Thứ Tư, 11 tháng 1, 2023

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận hiện nay

 Đội ngũ cán bộ lý luận là một bộ phận rất quan trọng trong toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng. Trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta, đội ngũ cán bộ lý luận góp phần tham gia giải quyết nhiều vấn đề lý luận đặt ra từ thực tiễn phát triển đất nước. Nếu đội ngũ cán bộ lý luận “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì hiểm họa sẽ gấp bội phần so với đội ngũ cán bộ khác. Vì vậy, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận là vấn đề cấp bách hiện nay.

Nhận diện biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận

Lâu nay, trên các diễn đàn học thuật, hoạt động nghiên cứu lý luận và công tác tư tưởng, vì nhiều lý do khác nhau, chúng ta ít hoặc hầu như không đề cập đến vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận. Phải chăng biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ này chưa đến mức báo động; hay chúng ta sợ động chạm, là “vạch áo cho người xem lưng” để lảng tránh; hoặc chưa đủ căn cứ để xác định một số cán bộ lý luận của Đảng đã hay chưa rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”? Với phương châm “không có vùng cấm”, công cuộc đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nói chung và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận hiện nay nói riêng cũng không phải là ngoại lệ; đồng thời, là vấn đề có tính cấp bách hiện nay.

Đội ngũ cán bộ lý luận là một bộ phận rất quan trọng trong toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, bao gồm cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong hệ thống các trường Đảng các cấp, các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và cán bộ làm công tác lý luận chuyên trách trong toàn quốc có nhiệm vụ nghiên cứu, truyền bá các môn khoa học Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đội ngũ cán bộ lý luận, một người có thể vừa là cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, cán bộ làm công tác tuyên truyền, vừa là trí thức cả đương chức hoặc đã nghỉ hưu. Đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ lý luận, cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đức Bình khẳng định: “Đội ngũ cán bộ lý luận của ta nói chung có phẩm chất chính trị tốt, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Mấy năm nay, đội ngũ này được bổ sung khá nhiều bằng những lực lượng trẻ, được đào tạo khá hệ thống. Tuy nhiên, tình trạng vẫn là đông nhưng không mạnh... Hệ thống tổ chức nghiên cứu và quản lý công tác nghiên cứu vừa phân tán, vừa trùng lặp, thiếu sự phân công và phối hợp; chưa chú ý đến xây dựng các ngành khoa học trọng điểm và đội ngũ cán bộ đầu đàn; thiếu sự chỉ đạo tập trung thống nhất. Kinh phí đầu tư cho khoa học xã hội và nghiên cứu lý luận còn ít”(1).

Biểu hiện “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ lý luận rất phức tạp, cần được phân tích, nhận diện chính xác. Đánh giá không chính xác thì có thể đẩy người của ta sang phía hàng ngũ kẻ thù, rất nguy hiểm. Đối chiếu với 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” ở đối tượng đặc thù là cán bộ lý luận chính trị, bước đầu chúng ta có thể nhận diện như sau:

Rơi vào xét lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Trong nghiên cứu lý luận, nhân danh nghiên cứu đề xuất, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới, một số cán bộ nghiên cứu lý luận cả đương chức lẫn nghỉ hưu cố tình tuyệt đối hóa những luận điểm đơn lẻ của các nhà kinh điển vốn đúng ở thời điểm lịch sử đó, nhưng đến nay không còn phù hợp, bị thực tiễn vượt qua; hoặc khi nghiên cứu các tác phẩm kinh điển có những luận điểm, tư tưởng được các nhà kinh điển trích dẫn lời của người khác (thường là kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin) để quy chụp là sai lầm... Từ đó, từng bước xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng từng luận điểm đến xuyên tạc, phủ nhận từng bộ phận tiến tới toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một số cán bộ lý luận được Đảng và Nhà nước cử đi đào tạo, tham quan, nghiên cứu ở nước ngoài, thay vì trau dồi kiến thức, lại bị tác động bởi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản; ca ngợi, tán dương một chiều hình mẫu chủ nghĩa tư bản, tự do tư sản; đồng thời, xuyên tạc, bịa đặt, áp đặt ý chí chủ quan khi đánh giá về Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng; bi quan và dao động với mục tiêu, lý tưởng và con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Trong giảng dạy lý luận chính trị, cố ý lồng ghép quan điểm cá nhân trái với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng; phụ họa theo các quan điểm sai trái, thù địch của những phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước; cố tình thổi phồng các khuyết điểm, sai lầm của Đảng trước đổi mới, vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước của một bộ phận cán bộ, đảng viên để phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng đối với toàn xã hội tới các thế hệ sinh viên, học viên. Lợi dụng Đảng và Nhà nước ta phát huy dân chủ trong toàn xã hội, một bộ phận trí thức, trong đó có người từng là cán bộ lý luận nhân danh cái gọi là “nhà dân chủ” trong các hội nhóm phản động tung hàng loạt “kiến nghị”, “thư ngỏ”, “tâm thư” với âm mưu đen tối như: Đòi Đảng, Quốc hội sửa đổi Hiến pháp theo hướng bỏ Điều 4, thực hiện “tam quyền phân lập”, đất đai thuộc quyền sở hữu tư nhân, lực lượng vũ trang phải “trung lập”; kích động các tầng lớp xã hội đấu tranh đòi thay đổi thể chế chính trị; lợi dụng những vấn đề nhạy cảm liên quan tới chủ quyền biển - đảo để xuyên tạc, phân hóa nội bộ và kích động chống phá quan hệ hữu nghị với một số nước láng giềng; phủ nhận công cuộc đổi mới đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, mưu toan hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Thậm chí, có nhóm đã tiến hành soạn thảo và tán phát dự thảo “Cương lĩnh xây dựng đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh” trên cơ sở nền tảng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011), nhưng cắt bỏ tất cả những gì đề cập đến việc xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ hết các cụm từ “chủ nghĩa Mác - Lê-nin”, “chủ nghĩa xã hội” và “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đảng ta đã tổ chức Đại hội XIII thành công và nhấn mạnh: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(2). Trong khi đó, một số báo chí cho đăng tải những bài viết có xu hướng xét lại lịch sử. Xu hướng đáng báo động là một số cơ quan báo chí và truyền thông hùa theo các quan điểm sai trái, cho đăng tải với tần suất ngày càng nhiều các bài nói, bài viết, hình ảnh của những phần tử cơ hội chính trị, các quan điểm của học giả tư sản trái với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta.

Có thể nói, nhận biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một con người hay trong một tổ chức không đơn giản chỉ dựa trên một vài biểu hiện bề ngoài. Vì thực tế hiện tượng bề ngoài không phải lúc nào cũng phản ánh bản chất bên trong. Vì thế, việc kết luận một trường hợp nào đó có vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải thận trọng, khách quan trên cơ sở phân tích, tổng hợp các dấu hiệu diễn ra có tính hệ thống trong một quá trình nhất định.

Tính nguy hại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” đã nhận định: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục có hiệu quả, làm giảm sức chiến đấu của Đảng và lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, kể cả trong những lực lượng nòng cốt, gắn bó với Đảng, với chế độ, đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm trạng bức xúc, đáng lo ngại, ảnh hưởng tới tính đồng thuận xã hội. Không phải “vơ đũa cả nắm”, nhưng trong số đó không thể không có cán bộ lý luận như đã luận chứng ở trên. Theo đó, tính nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận là gấp bội phần so với đội ngũ cán bộ khác.

Thứ nhất, đối với cá nhân, “tự diễn biến” là sự chuyển biến nhận thức tư tưởng từ mặt đúng, mặt tốt, mặt vững vàng, trung kiên sang mặt xấu; nếu không phòng, ngừa, ngăn chặn, có thể dần trở thành chống đối và bị kẻ thù lợi dụng. “Tự diễn biến” là điều kiện cần và khi bị kẻ thù lợi dụng là điều kiện đủ để chuyển sang “tự chuyển hóa” - chuyển hóa cả về chính trị, tư tưởng và hành vi.  Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đánh giá: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng”(3). Mấu chốt để nói “tự diễn biến” về tư tưởng chính trị là ở hệ quan điểm, tư tưởng bị tha hóa, chuyển sang lập trường khác với lập trường tư tưởng, chính trị của Đảng, với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khi đã “tự chuyển hóa” thì trở thành kẻ phản bội cách mạng, chạy sang hàng ngũ của kẻ thù. Nếu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rơi vào cán bộ lý luận vừa là cán bộ lãnh đạo, quản lý, vừa là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và đứng đầu cơ quan truyền thông thì tính nguy hại vô cùng lớn, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô có nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân gắn với âm mưu, thủ đoạn của kẻ phản bội Ya-cốp-lép - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên truyền của Ban Chấp hành Trung ương chuyên trách về công tác tư tưởng, thông tin và văn hóa, Trưởng Ban soạn thảo Cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô vẫn là bài học đau đớn.

Thứ hai, đối với sự nghiệp cách mạng, nguy hiểm hơn là từ “tự chuyển hóa” con người, đội ngũ cán bộ lý luận có thể dẫn đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị nếu chúng ta không có những biện pháp phòng, chống hữu hiệu. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận không chỉ ảnh hưởng xấu đến chất lượng đội ngũ cán bộ lý luận của Đảng, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận của Đảng; không những không cung cấp được đầy đủ những luận cứ khoa học cho Đảng hoạch định Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo đúng, mà còn có thể tạo ra nguy cơ không nhỏ nếu trong đội ngũ cán bộ lý luận là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cấp chiến lược vướng vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội... Có người phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và con đường xã hội chủ nghĩa!”(4). Và Đảng ta cũng thẳng thắn nhận định: “Trong Đảng đã xuất hiện các ý kiến khác nhau về một số vấn đề cơ bản liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước”(5).

Thứ ba, đối với toàn xã hội: Đội ngũ cán bộ lý luận vướng vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ gây hoang mang, dao động, làm xói mòn, giảm sút lòng tin trong một bộ phận quần chúng với Đảng, Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, đồng thuận xã hội và làm vẩn đục tâm lý xã hội. Đây là hệ lụy đối với xã hội từ những “tấm gương xấu” đó. Về vấn đề này, 65 năm trước, trong bài Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc, ngày 7-9-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Khi học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng”(6). Các thế lực thù địch đã và đang tập trung công kích chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mưu toan làm cho một bộ phận cán bộ, nhân dân suy giảm niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; làm nảy sinh tâm lý hoặc tư tưởng nghi ngờ những thành tựu trong lịch sử và tương lai của dân tộc, mất lòng tin đối với con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự suy giảm đồng thuận xã hội đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội có thể xem là tác hại lớn nhất với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thậm chí, một số còn mong muốn và trông chờ sự thay đổi về chính trị. Đây là biểu hiện rất nguy hiểm và là nguyên nhân có thể dẫn đến những hành động manh động, những điểm nóng làm mất ổn định chính trị, thậm chí gây đảo lộn trật tự xã hội. Điều này đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây theo kịch bản “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bạo loạn chính trị, Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo, xã hội chệch hướng con đường, mục tiêu phát triển.

Nguyên tắc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận

Nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận đã khó, đấu tranh với nó còn khó khăn hơn, vì vậy, nhất thiết phải định hình nguyên tắc, đó là:

Một là, tránh “vơ đũa cả nắm”. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận; do đó, cần phân biệt, không đánh đồng lập trường chính trị với nhận thức tư tưởng, nhận thức lý luận. Nhiều khi do nhận thức chưa sâu sắc, toàn diện mà phạm sai lầm về chính trị thì không nên vội vàng chính trị hóa và quy kết là “tự diễn biến”. Đương nhiên, nhận thức tư tưởng, lý luận sai lầm, nhất là sai lầm có ý thức, có hệ thống sẽ là khởi điểm dẫn đến sai lầm về chính trị. “Tự diễn biến” có quá trình chuyển hóa dần dần, không phải ngay một lúc. Có khi trong quá trình tự tha hóa, do điều kiện tác động nhất định, như qua tự phê bình và phê bình, qua đấu tranh, lại có thể quay về cái đúng. Cho nên đánh giá “tự diễn biến” và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải hết sức cẩn trọng, lưu ý chính xác các giới hạn, các nấc thang thay đổi nhận thức. Đối với họ, chúng ta cũng phải đấu tranh, phê phán, làm rõ đúng - sai thông qua đối thoại, trao đổi, tọa đàm, thuyết phục trên tinh thần đồng chí, tăng cường đoàn kết, đồng thuận, chúng ta phê phán quan điểm sai chứ không phê phán con người, xúc phạm, đả kích cá nhân. Khi họ đã cố tình chạy sang phía kẻ thù thì chúng ta kiên quyết đấu tranh.

Hai là, phải kết hợp giữa phòng và chống. Đây chính là quan điểm được Đảng xác định trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”: “Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Để quan điểm này của Đảng đi vào cuộc sống, nhất là trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận, đòi hỏi “xây” phải đi liền với “chống”, không chỉ dừng lại ở khâu triển khai lãnh đạo, chỉ đạo, mà từng tổ chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đặc biệt là mỗi cán bộ phải thật sự thấm nhuần và thực hiện nghiêm túc.

Ba là, phải thận trọng, kiên trì, chắc chắn. Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận là cuộc đấu tranh với “kẻ thù giấu mặt”, với “kẻ ở trong mình ta”, trong nội bộ ta, đúng như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù. Thế là chẳng những ở ngoài, mà chính ở trong mình ta cũng có bạn và thù. Vì vậy, chúng ta cần phải ra sức tăng cường bạn ở trong và ở ngoài, kiên quyết chống lại kẻ thù ở ngoài và ở trong mình ta”(7). Thực chất đây là cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận ngay trong nội bộ ta, nếu không “thận trọng, kiên trì, chắc chắn” thì dễ rơi vào hai khuynh hướng tai hại “tả khuynh” và “hữu khuynh”, khiến hiệu quả phòng, chống không cao. Thực hiện nguyên tắc này, điểm căn cốt phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận, đâu là nguyên nhân khách quan, đâu là nguyên nhân chủ quan để xử lý thật “thận trọng, kiên trì, chắc chắn”.

Một số giải pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận

Có thế nói, chưa bao giờ công tác lý luận lại cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt như hiện nay. Đó là vì thực tiễn cách mạng, sự phát triển xã hội nước ta cũng như tình hình khu vực và thế giới đang đặt ra cho công tác lý luận hàng loạt vấn đề cấp thiết, phức tạp, bức xúc và gay cấn. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thì vai trò của đội ngũ cán bộ lý luận trở nên ngày càng quan trọng và hơn lúc nào hết cần xây dựng đội ngũ này thực sự vững mạnh về mọi mặt; do đó, bất luận trong hoàn cảnh nào, phải kiên quyết phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận với nhiều giải pháp đồng bộ sau:

Một là, thấm nhuần sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa tính khoa học với tính đảng, giữa khoa học với chính trị trong hoạt động lý luận.

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là định hướng giải pháp căn cốt để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận hiện nay. Về vấn đề này, V.I. Lê-nin viết: “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng, mà là kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít”(8). Trong khi đó, ở nước ta: “Một thời gian dài chúng ta dường như đồng nhất chính trị với lý luận. Trong cách mạng dân tộc dân chủ, sự đồng nhất này cố nhiên cũng không đúng, nhưng dù sao lúc ấy có lý do khách quan nhất định cho sự đồng nhất trên mức độ nào đó mà không gây tổn hại cho cả lý luận, cả chính trị... Còn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cực kỳ phức tạp, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống và hoạt động xã hội. Đối tượng nhận thức và tác động ở đây là những hệ cấu trúc, những quá trình cực kỳ đa dạng và phức tạp, nhiều tầng nấc, là những quan hệ chằng chịt, muôn hình, muôn vẻ... Do đó, ở đây đòi hỏi phải tính đến không biết bao nhiêu là nhân tố có liên hệ; không biết bao nhiêu vòng khâu và cấp độ khác nhau của quá trình phân tích, tổng hợp mới đem lại được căn cứ khoa học cho một quyết định chính trị. Trong những điều kiện như vậy mà đồng nhất chính trị với lý luận khoa học thì thật tai hại - tai hại cho cả khoa học, cả chính trị”(9).

Thực tiễn cách mạng và quá trình hoạt động lý luận trên thế giới và ở Việt Nam đều chứng minh rằng khi lý luận tách rời chính trị, nó sẽ không còn là khoa học chân chính. Đảng cần đến lý luận khoa học làm cơ sở cho đường lối chính trị, cũng như lý luận chỉ thực sự khoa học với định hướng chính trị đúng đắn của Đảng, cả hai đòi hỏi đó đều có tầm quan trọng như nhau, đặc biệt là trong giai đoạn phức tạp hiện nay. Và hai đòi hỏi đó là thống nhất - nó là biểu hiện quan trọng nhất của sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Đây chính là kim chỉ nam cho cán bộ lý luận giữ vững định hướng chính trị, không bị rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Hai là, phải có bước đột phá trong nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ lý luận và xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận.

Đảng chỉ có thể làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn sinh động. Phát triển công tác lý luận của Đảng bằng cách tổng kết thực tiễn, tổng kết những cái mới đang hằng ngày, hằng giờ nảy sinh trong đời sống đất nước và cả thế giới, tiếp thu những thành quả trí tuệ của loài người, đó là phương hướng cơ bản để làm giàu trí tuệ của Đảng, để hoàn chỉnh và phát triển đường lối của Đảng. Để làm được điều đó, Đảng không thể không đánh giá đúng mức vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ lý luận và xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận trong tình hình mới. Xét đến cùng, việc xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ lý luận có phẩm chất chính trị vững vàng, có bản lĩnh khoa học cao, đó là vấn đề then chốt nhất.

Trước thực trạng công tác lý luận còn lạc hậu trên một số mặt, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phong phú, phức tạp; chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra; chất lượng nhiều sản phẩm nghiên cứu khoa học lý luận chưa cao; lý luận chưa làm tốt chức năng định hướng cho hoạt động thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trình độ đội ngũ cán bộ lý luận còn bất cập so với yêu cầu mới. Công tác lãnh đạo, quản lý các hoạt động lý luận, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận, chính trị trong nhà trường chậm đổi mới, chưa theo kịp trình độ phát triển và yêu cầu của xã hội thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Vì vậy, trong thời gian tới, Ban Chấp hành Trung ương cần tổng kết Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 1-8-2007, “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, trên cơ sở đó xây dựng và ban hành nghị quyết chuyên đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận trong tình hình mới với những đột phá mới trong nhận thức về mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt là hiện thực hóa các mục tiêu 5 năm (2021 - 2025) và chiến lược đến năm 2045 đưa Việt Nam “trở thành nước phát triển, thu nhập cao” mà Nghị quyết Đại hội XIII xác định.

Nhiệm vụ cấp bách trước mắt là các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, lý luận. Bí thư cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo và thường xuyên quan tâm đến công tác tư tưởng, lý luận. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng hiện đại, gắn với thực tiễn, phù hợp với từng đối tượng, chú trọng nâng cao trình độ, rèn luyện phong cách, trau dồi bản lĩnh chính trị của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, công tác nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, kết luận của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu và làm rõ những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận.

Ba là, dân chủ hóa trong nghiên cứu và sinh hoạt lý luận.

Trước đây và cả hiện nay có một số quan điểm cho rằng: “Lý luận coi như đã được giải quyết tất cả ở đường lối, nghị quyết của Đảng, bài nói và viết của lãnh tụ; công tác lý luận chỉ còn lại nhiệm vụ đơn thuần là thuyết minh đường lối, nghị quyết. Điều đó lâu ngày tạo thành thói quen ỷ lại, thậm chí coi chân lý chỉ có thể phát ra từ một vài người, từ đó đi tới chỗ dựa dẫm vào sự “bao cấp tư duy” từ phía lãnh đạo, không thúc đẩy sự tìm tòi, khám phá, mà lẽ ra đó là chức năng đích thực, là lý do tồn tại chính yếu của khoa học lý luận. Lại cũng vì thế mà tạo ra một quan niệm quá đơn giản rằng, hễ nói gì hơi khác với lãnh đạo, với nghị quyết, là coi như sai phạm chính trị, có thể bị quy chụp đủ thứ... Đường lối đổi mới tư duy của Đảng cho phép và đòi hỏi chúng ta khắc phục sai lầm đơn giản đó, một sai lầm đã kìm hãm một thời phát triển tư duy lý luận của Đảng”(10). Điều này càng được minh chứng khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2021), bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Tuân theo đúng quy luật thì đội ngũ cán bộ lý luận, cơ quan nghiên cứu lý luận phải là lực lượng tiên phong đi tìm chân lý, quy luật chính trị để cung cấp luận cứ khoa học để Đảng và người đứng đầu Đảng ta hoạch định Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng nước ta. Thế nhưng, thay vì làm điều đó thì một số cán bộ lý luận chỉ thuyết minh, phụ họa một chiều. Đành rằng, việc làm này là cần thiết vì tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề mà Đảng và người đứng đầu Đảng ta đã chỉ ra; đồng thời, cũng là đợt sinh hoạt lý luận sâu rộng và rất có ý nghĩa hiện nay. Vì vậy, một mặt, bản thân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải có trình độ lý luận nhất định và khả năng định hướng cho công tác lý luận trong phạm vi cần thiết và điều hết sức quan trọng là Đảng phải xây dựng, sử dụng đội ngũ lý luận của mình và lãnh đạo lý luận một cách khoa học.

Mặt khác, phải phát huy dân chủ trong nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận chính trị. Khoa học phát triển có những đặc điểm riêng. Chẳng hạn, đã là nghiên cứu khoa học thì có thể có sai lầm. Nếu trong chính trị, sai lầm khó tránh khỏi, thì trong tìm tòi khoa học, khả năng phạm sai lầm càng nhiều hơn. Nếu quy ngay những sai lầm đó vào lập trường chính trị, hậu quả có thể rất tai hại. Khoa học cần bầu không khí dân chủ, tự do tư tưởng, vì chỉ trong môi trường ấy, nhà khoa học mới dám có suy nghĩ độc lập và đi đến cùng sự tìm tòi, khám phá của mình. Lý luận, khoa học không thể phát triển, nếu tư tưởng không được giải phóng, nếu thiếu thảo luận, tranh luận. Để đi đến chân lý, nhà nghiên cứu phải rất mực vô tư, khách quan. Chỉ có thái độ thực sự cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật, dám từ bỏ những nhận thức cũ sai lầm, biết nghe lẽ phải, không định kiến, hết sức khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau mới có thể mở mang được kiến thức và đóng góp cho khoa học.

Dân chủ hóa sinh hoạt lý luận, nhưng không thể tách rời tính đảng. Vì vậy, trong nghiên cứu, thảo luận, cần dân chủ và phát huy tự do tư tưởng, nhưng phải dựa trên lý tưởng mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn, nghị quyết Đảng đã thông qua, trong đó mục tiêu tối thượng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Theo đó, cán bộ lý luận “Phải nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng; phải đi sát thực tế, phải liên hệ mật thiết với quần chúng”(11). Đây chính là giải pháp cụ thể hóa nguyên tắc tránh “vơ đũa cả nắm” khi phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ lý luận hiện nay.

Bốn là, tạo hệ động lực cho đội ngũ cán bộ lý luận cống hiến, sáng tạo và phát triển lý luận.

Thực chất của giải pháp này là giải quyết vấn đề lợi ích cho đội ngũ cán bộ lý luận. Kết quả công tác lý luận phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Xác định phương hướng nghiên cứu, tổ chức và quản lý quá trình nghiên cứu, kinh phí đầu tư, điều kiện thông tin, các chế độ chính sách,...; mỗi yếu tố có vai trò riêng, không thể coi nhẹ bất cứ yếu tố nào. Ví dụ, hiện nay đang nổi cộm lên vấn đề ngân sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung, đặc biệt cho khoa học xã hội, cho nghiên cứu lý luận; vấn đề quan tâm và đổi mới các chính sách đối với cán bộ lý luận. Những vấn đề đó nếu không được giải quyết thì rất khó nói đến sự phát triển công tác lý luận và phát triển đội ngũ cán bộ lý luận.

Cần sớm đổi mới các chính sách đãi ngộ đối với cán bộ lý luận nói riêng, cán bộ khoa học nói chung. Trong cải cách chế độ tiền lương, cần quan tâm đãi ngộ đúng mức cả về vật chất và tinh thần; cả lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị cho đội ngũ những người làm khoa học, làm công công tác lý luận; vì đa số họ vừa là đảng viên, vừa là người trí thức của Đảng trong các lĩnh vực nghiên cứu, phát triển lý luận; giảng dạy và truyền bá lý luận. Đặc biệt, phải kịp thời phát hiện và tôn vinh những cống hiến của cán bộ lý luận, nhất là những người có tư duy lý luận đột phá vì lợi ích chung, vì Tổ quốc, vì nhân dân. Đồng thời, tăng cường cung cấp thông tin, mở rộng giao lưu quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ khoa học và các cơ quan khoa học tiếp cận rộng rãi và nhanh nhạy với những phát triển mới của thế giới, đó là điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận giỏi toàn diện./.MT

(1) Nguyễn Đức Bình: “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, in trong sách:  Chủ thuyết cách mạng và phát triển Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr. 207 - 208

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25

(3) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007, tr. 22

(4) Nguyễn Phú Trọng: “Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội - Nhìn từ thực tiễn Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, Số 835, tháng 5-2012, tr. 4
(5) Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, t. 66, tr. 412
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 11, tr. 95
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 264
(8) V.I. Lê-nin, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, t. 1, tr. 421
(9) Nguyễn Đức Bình: “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, in trong sách: Chủ thuyết cách mạng và phát triển Việt Nam, Sđd, tr. 212 - 213
(10) Nguyễn Đức Bình: “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, in trong sách: Chủ thuyết cách mạng và phát triển Việt Nam, Sđd, tr. 222 - 223
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 314

Phê phán các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam

 Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này đã được khẳng định rõ trong các Văn kiện Đảng và trong thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước hơn 35 năm qua. Tuy nhiên, trong âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, thì chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là một trong những mục tiêu mà họ nhắm tới và tìm mọi thủ đoạn thâm độc để chống phá.

Sự tinh vi của những luận điệu chống phá chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Trong thời gian qua, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh chóng với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song các nhân tố bất ổn ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong hơn hai năm qua, đại dịch COVID-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ. Quá trình định hình lại cấu trúc chính trị, kinh tế thế giới đang diễn ra ngày càng nhanh với những tập hợp lực lượng đa dạng, phức tạp, đan xen, tác động nhiều chiều đến hòa bình, an ninh và phát triển của các nước.

Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhiều biến động mới; tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng mà sự chống phá của các thế lực này hướng tới không gì khác là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sự tinh vi của những thủ đoạn này ở chỗ, họ lợi dụng không gian mạng xã hội - nơi khởi phát nhanh chóng những thông tin thật - giả, đúng - sai, tốt - xấu... đa chiều, phức tạp, để tung ra thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thậm chí, một số “nhà hoạt động”, “nhà dân chủ”, “học giả” tự xưng..., kể cả ở ngoài nước, đưa ra những “ý kiến”, “tư vấn”, “phản biện”, tạo những “cơn sóng ngược” trên mạng xã hội, mưu toan gieo rắc tâm lý hoang mang, mất phương hướng, tạo sự bức xúc, tâm lý chống đối, gây mất ổn định xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Chẳng hạn, họ xuyên tạc rằng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc; rằng sự lạc hậu về chính sách đối ngoại sẽ khiến Việt Nam khó giữ được các quan hệ an ninh với các “phên dậu láng giềng”. Rồi họ đưa ra “lời khuyên”, “chỉ đường” cho Việt Nam nên bỏ chính sách “bốn không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”. Xem đây là giải pháp để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Và rằng, một nền dân chủ đích thực sẽ giúp đất nước thoát khỏi tình thế suy yếu, bị chèn ép...

Tính chất nguy hiểm của các luận điệu nêu trên là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, nhất là các nước đối tác, đối tác chiến lược, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

“Chiến dịch quân sự đặc biệt” mà Nga thực hiện ở U-crai-na là một sự kiện quốc tế được các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng triệt để nhằm bóp méo, xuyên tạc chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Quan điểm của Việt Nam hết sức khách quan, rõ ràng, thể hiện qua bốn lần bỏ phiếu, đó là đều khẳng định lập trường nhất quán về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, tiếp tục kêu gọi các bên giảm căng thẳng, ngừng bắn, nối lại đối thoại, tìm giải pháp lâu dài cho các bất đồng trên cơ sở tính tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên liên quan. Phát biểu của Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc trong Phiên họp lần thứ 11 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thể hiện rất rõ quan điểm rằng, Việt Nam hết sức lo ngại về tình hình xung đột vũ trang hiện nay ở U-crai-na, một quốc gia có chủ quyền, thành viên của Liên hợp quốc. Việt Nam cho rằng, điều cấp bách hiện nay là cần kiềm chế tối đa và chấm dứt ngay lập tức việc sử dụng vũ lực để tránh thêm thương vong và tổn thất, đặc biệt là đối với dân thường. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài, cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn, võ đoán, quy chụp rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ”, “không kiên định”, “lập trường không dứt khoát”, “rõ ràng”; rằng Việt Nam “lạc lõng” trước thời cuộc. Từ đó, họ đưa ra những kết luận hàm hồ, vô căn cứ rằng Việt Nam sẽ “mất đi sự ủng hộ của các nước vì thực chất đã “chọn phe””.

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế

Trước hết cần khẳng định, Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này thể hiện rõ trong các nghị quyết, văn kiện Đại hội Đảng và thực tiễn sinh động của đất nước. Trong hơn 35 năm đổi mới, đường lối độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta đã góp phần quan trọng tạo môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện thuận lợi và tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, có thể khẳng định, nhất quán kiên định thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam xuất phát trước hết vì lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại là hòa bình, độc lập, phát triển và hội nhập quốc tế.

Bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu xuyên suốt, nhất thành bất biến, không thể đánh đổi, không thể thỏa hiệp, dù trong bất cứ thời đoạn, hoàn cảnh nào. Trong mỗi bước đường lịch sử cách mạng, trong mỗi giai đoạn và hoàn cảnh khác nhau, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều có những thứ tự ưu tiên trước sau, nhưng mục đích xuyên suốt vẫn là độc lập, chủ quyền, tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta sẽ không vì bất cứ lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ nào mà đánh đổi hoặc nhân nhượng. Đây là nguyên tắc tối cao, bất biến trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, để đạt được và bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, dù nhiều lần đứng trước thách thức nghiệt ngã của lịch sử, nhưng chúng ta vẫn giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, giành chiến thắng từng bước, thậm chí có lúc phải nhân nhượng để tranh thủ khoảng thời gian hòa bình quý báu, tránh tối đa tình thế bất lợi cho cách mạng, đồng thời bảo toàn, củng cố lực lượng, dồn sức cho cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo đảm và bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.

Thưc hiện nhiệm vụ đối ngoại vì lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu tối thượng, hàng đầu, xuyên suốt đã được Đảng ta khẳng định trong các văn kiện đại hội Đảng. Đại hội XI đã nêu rõ mục tiêu đối ngoại là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”. Đại hội XII khẳng định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(1). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”(2).

Theo đó, nhiệm vụ xuyên suốt, bao trùm của đối ngoại là đưa đất nước vào vị trí có lợi nhất trong mọi diễn biến bất định của tình hình thế giới, khu vực, xu thế quốc tế và tương quan lực lượng chính trị thế giới; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ phát triển, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Kiên định thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ

Độc lập, tự chủ trong chính sách đối ngoại là khả năng tự quyết trong các vấn đề liên quan tới hoạch định và triển khai chính sách, chiến lược, hành động của mình, mà không chịu bất kỳ sức ép hay tác động, áp đặt từ các yếu tố bên ngoài, nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Độc lập, tự chủ còn là khả năng đứng vững, chống chịu trước mọi biến động của thời cuộc, thể hiện rõ tinh thần độc lập, tự cường, dựa vào chính mình để bảo vệ lợi ích của đất nước, dân tộc. Độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với biệt lập. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, độc lập, tự chủ chính là sự chủ động tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, xử lý đúng đắn, hài hòa, cân bằng các mối quan hệ lợi ích dân tộc và giai cấp, quốc gia và thời đại. Và trong quá trình mở rộng hợp tác với thế giới, độc lập, tự chủ chính là “mỏ neo” quy định quá trình hội nhập quốc tế. Nói cách khác, độc lập, tự chủ của một quốc gia sẽ quyết định mức độ, phạm vi, chiều hướng hội nhập quốc tế của quốc gia đó.

Hiện nay, thế giới đang trong ngã rẽ của những biến chuyển liên quan đến cạnh tranh nước lớn cũng như những điều chỉnh chính sách của họ. Mọi động thái của các cường quốc đều ảnh hưởng, chi phối đến sự vận động, phát triển của thế giới. Trong môi trường quốc tế bất định, bất an đó, các nước, nhất là các nước nhỏ, đều chuẩn bị cho mình một tâm thế tự chủ, khả năng độc lập trước mọi biến động của tình hình, không ngả nghiêng, dao động, không chịu bất kỳ sức ép bên ngoài nào. Giữa muôn vàn quan hệ lợi ích đa chiều, chồng chéo, đan xen và sự cạnh tranh đối đầu quyết liệt giữa các nước lớn, sức ép của các nước lớn với các nước vừa và nhỏ cũng theo chiều hướng gia tăng, đòi hỏi phải có đối sách thận trọng, mềm dẻo và khôn khéo để duy trì quan hệ cân bằng, tạo thế đan xen lợi ích, giữ được thế trung lập và chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, tránh rơi vào tình trạng đối đầu hay lệ thuộc, vừa bảo vệ độc lập, chủ quyền, vừa bảo vệ hòa bình. 

Độc lập, tự chủ là mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam, là căn cứ quan trọng nhất để hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của nước ta. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong quá trình đấu tranh, bảo vệ, giữ vững nền độc lập Tổ quốc, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đã cho thấy điều đó.

Sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, hội đủ tiền đề nội lực để có thể phát huy thế mạnh, bảo đảm sự tự chủ trong các quyết sách liên quan đến vận mệnh phát triển và an ninh của đất nước. Điều này thể hiện rõ trong sự đi lên của đất nước, với cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng cao. Việt Nam đã tích cực tham gia vào đời sống quốc tế, góp phần tạo dựng, duy trì, củng cố và gìn giữ môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, phát triển. Đảm đương xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN nhiệm kỳ 2020 - 2021, liên tục được bầu chọn vào các vị trí quan trọng trong các tổ chức khu vực, quốc tế là những minh chứng cho một Việt Nam ngày càng tự chủ, tự tin, độc lập. Trước những diễn biến mới, phức tạp của một số quốc gia, khu vực trên thế giới, Việt Nam vẫn luôn kiên trì, kiên định giữ vững lập trường đối ngoại, tạo dựng được lợi thế quốc gia và vị thế quốc tế. Do đó, việc cho rằng Việt Nam  cần đi theo và dựa vào một bên để làm điểm tựa chống lại bên khác như một số “luận điệu rao giảng”, sẽ chỉ là ảo tưởng, phi thực tế và vô căn cứ.

Nhất quán chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa

Trong dòng chảy toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, thực hiện chính sách đối ngoại cân bằng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại là một trong những lựa chọn của không ít các quốc gia trên thế giới nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia.

Trong lịch sử thế giới, mọi quốc gia, dân tộc trong giải quyết các mối quan hệ đối ngoại đều đề cao và đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc mình lên trên hết. Đặc biệt, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, vừa là đối thủ, vừa là đối tác của nhau. Không có một quốc gia nào vì quyền lợi nước khác mà hy sinh quyền lợi của nước mình. Do đó, quan điểm liên minh với nước này để chống nước khác hoàn toàn là phi thực tế. Hơn nữa, nếu chỉ trông chờ ảo tưởng vào sự trợ giúp của nước ngoài thì quốc gia đó sẽ trở thành quân cờ trong bàn cờ chiến lược của họ. Nếu chỉ dựa vào một bên, rơi vào quỹ đạo ảnh hưởng của nước khác, không sớm thì muộn, sẽ trở thành đối tượng chiến lược, đối đầu với nước lớn khác, thậm chí còn làm trầm trọng, căng thẳng và phức tạp thêm tình hình. Nó sẽ khiến quốc gia phải lệ thuộc vào chính sự lựa chọn này, là một trong những nguồn gốc làm mất tính độc lập, tự chủ, làm xói mòn sức mạnh, vị thế của đất nước. Nhiều bài học xương máu của các nước trong lịch sử và cả hiện tại minh chứng rõ điều đó.

Bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện nay buộc các nước, nhất là các nước vừa và nhỏ, phải có chính sách đối ngoại khôn khéo, giữ cân bằng quan hệ trên tinh thần đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp với luật pháp quốc tế. 

Mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị - xã hội là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thể hiện  trong các văn kiện Đại hội. Trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là trong thời gian vừa qua, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế quốc tế. 

Thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, đan xen lợi ích với các đối tác chính là nhằm giúp đất nước tránh bị “ngả” về một bên, tránh bị lệ thuộc hoặc bị “kẹt” trong những toan tính chiến lược của các nước khác, bảo đảm sự vững vàng về tâm thế độc lập, tự chủ thông qua sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa nước ta với các nước trên thế giới.

Lịch sử dân tộc đã chứng minh, để bảo vệ được chủ quyền, độc lập dân tộc,  ông cha ta đã phải rất khéo léo trong việc xử lý mối quan hệ bang giao. Nằm ở vị trí địa - chính trị xung yếu, trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn phải đối mặt với việc xử lý mối quan hệ với các nước lớn. Do vậy, sự lựa chọn duy nhất trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ buộc ông cha ta phải đứng lên chống ngoại xâm, giành và bảo vệ vững chắc độc lập, song vẫn phải giữ đối sách ứng xử mềm, khôn khéo nhằm bình ổn đất nước, giữ yên bờ cõi.

Ngoại giao đa phương trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chính sách đối ngoại làm bạn với tất cả các nước, không gây thù oán với ai đã được Người vận dụng khéo léo trong mọi hoàn cảnh. Năm 1947, thay mặt nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người gửi thông điệp tới nhân dân toàn thế giới là: Việt Nam chủ trương làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai(3). Người hết sức coi trọng tình hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; mở rộng bang giao với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đối với kẻ thù khi bị sa lầy, bại trận, Người luôn tạo điều kiện, sẵn sàng mở cho đối phương một con đường rút lui trong danh dự. Trong ứng xử với các nước lớn, Người luôn khôn khéo xây dựng và giữ gìn được mối quan hệ tốt đẹp, tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của dân tộc. Khoan hòa, nhưng rất kiên quyết, kiên định nguyên tắc với kẻ thù. Người từng chỉ rõ, nguyên tắc thì phải vững chắc, nhưng sách lược cần linh hoạt. Chính vì vậy, cách ứng phó linh hoạt, mềm dẻo của Người, thậm chí có lúc chấp nhận lùi một bước để tiến những bước xa hơn, không những tranh thủ được thời cơ vàng để đưa cách mạng tiến lên, mà còn thu phục được sự nể trọng của đối phương.

Đường lối ngoại giao đa phương của Việt Nam ngày nay mang dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Đó là, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(4). Trong triển khai chính sách đối ngoại đa phương, Việt Nam xây dựng, củng cố, phát triển mạng lưới quan hệ quốc tế đa dạng, duy trì cân bằng quan hệ với các nước lớn, “coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng;... đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy”(5).

Đối với các nước lớn, Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại “không chọn bên”, đặt mục tiêu lợi ích quốc gia trong ứng xử với các nước này. Tăng cường đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều đối tác sẽ giúp tạo nên một không gian lựa chọn rộng lớn nhiều chiều, nhiều tuyến, nhiều tầng nấc... nhằm tránh bị lệ thuộc vào một vài đối tác, thị trường, thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích an ninh và phát triển của Việt Nam, góp phần huy động những nguồn lực và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong điều kiện hiện nay, giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn được hiểu là không ngả nghiêng, dao động, không chịu sức ép trước sự lôi kéo, tác động ảnh hưởng từ bên ngoài. Cân bằng trong quan hệ đối ngoại thể hiện sự độc lập, tự chủ trong chính sách, tránh sự lệ thuộc một chiều vào một bên. Trong thế giới toàn cầu hóa và cạnh tranh nước lớn, giữ được thế cân bằng đòi hỏi phải có thực lực và tinh thần tự chủ. Trong hơn 35 năm đổi mới, thực lực cũng như  vị trí, vai trò của Việt Nam trên thế giới không ngừng được nâng cao. Quan hệ song phương và đa phương của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực ngày càng mở rộng, đi vào thực chất, hiệu quả. Việt Nam giữ vững chính sách quốc phòng “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Theo đó, chúng ta không dựa vào bên nọ để chống bên kia và ngược lại; phát triển quan hệ đối ngoại đa phương, thiết lập, củng cố quan hệ với tất cả các nước, nhất là các đối tác chiến lược; gia tăng đan xen lợi ích chung với nhiều nước, tranh thủ tối đa và tạo sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế; ngăn ngừa nguy cơ và đối phó hiệu quả với mọi hình thức chiến tranh xâm lược...

Đứng vững trên cơ sở luật pháp quốc tế, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc.

Thực tế sinh động diễn ra trong hơn 35 năm đổi mới, nhất là những năm gần đây, đã minh chứng cho tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Với mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam đã góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại của Việt Nam được mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định; chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; đời sống nhân dân được nâng cao, cải thiện. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)... Trong thực hiện đường lối đối ngoại, Việt Nam luôn tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Đối với những vấn đề phức tạp của các quốc gia, Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn phát huy vai trò thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt các nghĩa vụ đối ngoại. Vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Thực tế đó là minh chứng không thể phủ nhận về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược phức tạp và nhiều xu hướng tập hợp lực lượng đa chiều hiện nay./.MT

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 153
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 117 – 118
(3) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 5, tr, 256
(4), (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, tr. 162, 163

CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI AN NINH TƯ TƯỞNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 Sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông xã hội đã tác động đến mọi mặt đời sống xã hội và đang đặt ra những thách thức to lớn đối với vấn đề an ninh quốc gia, trong đó có an ninh tư tưởng ở nước ta. 

Theo khoản 22, Điều 3, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-7-2013, của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, mạng xã hội (social network) - loại hình chủ đạo trong các phương tiện truyền thông xã hội (social media) - “là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác”. 

Các phương tiện truyền thông xã hội ở nước ta hiện nay có 2 loại: 1- Các phương tiện truyền thông xã hội trong nước với các ứng dụng có số lượng người sử dụng khá lớn, như: Zalo, Zing, Otofun, Gapo và Lotus…; 2- Các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài, như Facebook, Youtube, Instagram, Twitter… Trong đó, các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài có nhiều ứng dụng nổi trội hơn hẳn nhờ cấu trúc phong phú, giao diện thu hút, khả năng tương tác và liên kết cộng đồng cao. 

Với số lượng hàng tỷ người trên thế giới tham gia và gia tăng nhanh chóng từng ngày, từng giờ, các phương tiện truyền thông xã hội đang tạo ra một xã hội “ảo” tồn tại song song với xã hội thực và trở thành một “mặt trận” mới về an ninh ở các quốc gia. 

An ninh tư tưởng là một vấn đề lớn, vừa thuộc phạm trù chính trị, vừa thuộc phạm trù văn hóa và liên quan mật thiết đến an ninh quốc gia. Mục tiêu của công tác an ninh tư tưởng trong bối cảnh các phương tiện truyền thông xã hội bùng nổ là bảo đảm hệ tư tưởng của Đảng ta giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta, chiếm vị trí quan trọng trên không gian mạng và có khả năng dẫn dắt các xu hướng tư tưởng khác; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống lại các âm mưu chống phá và các hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, truyền bá những nội dung phản văn hóa… diễn ra trên không gian mạng. 

Bảo vệ an ninh trên các phương tiện truyền thông xã hội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các quốc gia hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cần có sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, quan điểm, phương pháp, cách thức triển khai, cũng như việc xác định đối tượng hướng tới để có những giải pháp hiệu quả, thiết thực, phù hợp với điều kiện mới.

Thực tiễn một số nước trên thế giới trong những năm gần đây cho thấy, các phương tiện truyền thông xã hội đã có những tác động, ảnh hưởng lớn đến chính trị. Các phương tiện truyền thông xã hội đóng vai trò là những công cụ tập hợp lực lượng, dẫn dắt trong các cuộc biểu tình, đấu tranh, như các trường hợp của “mùa Xuân Arập” ở Bắc Phi và Trung Đông (năm 2010), hay như phong trào biểu tình ở Hong Kong (năm 2014), phong trào “biểu tình áo vàng” ở Pháp (2018 - 2019)… Các biến động chính trị này xảy ra do nhiều nguyên nhân và trong những điều kiện khác nhau, nhưng đều có điểm chung là sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phát tán những thông tin tiêu cực, kích động rất nhiều người đến từ các vùng, miền khác nhau tham gia biểu tình chống phá… Hình ảnh về cuộc biểu tình được chia sẻ rộng rãi trên các phương tiện truyền thông xã hội đã kích động những người khác tiếp tục xuống đường và làm cho các cuộc biểu tình này diễn ra liên tiếp theo nhiều đợt khác nhau(1), phá rối an ninh, thậm chí gây bạo loạn quy mô lớn, như phong trào biểu tình “Chiếm phố Wall” được phát động từ mạng xã hội lan rộng trên khắp nước Mỹ, sau đó lan ra hơn 1.500 thành phố trên toàn thế giới chỉ sau một tháng. Ngoài ra, các phương tiện truyền thông xã hội còn là môi trường cho các tổ chức khủng bố quốc tế, như IS, Al Qaeda... hoạt động tuyên truyền, tuyển lựa, huấn luyện và chỉ đạo hoạt động, gây ra mối lo ngại sâu sắc cho cộng đồng quốc tế(2). Các phương tiện truyền thông xã hội đang tồn tại rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với an ninh chính trị của các quốc gia. 

Theo số liệu thống kê của tổ chức Internet World Stats, tính đến tháng 1-2022, Việt Nam là quốc gia có lượng người sử dụng internet cao thứ 14 trên thế giới và đứng thứ 8 trong tổng số 35 quốc gia, vùng lãnh thổ khu vực châu Á(3); có hơn 72,1 triệu người dùng internet, tương ứng với 73,2% dân số cả nước, với khoảng có 76,95 triệu người dùng các phương tiện truyền thông xã hội, tương đương với 78,1% dân số, tăng 5 triệu tài khoản so với năm 2021. Điều này khiến cho các phương tiện truyền thông xã hội trở thành một kênh thông tin quan trọng của người dân... Hằng ngày, mỗi người Việt Nam dành 6 giờ 38 phút để truy cập internet (gần tương đương với mức bình quân của thế giới là 6 giờ 58 phút), xếp thứ 26 trên thế giới về lượng thời gian sử dụng internet mỗi ngày; trong đó, khoảng 2 giờ 28 phút sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, gần tương đương với mức trung bình của thế giới (2 giờ 27 phút)(4). Các phương tiện truyền thông xã hội được sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam lần lượt là: Facebook, Zalo, Messenger, Tiktok, YouTube, Instagram, Twitter(5)... Trung bình mỗi người dùng khoảng 7,4 nền tảng phương tiện truyền thông xã hội khác nhau để phục vụ những nhu cầu như liên lạc với bạn bè, gia đình, đọc tin tức, “bắt trend”,… Facebook giữ vị trí dẫn đầu với 93,8% tài khoản dùng thường xuyên hằng tháng và Zalo vươn lên vị trí thứ hai với 91,3%. Theo sau là Facebook Messenger, TikTok, Instagram, Twitter… Điều này tạo nên một cộng đồng các phương tiện truyền thông xã hội Việt Nam hết sức đông đảo, đa dạng về thành phần, trình độ, văn hóa...

Trong điều kiện không gian mạng nói chung và các phương tiện truyền thông xã hội nói riêng phát triển mạnh mẽ như hiện nay, an ninh tư tưởng của đất nước đang đứng trước những thách thức mới và phức tạp. 

Thứ nhất, với tính chất rộng mở, tự do của các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch xác định đây là một trong những mặt trận chính để thực hiện mục tiêu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta; chia rẽ nội bộ, phá hoại mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; làm cho người dân hoài nghi về vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ cắt xén, thêm bớt, ngụy tạo các sản phẩm thông tin thật - giả rất khó phân biệt, phát tán trên các nền tảng truyền thông xã hội trực tuyến, như Facebook, Instagram, Youtube... để tuyên truyền sai sự thật về tình hình chính trị trong nước; kết nối, tập hợp lực lượng nhằm chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, các phần tử thù địch, phản động từ nước ngoài ra sức hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” các đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, khiến công tác đấu tranh của ta thêm khó khăn, phức tạp.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động không ngừng đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng phi mác-xít, cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời, không ngừng rao giảng, đề cao tư tưởng phương Tây, khoác áo “khách quan học thuật”, “văn hóa, văn minh” để quảng bá về cái gọi là “các giá trị phương Tây”.

Thứ ba, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các biện pháp kỹ thuật để tấn công mạng, đe dọa an toàn, an ninh mạng của nước ta. Mỗi năm, có hàng nghìn trang mạng của nước ta bị tấn công, chỉnh sửa, chèn thêm nội dung, cài mã độc, trong đó có hàng trăm trang tên miền “gov.vn” của các cơ quan nhà nước. Nhiều thiết bị kết nối internet tồn tại lỗ hổng bảo mật, tạo cơ hội để tin tặc khai thác thông tin phục vụ mục đích an ninh, tình báo, thương mại, theo dõi các nguồn tin, nghe trộm các cuộc thoại; thu chặn, sửa đổi hoặc nghe lén các gói tin truyền trên internet; từ đó khuấy động, xuyên tạc thông tin, tạo dư luận giả, gây hoang mang cho công chúng và tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của nhân dân. 

Để đấu tranh bảo đảm an ninh tư tưởng của đất nước trên các phương tiện truyền thông xã hội có hiệu quả, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng, công tác an ninh mạng nói riêng và an ninh quốc gia nói chung. Trên không gian mạng, chủ động tăng cường nội dung mang tính tích cực, lan tỏa những giá trị tốt đẹp, nhất là những giá trị về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới…

Thứ hai, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, chuẩn bị các luận cứ khoa học thuyết phục, phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc; làm cho không gian mạng thực sự lành mạnh, an toàn. Tập trung đi sâu nghiên cứu, giải đáp những vấn đề mà dư luận xã hội còn nhiều ý kiến khác nhau. Tiếp tục nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những giá trị tư tưởng, văn hóa tinh hoa của nhân loại, làm phong phú đời sống tư tưởng, tinh thần của xã hội, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội.

Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến hệ tư tưởng chủ đạo trên các phương tiện truyền thông xã hội bằng hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp. Trong thời đại internet với sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông xã hội, cần đổi mới công tác tư tưởng bằng nhiều hình thức sinh động và dễ lan tỏa, hấp dẫn, có khả năng tương tác mạnh mẽ.  

Thứ tư, cần xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các dư luận viên trên không gian mạng. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các KLO trên không gian mạng, là những người có uy tín, có ảnh hưởng lớn trên các phương tiện truyền thông xã hội (người của công chúng, các trí thức, văn nghệ sĩ); hướng dẫn họ thể hiện các quan điểm, nhận xét phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, tăng cường theo dõi, rà quét để kịp thời phát hiện và ngăn chặn sự xâm nhập của các luồng tư tưởng lai căng, phức tạp, đi ngược lại những giá trị tư tưởng, văn hóa, chuẩn mực trên các phương tiện truyền thông xã hội. Cần hết sức quan tâm đến lực lượng thanh, thiếu niên - là lực lượng tích cực nhất trên các phương tiện truyền thông xã hội hiện nay - cung cấp thông tin đầy đủ giúp họ đủ nền tảng kiến thức, có đủ “sức đề kháng” để nhận diện đúng - sai và không bị xúi giục, làm theo những tư tưởng, lối sống lệch lạc, xa lạ với truyền thống tư tưởng, văn hóa của dân tộc.

Thứ năm, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và quản lý không gian mạng thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội coi trọng tuân thủ pháp luật, chuẩn mực đạo đức xã hội, văn hóa, đủ năng lực nhận biết, phân biệt đúng - sai, thật - giả, tích cực đấu tranh, phê phán các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, độc hại trên không gian mạng. Quản lý chặt chẽ các dịch vụ trên không gian mạng xuyên biên giới vào Việt Nam; các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trên lãnh thổ Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Rà soát, quy hoạch lại các hệ thống kết cấu hạ tầng cung cấp dịch vụ viễn thông, internet bảo đảm ngăn chặn hiệu quả tấn công mạng và loại bỏ thông tin gây nguy hại đến an ninh quốc gia; tập trung quản lý chặt chẽ các loại hình thông tin trên không gian mạng, đặc biệt là mạng xã hội, trang thông tin điện tử, blog… hoạt động theo đúng quy định của pháp luật./.MT

ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG - BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ SỚM, TỪ

  Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng  đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, đặc biệt, trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1). Để bảo vệ và phát huy thành quả đạt được, chúng ta cần phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, trong đó, đối ngoại quốc phòng được coi là kế sách “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình.

Ngay từ khi mới ra đời năm 1930 và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã cho thấy, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh, và nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; có vị thế, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế.

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu: 1- Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; 2- Đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; 3- Đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Theo đó, khát vọng phát triển đất nước của Việt Nam chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo đảm ổn định chính trị, xã hội. Chính vì vậy, “bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”(2), nhất là trong bối cảnh hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, gắn chặt đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng.


Đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng nhiều biện pháp khác nhau: một mặt, xây dựng quan hệ bang giao, hòa hiếu, hữu nghị với các nước láng giềng; mặt khác, chủ động xây dựng lực lượng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa. Người khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”(3) và căn dặn toàn dân, toàn quân Việt Nam: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”(4).

Kế thừa quan điểm, tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý báu ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là cần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, đồng thời triển khai toàn diện trên mọi lĩnh vực, phương diện của đất nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ, để thực hiện được các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thì một trong những nhiệm vụ là chúng ta phải “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(5). Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII cũng chỉ rõ: “nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế”(6). Điều này thể hiện sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Đảng ta, đồng thời cũng cho thấy vai trò của công tác đối ngoại và hoạt động đối ngoại quốc phòng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong đó, ngoại giao được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và quân đội được coi là lực lượng then chốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cụ thể:

Một là, sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thể hiện thông qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XIII). Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã có sự đổi mới về tư duy đối ngoại, tạo bước chuyển trong mọi hoạt động hợp tác quốc phòng, chuyển từ tình trạng “đối đầu” sang “đối thoại”, “thêm bạn, bớt thù”, “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới”(7). Đại hội VII đã đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình(8). Đại hội VIII khẳng định “Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế”; “đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại” với phương châm “muốn là bạn của tất cả các nước”(9).

Năm 2003, Đảng ta đề ra Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thay đổi quan niệm bạn - thù sang linh hoạt xác định đối tác, đối tượng; lĩnh vực hợp tác quốc phòng đã được đề cập cụ thể hơn trong các văn kiện Đại hội. Đại hội IX xác định “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế”(10). Đây là lần đầu tiên Đảng ta đề ra chủ trương xây dựng quan hệ đối tác và thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong quan hệ quốc tế. Với tinh thần này, đối ngoại và hợp tác quốc phòng được triển khai mạnh mẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, cả trên bình diện song phương và đa phương. Đại hội X khẳng định: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”(11). Đại hội XI bổ sung và phát triển toàn diện hơn khi xác định: “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(12). Đáng chú ý, lần đầu tiên trong các kỳ Đại hội của Đảng, công tác đối ngoại quốc phòng được khẳng định rõ ràng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội XI của Đảng đã xác định nhiệm vụ quan trọng “Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”(13). Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội XI, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, trong đó nhấn mạnh, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là định hướng, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình. Thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cả song phương và đa phương đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc. Đây là định hướng cơ bản, tạo nền tảng vững chắc góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XII tiếp tục khẳng định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(14). Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(15). Đại hội XIII chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 là “nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước”(16). Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng về hội nhập quốc tế, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, “Về hội nhập quốc tế”, trong đó lần đầu tiên nêu rõ những định hướng hội nhập quốc phòng, gồm: “Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác song phương về quốc phòng, an ninh với các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống” và “Chủ động và tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà nước ta là thành viên, trước hết là các cơ chế trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN làm chủ đạo”(17).

Có thể thấy, sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng đã được hoàn thiện sâu sắc hơn qua các kỳ Đại hội, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước qua từng thời kỳ. Đặc biệt, đối ngoại và hợp tác quốc phòng ngày càng được coi trọng và được coi là kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Sự đổi mới về tư duy đối ngoại này của Đảng đã góp phần thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế về quốc phòng ngày càng sâu rộng, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện của Đảng và Nhà nước ta.

Hai là, sự nhất quán trong chủ trương, mục tiêu hợp tác quốc phòng. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2004 xác định, chủ trương đối ngoại quốc phòng là “thiết lập và phát triển quan hệ giao lưu, hợp tác trên cơ sở bình đẳng, hiểu biết lẫn nhau với lực lượng vũ trang các nước khác”(18) Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 nhấn mạnh: “Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước”; “sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển” trên tinh thần “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào”(19)  và “Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”(20). Với mong muốn “thêm bạn, bớt thù”, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác quốc phòng song phương và đa phương với các nước, tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cùng có lợi, sẵn sàng tham gia giải quyết những thách thức an ninh chung trên cơ sở tôn trọng, tuân thủ luật pháp quốc tế, như Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 xác định: “Việt Nam xem xét tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương và cơ quan pháp lý quốc tế khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia”(21).

Có thể thấy, chủ trương đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Việt Nam đã thể hiện rõ bản chất của Quân đội Nhân dân Việt Nam là yêu hòa bình, vì hòa bình, chiến đấu để bảo vệ hòa bình, mang tính chất tự vệ để bảo vệ chính nghĩa.

Với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, năng động, sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng và chức năng nhiệm vụ đặc thù của lực lượng vũ trang, mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là “góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững hòa bình và an ninh ở khu vực và trên thế giới”(22). Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, xác định đối ngoại quốc phòng nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình; tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, đối ngoại quốc phòng còn nhằm mục tiêu duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới; thể hiện trách nhiệm trước các vấn đề của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa

Trong những năm qua, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng không ngừng được đẩy mạnh, có những bước phát triển đột phá cả về nhận thức và hành động; góp phần nâng cao vị thế của đất nước, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Đối ngoại quốc phòng đã trở thành một kênh quan trọng, góp phần củng cố và phát triển quan hệ của Việt Nam với các quốc gia, tổ chức, khu vực trên thế giới. Các hoạt động đối ngoại quốc phòng đã thúc đẩy củng cố lòng tin chiến lược, xây dựng quan hệ hữu nghị với các đối tác. Việt Nam đã tham gia nhiều cơ chế, diễn đàn quốc phòng, quân sự đa phương khu vực, quốc tế và có đóng góp tích cực, quan trọng vào các cơ chế, diễn đàn này. Qua đó, vị thế, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày càng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có đầy đủ năm nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thiết lập Tùy viên quốc phòng tại hơn 30 nước và đã có hơn 40 nước thiết lập Tùy viên quốc phòng tại Việt Nam.

Trong khu vực, với việc chủ động, tích cực tham gia các cơ chế quốc phòng, quân sự của ASEAN ngay từ những ngày đầu thành lập, Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí, vai trò trong các hoạt động hợp tác quốc phòng, quân sự của ASEAN, đặc biệt trong cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Thành công nhất khi tham gia các cơ chế này là Việt Nam đã chuyển từ tham gia thuần túy sang chủ động làm chủ “cuộc chơi”, xây dựng và thiết kế “luật chơi”; trở thành một thành viên có tiếng nói quan trọng tại các diễn đàn. Các đề xuất, sáng kiến hợp tác của Việt Nam luôn được các nước đánh giá cao và đã chứng minh được hiệu quả khi triển khai trên thực tế. Việt Nam đã xây dựng được hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm, chủ động, tích cực trong hợp tác quốc phòng, quân sự ASEAN.

Trên trường quốc tế, với việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam đã và đang khẳng định được vị thế, uy tín, hình ảnh của một quốc gia có tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng quốc tế. Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là một trong những trụ cột của đối ngoại quốc phòng, là điểm sáng trong quan hệ đa phương của Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm gần đây. Đáng chú ý, để tạo hành lang pháp lý cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, ngày 13-11-2020, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Điều này thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, khẳng định sự tham gia lâu dài của Việt Nam đối với sứ mệnh gìn giữ và kiến tạo hòa bình ở khu vực và trên thế giới, phù hợp với chủ trương đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Những chiến sĩ mũ nồi xanh của Việt Nam đã giành được sự ủng hộ của nhân dân các nước nơi mà chúng ta đặt chân tới và lan tỏa sự ủng hộ lòng yêu mến dân tộc Việt Nam tới nhân dân các nước khác. Đây là một tài sản tinh thần quý báu góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam từ sớm, từ xa.

Những kết quả đạt được trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng cùng với thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao không chỉ phát triển cả về bề rộng, mà còn phát triển cả về chiều sâu đã góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; là tiền đề quan trọng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa, tạo động lực mới để chúng ta tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Quán triệt sâu sắc các luận điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục và nỗ lực cố gắng hiện thực hóa mục tiêu “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”(23), góp phần thắng lợi vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực hiện định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”, đối ngoại quốc phòng Việt Nam sẽ tích cực đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế cả trên bình diện song phương và đa phương hiệu quả, thiết thực, góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam nói chung, quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế, tiếp tục lan tỏa hình ảnh và phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” ra toàn thế giới.

Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, thành tựu nổi bật nhất là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia##- dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước”(24). Đối ngoại quốc phòng là bộ phận của đối ngoại quốc gia đã góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, nỗ lực không để xảy ra xung đột, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, thuận lợi và thách thức, cơ hội và nguy cơ đan xen; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, ổn định của đất nước luôn bị đe dọa, nhiệm vụ đặt ra cho Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng nặng nề. Chính vì vậy, để thực hiện “kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình”, góp phần củng cố vững chắc “tuyến phòng thủ đầu tiên”, đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục thực hiện phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, không ngừng đổi mới, tham mưu hiệu quả cho Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực liên quan để có đối sách kịp thời, giành thắng lợi to lớn trên bàn đàm phán, chiến thắng trên mặt trận ngoại giao, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng để góp phần củng cố nội lực, tranh thủ nguồn lực và sự hỗ trợ từ bên ngoài về cả vật chất và tinh thần để xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước, tạo thế và lực, khẳng định vị thế trên trường quốc tế./.MT