Thứ Tư, 11 tháng 1, 2023

TIẾP TỤC KHẲNG ĐỊNH HÌNH ẢNH, UY TÍN, TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆT NAM TRONG ASEAN

 

Sáng 09/01, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao, với vai trò cơ quan điều phối quốc gia về ASEAN, đã chủ trì cuộc họp liên bộ, ngành tổng kết, đánh giá hợp tác ASEAN, tham gia của Việt Nam năm 2022 và phương hướng năm 2023 với sự tham dự của đông đảo đại diện các bộ, ngành tham gia hợp tác ASEAN.


Phát biểu chỉ đạo cuộc họp, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đánh giá cao sự tham gia tích cực và đóng góp của các bộ, ngành trong hợp tác ASEAN năm 2022. Bộ trưởng nhấn mạnh trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp với hệ lụy kéo dài, dai dẳng của nhiều vấn đề, các bộ, ngành cần chuẩn bị kỹ kế hoạch cho năm 2023, nhất là cần tìm ra những cơ hội, khai thác tiềm năng mới, vừa tiếp tục đóng góp cho tiến trình hợp tác chung ASEAN, vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, cần phát huy tinh thần chủ động, tích cực, có trách nhiệm, linh hoạt và sáng tạo của Việt Nam theo Chỉ thị 25-CT/TW ngày 08/8/2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030. Theo đó, Bộ trưởng đề nghị các bộ, ngành rà soát tổng thể quá trình tham gia hợp tác ASEAN, nhận diện các khó khăn, thách thức, rút ra các bài học kinh nghiệm, làm cơ sở xây dựng Kế hoạch tham gia của Việt Nam trong năm 2023 và những năm tiếp theo; nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành là một trong các yếu tố quyết định cho thành công và hiệu quả tham gia của Việt Nam trong ASEAN.


Chủ trì cuôc họp, Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt nhận định năm 2022 là một năm nhiều thách thức đối với ASEAN, cả từ bên trong và bên ngoài. Tác động cộng hưởng của đại dịch COVID-19, xung đột Nga-Ukraine, cạnh tranh chiến lược gay gắt gây ra nhiều khó khăn, khiến quá trình phục hồi sau dịch bệnh còn nhiều bấp bênh và chưa đồng đều. Tình hình tại nhiều điểm nóng như Myanmar, Biển Đông, Bán đảo Triều Tiên, Eo biển Đài Loan, cùng các thách thức phi truyền thống diễn biến khó lường, đặt ra nhiều thử thách cho đoàn kết, vai trò trung tâm, và uy tín của ASEAN.


Trong bối cảnh đó, vững vàng trong gian khó đúng như chủ đề “ASEAN Hành động: Cùng ứng phó các thách thức”, ASEAN đã vượt qua những khó khăn bằng tinh thần đoàn kết, tương trợ, phát huy trách nhiệm và tiếng nói chung trong các vấn đề khu vực và toàn cầu. Kinh tế khu vực là điểm sáng với mức tăng trưởng khả quan trên 5%. Tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN ghi nhận tiến triển tích cực trên tất cả các kênh hợp tác từ quốc phòng, kinh tế, thương mại, tài chính, giao thông vận tải, lao động, giáo dục, y tế, thể thao, văn hóa, thông tin, khoa học công nghệ….  Đặc biệt, việc khởi động soạn thảo Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2025 ngay từ đầu năm 2022 cho thấy sự quan tâm và quyết tâm của các nước trong việc củng cố Cộng đồng ASEAN ngày càng tự cường và vững mạnh. 


Quan hệ đối ngoại của ASEAN chứng kiến nhiều bước phát triển mạnh mẽ như thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ, Ấn Độ; đồng ý về nguyên tắc nâng cấp quan hệ với Canada và ghi nhận nhiều đề xuất khác. Các đối tác coi trọng và mong muốn đưa hợp tác với ASEAN ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, thúc đẩy nhiều đề xuất về chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, phát triển bền vững. Các cơ chế do ASEAN dẫn dắt như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á hay Diễn đàn Khu vực ASEAN tiếp tục chứng tỏ giá trị chiến lược trong việc thúc đẩy hợp tác thiện chí và đối thoại thẳng thắn về các vấn đề cùng quan tâm.


Đại diện các bộ, ngành thông tin về kết quả cụ thể của hợp tác ASEAN tại các kênh chuyên ngành với nhiều nội dung mới, thực chất. Hợp tác an ninh, quốc phòng được thúc đẩy, đóng góp quan trọng vào việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Liên kết kinh tế ngày càng sâu sắc với việc khởi động đàm phán nâng cấp Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN, thúc đẩy quá trình phục hồi kinh tế thông qua kinh tế số và chuyển đổi số, xây dựng Khung Kinh tế Tuần hoàn ASEAN, tăng cường tài chính bền vững, mở rộng và đưa hợp tác với các đối tác đi vào chiều sâu qua các FTA+ và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)… Trụ cột Văn hóa - Xã hội triển khai tích cực nhiều hoạt động, bao phủ cả 15 lĩnh vực chuyên ngành, tập trung ứng phó thách thức mới nổi như dịch bệnh, già hóa dân số…, nâng cao giá trị nhận thức và bản sắc khu vực, thúc đẩy tinh thần chia sẻ và đùm bọc, cùng vượt qua đại dịch, phục hồi kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Ngoại giao nghị viện, giao lưu nhân dân, hợp tác thanh niên được thúc đẩy mạnh mẽ, góp phần tạo sự gắn kết bền chặt và hữu nghị giữa các nước. 


Đánh giá sự tham gia của Việt Nam trong năm qua, các đại biểu cho rằng các bộ, ngành đã tham gia đầy đủ, tích cực, phối hợp chặt chẽ với nước Chủ tịch Campuchia và các nước ASEAN trên tất cả các kênh đóng góp vào thành công chung của ASEAN, lồng ghép và thúc đẩy nhiều vấn đề thuộc quan tâm và lợi ích của Việt Nam như phục hồi toàn diện, phát triển bao trùm, hợp tác tiểu vùng, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh thông tin…, chủ động đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực được các nước đánh giá cao. Trong năm qua, Việt Nam đã đăng cai và chủ trì thành công nhiều hoạt động quan trọng, góp phần vào nỗ lực chung của cả ASEAN trong việc nối lại quỹ đạo hợp tác, như Hội nghị Tư lệnh Lục quân các nước ASEAN lần thứ 23, Diễn đàn Pháp luật ASEAN 2022, Hội nghị những người đứng đầu các nền công vụ ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục ASEAN, thúc đẩy thành lập Trung tâm ASEAN ứng phó với các tình huống y tế khẩn cấp (ACPHEED)…


Phát huy thành công của những năm qua, cuộc họp nhất trí tiếp tục phương châm tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam, đóng góp xây dựng vào việc hiện thực hóa các ưu tiên, trọng tâm của ASEAN trong năm 2023, duy trì đoàn kết và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN, thúc đẩy triển khai đúng hạn các Kế hoạch tổng thể trên ba trụ cột, xây dựng Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2025, lồng ghép và thúc đẩy hiệu quả các vấn đề thuộc quan tâm và lợi ích của Việt Nam, đồng thời cải tiến cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin kịp thời và thông suốt giữa các bộ, ngành nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả tham gia của Việt Nam thời gian tới, tiếp tục khẳng định hình ảnh, uy tín, trách nhiệm của Việt Nam trong ASEAN.

ST


TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG", "DỌC NGANG THÔNG SUỐT" HIỆN THỰC HÓA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG 

 

Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị của Chính phủ với lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vừa qua để lại dấu ấn sâu sắc trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.


Đặc biệt, bốn bài học mà Tổng Bí thư nêu ra là sự chắt lọc, kết tinh từ thực tiễn đất nước, có ý nghĩa rất lớn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đối với cấp ủy, chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.


Năm 2022 có nhiều khó khăn, thách thức lớn với những diễn biến phức tạp hơn dự báo và có lĩnh vực khả năng còn khó khăn hơn nhiều trong năm 2023. Trong bối cảnh ấy, theo nhận định của Quỹ tiền tệ quốc tế, Việt Nam là điểm sáng “trong bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu.


Để phát huy kết quả đạt được, khắc phục hạn chế, yếu kém, hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ năm 2023, Tổng Bí thư cho rằng cần tiếp tục kế thừa, phát huy ba bài học đã được rút ra trước đây, đồng thời bổ sung thêm một bài học mới, đó là nâng cao hơn nữa năng lực dự báo, chủ động nắm chắc tình hình, xử lý hiệu quả các vấn đề nảy sinh,...


Đoàn kết thống nhất, bài học xuyên suốt mọi thời đại


Đây là một trong những bài học mang giá trị lịch sử, xuyên suốt quá trình dựng nước, giữ nước; quá trình đấu tranh cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và dân tộc ta được Tổng Bí thư nhắc đến nhiều lần trong các sự kiện chính trị quan trọng, hay các hội nghị toàn quốc quán triệt triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị gần đây.


Tại Hội nghị Chính phủ lần này, thêm một lần nữa, Tổng Bí thư nhấn mạnh bài học này: Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”. Đây không chỉ là tinh thần đoàn kết, thống nhất mà còn là bài học về ý chí, hành động phải triệu người như một của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và nhân dân ta ở mọi miền Tổ quốc trong tổ chức thực hiện các quyết sách của Đảng.


Không phải ngẫu nhiên, những câu nói ấy được Tổng Bí thư nhiều lần nhắc đến trong các bài phát biểu. Đó là nhận thức của quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn, là tư duy và tầm nhìn của Đảng ta gần 93 năm qua. Tại hội nghị Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 16/8/2021, Tổng Bí thư phân tích rất sâu bài học quý này và cho rằng, đoàn kết là giá trị cốt lõi; đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, là động lực to lớn làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.


Nhờ vận dụng và thực hiện sáng tạo bài học có ý nghĩa lịch sử ấy, giữa bao khó khăn, thách thức của năm vừa qua, như đại dịch Coivd-19, xung đột Nga-Ucraina kéo dài, toàn Đảng, toàn dân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi khá toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ, vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả.


Kinh tế nước ta vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh, đạt 8%, cao hơn nhiều so kế hoạch 6% đến 6,5%, và là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhìn lại thực tiễn đó, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Lời dạy ấy đã trở thành chân lý.


Đã đoàn kết càng phải đoàn kết hơn nữa


Thành tựu đạt được trong năm 2022 tiếp tục khẳng định mạnh mẽ đường lối đổi mới đất nước đúng đắn của Đảng ta. Nhưng Tổng Bí thư cũng lưu ý trong bài phát biểu, tuyệt nhiên không chủ quan, tự mãn, quá say sưa với những kết quả, thành tích đã đạt được, bởi vì đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, đặc biệt là những khó khăn thách thức gay gắt, mới xuất hiện từ giữa tháng 10/2022 đến nay.


Năm 2023 là năm bản lề, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong khi đó, dự báo tình hình quốc tế và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định.


Như một lẽ tự nhiên, càng đi vào đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước càng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức từ tác động bên ngoài và từ chính những vấn đề nội tại của đất nước. Bên cạnh việc cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế là cạnh tranh thương mại tiếp tục gay gắt; sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống diễn biến khó lường...


Khó khăn thách thức ngay từ khi dự báo tình hình - điều mà chúng ta đã phải quyết liệt ứng phó trong hai vừa năm qua. Chính vì thế, Tổng Bí thư đã bổ sung đây là một bài học quan trọng: “Nâng cao hơn nữa năng lực phân tích, dự báo; chủ động, nhạy bén nắm bắt những diễn biến mới của tình hình; kịp thời, quyết liệt xử lý có hiệu quả các vấn đề; làm việc nào dứt điểm việc đó, không để kéo dài, gây ách tắc, lãng phí nguồn lực; thích ứng linh hoạt với các tình huống mới phát sinh”.


Nhờ đoàn kết, thống nhất mà chúng ta vượt qua muôn vàn khó khăn để xây dựng đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Bài học không bao giờ quên là đã đoàn kết thì trong khó khăn càng phải đoàn kết hơn bao giờ hết. Đoàn kết để thống nhất khi đánh giá tình hình đất nước, cái gì làm tốt thì phát huy, đâu là tồn tại, yếu kém, cùng tìm cách khắc phục, tuyệt đối không được “cua cậy càng, cá cậy vây” như Tổng Bí thư nhiều lần nhắc nhở.


Trong bối cảnh có nhiều diễn biến khó lường, khó dự báo như hiện nay càng phải nêu cao tinh thần đoàn kết, hội tụ trí tuệ tập thể, phân tích, nhận định tình hình sát thực tế để có giải pháp hiệu quả. Mỗi khi gặp khó khăn càng phải đoàn kết, thống nhất mới vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào đồng chí, đồng đội và nhân dân. Từ đó để thống nhất ý chí và hành động vì sự nghiệp chung. Đây là bài học từ lịch sử và cũng là đòi hỏi từ thực tiễn hiện nay, nhất là khi giải quyết những vấn đề mới nảy sinh.


Theo Tổng Bí thư, để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thì trước hết phải đoàn kết trong Đảng; đoàn kết trong Đảng là nền tảng, là tiền đề nâng cao sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.


Những năm qua, nhờ đoàn kết trong Đảng, chúng ta đã phát huy được sức mạnh đoàn kết trong nhân dân; tranh thủ được sự đồng thuận, đồng tình, ủng hộ, cổ vũ, động viên, góp ý kịp thời của cán bộ, đảng viên, các đồng chí lão thành, các tầng lớp nhân dân, các cơ quan thông tin, báo chí,... tạo nên sức mạnh tổng hợp, sự đồng tâm nhất trí của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.


Muốn đoàn kết, thống nhất trong Đảng, không thể không chăm lo làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị; đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương.


Trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết loại bỏ những người vướng vào tham nhũng, hư hỏng; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền; khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,...


Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là định hướng hành động cho Chính phủ mà còn mang đến cho cấp ủy, chính quyền các cấp và cán bộ, đảng viên, nhân dân nhiều thông tin quan trọng, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước, đã đoàn kết, đoàn kết hơn nữa “Trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt” hiện thực hóa nghị quyết của Đảng.

ST


 KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ QUỐC TẾ TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI


Việc Việt Nam nhận được tín nhiệm cao và trúng cử trở thành một trong 14 thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 không chỉ khẳng định niềm tin của các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới, mà còn cho thấy sự coi trọng của bạn bè quốc tế đối với vị thế của Việt Nam trong các hoạt động thúc đẩy, bảo đảm quyền con người trên phạm vi toàn cầu.


Với vị trí là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng Nhân quyền là cơ chế quan trọng nhất của Liên hợp quốc về quyền con người, có nhiệm vụ thảo luận tình hình về quyền con người trên phạm vi toàn cầu và đưa ra các khuyến nghị đến các quốc gia cũng như Báo cáo trình Đại hội đồng Liên hợp quốc vấn đề vi phạm quyền con người… Trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền là cơ hội quan trọng để tăng cường thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở cả cấp độ quốc tế và quốc gia.


Việt Nam được các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ủng hộ trở thành ứng cử viên duy nhất trong khu vực để tranh cử vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam đạt được sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế khi bỏ phiếu trúng cử, cùng với Bangladesh, Maldives, Kyrgyzstan trở thành đại diện của khu vực châu Á và Thái Bình Dương trong Hội đồng Nhân quyền.


Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, trước đó trong nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam cũng đã nhận được sự ủng hộ rất cao của bạn bè quốc tế. Việc tái cử vào Hội đồng Nhân quyền thể hiện sự tín nhiệm của các quốc gia đối với Việt Nam về những nỗ lực bảo vệ quyền con người ở cấp độ khu vực cũng như toàn cầu.


Tuy nhiên, lợi dụng cơ chế Kháng thư Liên hợp quốc, số đối tượng chống đối, phản động lưu vong không chỉ gửi Kháng thư để kêu gọi đại diện các quốc gia như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu tại Liên hợp quốc không bỏ phiếu cho Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, mà còn gửi Kháng thư yêu cầu thả các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam mà chúng cho rằng đó là “người bất đồng chính kiến” hay “người bảo vệ nhân quyền”.


Trong giai đoạn 2015-2020, Việt Nam tiếp nhận và gửi thông tin trả lời 50 Kháng thư Liên hợp quốc. Việt Nam đã tiếp xúc với Nhóm làm việc về giam giữ độc đoán của Liên hợp quốc để làm rõ các thông tin sai lệch trong Kháng thư liên quan đến quá trình bắt giữ, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các đối tượng được đề cập. Sau đó các tổ chức của Liên hợp quốc không gửi thêm Kháng thư về các đối tượng này.


Đảng và Nhà nước ta luôn xác định cơ chế đối thoại về nhân quyền tại Hội đồng Nhân quyền là cơ hội để Việt Nam đưa ra những bằng chứng về thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, đấu tranh với những luận điệu vu cáo, bôi nhọ, xuyên tạc chủ trương, chính sách về quyền con người của Việt Nam.


Ngoài ra, Việt Nam còn tích cực đăng cai tổ chức một số hội thảo, hội nghị quốc tế, chủ động mời các báo cáo viên đặc biệt Liên hợp quốc vào thăm Việt Nam, đón các đoàn khách quốc tế vào làm việc, qua đó thể hiện thiện chí hợp tác của Việt Nam với các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc. Trong bài viết “Nhân phẩm, tự do và công lý cho tất cả” công bố vào ngày 10/12/2022 bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam khẳng định: “Việt Nam đã ưu tiên thực hiện các cam kết và nghĩa vụ của mình theo các điều ước quốc tế về quyền con người”.


Vai trò của Việt Nam trong những nỗ lực chung để bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trên phạm vi toàn cầu thể hiện qua những đóng góp tích cực của Việt Nam trong Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Tháng 7/2022, Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bangladesh và Philippines soạn thảo, đề xuất lên Hội đồng Nhân quyền thông qua Nghị quyết về bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu.


Nghị quyết được thông qua phản ánh nỗ lực của Việt Nam thực hiện có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế, cũng như kêu gọi các nước cần có hành động tích cực để bảo đảm sự tham gia của đại diện các nhóm dễ bị tổn thương trong việc xây dựng các biện pháp, chính sách về ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam chủ động đề xuất lên Hội đồng Nhân quyền ban hành Nghị quyết về biến đổi khí hậu và quyền của từng nhóm yếu thế như quyền trẻ em, quyền của phụ nữ hay quyền cho các nhóm yếu thế về sức khỏe, quyền có lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu.


Đặc biệt, vấn đề bảo vệ môi trường sống cho con người và ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề đang được Việt Nam thực hiện bằng nhiều biện pháp, từ đưa ra các cam kết quốc tế về mục tiêu giảm phát thải ròng khí nhà kính bằng “0” vào năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050), hay đưa vào trong quy định của Luật Bảo vệ môi trường.


Những cam kết và nỗ lực mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc Việt Nam tiếp tục cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei. Từ tháng 10/2018 đến nay, Việt Nam triển khai 4 bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Nam Sudan để chăm sóc sức khỏe cho nhân viên Liên hợp quốc, cũng như các hoạt động hỗ trợ bệnh viện địa phương trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân.


Một điểm sáng về sự tiên phong của Việt Nam trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế, nhằm khẳng định vai trò của phụ nữ và hòa bình và an ninh theo tinh thần Nghị quyết 1325 (2000) của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về chương trình phụ nữ, hòa bình và an ninh đó là cử 74 nữ quân nhân, 01 nữ sĩ quan công an tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.


Việt Nam cũng là thành viên có trách nhiệm, luôn ủng hộ các chương trình phát triển của Liên hợp quốc, tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ thực hiện các dự án tại


Việt Nam, nhất là các dự án nhằm tăng cường vai trò cũng như bảo đảm quyền của các nhóm yếu thế trong xã hội. Sự chủ động, tích cực của Việt Nam trong các cam kết nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đã giúp chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam tăng 45,8% vào năm 2020, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia có tốc độ tăng trường HDI cao nhất thế giới.


Nhờ đó Việt Nam đã tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu từ 117 trên 189 quốc gia vào năm 2019 lên 115 trên 191 quốc gia vào năm 2021. Bên cạnh đó, Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report - WHR) năm 2022 cho biết, Việt Nam đã tăng 2 bậc so với năm 2021, xếp thứ 77 trên hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chỉ còn 4,4% vào năm 2021.


Tại khu vực Đông Nam Á, năm 2020, với vai trò là Chủ tịch ASEAN, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR), Việt Nam đề xuất sáng kiến để cùng các quốc gia AICHR ra Thông cáo báo chí chung về đại dịch Covid-19, từ đó Nhóm công tác liên ngành Hội đồng điều phối ASEAN về các tình huống y tế công cộng khẩn cấp được thành lập, huy động thành lập Quỹ ASEAN ứng phó với dịch bệnh Covid-19, qua đó thúc đẩy sự đoàn kết, thống nhất và hợp tác trong ASEAN để bảo vệ quyền con người trong đại dịch.


Những nỗ lực và thành quả nêu trên có được là do những ưu tiên, nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc ghi nhận, bảo đảm quyền con người và thúc đẩy bình đẳng xã hội, nhất là trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, bảo đảm tự do tín ngưỡng, chăm lo chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, vùng sâu vùng xa... Nhưng các đối tượng chống phá và phản động lưu vong ở nước ngoài luôn tìm cách chống phá, xuyên tạc, phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam.


Lợi dụng việc Nhà nước xử lý một số vụ việc nóng, phức tạp về an ninh trật tự theo quy định của pháp luật, chúng luôn tìm cách khơi lại, thổi phồng, bóp méo bản chất sự việc nhằm xuyên tạc, vu cáo đó là biểu hiện của “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp người dân tộc thiểu số” kích động bất bình trong dư luận hoặc lấy cớ gặp gỡ các tổ chức nhân quyền quốc tế hay những nhân vật có định kiến với Việt Nam.


Qua đó nhằm tìm kiếm sự ủng hộ, hỗ trợ về tài chính để tiến hành các hoạt động chống đối; kêu gọi các nước phương Tây, các tổ chức NGO can thiệp, đưa ra các đạo luật, nghị quyết chống Việt Nam; mưu đồ tham gia các hội nghị quốc tế về nhân quyền, lợi dụng diễn đàn quốc tế để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, yêu cầu đòi tự trị, ly khai; tổ chức biểu tình trước Đại sứ quán, lãnh sự quán của Việt Nam tại nước ngoài để ủng hộ cái gọi là “phong trào đấu tranh đòi tự do”, “lên án, phản đối” nhà cầm quyền Việt Nam, đòi thả “tù nhân lương tâm”.


Thể hiện sự minh bạch về thông tin, trong các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên với Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ hay Australia, Việt Nam luôn chủ động cung cấp thông tin, vừa vận động vừa đấu tranh để giải đáp các thắc mắc, thu hẹp khác biệt với các nước về vấn đề nhân quyền cũng như vạch mặt những đối tượng vi phạm pháp luật, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước. Qua đó giúp các bên hiểu rõ hơn về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, bác bỏ thông tin sai lệch, thiếu khách quan.


Trong thời gian tới, dự báo các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam, tạo cớ can thiệp, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, hạ thấp uy tín, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, các hoạt động ngoại giao, thông tin đối ngoại và đối thoại về vấn đề dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam càng cần được chú trọng.


Cụ thể cần tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh ngoại giao và chủ động cung cấp thông tin, đối thoại về nhân quyền với các nước, tổ chức quốc tế theo hướng giữ vững nguyên tắc độc lập chủ quyền và an ninh quốc gia, tôn trọng lập trường, quan điểm của nhau. Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch về dân chủ, nhân quyền. Mở rộng quan hệ với các chính giới, doanh nghiệp, học giả phương Tây để cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn chính sách của Việt Nam, tạo sự đồng tình, ủng hộ./.

ST


KẾT QUẢ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT GÓP PHẦN TÍCH CỰC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG 

 

“Cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu phải nhận thức đúng, đầy đủ về vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị...”, đồng chí Võ Văn Thưởng nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2023, do Ban Bí thư tổ chức tại Trụ sở Trung ương Đảng, ngày 10/1.


Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến đến tất cả các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.


Cùng dự tại điểm cầu Trung ương có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương; Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; các đồng chí: Ngô Văn Dụ, nguyên: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Lê Minh Khái, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ… các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; đại diện ban cán sự đảng, đảng đoàn trực thuộc Trung ương; Đảng ủy và Ủy ban Kiểm tra cấp ủy trực thuộc Trung ương; các vụ, đơn vị của Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương…


Tại điểm cầu các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương có sự tham dự của đại diện thường trực tỉnh ủy, thành ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp ủy, với hơn 3 nghìn cán bộ Ủy ban Kiểm tra các cấp.


Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; và các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Trần Văn Rón, Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Trần Tiến Hưng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, chủ trì hội nghị.


Trình bày Báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng năm 2022, đồng chí Trần Văn Rón nêu rõ, với tinh thần quyết tâm, quyết liệt “không dừng, không nghỉ”, “không chùng xuống”, góp phần khẳng định trách nhiệm và quyết tâm cao trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ủy ban Kiểm tra các địa phương tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng, nhiệm vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cấp ủy giao, với khối lượng rất lớn, chất lượng, hiệu quả được nâng lên rõ rệt.


Trong đó, nổi bật là chủ động, quyết liệt thực hiện kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với các tổ chức đảng, đảng viên suy thoái.


Những vụ việc phát sinh được phát hiện, kiểm tra, xử lý kịp thời, nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng được xử lý dứt điểm; kiểm tra kết luận, xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên có liên quan các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo.


Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ đạo các cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp tiến hành kiểm tra, kết luận kiên quyết xử lý, đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật nhiều tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trong phòng, chống dịch Covid-19, trong công tác giải cứu, đưa công dân về nước; các sai phạm ở dự án đầu tư của Tập đoàn FLC, dự án, gói thầu mua sắm do Công ty CP Tiến bộ quốc tế AIC thực hiện…


Trong năm, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kịp thời ban hành nhiều văn bản quan trọng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả ở các cấp như: Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm; Hướng dẫn số 03-HD/UBKTTW ngày 3/11/2022 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; Hướng dẫn số 05-HD/UBKTTW ngày 22/11/2022 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, hướng dẫn thực hiện một số điều trong Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm…


Trên cơ sở đó, Ủy ban Kiểm tra các cấp chủ động tham mưu giúp cấp ủy rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định, quy trình, hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng, bảo đảm khoa học, đồng bộ, thống nhất và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương, đơn vị.


Cấp ủy các cấp đã kiểm tra 58.069 tổ chức đảng và 324.403 đảng viên (có 74.590 cấp ủy viên), kết luận 371 tổ chức đảng và 1.055 đảng viên có khuyết điểm, vi phạm; phải thi hành kỷ luật 7 tổ chức đảng và 308 đảng viên.


Ủy ban Kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 3.533 tổ chức đảng và 10.475 đảng viên (tăng 17,5% tổ chức đảng và 16,62% đảng viên so với năm 2021), trong đó có 5.184 cấp ủy viên các cấp.


Qua kiểm tra, kết luận có 2.333 tổ chức đảng và 8.003 đảng viên có vi phạm; phải thi hành kỷ luật 333 tổ chức đảng và 3.909 đảng viên; đã thi hành kỷ luật 244 tổ chức đảng, 3.595 đảng viên.


Qua kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật 44 tổ chức đảng (Khiển trách 14, cảnh cáo 30) và 180 đảng viên (Khiển trách 69, cảnh cáo 79, cách chức 5, khai trừ 27); đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật 21 tổ chức đảng và 45 đảng viên, yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới thi hành kỷ luật 69 tổ chức đảng và 185 đảng viên.


Ủy ban Kiểm tra các cấp đã kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với 32.899 tổ chức đảng (tăng 13,74% tổ chức so với năm 2021); kiểm tra tài chính đảng đối với 2.610 tổ chức đảng về thu, chi ngân sách, sản xuất kinh doanh và kiểm tra 37.821 tổ chức đảng về thu, nộp, quản lý và sử dụng đảng phí (tăng 14,66% so với năm 2021).


Trong năm 2022, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 410 tổ chức đảng và 16.202 đảng viên bằng các hình thức. Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 101 tổ chức đảng và 6.356 đảng viên bằng các hình thức…


Cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố, kiện toàn Ủy ban Kiểm tra, cơ quan Ủy ban Kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp; công tác đào tạo, bồi dưỡng được chú trọng; một số đơn vị đã có chế độ, chính sách hỗ trợ cán bộ kiểm tra thực hiện nhiệm vụ.


Công tác thông tin, tuyên truyền tiếp tục được đẩy mạnh, có nhiều đổi mới. Việc thông báo công khai kết quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện nghiêm túc, có tác động tích cực trong việc cảnh báo, răn đe, giáo dục các tổ chức đảng và đảng viên phòng ngừa vi phạm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.


Các ý kiến tham luận chia sẻ những bài học kinh nghiệm, kiến nghị một số vấn đề về xây dựng tổ chức bộ máy, cán bộ, quy chế, cơ chế phối hợp đạt hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.


Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng chí Võ Văn Thưởng đánh giá cao và biểu dương những thành tích các cấp uỷ, tổ chức đảng, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã đạt được.


Về phương hướng, nhiệm vụ công tác kiểm tra năm 2023, đồng chí lưu ý một số nội dung quan trọng. Trong đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu phải nhận thức đúng, đầy đủ về vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, cơ quan, tổ chức.


Bài học trong 2 nhiệm kỳ qua cho thấy, ở đâu người đứng đầu quan tâm, thường xuyên chỉ đạo, theo dõi, định hướng cho công tác kiểm tra thì ở đó công tác kiểm tra, giám sát chuyển biến mạnh; khuyết điểm, vi phạm ít đi.


Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra cấp dưới thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; thực hiện đồng bộ giữa kiểm tra và giám sát, chú trọng những địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, những nơi có nhiều vụ, việc khiếu kiện, phức tạp, kéo dài, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.


Ủy ban Kiểm tra các cấp nghiêm túc, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh giao.


Đặc biệt, tập trung kiểm tra, làm rõ sai phạm của các tổ chức đảng, đảng viên có liên quan các vụ án, vụ việc xảy ra tại Tập đoàn FLC, Vạn Thịnh Phát, Công ty Cổ phần tiến bộ Quốc tế AIC...; chủ động tham mưu cho cấp ủy, tổ chức đảng tiến hành kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là việc cụ thể hóa, thể chế hóa thành luật pháp, chính sách, để chủ trương, đường lối của Đảng thực sự đi vào cuộc sống.


Tăng cường phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra các cấp với các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử trong công tác kiểm tra và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, truyền thông, báo chí trong công tác giám sát.


Đồng chí đề nghị, Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiếp tục nghiên cứu, tham mưu xây dựng và hoàn thiện các quy định của Đảng theo hướng tăng cường trách nhiệm, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; tăng cường kiểm soát chặt chẽ, ràng buộc bằng trách nhiệm trong thực thi quyền lực của người người có chức vụ, quyền hạn.


Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực; bảo vệ người tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khuyến khích và bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.


Để bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác kiểm tra đảng trong tình hình hiện nay, điều kiện tiên quyết là phải tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, có năng lực, trình độ chuyên sâu, chuyên nghiệp, có kinh nghiệm thực tiễn, có kiến thức trên các lĩnh vực, có tư duy biện chứng, phương pháp công tác khoa học, công tâm, khách quan, thật sự liêm chính…


Tại hội nghị, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng chí Võ Văn Thưởng trao Huân chương Hồ Chí Minh tặng đồng chí Ngô Văn Dụ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.


Thay mặt Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ngành Kiểm tra Đảng, đồng chí Trần Cẩm Tú tặng hoa và chúc mừng đồng chí Ngô Văn Dụ được Đảng, Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý nhất.


Phát biểu bế mạc hội nghị, đồng chí Trần Cẩm Tú đề nghị, các cấp ủy, tổ chức đảng, Ủy ban Kiểm tra các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, nâng cao nhận thức hơn nữa về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.


Ủy ban Kiểm tra các cấp tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện kịp thời các quy định, quy chế, quy trình về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, đảm bảo chặt chẽ, khoa học, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với điều kiện thực tiễn.


Đồng thời, tập trung thực hiện toàn diện, có hiệu quả các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao.

ST


BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG NHỮNG NGƯỜI TÔ ĐẸP CHO MÙA XUÂN BIÊN GIỚI

 

Vào những ngày giáp Tết Nguyên đán Quý Mão 2023, khi khắp mọi miền đất nước đang rộn ràng không khí chuẩn bị chào đón mùa Xuân mới thì ở nơi biên giới xa xôi của tỉnh Điện Biên, người lính Biên phòng với những bước chân không ngừng nghỉ trên đường tuần tra để đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân. 


Với những người lính mang quân hàm xanh, các anh luôn coi “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em r.uột th.ịt”. 


Tạm gác việc riêng, tạm xa gia đình nơi hậu phương, dù ngày hay đêm, mặc sương khuya gió lạnh, những cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng luôn kiên trì bám chốt, tuần tra, kiểm soát chặt chẽ biên giới, đấu tranh ngăn chặn các loại t.ội ph.ạm, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia để nhân dân đón một mùa xuân mới an vui, hạnh phúc./.

ST


VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC!


Những kỳ họp “bất thường” đang trở thành hoạt động “bình thường” của Quốc hội, thể hiện đúng tinh thần Quốc hội của dân, do dân, vì dân, cũng như thông điệp về một Quốc hội đổi mới, hành động quyết liệt vì lợi ích của nhân dân.


Một năm trước, Kỳ họp bất thường lần thứ nhất đã diễn ra từ 04/01/2022 - 11/01/2022, trong bối cảnh cả nước đang nỗ lực triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XIII, các Nghị quyết Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV; đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới gay gắt hơn do dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trong cả nước.


Việc triệu tập kỳ họp bất thường lần thứ nhất khi đó đã được coi là quyết định lịch sử của Quốc hội Việt Nam.


Từ thành công của Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, ngay những ngày đầu năm mới 2023, dù sát dịp Tết cổ truyền của dân tộc, Quốc hội đã quyết định tổ chức kỳ họp bất thường lần thứ 2, đúng như quan điểm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ: Những kỳ họp “bất thường” trở thành hoạt động “bình thường” của Quốc hội nhằm đáp ứng kịp thời đòi hỏi cấp bách của thực tiễn.


Sở dĩ gọi là kỳ họp bất thường bởi theo Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội họp hai kỳ thường lệ mỗi năm và kỳ họp bất thường khi cần để xem xét các vấn đề cần thiết, cấp bách. Kỳ họp thường kỳ khai mạc vào ngày 20/5 và 20/10 hằng năm như Nội quy kỳ họp Quốc hội đã ấn định; kỳ họp bất thường diễn ra giữa hai kỳ họp thường lệ liền nhau.


Trong trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường để thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn, trừ nội dung định kỳ trình Quốc hội theo quy định của pháp luật.


Căn cứ quy định này, trên cơ sở đề nghị của Chính phủ, sau khi xem xét thận trọng, kỹ lưỡng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định triệu tập Kỳ họp bất thường lần thứ 2, Quốc hội khóa XV từ ngày 05/01 - 09/01/2023. Theo Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường thì "Kỳ họp bất thường lần thứ Hai được tiến hành là vì quốc kế dân sinh, sự phát triển của đất nước, nếu chúng ta để việc thuộc thẩm quyền của Quốc hội 6 tháng sau mới giải quyết thì tốc độ phát triển của đất nước sẽ chậm ít nhất 6 tháng, chưa kể đến độ trễ trong quá trình triển khai".


Dù bất thường, song cần khẳng định, công tác chuẩn bị tổ chức kỳ họp đã được tiến hành hết sức khẩn trương theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ là: “Kỳ họp bất thường chỉ giải quyết những vấn đề cấp bách, đã được chuẩn bị kỹ lưỡng theo quy trình, quy định của pháp luật, tạo sự đồng thuận cao. Bất thường chỉ là tiến độ chứ không hy sinh chất lượng, coi nhẹ nội dung. Vấn đề cấp bách mà chưa chuẩn bị kịp thì đưa vào phiên thường kỳ, đó là nguyên tắc”


Chỉ trong một thời gian ngắn, từ ngày 05/01 - 09/01/2023, nhiều nội dung lớn, đặc biệt quan trọng, cấp bách tới quốc kế dân sinh đều được Quốc hội đã được đặt lên bàn nghị sự. Trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng các hồ sơ tài liệu, các vị đại biểu Quốc hội đã tập trung thảo luận sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết, trách nhiệm, có chất lượng cao với gần 350 lượt đại biểu phát biểu qua 03 phiên thảo luận Tổ, 02 phiên thảo luận Đoàn và 07 phiên họp toàn thể.


Trong 5 nội dung trình Quốc hội tại Kỳ họp bất thường lần này, có nội dung “rất lớn, rất mới, rất khó, rất nhạy cảm và chưa có tiền lệ” là Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là vấn đề phức tạp, có phạm vi rộng, có tầm ảnh hưởng lớn đến mọi cơ quan, bộ ngành, địa phương trên cả nước, liên quan trực tiếp đến lợi ích của người dân. Do vậy, nội dung này cũng được các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, cũng như đông đảo cử tri, nhân dân quan tâm, theo dõi.


Quy hoạch tổng thể quốc gia được ban hành nhằm cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm được xác định tại Nghị quyết đại hội XIII của Đảng, Kết luận số 45-KL/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Định hướng quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội về phát triển vùng, ngành, lĩnh vực. Đây là cơ sở, căn cứ để lập quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn trên cả nước.


Nghị quyết về quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định rõ quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu phát triển và những nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quy hoạch, trong đó tập trung vào một số định hướng cụ thể như: về phát triển không gian kinh tế - xã hội; không gian biển; sử dụng đất quốc gia, khai thác và sử dụng vùng trời, phân vùng và liên kết vùng; phát triển hệ thống đô thị và nông thôn quốc gia; phát triển ngành hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia; sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu và danh mục dự kiến các dự án quan trọng quốc gia, thứ tự ưu tiên thực hiện và giải pháp, nguồn lực thực hiện quy hoạch.


Điểm nhấn khác của kỳ họp lần này là việc thông qua dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi) - lẽ ra đã được thông qua tại Kỳ họp thứ Tư vừa qua. Sau 3 kỳ họp với tinh thần trách nhiệm cao, Quốc hội đã thông qua Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi) để thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới, cụ thể hóa Hiến pháp; khắc phục những hạn chế, bất cập, giải quyết những vấn đề mới phát sinh để phát triển, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân theo định hướng công bằng, chất lượng; phát triển dịch vụ y tế bảo đảm hiệu quả, hội nhập với quốc tế; lấy người bệnh làm trung tâm cho mọi hoạt động cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; tăng cường hiệu lực, hiệu quả, trật tự, kỷ cương, kỷ luật của công tác quản lý nhà nước về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh...


Nội dung quan trọng cấp bách khác được thông qua tại Kỳ họp này là Nghị quyết về tiếp tục thực hiện một số chính sách liên quan đến công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại Nghị quyết số 30/2021/QH15 và tiếp tục sử dụng giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc hết thời hạn hiệu lực từ ngày 01/01/2023 mà chưa kịp gia hạn theo quy định của Luật Dược. Có thể thấy, Nghị quyết 30 đã hoàn thành sứ mệnh đặc biệt quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ kép: vừa kiểm soát, phòng, chống dịch, vừa thúc đẩy phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai thực hiện nghị quyết vẫn còn những hạn chế.


Chính vì vậy, việc ban hành Nghị quyết này được mong đợi sẽ khắc phục những tồn tại, vướng mắc đối với các chính sách đã thực hiện trong giai đoạn cấp bách phòng, chống dịch COVID-19 và xử lý được tình trạng tồn đọng trong việc gia hạn giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc hiện nay.


Tại kỳ họp này, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết về việc bổ sung dự toán ngân sách nhà nước nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của nước ngoài (nguồn chi thường xuyên) năm 2021; điều chỉnh dự toán kinh phí bảo đảm hoạt động chưa sử dụng hết năm 2021 của Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan; điều chỉnh kế hoạch vốn vay lại năm 2022 của các địa phương nhằm xử lý những vướng mắc trong thực tiễn, phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước.


Đáng chú ý, căn cứ quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Quốc hội đã xem xét, quyết định cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu đối với 02 đại biểu Quốc hội, phê chuẩn việc miễn nhiệm 02 Phó Thủ tướng Chính phủ và phê chuẩn bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ đối với ông Trần Hồng Hà và Trần Lưu Quang, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, đúng quy trình, thủ tục với sự đồng thuận, thống nhất cao.


Có thể khẳng định, việc Quốc hội xem xét, quyết định 5 vấn đề lớn, quan trọng và cấp bách tại Kỳ họp bất thường lần thứ 2 này sẽ góp phần tháo gỡ kịp thời nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, đồng thời, tạo tiền đề quan trọng để thực hiện nhiệm vụ năm 2023 và các năm tiếp theo. Thành công của kỳ họp bất thường tiếp tục thể hiện và khẳng định tinh thần đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt hành động vì lợi ích của Nhân dân của Quốc hội.


Có lẽ, trong tương lai, Quốc hội sẽ tiếp tục tổ chức những kỳ họp bất thường như vậy, để hướng tới một Quốc hội hoạt động chuyên nghiệp hơn nữa, góp phần đáp ứng mục tiêu vì sự phát triển bền vững của đất nước, củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước./.

ST


DẤU ẤN ĐẬM SÂU CỦA TÌNH HỮU NGHỊ VĨ ĐẠI VIỆT NAM - LÀO


Năm Ðoàn kết Hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 2022 kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962-5/9/2022) và 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (18/7/1977-18/7/2022) giữa hai nước đã thành công tốt đẹp. Với nhiều hoạt động, sự kiện phong phú, đặc sắc, thiết thực, Năm Ðoàn kết Hữu nghị đã điểm thêm dấu ấn đậm sâu trong quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào.


Là hai nước láng giềng núi sông liền một dải, Việt Nam và Lào luôn kề vai, sát cánh trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay. Ðược các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp, mối quan hệ gắn bó, thủy chung, trong sáng giữa Việt Nam và Lào đã trở thành tài sản quý báu của hai dân tộc.


Những dấu mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Lào trong suốt chiều dài lịch sử đều được ghi nhớ, lưu giữ để truyền tiếp đến thế hệ mai sau. Diễn ra tại Ðà Nẵng, triển lãm sách "Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam: Dấu ấn qua từng trang sách" trưng bày hàng trăm cuốn sách về lịch sử quan hệ Việt Nam-Lào, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane (Cay-xỏn Phôm-vi-hản), Chủ tịch Souphanouvong (Xu-pha-nu-vông)… Tại thủ đô Viêng Chăn, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Lào đã ra mắt cuốn sách "60 năm quan hệ ngoại giao Lào - Việt Nam" với nội dung về lịch sử quan hệ ngoại giao, hợp tác song phương và đa phương giữa hai nước. Theo Ðại sứ Việt Nam tại Lào Nguyễn Bá Hùng, cuốn sách là một tài liệu quý báu để hiểu sâu sắc hơn về hợp tác giữa hai ngành ngoại giao nói riêng và giữa hai nước nói chung.


Mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước cũng được khắc họa thông qua triển lãm ảnh "Quan hệ Việt Nam - Lào: Trường tồn và phát triển" do Thông tấn xã Việt Nam và Thông tấn xã Pathet Lào tổ chức tại Hà Nội. Với hơn 100 bức ảnh tiêu biểu được trưng bày, triển lãm thể hiện chân thực, sống động mối quan hệ gắn bó keo sơn, bền chặt giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Trong năm 2022, nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật kỷ niệm những mốc son của quan hệ Việt Nam - Lào diễn ra tại nhiều tỉnh, thành phố ở cả hai nước. Những tiết mục ca, múa, nhạc ca ngợi vẻ đẹp quê hương, đất nước, con người cũng như quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước.


Trong năm 2022, nhiều cuộc thi tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam - Lào đã được phát động, thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia, góp phần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, giúp nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, hiểu sâu sắc hơn về mối quan hệ đặc biệt này. Cuộc thi "Kỷ vật kể chuyện" đã nhận được hơn 6.200 bài dự thi với sự tham gia của hàng nghìn tác giả ở Việt Nam và Lào. Thông qua những câu chuyện xúc động gắn với những kỷ vật được lưu giữ, những bài dự thi phần nào khắc họa được tình đoàn kết, gắn bó giữa hai dân tộc. Theo Ðại sứ Lào tại Việt Nam Sengphet Houngboungnuang (Xẻng-phết Hùng-bun-nhương), cuộc thi "Kỷ vật kể chuyện" đã góp phần vun đắp, nuôi dưỡng tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước.


Thế hệ trẻ Việt Nam và Lào luôn nhận thức được tầm quan trọng của tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước. Tham gia chương trình Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam-Lào và "Theo dấu chân lãnh tụ" năm 2022, thanh niên hai nước đã có dịp giao lưu, gặp gỡ, cùng ôn lại truyền thống hữu nghị giữa hai dân tộc. Thông qua chương trình, thế hệ trẻ hai nước thể hiện quyết tâm phát huy vai trò xung kích trong việc góp phần củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.


Năm Ðoàn kết Hữu nghị đã để lại những ấn tượng sâu sắc, lan tỏa tình hữu nghị, đoàn kết giữa Việt Nam và Lào đến mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước. Ðiều này góp phần đưa quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào ngày càng đi vào chiều sâu, đóng góp thiết thực vào sự phát triển phồn vinh của mỗi nước./.

ST


CHỦ TỊCH QUỐC HỘI VƯƠNG ĐÌNH HUỆ TẶNG QUÀ TẾT GIA ĐÌNH CHÍNH SÁCH, NGƯỜI NGHÈO TỈNH AN GIANG

 

Sáng 11-1, tại trụ sở Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang (thành phố Châu Đốc, An Giang), Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tới thăm, chúc Tết, tặng quà gia đình chính sách, hộ nghèo, đồng bào dân tộc và công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh An Giang.


Cùng dự có Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường; Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Y Thanh Hà Niê Kđăm; Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Lê Tấn Tới; Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương, Trưởng ban Công tác đại biểu Nguyễn Thị Thanh; Phó chủ tịch, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Lê Tiến Châu; Bí thư Tỉnh ủy An Giang Lê Hồng Quang; Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình; Thiếu tướng Nguyễn Hoài Phương, Phó tư lệnh Bộ đội Biên phòng cùng các đồng chí lãnh đạo, đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành ở Trung ương…


Trò chuyện với bà con nhân dân, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ bày tỏ vui mừng đến thăm, động viên, chúc Tết Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh An Giang; chúc Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân An Giang đón Tết Quý Mão đầm ấm, vui tươi, an toàn, lành mạnh và gặt hái nhiều thành công hơn trong năm 2023. Năm 2022 đã khép lại, đánh dấu bước phát triển mới không chỉ của cả nước, mà còn của các địa phương, trong đó có An Giang. Mặc dù tình hình thế giới và trong nước có rất nhiều khó khăn, nhưng chúng ta đã vượt qua và cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội theo nghị quyết của Trung ương và Quốc hội. Trong thành tích chung đó, An Giang có thành tích vượt bậc, với tăng trưởng kinh tế trên địa bàn cao hơn rất nhiều so với chỉ tiêu kế hoạch. Các mặt công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại đều được tăng cường. Đảng bộ, chính quyền các cấp rất quan tâm tới công tác chăm lo gia đình chính sách, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, công nhân, người lao động có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo.


Năm 2022, với đóng góp rất quan trọng của lực lượng Bộ đội Biên phòng, An Giang đã thực hiện công tác đối ngoại rất hiệu quả trong Năm Hữu nghị Việt Nam - Campuchia, Campuchia - Việt Nam nhân kỷ niệm 55 năm 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhấn mạnh như vậy, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh An Giang tiếp tục thực hiện tốt công tác đối ngoại, cùng phía bạn xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, phát triển.


Năm 2023 được dự báo tiếp tục có rất nhiều khó khăn, thách thức, vì vậy, Chủ tịch Quốc hội mong Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh An Giang tiếp tục phát huy truyền thống quê hương cách mạng kiên cường, đoàn kết trên dưới một lòng, hóa giải mọi khó khăn, thách thức đồng thời tranh thủ mọi thời cơ để hoàn thành các mục tiêu phát triển.


Đặc biệt, An Giang cần tiếp tục duy trì phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, bởi nông nghiệp luôn được coi là trụ đỡ của nền kinh tế, trong khi Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả nước thì An Giang là vựa lúa lớn nhất của khu vực này. Trong đó cần tiếp tục chú trọng thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia, gồm Giảm nghèo bền vững; Xây dựng nông thôn mới; Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.


Chủ tịch Quốc hội mong các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang An Giang, với sự chung tay của các nhà hảo tâm tiếp tục tích cực chuẩn bị để bảo đảm nhân dân được đón Tết đầm ấm, vui tươi, an toàn, lành mạnh; chăm lo cho tất cả mọi người, bảo đảm không ai là không có Tết, không ai bị bỏ lại phía sau; phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều của dân tộc ta.


Tại đây, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và các đồng chí trong đoàn đã trao 200 phần quà (trong đó có 80 phần quà trao trực tiếp tại hội trường) tặng các gia đình chính sách, hộ nghèo, đồng bào dân tộc và công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh An Giang.


Chủ tịch Quốc hội trao 6 phần quà tặng 6 cháu nhỏ là con nuôi của các Đồn Biên phòng trên địa bàn tỉnh An Giang; trao quà Tết tặng cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang.


Nhân dịp này, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Y Thanh Hà Niê Kđăm và Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Đôn Tuấn Phong trao biểu trưng 100 triệu đồng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hỗ trợ quà Tết cho đồng bào dân tộc; 500 triệu đồng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam, hỗ trợ 1000 suất quà Tết tặng gia đình chính sách, hộ nghèo trên địa bàn tỉnh.


Sáng cùng ngày, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng đoàn công tác tới dâng hương, dâng hoa, trồng cây lưu niệm tại Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng trên Cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.


Trước đó, chiều 10-1, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng đoàn công tác tới thăm, chúc Tết cán bộ lão thành cách mạng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy An Giang, đại biểu Quốc hội khóa X Nguyễn Hữu Khánh. Đồng chí Nguyễn Hữu Khánh với hơn 60 năm tuổi Đảng, là người sáng lập Hiệp hội Thủy sản Việt Nam và là người có công rất lớn trong việc đưa cá tra của Việt Nam ra thị trường thế giới./. 

ST


Công tác thông tin đối ngoại với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay

 Một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác thông tin đối ngoại là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, thu hút sự ủng hộ, chia sẻ của cộng đồng quốc tế. Công tác thông tin đối ngoại cần phát huy tinh thần chủ động, đổi mới nội dung và hình thức, huy động sự tham gia tích cực của tất cả các lực lượng ở lĩnh vực trọng yếu này.

Vị thế của công tác thông tin đối ngoại trong thời kỳ đổi mới

Từ khi bắt đầu khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đến nay, trước những tác động, biến đổi mạnh mẽ, phức tạp của tình hình mới, với những yêu cầu mới thường xuyên đặt ra, Đảng ta luôn chủ động kịp thời lãnh đạo, định hướng công tác thông tin đối ngoại, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trước sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, ngày 13-6-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW, “Về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại là: “Đường lối, chính sách và thành tựu đổi mới toàn diện của nước ta, những chủ trương quan trọng của ta nhằm giải quyết một số vấn đề lớn hoặc đáng chú ý về kinh tế, chính trị, xã hội... Kịp thời phê phán, bác bỏ những thông tin xuyên tạc, sai lệch về tình hình Việt Nam, nhất là về tình hình dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn việc truyền bá vào nước ta những quan điểm tư tưởng, lối sống, văn hóa phản động, đồi trụy, kích động bạo lực”(1). Đồng thời, cần phải thông tin về chính sách đối ngoại, những khả năng to lớn của Việt Nam trong quan hệ hợp tác với các nước; con người, lịch sử, văn hóa lâu đời hết sức phong phú của các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Trên cơ sở sơ kết Chỉ thị số 11-CT/TW; nhằm phát huy hơn nữa vai trò của công tác thông tin đối ngoại, ngày 29-12-1998, Thường vụ Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 188/TB-TW, “Về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”, yêu cầu công tác thông tin đối ngoại cần chú trọng thực hiện nhiệm vụ: “Ngoài việc tiếp tục quan hệ và chủ động xúc tiến công tác thông tin, tuyên truyền hướng vào các đối tượng và địa bàn đã xác định tại Chỉ thị 11, ưu tiên cung cấp thông tin đúng định hướng cho người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống, làm việc, du lịch, học tập và các nhà Việt Nam học trên thế giới. Tranh thủ họ để qua đó đưa thông tin giới thiệu về Việt Nam ra thế giới”(2).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001) đề ra chủ trương: “Đẩy mạnh công tác thông tin phục vụ nghiên cứu, làm tốt công tác dự báo tình hình khu vực và thế giới, kịp thời có những chủ trương, chính sách đối ngoại thích hợp khi tình hình thay đổi... Tăng cường hơn nữa công tác thông tin đối ngoại và văn hóa đối ngoại”(3). Hiện thực hóa mục tiêu, yêu cầu của Đại hội IX, ngày 27-12-2001, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Quyết định số 16-QĐ/TW, về việc thành lập Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại với nhiệm vụ giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thủ tướng Chính phủ theo dõi tình hình, điều hành, chỉ đạo, phối hợp công tác thông tin đối ngoại.

Ngày 28-6-2007, Ban Bí thư ra Thông báo Kết luận số 85-TB/TW, về Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại là: “Phối hợp chặt chẽ giữa thông tin đối ngoại với thông tin tuyên truyền trong nước, chủ động thông tin kịp thời, chính xác tình hình mọi mặt của đất nước, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta tới bạn bè quốc tế, tới đồng bào ta sinh sống, làm việc, học tập ở nước ngoài, bà con Việt kiều về thăm quê hương và người nước ngoài đến Việt Nam”(4).

Ngày 10-9-2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 26-CT/TW, về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, nêu bật yêu cầu: “nâng cao tính chủ động, sáng tạo, tính linh hoạt, sự phong phú và sắc bén của các hoạt động thông tin đối ngoại”(5). Ban Bí thư nêu rõ, phải coi đây là nhiệm vụ của hệ thống chính trị, tập trung giới thiệu, quảng bá, làm nổi bật thế và lực của đất nước sau 20 năm đổi mới; nâng cao tính chủ động, thuyết phục và hiệu quả trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các phần tử cơ hội, phản động,...

Ngày 14-2-2012, Bộ Chính trị khóa XI ban hành Kết luận số 16/KL-TW thông qua Đề án Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 - 2020, tiếp tục khẳng định thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; công tác thông tin đối ngoại tập trung tuyên truyền, làm rõ phương châm đối ngoại của Đảng là đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Để tiếp tục quán triệt và triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thống nhất quản lý các hoạt động đối ngoại, nhiều văn bản đã được các cấp có thẩm quyền ban hành(6), qua đó bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong công tác đối ngoại giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng - an ninh; giữa các ban, bộ, ngành liên quan; chủ động phối hợp, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền để giải quyết các vấn đề phát sinh trong công tác đối ngoại.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng đặt ra yêu cầu mạnh mẽ: “đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đối ngoại”(7) nhằm phục vụ mục tiêu nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Với mục tiêu kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đẩy mạnh quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, Đại hội XIII của Đảng đề ra chủ trương: “Tăng cường và nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ truyền thông mới, mạng xã hội trong thông tin đối ngoại và đấu tranh dư luận”(8); trong những năm tới, cần “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(9). Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác đối ngoại, khẳng định công tác đối ngoại có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và sự phát triển của đất nước.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, Đảng ta luôn chủ động, kịp thời, thường xuyên ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận nhằm nâng cao vai trò của công tác thông tin đối ngoại; định hướng đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mọi mặt trận, trong đó có mặt trận thông tin đối ngoại. Bên cạnh đó, Đảng cũng nêu rõ cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, của nhân dân, của toàn xã hội, trong đó các bộ, ban, ngành, như Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông,... đóng vai trò chủ chốt; các cơ quan báo chí lớn, như Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan báo chí đối ngoại Việt Nam,... đóng vai trò là lực lượng xung kích.

Thông qua các con đường ngoại giao Đảng, Nhà nước, nhân dân, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thành viên Liên hợp quốc; có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và khu vực, có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ(10).

Công tác thông tin đối ngoại của Đảng góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đảng, các nước, các đối tác trên thế giới hết sức coi trọng, nhận thức đầy đủ, rõ ràng về hệ thống chính trị của Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị. Các chuyến thăm nước ngoài của lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước được lãnh đạo các nước đón tiếp trọng thể, đóng vai trò hết sức quan trọng và mang tầm chiến lược trong việc triển khai đường lối đối ngoại, tạo đột phá, xử lý các vấn đề đặt ra và thúc đẩy quan hệ với các nước, đưa quan hệ đối tác đi vào chiều sâu, tạo ra cục diện quốc tế thuận lợi. Các đảng chính trị ở hầu hết các nước, không phân biệt hệ thống chính trị, nhận thức rất rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều mong muốn củng cố và mở rộng quan hệ với Đảng ta. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển quan hệ ở nhiều mức độ khác nhau với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó có 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính(11).

Công tác thông tin đối ngoại bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Đấu tranh, phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước là nhiệm vụ xuyên suốt và thống nhất của Đảng. Ngay từ năm 1962, khi đất nước còn bị đế quốc Mỹ xâm lược, bên cạnh nhiệm vụ nêu cao tính chính nghĩa trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Đảng chủ trương trong tuyên truyền đối ngoại phải “Vạch một cách liên tục và có hệ thống những âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ và tay sai đối với Việt Nam”(12). Sau khi đất nước thống nhất, bước vào công cuộc đổi mới đất nước toàn diện, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, ngày 29-3-1989, khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan điểm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển, chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin”(13).

Trước tình hình thế giới diễn biến hết sức nhanh chóng và phức tạp, thiết chế, mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, Đảng xác định phải tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ngày 13-6-1992, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 11-CT/TW, “Về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”, nêu rõ nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới là: “Kịp thời phê phán, bác bỏ những thông tin xuyên tạc, sai lệch về tình hình Việt Nam, nhất là về tình hình dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn việc truyền bá vào nước ta những quan điểm, tư tưởng, lối sống văn hóa phản động, đồi trụy, kích động bạo lực”(14). Ngày 18-2-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 09-NQ/TW, “Về một số định hướng trong công tác tư tưởng hiện nay”, nhấn mạnh phải rút kinh nghiệm công tác đấu tranh chống những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, nhất là trên báo, đài; có kế hoạch chủ động, kịp thời chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...(15).

Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thế và lực, uy tín quốc tế được nâng lên. Trên thế giới, quá trình toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, mặc dù hòa bình, hợp tác vẫn là xu thế lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp; các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do đó, ngày 10-9-2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 26-CT/TW, “Về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới”, xác định một nhiệm vụ trọng tâm của thông tin đối ngoại là: “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch một cách chủ động, có tính thuyết phục và hiệu quả hơn”(16).

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nước có những yêu cầu mạnh mẽ đối với công tác thông tin đối ngoại trong lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ngày 21-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, khẳng định đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhằm bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ, Nhà nước; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến sâu sắc, có mặt diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đang lợi dụng những tiến bộ của các ứng dụng công nghệ mới, tuyên truyền chống phá Việt Nam. Do đó, việc xác định nội dung thông tin đối ngoại một cách chính xác, trọng tâm, bao quát để thông tin với bạn bè quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết sâu sắc hơn nữa về Việt Nam là điều vô cùng quan trọng.

Nội dung căn cốt và quan trọng của công tác thông tin đối ngoại là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức tuyên truyền xuyên tạc, đưa những thông tin lệch lạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng và trên các phương tiện truyền thông mới; lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, lôi kéo, tập hợp lực lượng dưới nhiều danh nghĩa, hình thức khác nhau để chống đối. Các hoạt động chống phá đó đều nhằm phủ nhận, xóa bỏ hệ tư tưởng vô sản, cổ xúy cho tư tưởng tư sản và các trào lưu chính trị đối lập chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Dù âm mưu, thủ đoạn, phương thức thực hiện khác nhau, nhưng mục tiêu chính của chúng đều hướng vào “tuyên truyền phủ nhận các giá trị lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội là học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đả kích, bôi nhọ các lãnh tụ cách mạng, cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; ... ra sức tuyên truyền các học thuyết tư sản, đặc biệt là chủ nghĩa đa nguyên (đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập); ... mở rộng ảnh hưởng của tôn giáo trong xã hội, đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng theo chủ nghĩa hiện sinh,...”(17).

Do đó, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại, trên cơ sở nhận diện các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị, là đưa ra các nội dung thông tin chính xác, kịp thời, nhấn mạnh sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước, để đưa ra những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp, góp phần phát triển đất nước; phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lạc hậu, lỗi thời; làm rõ sự phát triển, sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; sự sáng tạo trong vận dụng học thuyết này của Đảng Cộng sản Việt Nam như lời chỉ dạy của V.I. Lê-nin: “Chúng ta không thể coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(18).

Cùng với việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung của thông tin đối ngoại đã tập trung đưa những thông tin bảo vệ Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông tin đối ngoại luôn chủ động, kịp thời giới thiệu với bạn bè quốc tế những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt trên các lĩnh vực dân chủ, nhân quyền; đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn sắc bén để phản bác các luận điệu sai trái, lệch lạc; có những công trình khoa học, những bài viết chính luận sắc sảo “tấn công trực diện mạnh hơn nữa vào những luận điệu xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh ”(19).

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị thường núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, tôn giáo”, đưa những thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật, mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khai thác các ứng dụng công nghệ truyền thông kỹ thuật số; các nhóm đối tượng, chủ yếu là nhóm đối lập về hệ tư tưởng, nhóm thù địch, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa, nhóm các phần tử cơ hội chính trị - nhiều người vốn là đảng viên, nhưng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,... thường xuyên và liên tục cố gắng bịa đặt, đưa ra những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, chống phá trên các bình diện thông tin đối ngoại. Trên một số trang mạng xã hội, các cá nhân và một số hãng truyền thông nước ngoài, vì mục tiêu chính trị hoặc mang nặng định kiến, thiếu thiện chí với Việt Nam tập trung đăng tải các thông tin sử dụng những ngôn từ kích động thù hằn dân tộc, khoét sâu vào những hạn chế, vướng mắc trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, các đối tác quan trọng, bất chấp thực tế là các bên liên quan đều đang có những nỗ lực để vượt qua khó khăn, rào cản với thiện chí cao; núp dưới bóng những “nhà dân chủ, trí thức, học giả, người dân yêu nước chân chính” để phê phán, đả kích, chỉ ra những “khuyết điểm, sai lầm” trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(?!).

Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị  ra sức tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch trên mọi mặt trận, trong đó có mạng xã hội với mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ, làm giảm niềm tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, từ đó làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta(20). Các luận điệu tinh vi, thâm độc, thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động hòng gây tâm lý hoang mang, lo lắng và quan ngại trong dư luận trong và ngoài nước, gây cách nhìn nhận thiếu thiện chí của cộng đồng quốc tế đối với uy tín, vai trò của Đảng; hòng cản trở, tạo sức ép dư luận nhằm “hướng” quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước “ngả theo quốc gia này hoặc quốc gia khác”; mưu toan làm suy giảm niềm tin của nhân dân trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới đối với Việt Nam.

Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các ban, bộ, ngành của Trung ương, hệ thống báo chí đối ngoại đã nỗ lực đưa những thông tin chính xác, kịp thời, sinh động ở mọi lúc, mọi nơi, cung cấp cho bạn bè quốc tế những cái nhìn khách quan, toàn diện, đúng đắn về tình hình Việt Nam. Nhiều cơ quan báo chí đã mở chuyên mục với nội dung đa dạng, phong phú, trong đó nổi bật là các bài phân tích, bình luận, phê phán các thông tin không đúng sự thật, bịa đặt, các quan điểm sai trái, thù địch, các phần tử cơ hội chính trị; phản bác những lời nói, hành động thiếu thiện chí, mưu toan hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với quần chúng; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phản bác sự vu cáo về việc Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, phê phán những quan điểm lệch lạc về phát triển kinh tế, văn hóa, đạo đức, lối sống, thông tin sai lệch về dịch bệnh COVID-19,...

Lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam ngày càng trưởng thành về số lượng và nâng cao về chất lượng(21). Phương thức thông tin đối ngoại phong phú, đa dạng; bên cạnh mặt trận thông tin truyền thống, đã sử dụng tốt hơn các phương thức thông tin dựa trên ứng dụng công nghệ số để nhanh chóng, kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông tin đối ngoại xây dựng những tài khoản mạng xã hội chính thống để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ, kịp thời về tình hình đất nước với những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng một hình ảnh Việt Nam năng động, phát triển trong sự nhìn nhận của bạn bè quốc tế, của người Việt Nam ở nước ngoài. Phương thức thông tin đối ngoại ngày càng đổi mới, đa dạng và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước.

Qua hơn 35 năm đổi mới, với  đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, cấm vận, cô lập, bình thường hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Công tác thông tin đối ngoại được Đảng đề ra với nhiều chủ trương, chính sách phù hợp, nhằm mang đến cho nhân dân thế giới hình ảnh đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, hữu nghị và hợp tác; một dân tộc giàu truyền thống văn hóa, lịch sử, cần cù lao động, sáng tạo, thân thiện và mến khách... Những yếu tố cốt lõi đó được thông tin đối ngoại truyền tải dưới nhiều hình thức, nhiều phương tiện, đã thu hút được sự quan tâm, đồng tình, ủng hộ và yêu mến của bạn bè quốc tế, từ đó, nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế tin tưởng, giao lưu, hợp tác và đầu tư vào Việt Nam. Kết quả đạt được trong công tác thông tin đối ngoại, xuất phát từ nhận thức của Đảng về vai trò và tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại, với mục tiêu cao nhất là “mang Việt Nam ra thế giới và mang thế giới đến với Việt Nam”; sự chủ động triển khai, tổ chức quản lý và nhanh nhạy kịp thời của Nhà nước, các cơ quan bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương; sự ý thức về hình ảnh đất nước trong mỗi thông điệp của các nhà lãnh đạo, mỗi tổ chức, cá nhân khi có các cuộc tiếp xúc ngoại giao, giao lưu, đầu tư, hợp tác trên các lĩnh vực./.MT

(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2007, t. 52, tr. 58

(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2015, t. 57, tr. 571

(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 122
(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 66, tr. 340
(5) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 67, tr. 994
(6) Như: Quyết định số 272-QĐ/TW, ngày 21-1-2015, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại”; Kết luận số 33-KL/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị khóa XII về việc tiếp tục thực hiện Quy chế thống nhất các hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 272-QĐ/TW; Hướng dẫn số 05-HD/BĐNTW, ngày 26-3-2019, của Ban Đối ngoại Trung ương về hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 272-QĐ/TW;...
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 156
(8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 284, 162
(10) Xem: Nguyễn Thị Mai: “Công tác thông tin đối ngoại trong quá trình hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4-2022, tr. 97
(11) Ban Tuyên giáo Trung ưong - Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại: Rạng danh Tổ quốc cơ đồ Việt Nam Dấu ấn 2021, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 108
(12) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2002, t. 23, tr. 525
(13) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2007, t. 49, tr. 591
(14) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2007t. 52, tr. 58
(15) Văn kiện Đàng toàn tập, Sđd, 2007, t. 54, tr. 233 - 234
(16) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2018, t. 67, tr. 995
(17) Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự: Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, tr. 36
(18) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, t. 20, tr. 99
(19) Mạch Quang Thắng: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr. 313
(20) Xem: Mai Đức Ngọc (chủ biên): Định hướng, giải pháp báo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 227 – 228
(21) Năm 2019, Việt Nam có 58 văn phòng thường trú báo chí Việt Nam tại nước ngoài. Lực lượng thông tin đối ngoại phối hợp có các ban, bộ, ngành Trung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 100% các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho 1 đơn vị đầu mối về thông tin đối ngoại, giao lãnh đạo cấp vụ là cán bộ phụ trách thông tin đối ngoại; 100% các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành kế hoạch thông tin đối ngoại hằng năm, thành lập, kiện toàn Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại; 100% số cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có đầu mối phối hợp liên hệ trong việc triển khai Quy chế phối họp giữa Bộ Ngoại giao và các cơ quan trong nước về công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;... (Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông: Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam 2021, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2021, tr. 154).