cộng đồng quốc tế và tích cực quảng bá di sản văn hóa của đất nước ra thế giới, thể hiện ở việc trúng cử thành viên Ủy ban liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể nhiệm kỳ 2022 - 2026, đón nhận thêm 2 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh vào các danh mục của UNESCO (Thực hành Then Tày, Nùng, Thái và Nghệ thuật làm gốm của người Chăm). 

Thứ sáu, việc chú trọng triển triển khai chủ đề năm trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy giá trị và vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội.

Trong năm 2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phát động chủ đề công tác năm là “Năm xây dựng môi trường văn hóa cơ sở và công tác tổ chức cán bộ”, từ đó đưa xây dựng môi trường văn hóa trở thành một bước đột phá mới trong hoạt động của toàn ngành với mục tiêu bảo đảm mọi thành viên của cộng đồng được phát triển các năng lực sáng tạo. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2021 - 2026. Đây là căn cứ để Ban Chỉ đạo Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nội dung trong phong trào có trọng tâm, trọng điểm; ban hành kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện phong trào đến các cấp, các ngành và người dân kịp thời, góp phần phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố bồi đắp các giá trị chân - thiện - mỹ.

Thứ bảy, việc xây dựng thể chế, chính sách đã tôn trọng, bảo vệ sự đa dạng của văn hóa các dân tộc, vùng, miền, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần bảo vệ an ninh chính trị và giữ vững chủ quyền quốc gia của Tổ quốc.

Các chương trình và hoạt động đa dạng, phong phú, như lớp tập huấn, truyền dạy, ngày hội văn hóa các dân tộc, các liên hoan, chương trình biểu diễn lưu động,... được tổ chức thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa của nhân dân và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, góp phần tích cực để thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền trong cả nước. Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa - nghệ thuật được đẩy mạnh và tạo hiệu ứng tốt trong xã hội.

Thứ tám, các nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa số bước đầu phát huy hiệu quả.

Một loạt các chương trình chuyển đổi số đã được Chính phủ phê duyệt, như Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Đề án Số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, Đề án Trung tâm phát hành phim trực tuyến... Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật càng có xu hướng chuyển dịch sang môi trường số. Các chương trình biểu diễn nghệ thuật không khán giả được phổ biến rộng rãi thông qua các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội... và đạt hiệu quả cao.

Các hạn chế, bất cập

Một là, hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa có số lượng lớn, song nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý và tính quy phạm thấp, thiếu những quy tắc xử sự cụ thể để các chủ thể phải thực hiện dẫn đến hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa còn hạn chế.

Hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa, gia đình có khoảng 160 văn bản quy phạm pháp luật, gồm nhiều loại khác nhau, từ luật, pháp lệnh đến thông tư. Số lượng văn bản mâu thuẫn, chồng chéo còn nhiều, làm giảm tính minh bạch khiến cho pháp luật trở nên phức tạp, khó áp dụng. Một số lĩnh vực chưa có luật hoặc pháp lệnh điều chỉnh (nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, xây dựng môi trường văn hóa, thiết chế văn hóa, tuyên truyền cổ động chính trị, quyền và nghĩa vụ của văn nghệ sĩ...), thậm chí chưa có văn bản điều chỉnh (lĩnh vực văn học, quản lý hoạt động trò chơi...) ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý nhà nước về từng lĩnh vực.

Hai là, khung thể chế chưa hoàn thiện, chậm điều chỉnh “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” trong bối cảnh mới đang làm giảm vai trò kiến tạo và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập của thị trường văn hóa.

Mặc dù “Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, tuy nhiên sau gần 6 năm thực hiện Chiến lược, việc đạt được chỉ tiêu này vẫn còn là một thách thức rất lớn. Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam vẫn chưa được điều chỉnh bằng văn bản quy phạm pháp luật, thiếu chính sách, pháp luật tạo hành lang pháp lý để phát triển lĩnh vực mới, đầy tiềm năng này, trong đó các chính sách về huy động nguồn lực đóng vai trò then chốt. Các chính sách phát triển công nghiệp văn hóa còn chưa phù hợp với sự vận động của thị trường, điển hình như việc kiểm duyệt nội dung các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật dựa trên những tiêu chí không rõ ràng. Mặt khác, Nhà nước không có cơ chế và chế tài đủ mạnh để giải quyết vấn đề cốt lõi của thị trường văn hóa, như bảo vệ bản quyền... Những bất cập trong việc sử dụng các công cụ quản lý khiến cho Nhà nước chưa thực sự trở thành trọng tài cho các chủ thể kinh tế, chưa điều tiết và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa những người sản xuất, phân phối hàng hóa và người tiêu dùng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhiều thể chế, quy định liên quan đến các ngành công nghiệp văn hóa còn chậm đổi mới, chưa phù hợp với quy chuẩn của quốc tế.

Ba là, cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành, cơ quan các cấp, giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân chưa chặt chẽ. Sự tham gia của các chủ thể cấp cơ sở, đặc biệt là những người chịu tác động trực tiếp của hệ thống thể chế, chính sách, còn mang tính hình thức.

Tuy được khẳng định là các tổ chức tự quản của người dân, rất nhiều tổ chức xã hội ở Việt Nam phụ thuộc về mặt kinh phí vào hệ thống chính trị và cơ quan nhà nước. Hoạt động của các tổ chức xã hội vì thế bị hành chính hóa, mang nặng tính hình thức và thụ động. Cơ chế cho sự tham gia của xã hội vào việc hoạch định, triển khai và đánh giá chính sách của Nhà nước và giám sát hoạt động của doanh nghiệp chưa được quy định rõ ràng. Trong khi đó, nhiều thủ tục hành chính của Nhà nước quy định các mối quan hệ dân sự còn rườm rà, làm giảm vai trò xã hội trong tham gia quản lý và điều tiết sự phát triển.

Bốn là, các quy định pháp luật về huy động nguồn lực cho thấy văn hóa chưa hoàn toàn là ngành, nghề được ưu tiên, khuyến khích, phát triển; văn hóa gặp phải các “điểm nghẽn”, “rào cản” từ chính nhận thức xã hội và các quy định của pháp luật chưa theo kịp đòi hỏi từ thực tế sinh động.

Hiện nay, hiệu lực của các quy định về chính sách thuế trong các luật chuyên ngành chỉ mang tính nguyên tắc về “ưu đãi”, việc áp dụng phụ thuộc vào các quy định cụ thể của từng đạo luật về thuế. Luật Đầu tư năm 2020 quy định văn hóa là một trong những ngành, nghề được ưu đãi đầu tư, tuy nhiên chỉ giới hạn trong lĩnh vực hẹp là bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, trong khi văn hóa là lĩnh vực rộng. Năm 2020, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), nhưng chỉ có 5 lĩnh vực được áp dụng đầu tư theo phương thức PPP, trong đó không có lĩnh vực văn hóa. Như vậy, căn cứ Luật Đầu tư và Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì lĩnh vực văn hóa chưa hoàn toàn là ngành, nghề được ưu tiên khuyến khích. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định thu nhập được miễn thuế đối với các khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho các hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hóa, nghệ thuật, từ thiện... và phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội hóa khác để lại đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của pháp luật chuyên ngành, tuy nhiên lại không có lĩnh vực văn hóa. Bên cạnh đó, thói quen trông chờ ngân sách của Nhà nước cho các hoạt động văn hóa vốn đã ăn sâu trong tiềm thức từ thời kinh tế tập trung bao cấp, cùng với quan niệm ngành văn hóa là ngành “tiêu tiền” đang tạo thêm những rào cản trong nhận thức về đầu tư các nguồn lực cho văn hóa.

Năm là, việc gián đoạn chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, chương trình phát triển văn hóa đang làm giảm động lực thúc đẩy phát triển văn hóa gắn với kinh tế - xã hội, để đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững.

Việc đầu tư cho bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Trong thời gian qua, nguồn vốn đầu tư từ “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa các năm 2014 - 2015” và “Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa giai đoạn 2016 - 2020” có tính chất “vốn mồi” đã đem lại hiệu quả tích cực cho lĩnh vực di sản. Tuy nhiên, việc Chương trình kết thúc vào năm 2021 đã khiến cho việc huy động nguồn lực cho nhu cầu phát triển văn hóa của địa phương, vốn ngang bằng, thậm chí lớn hơn giai đoạn trước đây, gặp nhiều khó khăn.

Sáu là, cơ chế, chính sách đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng với vai trò, vị trí của văn hóa trong phát triển.

Về tổng thể, mức đầu tư cho văn hóa trong tổng chi ngân sách tương đối thấp so với các lĩnh vực khác, chưa tương xứng với thực tiễn, chưa đồng đều. Theo Nghị quyết số 40/2021/QH15, ngày 13-11-2021, của Quốc hội “Về việc phân bổ ngân sách Trung ương năm 2022”, tỷ lệ ngân sách dành cho văn hóa và thông tin chỉ chiếm 0,9% tổng ngân sách được phân bổ. Không chỉ hạn chế về quy mô, mà cơ cấu đầu tư công cho văn hóa cũng còn nhiều bất cập. Phần lớn nguồn vốn công dành cho hoạt động sự nghiệp, tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển còn thấp. Với những hạn chế này, đầu tư công của Nhà nước chưa đủ sức “làm mồi”, “dẫn dắt” cho đầu tư của tư nhân trên thị trường.

Bảy là, bất cập trong cơ chế, chính sách tạo tình trạng thiếu hài hòa giữa khu vực công và khu vực tư trong việc tiếp cận nguồn hỗ trợ từ Nhà nước.

Những bất cập trong việc phân bổ nguồn lực công và tiếp cận nguồn lực công cùng sự thiếu vắng những tiêu chí rõ ràng và cụ thể để làm cơ sở cho việc đánh giá và ban hành quyết định tài trợ chưa thực sự tạo ra động lực khuyến khích sáng tạo và nỗ lực nâng cao chất lượng tác phẩm, chưa tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Định hướng và giải pháp

Việc đánh giá hiệu quả thể chế, chính sách như đã nêu trên đòi hỏi phải tập trung khắc phục bất cập, tháo gỡ các điểm nghẽn trong thực thi thể chế thông qua xây dựng, hoàn thiện chính sách có khả năng tạo cơ chế để thúc đẩy phát triển văn hóa trong giai đoạn mới. Cụ thể: 

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực văn hóa nhằm tạo cơ sở pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội về văn hóa, tạo nguồn lực phát triển. Cụ thể: Sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa nhằm khắc phục bất cập, tháo gỡ các điểm nghẽn trong thực thi Luật Di sản văn hóa hiện hành ở các điểm chưa xác định rõ, hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị. Sửa đổi, bổ sung Luật Quảng cáo ở các quy định về các loại hình quảng cáo, phương tiện quảng cáo mới phát sinh...; nghiên cứu xây dựng luật về nghệ thuật biểu diễn, nghị định về hoạt động văn học, chính sách về tài sản nội dung văn hóa số... Tiếp tục điều chỉnh, sửa đổi một số luật chuyên ngành, như Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, các luật về thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp, nghị định về khuyến khích xã hội hóa nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ Nhà nước, huy động nguồn lực xã hội và tối ưu hóa nguồn lực nội sinh từ văn hóa. Cụ thể: Luật Đầu tư cần các quy định pháp luật liên quan và quy định pháp luật chuyên ngành về văn hóa để tạo cơ sở pháp lý cho nguồn lực từ Nhà nước. Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan để khơi thông nguồn lực từ văn hóa trong hạ tầng của văn hóa, như Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, trong đó có chính sách phù hợp phát huy, sử dụng có hiệu quả tài sản kết cấu hạ tầng, thiết chế văn hóa, tài sản đặc thù của văn hóa; cơ chế tự chủ tài chính đồng bộ với nhân sự, kế hoạch của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa. Bổ sung các chính sách thúc đẩy phát triển tài năng, tinh hoa trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, nhân lực của ngành văn hóa từ nguồn lực nhà nước, ưu tiên nhân lực sáng tạo và nhân lực quản lý. Các chính sách về nguồn lực nhà nước đầu tư cho văn hóa cũng cần tính đến chính sách tầm quốc gia, chính sách của địa phương, chính sách đặc thù, chính sách thúc đẩy phát triển văn hóa tinh hoa (văn hóa, nghệ thuật) và hỗ trợ phát triển văn hóa quần chúng.

Thứ hai, tiếp tục triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Đầu tư cho phát triển văn hóa đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Nguồn vốn đầu tư từ “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa các năm 2014 - 2015” có tính chất “vốn mồi” đã đem lại hiệu quả. Việc kết thúc Chương trình trong khi những nhu cầu về phát triển văn hóa của địa phương vẫn đặt ra tương đương thậm chí lớn hơn so với giai đoạn trước đã và đang đặt ra nhiều thách thức trong phát triển văn hóa. Vì vậy, rất cần một Chương trình mục tiêu quốc gia có tính chất tổng thể nhằm chấn hưng văn hóa. Trong thời gian tới, nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, mang lại ý nghĩa quan trọng để các bộ, ngành, địa phương cùng ngành văn hóa xem xét, nhìn nhận sâu sắc các vấn đề văn hóa, vai trò, vị trí, về sự cần thiết phải quan tâm, đầu tư cho văn hóa một cách đồng bộ, toàn diện và đặt mức tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho văn hóa theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống chính sách, điều chỉnh xây dựng “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó đặt trọng tâm nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập của thị trường văn hóa. Về cơ bản, các giải pháp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Cạnh tranh, nhằm tạo hành lang pháp lý có hiệu quả và bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế hoạt động trên thị trường văn hóa Việt Nam. Triển khai nhóm giải pháp hoàn thiện thị trường văn hóa, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa có thế mạnh hội nhập quốc tế. Chú trọng phát triển thị trường văn hóa trên không gian mạng. Tăng cường đầu tư đào tạo nguồn nhân lực và thực hiện các giải pháp linh hoạt về quản lý nhân sự trong cơ chế thị trường và các nhóm giải pháp khác. Hình thành cấu trúc ngành có trọng tâm, trọng điểm, có tầm nhìn.

Thứ tư, xây dựng Bộ chỉ số quốc gia về phát triển văn hóa. Xây dựng bộ chỉ số tổng hợp và triển khai ứng dụng định kỳ để đo lường, đánh giá và giám sát sự đóng góp và tăng trưởng của lĩnh vực văn hóa trong tổng thể phát triển quốc gia; đồng thời, cung cấp các bằng cứ xác thực cho việc xây dựng thể chế, hoạch định chính sách và các chương trình can thiệp. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội về vai trò, vị thế và sự đóng góp của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước và sự cần thiết phải xây dựng Bộ chỉ số quốc gia về phát triển văn hóa.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Từng bước cân đối cơ cấu nguồn lực cán bộ (về tuổi, giới tính, địa bàn công tác ở các tuyến Trung ương, tỉnh/thành phố, quận/huyện và xã/phường/thị trấn) cho phù hợp. Có chính sách phát hiện, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, trọng dụng nhân tài. Ưu đãi văn nghệ sĩ có quá trình cống hiến, có nhiều tác phẩm tốt, ảnh hưởng tích cực trong xã hội. Điều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù. Xây dựng chế độ khen thưởng cả về vật chất và tinh thần phù hợp với những người có thành tích, cống hiến.

Thứ sáu, xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, huy động nguồn lực cho nghiên cứu, đẩy mạnh phát triển công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Cần có các chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu văn hóa, phát triển hạ tầng công nghệ đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê của ngành; hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, nghệ thuật; ứng dụng công nghệ GIS (hệ thống thông tin địa lý) trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học về văn hóa, nghệ thuật với các tổ chức nghiên cứu khoa học nước ngoài; đẩy mạnh công bố quốc tế các công trình khoa học về văn hóa, nghệ thuật. Hoàn thiện các chính sách văn hóa đối ngoại, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa, tăng khả năng phát huy tính chủ động hội nhập,  tạo sự lan tỏa mạnh mẽ của giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới./.MT

Giới thiệu cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

     Sáng 11-1, Ban Nội chính Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức gặp mặt báo chí giới thiệu cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Chủ trì buổi gặp mặt báo chí có các đồng chí: Nguyễn Thái Học, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương; Trần Thanh Lâm, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Phạm Minh Tuấn, Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Tại buổi gặp mặt báo chí, đồng chí Nguyễn Thái Học, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương giới thiệu tổng quan về mục đích, ý nghĩa và quá trình, biên soạn xuất bản cuốn sách; khái quát những điểm mới và nội dung, hình thức cuốn sách.

Cuốn sách về nội dung gồm 3 phần: Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; nhất quán phương châm “Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm từ xa, cả ngọn lẫn gốc”; trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt.

Nội dung cuốn sách là tập hợp các bài viết tổng quan công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đúc rút từ kinh nghiệm thực tiễn phong phú, thể hiện sự chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, toàn diện và đầy sức thuyết phục của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, góp phần làm sáng rõ bước phát triển nhận thức, tư duy lý luận của Đảng ta về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Các quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) trong các bài phát biểu kết luận tại 36 phiên họp của Ban Chỉ đạo, cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo, không đăng toàn văn mà tập hợp theo các nhóm vấn đề lớn, quan trọng, được chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên, thể hiện tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, nhất quán của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Các bài viết của đồng chí Nguyễn Phú Trọng được tập hợp qua nhiều thời kỳ, trên nhiều cương vị công tác, đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau (có bài viết từ năm 1973 đến nay vừa tròn 50 năm) cho thấy tầm nhìn xa của đồng chí về các vấn đề xây dựng Đảng; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và phát triển đất nước.

Về hình thức, cuốn sách là sách ảnh, với gần 100 hình ảnh minh họa, được sắp xếp theo trật tự thời gian và gắn với các sự kiện, hoạt động của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, làm tăng độ hấp dẫn, sinh động của cuốn sách.

Cuốn sách được trình bày theo phong cách báo chí hiện đại để gần gũi hơn với đông đảo bạn đọc, góp phần lan tỏa sâu, rộng tinh thần, thái độ kiên quyết, rõ ràng, dứt khoát của Đảng, Nhà nước và đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cuốn sách dự kiến ra mắt vào đúng dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930/3-2-2023) mang ý nghĩa hết sức sâu sắc trong bối cảnh cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đang được Đảng ta chỉ đạo ráo riết, quyết liệt, trở thành một cuộc chiến không khoan nhượng và đã đạt những kết quả toàn diện, tích cực.MT

Đảng viên dìu dắt quần chúng

     Đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau là những đức tính tốt đẹp của quân nhân, thể hiện rõ tình đồng chí, đồng đội. Làm sâu sắc nội dung này, thời gian qua, Trung đoàn 20, Sư đoàn 330 (Quân khu 9) đã triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “Đảng viên dìu dắt quần chúng”, góp phần quan trọng xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Những ngày đầu mới vào quân ngũ, Binh nhất Nguyễn Hoàng Phi, chiến sĩ Tiểu đội 4, Trung đội 6, Đại đội 2, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 20 luôn cảm thấy rất khó khăn vì phải điều chỉnh mọi thói quen để thích nghi, hòa nhập với tập thể, kỷ luật nghiêm minh của Quân đội cũng như quy định của đơn vị.

Vì thế, Phi có biểu hiện thiếu an tâm tư tưởng, ngại học tập, rèn luyện. Thực hiện mô hình “Đảng viên dìu dắt quần chúng”, chỉ huy đơn vị đã phân công một đảng viên là Trung sĩ Trần Trí Rồng, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4 trực tiếp giúp đỡ, kèm cặp Binh nhất Nguyễn Hoàng Phi. Ngoài động viên, giúp đỡ, chỉ bảo Phi thực hiện tốt chế độ, nền nếp, tác phong, nội vụ vệ sinh, Trung sĩ Trần Trí Rồng còn tận tình kèm cặp, hướng dẫn đồng đội từ những động tác nhỏ nhất trong huấn luyện.

Nhờ đó, chỉ sau một thời gian ngắn, Nguyễn Hoàng Phi đã tiến bộ rõ rệt. Kết thúc khóa huấn luyện chiến sĩ mới, Phi được chỉ huy Trung đoàn khen thưởng. “Giúp đồng đội cũng là tự giúp mình. Hơn nữa, tôi là đảng viên, tiểu đội trưởng nên càng phải có trách nhiệm. Có như thế thì cả tiểu đội mới mạnh”, Trung sĩ Trần Trí Rồng chia sẻ.

Theo Trung úy Huỳnh Hoàng Trung, Trung đội trưởng Trung đội 6, việc lựa chọn cán bộ, đảng viên để phân công dìu dắt quần chúng được cấp ủy, chỉ huy đơn vị thực hiện khoa học, chặt chẽ. Trong đó, ưu tiên những đồng chí tiêu biểu, mẫu mực, có tinh thần trách nhiệm cao, đạt tiêu chuẩn “đảng viên 5 tốt” để cấp dưới và quần chúng tin tưởng, noi theo. Với phương châm bồi dưỡng, dìu dắt, hướng dẫn nhưng không gò bó, cứng nhắc hoặc quá khắt khe, mỗi cán bộ, đảng viên luôn thực sự là người anh, người đồng chí gương mẫu, đồng hành giúp quần chúng cùng tiến bộ.

Trung úy Huỳnh Hoàng Trung cho biết thêm: “Tôi cũng trưởng thành từ một quần chúng nên hiểu được những khó khăn của bộ đội. Trở thành sĩ quan, đảng viên, tôi lấy kinh nghiệm mà bản thân đã tích góp được để giúp đỡ, truyền thụ cho bộ đội trở thành những quần chúng ưu tú. Đến nay, tôi đã giúp đỡ, dìu dắt được 8 chiến sĩ tiến bộ”.

Trung tá Trần Thành Trung, Phó chính ủy Trung đoàn 20 cho biết, mô hình “Đảng viên dìu dắt quần chúng” của đơn vị được triển khai từ năm 2018. Hằng năm và trong từng giai đoạn, các cấp ủy, chi bộ xây dựng kế hoạch phân công đảng viên là cấp trên giúp đỡ quần chúng, cấp dưới. Mỗi đảng viên được phân công dìu dắt từ một đến hai quần chúng cho đến khi tiến bộ. Hằng tháng, đảng viên phụ trách tổng hợp kết quả về sự phấn đấu, rèn luyện của quần chúng được dìu dắt, báo cáo trong hội nghị chi bộ.

Đồng thời, đề xuất những quần chúng đã tiến bộ để thôi dìu dắt, giúp đỡ và những quần chúng trong sinh hoạt, học tập, công tác có biểu hiện sa sút, yếu kém để chi bộ có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các bước tiếp theo. Định kỳ 2 tháng tổ chức rút kinh nghiệm ở cấp chi bộ, 3 tháng tổ chức rút kinh nghiệm ở đảng ủy bộ phận, 6 tháng tổ chức rút kinh nghiệm ở Đảng ủy Trung đoàn, từ đó kịp thời bổ sung biện pháp, cách làm phù hợp, sáng tạo trong thực hiện mô hình.

 “Qua gần 4 năm triển khai, mô hình “Đảng viên dìu dắt quần chúng” đã đi vào nền nếp, mang lại hiệu quả thiết thực. Từng cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức trách nhiệm, luôn quan tâm, sẵn sàng giúp đỡ quần chúng tiến bộ, phấn đấu hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Đến nay, các cấp ủy, chi bộ trong Đảng bộ Trung đoàn đã giúp đỡ hàng trăm quần chúng là chiến sĩ tiến bộ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, 151 quần chúng là hạ sĩ quan, chiến sĩ đã được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Qua đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên từ năm 2018 đến nay, 100% tổ chức đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, hơn 90% đảng viên hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, Trung tá Trần Thành Trung cho biết.MT

"Truy vết" chính mình

Đại hội Chi bộ Tổ dân phố 10 thành công tốt đẹp. Để chúc mừng thành công của đại hội và chia tay nguyên bí thư chi bộ chuyển về sống, sinh hoạt đảng ở quê, tổ dân phố tổ chức bữa tiệc nhỏ.

Lúc đầu, liên hoan diễn ra thật vui vẻ. Nguyên bí thư và tân bí thư chi bộ nhận được nhiều lời chúc mừng. Thế nhưng đến nửa buổi thì tân bí thư chi bộ như có điều bất an. Uống thêm một ly rượu, anh đến chỗ đảng viên vừa chúc mình, đưa nhời: “Anh vừa chúc mừng hay là giễu cợt tôi? Tôi mất 3 phiếu thì có 1 phiếu của anh đấy, 2 phiếu còn lại tôi cũng biết của ai rồi...”.

Đảng viên bị tân bí thư chụp mũ từ tốn: “Tôi chúc mừng anh là chân thành chứ đâu phải giễu cợt. Chi bộ có 52 đảng viên, anh được 49 đảng viên tín nhiệm, bằng 94,23% là thực cao. Người tiền nhiệm của anh qua 4 kỳ đại hội cũng chưa lần nào được 100% phiếu, mà anh ấy có bận tâm gì đâu. Việc anh nghi ngờ tôi hay đảng viên khác không bỏ phiếu cho anh thì sai, vi phạm nguyên tắc bầu cử trong Đảng đấy...”.

Nghe tân bí thư và đảng viên có lời lẽ thế, một đảng viên cao tuổi khuyên nhủ: “Để cuộc liên hoan vui vẻ, đề nghị các anh gác lại chuyện này, hôm khác ta rút kinh nghiệm”.

Hôm sau, khi rút kinh nghiệm về chuyện không đáng có, tân bí thư đã nhận lỗi về mình, vì ngay sau liên hoan dường như anh đã thấy cái sai. Thứ nhất, anh đã “truy vết”, chụp mũ 3 đảng viên không bầu chức bí thư cho mình. Không biết là thông tin từ tổ bầu cử hay anh võ đoán nhưng đã gây nghi kỵ, dễ mất đoàn kết trong chi bộ. Cái không phải thứ hai là chỉ mất có 3 phiếu không bầu cho mình mà anh đã ứng xử như vậy (chắc là vì tính hiếu thắng, vì thấy mình "kém cạnh", khi mà chi ủy mới gồm 5 ủy viên thì có 2 người được tín nhiệm với 100% số phiếu).

Việc bầu cử trong Đảng ta đã thực hiện tốt nguyên tắc bỏ phiếu kín, đạt các yếu tố: Dân chủ, khách quan, công bằng. Vậy mà các thế lực thù địch vẫn tìm cách xuyên tạc thô thiển. Chúng triệt để lợi dụng khuyết điểm, sơ hở ở mọi cấp để thổi phồng, nói xấu Đảng ta; “cắt dán”, làm “ảo thuật” để vẽ nên khuyết điểm của Đảng. Việc ứng xử, phát ngôn sau bầu cử như của tân bí thư Chi bộ Tổ dân phố 10 càng thuận lợi cho họ tô vẽ, làm “dẫn chứng sinh động” về việc bầu cử trong Đảng.

Phòng, chống "diễn biến hòa bình", "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" phải thường trực trong mỗi đảng viên, tổ chức đảng, ở mọi khía cạnh của việc xây dựng Đảng, trong đó có nguyên tắc và văn hóa bầu cử trong Đảng. Với cấp ủy viên nào qua bầu cử thấy tín nhiệm của mình không cao thì hãy “truy vết” chính mình, tìm ra “virus nội sinh” mà tiêu diệt, thế mới là đề cao tính Đảng và dũng khí đảng viên, đừng để “thua” vì hiếu thắng!MT

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

Không thể phủ nhận tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga

 Cách đây vừa tròn 105 năm, Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi đã mở đầu một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thực tế lịch sử hơn một thế kỷ qua cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có tầm vóc và giá trị không gì có thể phủ nhận được. Vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các thế lực phản động, thù địch bằng những thủ đoạn thâm độc, nham hiểm vẫn luôn ra sức xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, giá trị của cuộc cách mạng vĩ đại này. Cách mà các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị thường sử dụng, đó là xuyên tạc trắng trợn với luận điệu cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là một cuộc đảo chính, là sự “tiếm quyền” của những người cộng sản; những người cộng sản do V.I.Lênin lãnh đạo chỉ là “quân phiến loạn”, Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là một cuộc cách mạng đẻ non....

Bên cạnh đó, chúng cũng lợi dụng triệt để sự kiện chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước để cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chủ nghĩa xã hội đã chấm dứt, chỉ có chủ nghĩa tư bản là văn minh, trường tồn. Các thế lực phản động, thù địch cũng cố tình quy chụp nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu “là bắt nguồn từ Cách mạng Tháng Mười Nga”… 

Với những luận điệu xuyên tạc trắng trợn nói trên, mục đích của các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị là phủ nhận tầm vóc và giá trị vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917; gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi và làm xói mòn niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; từ đó, hướng lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa…

Đánh giá về giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin khẳng định: “Chúng ta có quyền tự hào và thực tế, chúng ta tự hào là chúng ta có vinh hạnh được bắt đầu xây dựng Nhà nước Xô-viết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản chủ nghĩa và ở bất cứ nơi nào cũng đang tiến tới một cuộc đời mới, tiến tới chiến thắng giai cấp tư sản, tiến tới chuyên chính của giai cấp vô sản, tiến tới giải phóng loài người khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”. 

Thực tiễn cho thấy, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, một thời đại mới đã được mở ra, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực, với chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa và Đảng Cộng sản đã ở vào vị thế đảng cầm quyền. Cách mạng Tháng Mười đã lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, của lực lượng chuyên chế phong kiến Nga Hoàng, xóa bỏ tình cảnh nô lệ của quần chúng công - nông. Với việc thông qua hai văn kiện đầu tiên của chính quyền Xô-viết: "Sắc lệnh hòa bình" và "Sắc lệnh ruộng đất" do V.I.Lênin dự thảo ngay trong đêm 26 rạng sáng 27/10/1917 (tức đêm 8 rạng sáng 9/11/1917 dương lịch), Cách mạng Tháng Mười đã đem lại quyền tự do, dân chủ và địa vị làm chủ xã hội cho đông đảo quần chúng công - nông ở nước Nga. 

Giá trị thời đại lớn lao của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 còn thể hiện ở chỗ đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới cách thức, phương pháp giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội.

Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười Nga “có một sức lôi cuốn kỳ diệu” . Như sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”. Tung thành với con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách để giành những thắng lợi to lớn cả trong đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay. Đặc biệt, sau hơn 35 năm đổi mới, những thành tựu to lớn, toàn diện mà Việt Nam đạt được đã khẳng định rõ tính đúng đắn của việc kiên trì đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được củng cố; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao… Những kết quả đó cũng góp phần làm sáng rõ hơn những nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, liên minh chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân Việt Nam tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của mình, quyết tâm đi tới một tương lai hạnh phúc tươi đẹp, đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa” .

Kỷ niệm 105 năm thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) là dịp để chúng ta khẳng định tầm vóc, giá trị thời đại của cuộc cách mạng vĩ đại này. Từ đó, thêm tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng, dân tộc đã lựa chọn; tiếp tục vững bước theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, kiên trì sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng là vấn đề quan trọng hàng đầu

  Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương Nguyễn Văn Thể yêu cầu, Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối và các Đảng ủy trực thuộc cần xác định rõ bảo vệ nền tảng tư tưởng là vấn đề quan trọng hàng đầu, được đặt lên trước. Sáng 4/11, tại Hà Nội, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương tổ chức Hội nghị sơ kết 01 năm thực hiện Chỉ thị số 01-CT/ĐUK của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối và tập huấn nghiệp vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch năm 2022.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Thể, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương khẳng định, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Trước yêu cầu cấp thiết đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Trong Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”.

Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương cho rằng, điều đó khẳng định vai trò và tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Đấu tranh tư tưởng là một mặt trận phức tạp, quyết liệt, đòi hỏi phải có trình độ lý luận, trình độ nhận thức cao và phải huy động được sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Để triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối; ban hành các văn bản hướng dẫn các đảng ủy trực thuộc thành lập Ban Chỉ đạo 35 và duy trì hoạt động. Trong năm 2021, để tăng cường hơn nữa công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối đã tham mưu Ban Thường vụ Đảng ủy Khối ban hành Chỉ thị số 01-CT/ĐUK về “Tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương”.

Sau 1 năm thực hiện Chỉ thị 01-CT/ĐUK, nhận thức của cấp ủy các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã được nâng lên rõ rệt. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng trong Đảng bộ Khối và các Đảng ủy trực thuộc đã được tăng cường và thu được những kết quả đáng khích lệ. Đặc biệt, việc tuyên truyền, phát động và trao giải Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch do Đảng bộ Khối phát động đã có hiệu quả tích cực.

Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương yêu cầu, trong giai đoạn tới, Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối và các Đảng ủy trực thuộc cần xác định rõ nhiệm vụ của công tác tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, gồm 2 việc chính là bảo vệ và đấu tranh. Trong đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng là vấn đề quan trọng hàng đầu, được đặt lên trước. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, công tác tư tưởng phải kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, có tác dụng uốn nắn biểu hiện lệch lạc, cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đẩy lùi những biểu hiện sai trái của cán bộ đảng viên trong Khối.

Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo 35 Đảng bộ Khối và các Đảng ủy trực thuộc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng, bảo đảm tính đảng, tính khoa học, tính chiến đấu, tính thực tiễn, kịp thời và hiệu quả; nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Tại hội nghị, Báo cáo kết quả 01 năm thực hiện Chỉ thị số 01-CT/ĐUK ngày 12/7/2021 của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương” do đồng chí Nguyễn Minh Chung, Trưởng ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối trình bày cho thấy, ngay sau khi Chỉ thị 01 ban hành, hầu hết các đảng ủy trực thuộc Đảng ủy Khối đã tập trung chỉ đạo, sớm tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị và ban hành các văn bản, đề ra các giải pháp hiệu quả nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đa số các đảng ủy cấp trên cơ sở trực thuộc Đảng ủy Khối đã phối hợp với ban cán sự Đảng, đảng đoàn, lãnh đạo cơ quan Trung ương ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo, tổ thư ký giúp việc ban chỉ đạo 35.

Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc đã chú trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị; thường xuyên nắm bắt tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng; chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; tăng cường phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chỉ đạo, hướng dẫn các đảng ủy trực thuộc giải quyết ngay tại cơ sở những vấn đề tư tưởng mới phát sinh, không tạo thành điểm nóng để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động.

Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc đã tăng cường phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong Đảng bộ Khối tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh lan tỏa thông tin tích cực, nhất là tăng cường tin, bài nêu gương người tốt, việc tốt; tuyên truyền, biểu dương các tập thể và cá nhân tiêu biểu, điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhằm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”; chỉ đạo đội ngũ báo cáo viên, cộng tác viên dư luận xã hội các cấp tuyên truyền sâu rộng, đăng tải, chia sẻ thông tin chính thống, tích cực đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan Trung ương và Nhân dân, bạn bè quốc tế, nhất là thông tin liên quan đến các sự kiện chính trị quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm dư luận xã hội quan tâm; quyết liệt đấu tranh, phản bác thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe các chuyên đề về: “Tăng cường công tác đấu tranh, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch, uốn nắn nhận thức lệch lạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”; “Công tác tổ chức, xây dựng, phối hợp lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”; “Kết quả hoạt động và một số bài học kinh nghiệm của Ban Chỉ đạo 35 Bộ Giao thông Vận tải”… do các báo cáo viên của Hội đồng Lý luận Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông Vận tải báo cáo./.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là Quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 đã cho thấy lực lượng vũ trang, nhất là Hồng quân công nông giữ một vị trí đặc biệt quan trọng đối sự thành bại của cách mạng XHCN. Bên cạnh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Bônsêvíc Nga, sự quản lý, chỉ đạo của Chính quyền Xô viết, đứng đầu là V.I.Lênin, thì các lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Hồng quân công nông là lực lượng nòng cốt tạo nên sức mạnh quân sự Nhà nước và chế độ XHCN. Nhờ có sự chăm lo xây dựng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, quân sự và trang bị của Hồng quân mà thế lực của Cách mạng đã lớn mạnh, làm xoay chuyển tình thế và cán cân lực lượng nghiêng hẳn về các Xô viết trong thời kỳ hai chính phủ song song tồn tại, trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, cũng như trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Chính quyền Xô viết và Tổ quốc Nga XHCN.

Chính trong Cách mạng Tháng Mười, chúng ta mới thấy hết được những tư tưởng chiến lược về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và Hồng quân công nông. V.I.Lênin đã khái quát về vai trò của Hồng quân: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông để chống bọn ăn cướp, tức bọn địa chủ và bọn tư bản, chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ… Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch” [12]. Từ đó, Người đòi hỏi: “Mỗi tổ chức của nước Nga Xô viết hãy luôn luôn đặt vấn đề quân đội lên hàng đầu” [13]. Để Hồng quân trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng, với chế độ XHCN, phải xây dựng Hồng quân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Điều cốt yếu nhất là phải đặt Hồng quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự chỉ đạo toàn diện của các chính ủy. Tổng kết quá trình xây dựng Hồng quân, Người khẳng định: “Chúng ta đã có một đạo quân. Đạo quân ấy có kỷ luật mới. Kỷ luật này được các chi bộ đảng, các công nhân và các chính ủy giữ vững; hàng chục vạn người đó đã ra mặt trận và giải thích cho công nhân và nông dân biết nguồn gốc của chiến tranh. Đó là lý do của sự chuyển biến trong quân đội ta. Đó là lý do làm cho sự chuyển biến biểu hiện ra một cách mạnh mẽ như vậy”. Để Hồng quân vững mạnh toàn diện, Người còn đòi hỏi: “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân như ta chăm lo đến con ngươi trong mắt mình, hãy nhớ rằng chúng ta không được phép lơ là một phút nào trong việc bảo vệ công nhân và nông dân của ta và bảo vệ những thành quả của họ”.

105 năm đã trôi qua, song những giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn mang tính thời sự. Những tư tưởng vĩ đại của Cách mạng còn luôn tươi mới trong đời sống nhân loại, với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các chính đảng cách mạng của họ. Vì vậy, một trong những vấn đề có tính nguyên tắc của các chính đảng cộng sản, trước tiên là đối với Đảng Cộng sản Việt Nam là kiên định những giá trị mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã đem lại, nhất là về bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc XHCN. Hành động thiết thực nhất là bổ sung, cụ thể hóa những giá trị và tư tưởng quân sự, quốc phòng của Cách mạng Tháng Mười Nga vào đường lối và các chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Coi đó là ngọn cờ tư tưởng quân sự, quốc phòng đúng đắn, góp phần dẫn dắt dân tộc Việt Nam vươn tới mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra./.

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN là sức mạnh tổng hợp của đất nước, toàn dân và hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quản lý, điều hành của Nhà nước, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

  Tổ quốc và Nhà nước Nga Xô viết từ lúc ra đời còn rất non yếu trước sức mạnh của bè lũ đế quốc, các thế lực phản động. Nhưng dưới ánh sáng tư tưởng cách mạng và khoa học do Cách mạng Tháng Mười Nga, đứng đầu là V.I.Lênin đem lại, thế và lực của nước Nga Xô viết sau là Liên Xô ngày càng hùng mạnh, đã từng trở thành trụ cột, thành trì của phong trào XHCN, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp và nhân loại. Những tư tưởng của Cách mạng đã chỉ ra, sự nghiệp cách mạng XHCN muốn thành công thì “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng quân thù.

Tấm gương và sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga cho thấy những vấn đề cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc XHCN. Sức mạnh đó đã được V.I.Lênin đúc kết trên nhiều lĩnh vực. Về chính trị, đó là: “sự vững chắc của chính quyền Xô viết, đó là nguồn gốc của sức mạnh vô địch của chính quyền Xô viết trên toàn thế giới” [7]. Về kinh tế, tư tưởng và quân sự, đó là: “Giai cấp vô sản chiến thắng… sau khi đã tước đoạt bọn tư bản và đã tổ chức nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nước mình, sẽ đứng lên chống lại cái thế giới tư bản chủ nghĩa còn lại, lôi cuốn những giai cấp bị áp bức ở các nước khác theo mình, thúc đẩy họ nổi dậy chống bọn tư bản, sử dụng khi cần thiết, ngay cả lực lượng quân sự, để chống lại các giai cấp bóc lột và nhà nước của chúng” [8]. Về kinh tế - quốc phòng, đó là: “Khả năng phòng thủ, sức mạnh quân sự của một nhà nước mà ngân hàng đã được quốc hữu hóa, thì cao hơn khả năng phòng thủ của một nước mà ngân hàng còn ở trong tay tư nhân” . Về quân sự, đó là khi phải “đương đầu với mặt trận rộng lớn của các cường quốc đế quốc chủ nghĩa, chúng ta, những người đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, là một khối liên minh đòi hỏi có sự đoàn kết chặt chẽ về mặt quân sự”. Về đoàn kết quốc tế vô sản, đó là: “Thắng lợi của cách mạng vô sản thế giới đòi hỏi giai cấp công nhân các nước tiên tiến phải hết sức tin cậy lẫn nhau, đoàn kết anh em hết sức chặt chẽ với nhau và phải hết sức nhất trí trong các hành động cách mạng của họ” …  

Thực tiễn và lý luận sinh động về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN được đúc kết từ Cách mạng Tháng Mười Nga cho thấy, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN luôn là sức mạnh tổng hợp bởi nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh hiện nay luôn đòi hỏi phải thấm nhuần và phát huy những giá trị về sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc XHCN mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại. Những vấn đề cơ bản về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc cần phải tiếp tục được khẳng định và thể hiện rõ ràng trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các chiến lược quân sự, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Mục tiêu của bảo vệ Tổ quốc XHCN là bảo vệ toàn vẹn phương diện tự nhiên - lịch sử, chính trị - xã hội của Tổ quốc, trọng tâm là bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN

 Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã đưa tới sự ra đời của Tổ quốc XHCN - tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại. Ở đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành người làm chủ thực sự xã hội, làm chủ Tổ quốc, có quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Từ trong đấu tranh cách mạng, V.I.Lênin đã thấu hiểu sự thống nhất biện chứng của những yếu tố cấu thành phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội của tổ quốc nói chung, đặc biệt là đặc trưng bản chất của Tổ quốc XHCN, đó là: “Tổ quốc, nghĩa là hoàn cảnh chính trị, văn hóa và xã hội, là một nhân tố mạnh mẽ nhất trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản” . Vì vậy, trước những tình thế hiểm nghèo của Cách mạng Tháng Mười, Người đã đúc rút nên mục tiêu của hành động bảo vệ Tổ quốc XHCN, rằng: “Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa xô-viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội” . Với mục tiêu bao trùm là bảo vệ tính chất XHCN của Tổ quốc, V.I.Lênin đã xác định nhiều mục tiêu mang dấu ấn đặc trưng cần phải bảo vệ. Ví như, về mục tiêu kinh tế - chính trị, Người xác định: “cuộc chiến tranh diễn ra trong nước chúng ta, nơi mà công nhân và nông dân hiểu rằng họ tiến hành chiến tranh vì ruộng đất, vì công xưởng và nhà máy… rằng họ bảo vệ chính quyền của mình, Chính quyền xô-viết, chính quyền của những người lao động, rằng họ bảo vệ sự nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ bảo đảm cho họ, cũng như con cái họ, có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hóa, mọi thành quả lao động của con người”.

Từ thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đã khái quát thành lý luận về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc XHCN. Lý luận này đã không ngừng được Đảng ta vận dụng và phát triển qua các giai đoạn đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, định hình và xác lập trong các Chiến lược bảo vệ Tổ quốc của mình. Tuy nhiên, với bối cảnh mới như ngày nay, nhất là trước những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của CNĐQ và các thế lực thù địch, phản động và cơ hội về chính trị, một lần nữa chúng ta cần phải kiên định những mục tiêu trọng yếu cần phải bảo vệ của Tổ quốc XHCN. Mà bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN và nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN là những mục tiêu đặc biệt quan trọng. Sự xác lập vững chắc các mục tiêu bảo vệ này trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc chẳng những nâng cao được nhận thức, thống nhất hành động của toàn dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, mà còn làm cho các giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga ngày càng trở nên sinh động hơn trong đời sống nhân loại.

Bảo vệ Tổ quốc XHCN là tất yếu khách quan, nhiệm vụ chiến lược, trọng yếu và thường xuyên, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Tổ quốc

 

Lịch sử đã cho thấy, ngay khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra và giành thắng lợi, chính chủ nghĩa tư bản (CNTB) và chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) là kẻ hoảng loạn và lo lắng hơn bao giờ hết cho địa vị áp bức lao động và thống trị giai cấp và các dân tộc mà chúng đã thiết lập hằng trăm năm trên thế giới, đã bị đánh đổ trên 1/6 diện tích địa cầu. Vì vậy, chúng đã tập trung toàn lực, phối hợp liên quân 14 nước đế quốc với bọn phản động trong nước Nga, tiến công Chính quyền nhà nước và đất nước Nga Xôviết non trẻ suốt hai năm ròng rã…

Trong cuộc cách mạng XHCN này, Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I.Lênin - lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản Nga và giai cấp vô sản thế giới, đã phân tích bản chất kinh tế - chính trị của CNTB, CNĐQ để làm rõ tính tất yếu bảo vệ Tổ quốc XHCN. V.I.Lênin chỉ ra: còn CNĐQ thì còn nguy cơ chiến tranh xâm lược; cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN là cuộc chiến tranh chính nghĩa và tự vệ… Nhận thức sâu sắc về bối cảnh thế giới và nước Nga Xôviết lúc bấy giờ, Người đã chỉ rõ: “Chúng ta đang sống trong thời kỳ đấu tranh có tính chất lịch sử chống giai cấp tư sản thế giới là giai cấp hiện đang mạnh hơn chúng ta gấp nhiều lần. Trong thời kỳ đấu tranh như thế, chúng ta phải bảo vệ công cuộc xây dựng cách mạng, phải đấu tranh chống giai cấp tư sản bằng quân sự và nhất là bằng đấu tranh tư tưởng, bằng giáo dục để cho những tập quán, những thói quen, những niềm tin mà giai cấp công nhân đã rèn đúc được trong hàng chục năm đấu tranh giành tự do chính trị, để cho toàn bộ những tập quán, thói quen và tư tưởng đó biến thành công cụ giáo dục toàn thể những người lao động”… Xuất phát từ chính bản chất, âm mưu, thủ đoạn tiêu diệt Nhà nước Nga Xôviết của CNĐQ, V.I.Lênin đã kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm nhận thức sai lầm đòi hỏi “giải trừ quân bị” ngay lập tức, hoặc kêu gọi “hòa hoãn” với kẻ thù. Người khẳng định: “Chỉ có sau khi đã tước vũ khí giai cấp tư sản rồi, thì giai cấp vô sản mới có thể vứt bỏ vào đống sắt vụn tất cả vũ khí nói chung, mà không phản lại nhiệm vụ lịch sử thế giới của mình; và giai cấp vô sản nhất định sẽ làm như thế, nhưng chỉ có đến lúc ấy mới làm được, chứ quyết không thể làm trước lúc ấy được” .

Ngày nay, dẫu bối cảnh lịch sử đã đổi thay, chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên thế giới có sự thoái trào, nhưng bản chất, nội dung cơ bản của thời đại không thay đổi. Vẫn đúng như V.I.Lênin đã từng xác định nội dung của thời đại mới là xóa bỏ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa. Đây là quá trình lịch sử lâu dài, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga, sau đó là những cuộc cách mạng ở nhiều nước khác trên thế giới. Với cơ sở thực tiễn đó đã giúp Đảng ta khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” … Vì vậy, cùng với công cuộc xây dựng CNXH là quá trình tất yếu về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Quá trình này cần tiếp tục được thể hiện rõ ràng, nhất quán và xác lập trong tư duy Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Phải coi bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH; đi liền, gắn chặt với mọi nhiệm vụ giữ vững sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại. Có như vậy, tư tưởng và giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga mới tiếp tục được phát triển và tỏa sáng trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam hiện nay.  

Tại sao các thế lực thù địch không ngừng chống phá Cách mạng tháng Mười Nga?

 Cách đây 105 năm, đã diễn ra một sự kiện làm rung chuyển thế giới: Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công, đánh đổ chế độ quân chủ chuyên chế, đập tan các phương án chính trị tiêu cực của giai cấp tư sản, khai sinh chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử loài người.

Trong suốt 105 năm qua, các thế lực thù địch, phản động đã không ngừng chống phá, xuyên tạc thành quả cách mạng vĩ đại này và chúng sẽ tiếp tục hành xử như vậy. Lý do rất hiển nhiên: vì Cách mạng tháng Mười Nga đã mở đầu thời đại mới, mở ra con đường giải phóng và phát triển cho nhân dân lao động khắp năm châu!

1. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản trong nền kinh tế và chính trị thế giới, mở ra kỷ nguyên mới của giải phóng và phát triển.

Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bộc lộ rõ rệt nhất những hạn chế không thể vượt qua. Nền văn minh vật chất sung mãn do chủ nghĩa tư bản tạo ra đã được xây dựng bằng nước mắt và máu của quần chúng lao động khắp toàn cầu; sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp người này phải được đánh đổi bằng sự bần cùng hoá của nhiều quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp khác; sự hưng thịnh của một nhóm siêu cường phải được đánh đổi bằng hàng loạt cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, biến hàng trăm quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh thành hệ thống thuộc địa đáng hổ thẹn của chủ nghĩa thực dân... Như kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu bức bách của lịch sử là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, gắn mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng lao động và giải phóng con người.

2. Từ chiếc nôi nước Nga và Liên Xô, cách mạng vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành thắng lợi ở nhiều không gian địa chính trị trọng yếu; chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, đối trọng hữu hiệu trên nhiều lĩnh vực với hệ thống tư bản chủ nghĩa.

Dưới ánh sáng của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, quần chúng lao động và các lực lượng cách mạng khác đã xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và cả ở châu Mỹ; cộng với nhiều quốc gia định hướng xã hội chủ nghĩa ở Á, Phi và Mỹ La tinh. Cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội đã thực sự là lực lượng mở ra và thực thi mục tiêu giải phóng và phát triển cho nhân loại trong những thập kỷ sôi sục đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh xã hội. Những kỷ nguyên độc tôn của chủ nghĩa tư bản đã thật sự chấm dứt, buộc họ phải biết cách chung sống hòa bình với chủ nghĩa xã hội. Hiểu theo nghĩa đó, chủ nghĩa xã hội đúng là một trong những nhân tố quyết định xu hướng vận động của thế giới trong thế kỷ XX. Các thế lực thù địch, phản động không ngừng mơ tưởng về sự hồi sinh của tư bản và, bởi vậy, chúng sẽ còn điên cuồng chống phá con đường tháng Mười Nga trong bối cảnh mới của thế giới ngày nay! 

3. Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra và tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại mới, thời đại của cách mạng chống đế quốc.

Theo con đường của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, các dân tộc trên thế giới đã vùng lên giải phóng khỏi các chế độ quân chủ, phát xít, thực dân, đế quốc; xác lập nền cộng hòa với chủ quyền đối nội, đối ngoại không thể bác bỏ; xây dựng chế độ xã hội mới do người lao động làm chủ. Dưới sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới do Cách mạng tháng Mười Nga mở ra, hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân đế quốc thiết lập trong suốt 5 thế kỷ từ 1492, đã hoàn toàn sụp đổ trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ, từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối thế kỷ XX! Bản đồ chính trị của thế giới hiện đại đã được vẽ lại, với sắc đỏ ngày càng rộng mở như hệ quả tất yếu từ ngọn lửa Cách mạng tháng Mười Nga. Các thế lực phản động, thù địch càng hoài niệm bao nhiêu về cái thời mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ thuộc địa mênh mông của chúng, thì càng điên cuồng bấy nhiêu trong công kích, xuyên tạc vai trò, ý nghĩa lịch sử của bản hùng ca Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917!

4. Động lực và cảm hứng từ Cách mạng tháng Mười Nga tiếp tục tạo nên xu hướng phê phán, phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn trong bối cảnh thế giới ngày nay. Thế kỷ XXI đặt ra nội dung và yêu cầu mới cho mục tiêu phát triển. Đó là sự phát triển trong hoà bình và tự do; phát triển hài hoà giữa vật chất và tinh thần; phát triển trong công bằng và dân chủ; phát triển bền vững và nhân văn; sự phát triển của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai cấp, tập đoàn, mỗi quốc gia, dân tộc phải là điều kiện tích cực cho sự phát triển của những người khác và toàn bộ loài người. Mục tiêu phát triển hiện đại tự nó đặt ra yêu cầu tiếp tục giải phóng, giải phóng triệt để hơn khỏi con đường và chế độ tư bản chủ nghĩa trong mọi biến thái khác nhau của chúng.

Ngay từ chính các trung tâm tư bản chủ nghĩa đã không ngừng cất lên biết bao lời cảnh tỉnh, phê phán rằng chủ nghĩa tư bản là “một thế giới không thể chấp nhận được” (René Dumond), nó “chứa đựng nhiều vết loét không thể cứu chữa” (Henry Kissinger), nó sẽ rơi vào “cuộc khủng hoảng toàn cầu” (George Soros), vì vậy, loài người sẽ phải vận động đến “làn sóng văn minh thứ ba” (Alvin Toffler), đến một “xã hội hậu tư bản” (Peter Drucker)... Chủ nghĩa tư bản, dưới hình thức hiện đại nhất của nó là chủ nghĩa tự do mới, đã bị phê phán quyết liệt ngay từ bên trong và ở quy mô toàn cầu. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản và khuynh hướng xây dựng một xã hội khác thay thế, bắt đầu từ Cách mạng tháng Mười Nga cách đây 105 năm, đang và tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong thời đại ngày nay.

5. Kiên định theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển.

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng cộng sản thế giới chủ động đổi mới tư duy và cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trên mọi lĩnh vực. Những nguyên lý và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin được nhận thức đầy đủ hơn; những kinh nghiệm thành công và những hạn chế, vấp váp của chủ nghĩa xã hội được xác định một cách chân thực hơn; những xu thế vận động của thế giới hiện đại được lĩnh hội kịp thời, khách quan hơn. Nhờ vậy, các quốc gia xã hội chủ nghĩa đã sớm khắc phục được khủng hoảng, ra khỏi tình trạnh chậm phát triển và đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn là một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, tinh thần không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Chính vì chân lý sáng tỏ này, mà nhiều trí tuệ lớn như Jacques Derrida, Noam Chomsky, Joseph Stiglizt, Alexander Zinoviev…, giống như Albert Enstein, Paul Satre, Bertral Roussel…, trước kia, đều biểu thị sự đồng tình không che giấu với chủ nghĩa cộng sản, công khai đánh giá Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại./.


Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam

 Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng. Những kết quả tích cực, toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội đã khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa; đồng thời là minh chứng sinh động, đập tan các âm mưu, luận điệu phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam.

Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước. Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn đan xen, song quá trình thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn.

Song với mục đích, động cơ đen tối, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại luôn tìm mọi cách để phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta. Thủ đoạn chúng thường thực hiện đó là lợi dụng những hạn chế, tiêu cực trong xã hội; những thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật ở từng bộ phận, địa phương, tổ chức, cá nhân, nhất là cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn của một bộ phận nhân dân, những người nghèo, vùng sâu, xa, biên giới, hải đảo; sự phân hóa, chênh lệch giàu nghèo… để xuyên tạc, chống phá. Chúng ra sức tuyên truyền luận điệu vu cáo Đảng, Nhà nước ta không quan tâm, chăm lo đến cuộc sống của người dân, thậm chí “bỏ mặc” nhân dân, chỉ chăm lo cho lợi ích của Đảng, lợi ích của cán bộ, đảng viên… Từ việc dựng lên một hình ảnh Việt Nam không có “dân chủ”, mất “công bằng”, các thế lực phản động, thù địch không ngừng kêu gọi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, những luận điệu vô căn cứ nói trên xuất phát từ góc nhìn phiến diện, một chiều và động cơ chính trị đen tối của các thế lực thù địch, phản động. Cần khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó cũng chính là đường lối, chủ trương xuyên suốt của Đảng, hiện thực sinh động về tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta. Với việc khởi xướng công cuộc đổi mới, Đại hội VI (1986) đã đánh dấu bước đổi mới căn bản tư duy của Đảng ta về xây dựng CNXH, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam. Về bản chất, việc phát triển kinh tế trong CNXH đã hướng đến và bao hàm tiến bộ, công bằng xã hội. Tiến bộ, công bằng xã hội là mục tiêu hướng đến, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm để kinh tế phát triển lành mạnh. Như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”; “không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần” (1). Bám sát thực tiễn, Đảng ta đã kiên trì lãnh đạo thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Đặc biệt, đến nay sau hơn 35 năm đổi mới, quá trình thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc gắn kết phát triển kinh tế với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đã được thực hiện có hiệu quả; tạo cơ sở kích thích, khơi dậy và phát huy tính tích cực, năng động của con người. Nhờ vậy, các giai tầng xã hội và các chủ thể kinh tế tự do, tự chủ đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi giảm từ 6,9% của năm 2001 xuống 3,22% năm 2021. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình trong 35 năm qua đạt khoảng 7%/năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng hơn 23 lần, từ 159 USD/năm (1985) lên 3.743 USD/năm (2021). Kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng từ 2,4 tỷ USD (1990) lên 660 tỷ USD (2021). Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật, được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều… Đây là cơ sở, điều kiện có tính quyết định để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trên phạm vi cả nước, an sinh xã hội được thực hiện ngày càng tốt hơn. Chính sách bảo trợ, hỗ trợ xã hội có nhiều tiến bộ. Riêng trong giai đoạn 2015 - 2020, cả nước đã hỗ trợ nhà ở cho 335,8 nghìn hộ người có công; hỗ trợ nhà ở cho hơn 181,4 nghìn hộ nghèo ở nông thôn và các vùng thường xuyên bị bão lụt; xây dựng hơn 6 triệu m2 nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại đô thị và công nhân các khu công nghiệp. Mới đây nhất, trong đại dịch COVID-19, Nhà nước dành nhiều nguồn lực, biện pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn, như giảm, giãn thuế, phí, lệ phí; giảm giá điện, nước, dịch vụ viễn thông; khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất tín dụng...

Nhất quán chủ trương thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt được nhiều thành tựu. Quy mô giáo dục phát triển, cơ sở vật chất được nâng cao, chất lượng đào tạo từng bước đáp ứng yêu cầu về nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho sự phát triển đất nước nhanh và bền vững. Số trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 chiếm 99%; số trẻ đi học và hoàn thành tiểu học sau 5 năm chiếm trên 92% (thuộc nhóm đầu của ASEAN). Hiện có 95% số người lớn biết đọc, biết viết; đã phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000, phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010. Hệ thống y tế được tổ chức đến tận cơ sở thôn, bản không những phát huy tốt hoạt động y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu mà trong nhiều lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật khám, điều trị, chữa bệnh đã đạt trình độ tiên tiến của thế giới, nhất là kỹ thuật ghép chi, ghép tạng và sản xuất vắc-xin... Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2021.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu nổi bật nêu trên, vẫn “có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa;... bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù” (2).

Khách quan nhìn nhận, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là vấn đề phức tạp; vừa phụ thuộc vào các điều kiện khách quan, nhất là trình độ kinh tế, vừa phục thuộc vào năng lực chủ quan của các chủ thể xã hội. Ở nước ta, chủ trương của Đảng về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội được triển khai thực hiện đồng bộ, thường xuyên đã tạo điều kiện để các giai cấp, tầng lớp nhân dân với đặc điểm, nhu cầu đa dạng, phong phú đều có cơ hội đóng góp cho đất nước; đồng thời, được thụ hưởng xứng đáng, phù hợp với thành quả phát triển từ các chính sách kinh tế, xã hội của đất nước.

Rõ ràng, với quan điểm xuyên suốt, nhất quán, Đảng và Nhà nước đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới. Những kết quả tích cực, toàn diện trên mọi mặt đời sống xã hội đã không chỉ khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa do Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng; mà còn là những minh chứng sinh động để đập tan các âm mưu, luận điệu phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam.

Mọi âm mưu, hành động xuyên tạc, phủ nhận kết quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua sẽ không thể đánh lừa được dư luận trong nước và quốc tế. Trực tiếp thụ hưởng thành quả thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, mọi người dân Việt Nam sẽ tiếp tục đoàn kết một lòng, hiện thực hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Ngoại giao văn hóa gia tăng “sự nhận diện Việt Nam” trên toàn cầu

 Sau một năm triển khai Chiến lược NGVH đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tháng 11/2021, công tác NGVH của Việt Nam có nhiều điểm sáng, có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước trên tất cả các kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội và Nhân dân. Năm qua, chúng ta đã chú trọng đưa nội hàm văn hóa vào các hoạt động của Lãnh đạo cấp cao thăm các nước và trong việc đón tiếp lãnh đạo các nước tới Việt Nam; đăng cai tổ chức các hội nghị, sự kiện khu vực, quốc tế lớn ở trong nước, tiêu biểu như SEA Games 31 hay ở nước ngoài, tiêu biểu như Chương trình Ngày Việt Nam tại Hàn Quốc, Áo , Ấn Độ. 

Thứ hai, thúc đẩy hội nhập sâu, rộng trong các lĩnh vực văn hoá, khoa học, giáo dục tại các diễn đàn quốc tế, tiêu biểu là tại tổ chức UNESCO.

Năm 2022 Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất vào Uỷ ban Liên chính phủ Công ước UNESCO về di sản văn hóa phi vật thể, lần đầu tiên cùng một lúc đảm nhiệm vai trò thành viên 3 cơ chế quan trọng của UNESCO. Chuyến thăm Việt Nam của người đứng đầu UNESCO năm qua cũng là một điểm nhấn đáng chú ý. Truyền thông thế giới nhân dịp này đã đưa nhiều tin, hình ảnh về đất nước, văn hóa, con người Việt Nam. Bà Tổng Giám đốc UNESCO cũng bày tỏ ấn tượng trên trang cá nhân trước những thành tựu của Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục và văn hóa. 

Thứ ba, tăng cường các biện pháp NGVH phục vụ phát triển bền vững đất nước. Với cương vị là cơ quan đầu mối, Bộ Ngoại giao đã tham mưu, đồng hành với các bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp trong hội nhập quốc tế, tiếp cận nhanh với tri thức mới, với các mô hình tiên tiến từ đó tranh thủ tối đa các nguồn lực để phục vụ phát triển. Năm 2022, Việt Nam vui mừng có thêm 04 danh hiệu/di sản được quốc tế ghi danh gồm nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp; Bia ma nhai Ngũ Hành Sơn và Hệ thống văn bản làng Trường Lưu, Hà Tĩnh (1689 – 1943) được ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu Châu Á – Thái Bình Dương; Thành phố Sa Đéc được chính thức trở thành thành viên Mạng lưới thành phố học tập toàn cầu của UNESCO. Nhiều địa phương tổ chức thành công các sự kiện văn hóa, ngoại giao văn hóa lớn, qua đó vừa tăng cường bảo tồn vừa phát huy các giá trị di sản, văn hóa vùng miền, góp phần khơi dậy tự hào, đoàn kết dân tộc, thu hút đầu tư, du lịch, tạo nguồn lực cho mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ tư, tiếp tục quảng bá các giá trị văn hóa, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, trong đó chú trọng việc lan tỏa các giá trị, tư tưởng, triết lý, quan điểm nhân sinh quan, thế giới quan tiến bộ và cao đẹp của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là thông qua hình ảnh, giá trị tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các danh nhân được UNESCO vinh danh. 

Điểm mới trong công tác NGVH năm nay xuất phát từ việc cụ thể hóa phương châm của Chiến lược là “lấy địa phương, người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”, do vậy đã thu hút sự được tham gia tích cực của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể, nhân dân ở trong và ngoài nước, tạo sức mạnh tổng hợp trong triển khai NGVH. Bên cạnh đó, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong các Chương trình Ngày Việt Nam ở nước ngoài năm 2022 đã góp phần truyền tải sống động, hiệu quả chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng, Nhà nước, đồng thời lan tỏa rộng rãi các giá trị văn hóa Việt Nam ra cộng đồng quốc tế.