Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023
PHẢN BÁC VỀ CÁI GỌI LÀ ĐẶT TÊN ĐƯỜNG ĐỂ VINH DANH NHỮNG ĐẠI CÔNG CỦA GIA LONG - NGUYỄN ÁNH!
NHẬN THỨC VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH
Sự phát triển của mạng xã hội đã và đang góp
phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của một xã hội thông tin. Tuy
nhiên, thực tế đã chứng minh sự tác động của mạng xã hội đến đời sống của con
người có tính hai mặt. Bên cạnh những tác động tích cực, mạng xã hội cũng gây
ra không ít những tác động tiêu cực, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa,
đặc biệt trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động đang lợi dụng sự phát
triển của mạng xã hội để tiến hành chống phá cách mạng Việt Nam.
Có thể thấy rằng, sau nhiều thập kỷ thực hiện
chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực phản động ở
trong nước và nước ngoài đang thay đổi phương thức hoạt động nhằm xóa bỏ vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vô hiệu hóa quân đội, tiến tới xóa bỏ
chế độ XHCN ở Việt Nam. Chúng tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác -
Lênin, đưa ra các luận điệu cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh; phủ định tư tưởng
Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngoài ra, chúng còn bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhiều thủ đoạn tinh vi;
chống phá chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Phương thức chống phá của
chúng chủ yếu là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng, sử dụng internet
và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng những hạn chế trong quản lý
nhà nước để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc đường lối. Chúng lợi
dụng, khoét sâu những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của
Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của
một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin,
thiếu đồng thuận trong Nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng,
Nhà nước, chế độ ta. Điều đáng lưu ý là gần đây đã xuất hiện thêm một số tài
liệu chống đối trắng trợn hơn, xuyên tạc lịch sử cùng với những luận điệu hết
sức phản động. Lợi dụng thời điểm Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII
của Đảng, trong bối cảnh chống dịch Covid-19, chúng không ngừng chống phá Đảng,
Nhà nước; lôi kéo tập hợp lực lượng và kích động tư tưởng chống đối; chia rẽ
nội bộ Đảng với Nhân dân và Quân đội nhân dân.
Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch,
phản động, cơ hội hiện nay là họ tìm mọi cách tập hợp những người có trình độ
cao nhưng thiếu bản lĩnh chính trị, suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống để
tấn công trực tiếp vào nền tảng tư tưởng của Đảng, tìm mọi cách để chứng minh
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là sai lầm; họ ra
sức tuyên truyền và cổ súy cho hệ tư tưởng và nền dân chủ tư sản; xuyên tạc,
bôi nhọ lãnh tụ và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc quan hệ giữa
nước ta với các nước khác trên thế giới; lợi dụng, lôi kéo những người nhẹ dạ,
cả tin để kích động; tìm mọi cách để lập luận, chứng minh Đảng và Nhà nước ta
không thực sự vì dân, chỉ có họ mới thực sự vì dân, vì nước, đứng ra đấu tranh
để bảo vệ nhân dân; bảo vệ chủ quyền lãnh thổ... lên án cán bộ, đảng viên của
Đảng và Nhà nước tham nhũng, thiếu dũng khí, quyết tâm trong bảo vệ chủ quyền
biển đảo... Khi Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, đưa
những vụ án lớn ra xét xử thì họ lại xuyên tạc đó là cuộc đấu đá giữa các phe
phái trong Đảng, Nhà nước...
Với những sản phẩm truyền thông được đầu tư kỹ
lưỡng và được lan tỏa, không chỉ khiến những người dân trình độ thấp, ít thông
tin bị mê hoặc mà ngay cả một bộ phận người dân có trình độ cao hơn cũng hoang
mang, hoài nghi và tin theo, từ đó hình thành dư luận xã hội tiêu cực một cách
sâu rộng. Thủ đoạn tinh vi, phức tạp này còn được kết hợp với thủ đoạn dựng lên
và tung ra những tin đồn thất thiệt, những thông tin sai sự thật hoàn toàn hoặc
một phần để xuyên tạc và chia rẽ nội bộ ta.
Có thể khẳng định, các thế lực phản động, thù
địch, cơ hội đang ráo riết tìm mọi cách để người dân giảm sút, tiến đến không
còn tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, từ đó tin vào những luận điệu xuyên tạc,
sai trái, thù địch của chúng. Khi đã thuyết phục được một bộ phận người dân, họ
tiến hành tập hợp lực lượng, liên kết các bộ phận này để tiến hành các hoạt
động biểu tình, chống phá.
Chính vì vậy có thể khẳng định trong bối cảnh
hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, mạng xã
hội, việc lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để chống phá cách mạng Việt
Nam càng trở nên tinh vi, phức tạp với mức độ nguy hiểm khó lường. Vì vậy, việc
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những quan điểm sai
trái, thù địch trên mạng xã hội là nhiệm vụ vô cùng cấp bách hiện nay.
DÂN CHỦ KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG
Khi ai đó vào các trang mạng xã hội
như Việt Tân, RFA… thì có thể rất dễ gặp các bài viết của các phần tử cơ hội
chính trị, chống đối cho rằng, Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ
nhất nguyên, nhất đảng nên “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và vì thế dẫn đến dân
chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Trong khi đó, các tổ chức nhân danh dân chủ
phương Tây đã và đang tìm cách cổ suý “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu phương Tây
vào Việt Nam, đồng thời tung tin bịa đặt với các luận điệu cho rằng: “Việt Nam
thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân”,
“Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một
đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị”; “chế độ
một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; “chế
độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “vừa đá bóng, vừa
thổi còi” dẫn đến ở Việt Nam không có dân chủ hoặc dân chủ hình thức”. Đây là
những luận điệu phản khoa học, hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa
vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ, phát triển của đất nước, dân tộc. Thực
chất luận điệu trên là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề
mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối
với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ thực chất
là các thế lực thù địch nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và định hướng XHCN ở nước
ta. Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới
và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan,
vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng
khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực
lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có
một đảng hoặc nhiều đảng. Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trợ sự phát
triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là luận điệu sai trái.
Cho đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này. Bởi đất nước có dân
chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc
vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo
vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu
số người trong xã hội đó mà thôi.
NHỮNG TỔNG THỐNG MỸ THẤT BẠI Ở CHIẾN TRANH VIỆT NAM
-----
1. David D. Eisenhower
(1890-1969) được coi là Tổng thống Mỹ đã khơi mào cuộc chiến tranh Việt Nam.
Với chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, ông ta đã dựng lên chính quyền độc tài
Ngô Đình Diệm và biến miền Nam Việt Nam thành “thuộc địa kiểu mới” ở Đông Nam
Á. Dưới sự bảo trợ của Tổng thống Eisenhower, chính quyền Diệm – Nhu đã mở hàng
loạt chiến dịch “tố Cộng”, “diệt Cộng”, lê máy chém đi khắp miền Nam Việt Nam
để tàn sát những người kháng chiến và yêu nước.
2. Người kế nhiệm Eisenhower là
Tổng thống Mỹ John F. Kennedy (1917-1963). Với chiến lược “Chiến tranh đặc
biệt”, Kennedy đã thúc đẩy việc xây dựng quân đội Sài Gòn mạnh với vũ khí,
trang bị và cố vấn Mỹ. Thời Kennnedy, chính quyền Diệm ra sức tiến hành “bình
định”, lập “ấp chiến lược” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. Sự
nghiệp của Tổng thống Kenny kết thúc khi ông ta bị ám sát ngày 22/11/1963, ít
ngày sau khi anh em Diệm – Nhu bị sát hại trong cuộc đảo chính do Mỹ giật dây.
3. Tổng thống Lyndon B. Johnson
(1908-1973) với chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Với chiến lược này, Mỹ trực
tiếp đưa quân sang Việt Nam, thực hiện “tìm và diệt” ở miền Nam và đẩy mạnh
chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn. Chính sách của Tổng thống
Johnson không chỉ tàn phá nặng nề hai miền Việt Nam mà còn khiến quân đội Mỹ
hứng chịu những tổn thất thảm khốc, khiến phong trào phản chiến ở Mỹ lan rộng
với sự tham gia của hàng trăm nghìn người thuộc mọi tầng lớp quần chúng.
4. Richard Nixon (1913-1994) là
vị Tổng thống Mỹ tai tiếng nhất thời chiến tranh Việt Nam. Dưới thời Nixon, Mỹ
thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, có mục tiêu rút quân nhưng để
lại cố vấn chỉ huy, viện trợ lớn cho chế độ ngụy Sài Gòn, đồng thời đưa miền
Bắc "về thời đồ đá". Theo mệnh lệnh của Nixon, máy bay chiến lược
B-52 của Mỹ đã thực hiện hàng nghìn lượt ném bom rải thảm mang tính hủy diệt
vào Hà Nội, Hải Phòng và các đô thị miền Bắc, bị truyền thông quốc tế lên án
như tội ác chiến tranh không thể dung thứ.
5. Gerald Ford (1913-2006) là
Tổng thống Mỹ cuối cùng dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông ta tiếp tục
theo đuổi chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hậu thuẫn cho ngụy Sài Gòn
chống phá Hiệp định Paris và dùng lực lượng tấn công lớn trên chiến trường miền
Nam. Dù vậy chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” từng bước bị phá sản, buộc Mỹ
phải bỏ rơi đồng minh chế độ của Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 30/4/1975, Gerald Ford
và giới chức Mỹ cay đắng nhìn cuộc chiến mà đất nước mình tiêu tốn hàng vạn
nhân mạng kết thúc với thất bại toàn cục...
Nguồn: Sưu tầm
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC TA!
--------------
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước của dân tộc ta dù đã trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh nhiều
của nhiều người nhưng thắng lợi rất vẻ vang. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam, Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã viết nên khúc khải hoàn ca
vĩ đại nhất, hào hùng nhất của thế kỷ XX. Đó là chiến công chung của cả dân tộc
trước giặc Mỹ xâm lược, quân đội chư hầu và tay sai, bán nước ngụy Sài gòn, sự
thật lịch sử đã quá rõ ràng, ánh sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng còn che
mờ cả nhật nguyệt.
Ấy thế mà những năm gần đây,
người ta xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc
Việt Nam. Tháng Tư về thì những tiếng vọng từ phía bên kia Đại Tây Dương và cả
những kẻ bất mãn trở cờ trong nước, trong đó có cả một số nhà sử học, những
người có chức sắc vẫn cứ tiếp tục ca bài ca muôn thủa, xuyên tạc bản chất của
cuộc kháng chiến với luận điệu: "Cuộc chiến Việt Nam đã đi qua 47 năm
nhưng Việt Nam vẫn ăn mừng chiến thắng 30/4. Đây là cuộc nội chiến huynh đệ
tương tàn thì có gì phải vui mừng. Người Cộng sản đã đối xử tàn bạo với những
người thua cuộc sau năm 1975”... Xin luận giải vấn đề như sau:
BẢN CHẤT CỦA CUỘC CHIẾN:
Trước hết cần khẳng định rõ, cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta (1954-1975) là cuộc chiến giữa một
bên là nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một
bên là đế quốc Mỹ, quân đội chư hầu như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Úc…và
tay sai bán nước ngụy Sài Gòn. Đây không phải là một cuộc nội chiến vì kẻ
nắm thực quyền và quyết định mọi việc của phe địch là đế quốc Mỹ, ngụy Sài Gòn
chỉ do Mỹ dựng lên, làm tay sai để hợp thức hóa mưu đồ biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới.
Mỹ mang quân đội trực tiếp xâm
lược, từ vũ khí cho đến mọi thứ đều do một tay Mỹ chu cấp, nuôi dưỡng bọn Việt
gian, phản quốc để chống lại đất nước. Trong giai đoạn đỉnh quân số của Quân
đội Mỹ triển khai ở chiến trường miền Nam Việt Nam lên đến 541.933 quân, nhằm
phục vụ cho chiến lược Chiến tranh Cục bộ mà Lầu Năm Góc kỳ vọng sẽ giúp họ
chiến thắng. Người Mỹ mang quân đi giết người Việt Nam và bị người giết, mất
hơn 58.000 nhân mạng, hơn 303.000 người thành tàn tật, phế nhân và 1000 tỷ USD
(thời giá 2010)…Vậy đây nhất quyết không phải là cuộc nội chiến! Nội chiến chỉ
là câu chuyện nội bộ giữa các phe phái trong cùng một nước, không có quân đội
nước ngoài tham gia, chi phối, làm chủ. Cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ thế kỷ 19 là ví
dụ điển hình. Phe miền Bắc với tư tưởng "tự do" đã đánh thắng phe
miền Nam với tư tưởng không giải phóng nô lệ.
THỜI HẬU CHIẾN: CHÚNG TA ĐÃ RẤT
NHÂN ĐẠO!
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi
trả lời chất vấn trước Nghị viện Pháp vào cuối thập niên 1980 đã tuyên bố: “học
tập cải tạo là một chính sách nhân đạo, bởi nếu ở những nước khác, bao gồm cả
Pháp, những tù nhân này lẽ ra đã bị xử tử hàng loạt vì tội phản quốc, cộng tác
với quân xâm lược nước ngoài. Những người đã phạm phải những tội ác tày trời
chống lại đất nước, những người mà nếu ở những nước khác, mà chính quý vị ở đây
(các nghị sỹ, nhà báo Pháp) ngay sau khi được giải phóng khỏi Đức Quốc xã, biết
chuyện gì đã xảy ra (nước Pháp đã xử tử hơn 10.000 người cộng tác với Đức Quốc
xã sau khi được quân Đồng Minh giải phóng năm 1945, xem Épuration légale)...
Những người này được cho cơ hội trở lại làm một công dân bình thường, tham gia
vào cộng đồng cả nước như bao người. Các vị còn đòi hỏi gì nữa?”.
Người Pháp từng sát hại dã man cả
gái điếm chỉ vì họ bán thân cho quân Đức Quốc xã trong thế chiến thứ Hai để trả
thù, còn chúng ta dù trải qua nhiều năm chiến tranh, đất nước tổn thất nặng nề
nhưng vẫn tạo điều kiện, nhường cơm, xẻ áo cho hơn 200.000 người, những người
mang nợ máu với non sông trong số 1.000.000 người ra trình diện, cho họ học tập,
cải tạo và đa số họ trở thành người có ích cho xã hội, cùng nhau xây dựng đất
nước sau này. Vậy Mỹ, Pháp sao có thể nói là nhân văn hơn chúng ta, sao có thể
nói là hòa giải, hòa hợp dân tộc theo cách khoan hồng, độ lượng như chúng ta?
HOÀ HỢP DÂN TỘC KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ
QUÊN ĐI QUÁ KHỨ!
Hòa hợp dân tộc là việc làm
thường xuyên, liên tục, bắt đầu từ sau khi Việt Nam thống nhất chứ không phải
bây giờ. Tuy nhiên lịch sử phải được nhắc lại cho con cháu hiểu để thêm yêu tổ
quốc, căm ghét bọn bán nước cầu vinh, giáo dục công dân Việt Nam về lòng yêu
nước, trân quý giá trị hòa bình và phẩm giá của người Việt Nam; tri ân các anh
hùng liệt sỹ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc. Ngày 30/4 hàng năm,
người Việt Nam mãi mãi tôn vinh, mãi mãi tự hào, mãi mãi nhắc tới, mãi mãi ăn
mừng.
Hòa hợp dân tộc không đồng nghĩa
với xuyên tạc lịch sử, cào bằng giữa ta và giặc. Đám tàn dư đừng hòng trâng
tráo, đánh bùn sang ao hòng rửa tội bán nước. Một số cán bộ, đảng viên trước
đây trót ăn theo, nói leo đám ba que xỏ lá thì nên suy nghĩ lại, đừng có nói
với nhân dân Việt Nam về cái gọi là “30/4 không nên ăn mừng, không nên kỷ
niệm”. Đó là giọng điệu của giống vô loài, phản chủ./.
Nguồn:TUYENGIAOBINHPHUOC.ORG.VN.
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI BÀI QUỐC CA VIỆT NAM
Quốc ca Việt Nam ra đời đã được
76 năm – cùng với Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô Hà Nội – Quốc ca Việt Nam đã hòa
vào máu thịt của mỗi người dân đất Việt.
Dù ở đâu trên trái đất này, nếu
ai đó hát Quốc ca Việt Nam thì hãy tin rằng đó là người bạn, người đồng chí của
chúng ta. Nhưng cũng ít ai biết rằng Quốc ca Việt Nam gắn liền với Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong những ngày sôi nổi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong
Cách mạng Tháng Tám. Chính Người đã lựa chọn và sửa chữa để trở thành bài ca
bất diệt của nước Việt Nam. Bác Hồ đã xem xét và sửa chữa một cách cẩn thận bài
“Tiến quân ca”. Người đã sửa chữa một số câu từ, như câu mở đầu của “Tiến quân
ca”, nguyên bản là “Đoàn quân Việt Minh đi…”, Người đã sửa lại là “Đoàn quân
Việt Nam đi…”; hoặc câu “Thề phanh thây uống máu quân thù…”, Người đã sửa lại
“Đường vinh quang xây xác quân thù…”. Rõ ràng những câu chữa lại của Bác Hồ
chính xác hơn, đẹp hơn và đáp ứng yêu cầu của bài Quốc ca Việt Nam.
Ngày 2/9/1945, trong không khí
tưng bừng của lễ Tuyên ngôn Độc lập, Quốc ca Việt Nam đã vang lên trong hàng
triệu trái tim của con dân Việt Nam, báo hiệu một kỷ nguyên mới của lịch sử dân
tộc. Nhắc lại sự kiện này, cố nhạc sĩ Văn Cao đã nói: "Đây là hạnh phúc
lớn lao nhất của đời tôi, là niềm tự hào không bao giờ quên khi được lãnh tụ
kính yêu sửa chữa một tác phẩm nghệ thuật của mình".
Quốc ca Việt Nam đã trở thành một
phần máu thịt của Tổ quốc và chắc chắn còn trường tồn rất lâu dài với lịch sử
dân tộc.
SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI MỘT CÁCH ĐÚNG ĐẮN
Mạng xã hội có nhiều lợi ích không thể phủ nhận nhưng cũng gây ra nhiều tác
hại và hệ lụy, đòi hỏi chúng ta phải là những người sử dụng thông thái, biết
"gạn đục, khơi trong."
Trong thời đại hiện nay, mạng xã hội đang là xu thế và ngày càng được nhiều
người sử dụng, nhất là lớp trẻ. Nhiều mạng xã hội đang hoạt động song đặc tính
chung của chúng là người dùng tự cung cấp nội dung, ý tưởng và chia sẻ rộng rãi
trên internet.
Mạng xã hội có nhiều lợi ích, trong đó có việc giúp chúng ta nhanh chóng cập
nhật tin tức đời sống xã hội; kết nối một cách thuận tiện và không tốn kém các
mối quan hệ khi chúng ta không thể gặp gỡ trực tiếp người thân, bạn bè, đồng
nghiệp, đối tác…; nâng cao kỹ năng sống và sự hiểu biết về mọi lĩnh vực; cảnh
báo mọi người để tránh được nhiều hiểm họa trong cuộc sống, nâng cao tinh thần
cảnh giác.
Song mạng xã hội cũng gây ra nhiều tác hại và hệ lụy mà nguy hiểm nhất là
làm trì trệ các hoạt động sống của con người (ăn, ngủ, nghỉ, làm việc); gây tâm
trạng tiêu cực khi chúng ta tiếp nhận nhiều thông tin xấu; lấy mất quá nhiều
thời gian khi chúng ta lướt web, chơi game, "chém gió" thiếu kiểm
soát; tạo ra nguy cơ tiếp xúc với các nguồn tin lá cải không chính xác, không
được kiểm chứng, nhằm mục đích câu "view" câu "like."
Ngoài ra, mạng xã hội là nơi hoàn hảo để những người "ngáo" quyền
lực thể hiện bản thân. Việc thể hiện bản thân quá đà lại nhận được sự cổ vũ của
"cư dân mạng" trong thời gian dài sẽ dẫn đến con người ta lẫn lộn
giữa đời thực và thế giới ảo, hoang tưởng về quyền lực, vượt ra khỏi ranh giới
đạo đức, có thể phải đối mặt với bản án hình sự.
Có những vấn đề phức tạp, khiến người dùng mạng xã hội thiếu tỉnh táo không
biết đâu là được phép, đâu là điều cấm kỵ. Do đó, người sử dụng mạng xã hội phải
thực sự chú ý và được trang bị những kiến thức cần thiết để bảo đảm rằng mình
sử dụng không gian mạng có trách nhiệm, không vi phạm quy định của pháp luật có
liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật An ninh mạng và vi phạm Bộ Quy tắc ứng xử
trên mạng xã hội.
Theo Nghị định 15, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực viễn thông, tần
số vô tuyến điện, công nghệ thông tin đối với cá nhân là 100 triệu đồng. Hành
vi lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc
phạm uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị phạt 50-70 triệu
đồng.
Mức phạt 50-70 triệu đồng cũng được áp dụng đối với hành vi cung cấp thông
tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với
thuần phong, mỹ tục của dân tộc.
Luật pháp, các quy định, quy tắc ứng xử về mạng xã hội chỉ phát huy tác dụng
khi chúng ta là những người sử dụng thông thái, biết "gạn đục, khơi
trong"./.
NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI
Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi
đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với
bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ
hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên
tạc, kích động chống phá.
Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học
giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ
chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích
rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ
quyền biển, đảo”!
Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá
Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn
biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo
như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011
và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo
của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo
sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông
của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận
trên Biển Đông tại một số thời điểm…
Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác,
nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu
nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế,
các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên
minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh
thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình
Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong
đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy
trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà
các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.
Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn
không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam
hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ
ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền
biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…
Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển
Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để
tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem
đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng
thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động
việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài
trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe
này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…
Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng,
khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh
thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ
chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám
biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá,
số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có
ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan
tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.
Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc
gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc
luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi
phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước
ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của
các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra
đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm
ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.
Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác
là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh
giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ
trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang
trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn,
xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!
Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các
đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp
cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và
bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các
tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên
ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại
kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực
hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.
Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt
Nam
Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền
quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo
vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ
góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo
của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng
trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.
Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng,
toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc
phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải
quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác
tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng
của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở
tuân thủ luật pháp quốc tế.
Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam
trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh
thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông
qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...
Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua
việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp
luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công
ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ
lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử
của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông
(COC).
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng
bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước
liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình,
an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản
với các nước liên quan đến biển, đảo.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia
về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn
các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển
1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế
của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với
nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử
dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên
quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp
hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi
nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn
sàng chống chiến tranh xâm lược.
Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu
tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành
con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế
về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.
Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường
lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải
“chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và
trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ
quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên
tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu
vực và cộng đồng quốc tế.
Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết
vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ
chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…
Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng
ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên
tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là
làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm
cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG TIK TOK CHO BỘ ĐỘI
Vấn nạn Tik Tok trong lực lượng
vũ trang tới bây giờ là không mới. Hiện nay có rất nhiều người lan truyền hình
ảnh kỉ luật trong Quân đội được đăng tải lên mạng xã hội Tik Tok những ý kiến
bàn bạc đánh giá từ người dân ngoài quân đội. Và cũng có người gửi cho admin
xem những video đó.
Việc quân nhân đăng tải những
hình ảnh, cuộc sống, sinh hoạt trong quân đội quá nhiều rất nguy hiểm cho công
tác huấn luyện. Trên thực tiễn cho thấy, trong các hoạt động quân sự của
Ukraine và Nga đang diễn ra có rất nhiều trường hợp, quân đội Ukraine đăng
video lên Tik Tok. Kết quả cuối cùng thì chúng ta cũng đã biết, báo chí cũng đã
đăng tin rất nhiều.
Còn vấn đề kỉ luật trong quân
đội, có câu "kỉ luật chính là sức mạnh của quân đội" quân đội là lực
lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biên giới. Nếu nhưng không áp dụng kỉ luật thì
sẽ ra sao?. Khi chiến tranh xảy ra quân nhân không có tính kỉ luật, không được
rèn rủa tôi luyện thì sẽ như thế nào? Đã là quân nhân chúng ta phải tuân thủ.
Không riêng gì các tổ chức lực lượng vũ trang, trong các cơ quan đoàn thể, công
ty, xí nghiệp công dân, người lao động khi tham gia sinh hoạt, học tập, lao
động cũng cần tuân thủ tốt các quy định, nội quy mà cơ quan, doanh nghiệp đoàn
thể đưa ra. Khi vi phạm sẽ bị xử phạt bằng nhiều hình thức cảnh cáo, biên bản,
sa thải.... Đó là điều hiển nhiên không cần bàn cãi.
Việc sử dụng mạng xã hội như thế
nào cho đúng, an toàn mới là vấn đề chúng ta cần phải xem xét trong thời đại
công nghệ 4.0 này.
HẾT LÒNG PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN
Một trong những đặc
trưng cơ bản về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW
của Quân ủy Trung ương là: “Có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung
thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt
lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành
tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy”.
Qua gần 80 năm xây
dựng, chiến đấu và trưởng thành, phẩm chất cao đẹp ấy vẫn luôn được các cán bộ,
chiến sĩ trong Quân đội ta gìn giữ, phát huy, dù thời chiến hay thời bình.
Những người con của
nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng
người, cần mẫn hướng dẫn nhân dân phòng, chống dịch; đi chợ; thu hoạch nông
sản; phục vụ trong khu cách ly; canh gác các chốt kiểm dịch; cứu chữa người
bệnh; chăm sóc em bé mồ côi; mai táng đồng bào tử vong do dịch bệnh bằng tất cả
tấm lòng và trái tim chan chứa tình người. Kể sao hết được những người cha,
người mẹ suốt mấy tháng trời chỉ nghe thấy tiếng, chỉ nhìn thấy mặt con yêu
thương qua điện thoại; không ít cán bộ, chiến sĩ đã không thể về đưa tiễn người
thân đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ cũng sẵn sàng hoãn cưới vợ, cưới chồng, cưới
con; không thể ở nhà lúc vợ trở dạ, sinh con... để hoàn thành mọi trọng trách
mà nhân dân giao phó.
Đó chính là sự ghi
nhận xứng đáng, sự đánh giá khách quan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đúng với
bản chất, truyền thống của Quân đội ta.
Trải qua các cuộc
kháng chiến, nhiều người con đã hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đã
dũng cảm chiến đấu, xả thân, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình”. Tiếp nối trách
nhiệm, nghĩa vụ cao cả ấy, trong thời bình, Bộ đội Cụ Hồ đang ngày đêm thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, vùng trời, vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc,
đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... và làm nghĩa vụ quốc
tế. Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, mỗi
cán bộ, chiến sĩ đã và đang tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, để trong
gian khó, nguy nan, quân đội tiếp tục là chỗ dựa tin cậy của nhân dân, góp phần
tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới./.
ĐỪNG ĐỂ BỊ LỪA KHI TIẾP CẬN CÁC THÔNG TIN TRÊN TRANG MẠNG
÷÷÷///////÷÷÷
Mới đây, trên các trang phản động
như Việt Tân đang đăng tải một hình ảnh được cho là bản sao của công trình luận
văn tốt nghiệp của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và cho rằng tổng bí thư của
chúng ta chưa tốt nghiệp đại học.Có thể thấy, chúng đang lợi dụng một bản sao
để kết luận về bác Trọng một cách xuyên tạc trắng trợn.
Nếu nhìn bằng mắt thường thì ai
cũng có thể nhận ra bản sao trên chắc chắn không phải được in vào năm 1967 mà ít
nhất cũng phải hơn chục năm sau đó bởi chữ in trên bản sao thuộc nhiều font chữ
khác nhau mà thời đó chưa có, chưa kể tới việc đây là chữ in của máy in.
Bên cạnh đó, Việt Tân còn lấy dẫn
chứng từ một nguồn mà ai cũng biết là không đáng tin cậy là Wiki, một mã nguồn
mở ai cũng có thể chỉnh sửa.Chúng xuyên tạc Gs Khánh được phong Gs năm 1980 thì
không thể để trên bản sao là Gs vào năm 1967 được.
Trên thực tế, ngày 11 tháng 9 năm
1976, 29 nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu đã được nhà nước phong hàm giáo sư đầu
tiên của Việt Nam, trong đó không có Gs Đinh Gia Khánh. Nhưng đối với bản sao
trên, thì việc để học hàm của Gs Đinh Gia Khánh là Giáo sư là điều hoàn toàn
bình thường bởi ông đã được phong Gs năm 1980.
Tóm lại, thông tin trên chưa được
kiểm chứng và chúng ta có thể thấy nhiều hạt sạn trong luận điệu của các đối
tượng, bài viết của chúng sặc mùi quy chụp và một chiều. Mọi người hãy cảnh
giác, kiểm chứng thông tin trước khi nghe theo các đối tượng xấu.
NGẠI PHÊ BÌNH, GÓP Ý - KHÔNG CHỈ LÀ SUY THOÁI...
Thời gian qua, khá nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và pháp luật,
phải xử lý nghiêm khắc. Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi
phạm kéo dài, thậm chí suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi
bộ, đồng nghiệp cùng công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che
tai”!
1. “Ông ấy bây giờ mới bị xử lý là quá muộn”; “Vi phạm lâu rồi, bây giờ cấp
trên mới biết thôi”; “Nhiều người trong cơ quan biết sếp vi phạm nhưng sợ “đấu
tranh, tránh đâu”...
Không ít lần tôi được nghe như thế khi hỏi chuyện những người quen ở cơ
quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật.
Ví dụ thì rất nhiều và có lẽ cũng chẳng cần nêu ra. Chỉ riêng những kết luận
của Ủy ban Kiểm tra Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay đã
cho thấy, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm nghiêm trọng từ lâu, chủ yếu là:
Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát dẫn đến gây
thất thoát lớn tài sản của Nhà nước; suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức,
lối sống; mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế
làm việc; vi phạm các quy định trong công tác cán bộ, quản lý đầu tư, xây dựng,
sử dụng đất đai, tài chính, tài sản; tham nhũng... Những vi phạm này, không thể
nói là các đồng chí trong cấp ủy, ban lãnh đạo và chi bộ, đồng nghiệp cùng công
tác với cán bộ, đảng viên đó đều... không biết!
Bên cạnh những vi phạm nghiêm trọng, khá nhiều cán bộ, đảng viên có những khuyết
điểm, như: Độc đoán, gia trưởng, tham gia tệ nạn xã hội, vi phạm quy định về
những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ,
đảng viên, người đứng đầu... Đồng chí, đồng đội, nhân viên là những người trực
tiếp chịu tác động hoặc được chứng kiến, nhưng vẫn không mạnh dạn góp ý, phê
bình!
Chính vì không được thẳng thắn góp ý, phê phán nên những cán bộ, đảng viên
đó càng “tự tung tự tác”, “cái sảy nảy cái ung”, vi phạm tăng thêm dẫn đến hậu
quả nghiêm trọng.
Ngoài những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không phê bình, ngại góp ý với
đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp, nhất là với cấp trên, như: Sợ mất lòng, sợ bị
trù dập, quy chụp là gây mất đoàn kết; vì cùng có chung lợi ích; hoặc đơn giản
là tâm lý “an phận thủ thường”, sợ bị hiểu sai... thì lâu nay, không ít cán bộ,
đảng viên, công chức, viên chức có quan điểm “việc ai nấy làm”, không tham gia
vào công việc và cuộc sống của người khác. Sự thờ ơ, vô cảm trước những việc
sai trái, biết rõ những sai phạm, khuyết điểm của đồng nghiệp, đồng chí, đồng
đội mà không thẳng thắn góp ý, phê bình đã dẫn đến nhiều hệ lụy: Cán bộ, đảng
viên tiếp tục vi phạm, làm suy yếu tổ chức, ảnh hưởng sự trong sạch vững mạnh
và uy tín của Đảng.
2. “Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo
vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau...”
và “đoàn kết xuôi chiều” là một trong những biểu hiện của sự suy thoái,
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XII) đã chỉ rõ.
Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng thẳng thắn đánh giá: Năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát
của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn
đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm
chí còn cục bộ, lợi ích nhóm...
Để thực hiện mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn
chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển
hóa"... Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã xác định nhiệm vụ và giải
pháp đầu tiên là: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư
tưởng, tự phê bình và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh
hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ
cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến
chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi
quý". Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy
thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Bên cạnh đó, chú
trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức
trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những
vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm,
sai phạm lớn.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng
với rất nhiều giải pháp, nhưng quan trọng nhất, theo Người, trước hết là phải
“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (bài báo Người viết
nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng). Muốn thực hiện được điều này,
Người chỉ rõ: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng.
Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng
viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”...
Bác Hồ nhấn mạnh “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc” vì tất cả
hoạt động của chi bộ chủ yếu được thông qua sinh hoạt với 3 hình thức: Sinh
hoạt lãnh đạo; sinh hoạt học tập; sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Mỗi hình
thức sinh hoạt có yêu cầu riêng, nhưng đều phải có tính lãnh đạo, tính giáo dục
và tính chiến đấu, trên cơ sở thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt
đảng, đó là: Tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê
bình và phê bình.
Thế nhưng, tình trạng ngại phê bình, “ngại nói thật” trong sinh hoạt chi bộ
và cả sinh hoạt cấp ủy, đảng bộ vẫn khá phổ biến. Đây là nguyên nhân cơ bản làm
mất tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, dẫn đến không kịp thời ngăn ngừa những
vi phạm của cán bộ, đảng viên, để xảy ra sai phạm kéo dài và nghiêm trọng. Thậm
chí, không ít cán bộ, đảng viên có sai phạm mà vẫn được đánh giá hoàn thành tốt
nhiệm vụ và đề nghị khen thưởng, bổ nhiệm.
Thật đáng buồn khi hầu hết các vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm về đạo đức,
lối sống, kỷ luật, pháp luật, nhất là tham nhũng... đều do quần chúng nhân dân,
báo chí hoặc cơ quan chức năng cấp trên phát hiện. Trong khi đó, chi bộ, cấp ủy
là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và tiến hành kiểm tra, giám sát,
đánh giá cán bộ, đảng viên; người cùng chi bộ, cùng cơ quan thường xuyên gần
gũi, công tác, hiểu hết tính cách cũng như những việc làm của nhau-như “cùng
nằm trong chăn mà lại... không biết chăn có rận”!?
Rõ ràng, việc cần làm ngay là phải quy trách nhiệm, xử lý kỷ luật nghiêm đối
với những cán bộ, đảng viên cùng sinh hoạt trong cấp ủy, chi bộ mà không phê
bình, góp ý, để đồng chí, đồng đội vi phạm pháp luật, kỷ luật, nhất là với
những vi phạm nghiêm trọng, kéo dài (như Bộ luật Hình sự đã quy định tội danh
“không tố giác tội phạm” và “che giấu tội phạm”). Bên cạnh đó, cần ban hành quy
định bình xét cán bộ, đảng viên theo thang điểm 10 trên từng nội dung, trong đó
có tinh thần tự phê bình và phê bình...; đồng thời xếp loại cán bộ, đảng viên
trong từng chi bộ theo số thứ tự (từ tốt nhất đến yếu nhất) để tăng tính đấu
tranh phê bình trong sinh hoạt đảng, bảo đảm kết quả bình xét thực chất hơn,
tránh tình trạng "tạo điều kiện cho nhau cùng ở mức hoàn thành tốt nhiệm
vụ”. Có như vậy mới khắc phục được tình trạng “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né
tránh, thấy sai không đấu tranh.
3. “Tôi vô cùng cảm ơn anh đã rất kiên trì, dũng cảm, chân thành góp ý, giúp
tôi sửa được tính nóng nảy, gia trưởng, đồng thời biết tôn trọng, lắng nghe cấp
dưới. Nếu không, sai lầm của tôi không chỉ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng mà tôi
còn mất hết tình cảm đồng đội, bạn bè”.
Hầu như lần nào làm nhiệm vụ lái xe “tháp tùng” bố đi dự gặp mặt hội truyền
thống của đơn vị cũ, tôi cũng được nghe một bác nguyên là trung đoàn trưởng nói
với bố tôi như vậy.
Chuyện là, thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, bố tôi là trợ lý tác
chiến trung đoàn. Thấy đồng chí trung đoàn trưởng nóng tính, “quân phiệt
miệng”, thường xuyên quát mắng cấp dưới khiến anh em vừa sợ vừa không hài lòng
nên trong các cuộc họp chẳng ai ý kiến gì, nhưng khi ra ngoài thì xì xào với
nhau; sau hai lần chân thành góp ý nhưng bị trung đoàn trưởng gạt phăng, bố tôi
đã định “mặc kệ”. Nhưng một hôm, nghe các tiểu đoàn trưởng và sĩ quan tham mưu
bàn tán rằng phương án tác chiến do trung đoàn trưởng quyết định không hợp lý,
dễ bị thất bại, bố tôi cũng thấy như vậy nên quyết định phải ý kiến với thủ
trưởng.
“Được nhận” những lời khó nghe, bố tôi ức chảy nước mắt, chạy về hầm. Không
thể để một quyết định nặng tính chủ quan, sai lầm có thể dẫn đến “nướng quân”,
bố tôi quyết tâm viết thư gửi trung đoàn trưởng. Lá thư đó rất dài, ngoài nêu
những bất hợp lý của phương án tác chiến còn góp ý riêng với thủ trưởng cần bỏ
tính gia trưởng, “quân phiệt miệng” khiến cấp dưới ức chế và không thể phát huy
dân chủ trong đơn vị, thậm chí cán bộ, chiến sĩ chán nản... Cuối thư, bố tôi
mạnh dạn viết: Nếu trung đoàn trưởng không tiếp thu phê bình và chỉnh sửa thì
tôi sẽ viết thư gửi chỉ huy sư đoàn. Còn nếu tôi sai thì tôi xin hoàn toàn chịu
kỷ luật!
Thật may, lá thư này đã khiến đồng chí trung đoàn trưởng thay đổi. Ông gọi
bố tôi lên nói lời cảm ơn...
“Phê bình cho đúng để trị bệnh cứu người” là tư tưởng có tính nhân văn rất
sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: Khuyết điểm cũng như chứng
bệnh. Phê bình giống như uống thuốc. Nếu sợ phê bình thì cũng khác nào có bệnh
mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. Như vậy thì bệnh tình lại càng nặng thêm.
Do vậy, đối với đảng viên, cán bộ mà nể nang không phê bình, để cho đồng chí
mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà
không chữa cho họ... Biết người ta sai mà không nói cho người ta sửa tức là hại
người. Tự phê bình và phê bình phải xuất phát từ tình đồng chí, thương yêu lẫn
nhau. Càng yêu thương thì càng phải thẳng thắn phê bình, có như vậy mới thực sự
giúp nhau tiến bộ.
Cổ nhân cũng đã đúc rút: Những người chân thành, mạnh dạn phê bình bạn chính
là người bạn tốt và điều gì xuất phát từ trái tim sẽ đi tới được trái tim.
Ngược lại, những ai biết rõ bạn đang làm sai mà không khuyên can thì đó chính
là người xấu.
Có thể khẳng định, việc chân thành, thẳng thắn phê bình, góp ý không chỉ là
yêu cầu có tính nguyên tắc trong sinh hoạt đảng và các tổ chức thuộc hệ thống
chính trị mà còn thể hiện tình người sâu sắc, nhân văn. Việc biết đồng chí,
đồng đội đang mắc khuyết điểm, lầm đường lạc lối mà vẫn “mũ ni che tai” chính
là làm hại tổ chức và đồng chí, đồng đội. “Tội” này cần phải kiên quyết đấu
tranh, phê phán, cả trong công tác và trong cuộc sống đời thường.
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN KhÔNG
THỂ LỖI THỜI
Hầu hết những người phủ
nhận chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn thường lập luận, thế giới ngày nay đã phát triển
vượt bậc, mọi thứ đều đã khác, hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến
mức không còn nhận biết được so với hệ thống tư bản chủ nghĩa thời C.Mác nghiên
cứu, do đó chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, tư tưởng của C.Mác không còn phù
hợp! Nhưng những lời chống đối ấy đã cố tình lờ đi sự thật là: Chủ nghĩa Mác -
Lênin là sự phê phán sâu sắc nhất, khoa học nhất đối với những bất công, bất
bình đẳng. Đó là hệ tư tưởng phản biện duy nhất đã và đang làm thay đổi thế
giới theo hướng ngày càng công bằng và tốt đẹp hơn. Cũng có nghĩa, chừng nào xã
hội hiện đại còn có những bế tắc, khủng hoảng thì chừng đó chủ Nghĩa Mác -
Lênin vẫn tồn tại và phát triển cấp tiến hơn. Một điều chắc chắn là các thế hệ
tiếp nối tư tưởng đương nhiên sẽ làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi
thời.
Chúng ta thấy rằng, những
điều tưởng như hiển nhiên trong cuộc sống của loài người hôm nay như: trẻ em
được đến trường chứ không phải đi làm; phụ nữ được giải phóng và bình đẳng với
nam giới; người lao động làm việc 8h một ngày, thời gian rảnh không bị ai quản
thúc; y tế được chăm sóc toàn dân; giáo dục được phổ cập; người nghèo được quan
tâm, người có hoàn cảnh đặc biệt được chia sẻ...tất cả những điều tưởng chừng
như hiển nhiên hôm nay không phải ngẫu nhiên có được mà chính sự thật là nhờ sự
thức tỉnh được chỉ ra từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta phải biết
ơn Mác và những nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi chính họ mang đến, gieo
mầm để những sự thật tốt đẹp đó từng ngày hiển hiện khắp hành tinh.
Khác với tất cả các học thuyết
trước đó hoàn toàn chỉ là nhận thức thế giới, với chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề
không chỉ có nhận thức, mà điều quan trọng phải là cải tạo thế giới, nghĩa là
làm cho thế giới thay đổi, làm cho thế giới tốt đẹp hơn. C.Mác luôn ý thức được
bản chất không ngừng vận động của cái hệ thống tư bản chủ nghĩa mà ông phản
bác. Chính nhờ C.Mác mà loài người có được những khái niệm về các hình thái
lịch sử khác nhau đã song hành hoặc kế tục nhau tồn tại của tư bản: tư bản
thương mại, tư bản nông nghiệp, tư bản công nghiệp, tư bản độc quyền, tư bản
tài chính, đế quốc… C. Mác còn nhìn thấy trước được cái mà giờ đây chúng ta gọi
là “toàn cầu hóa”.
Sự thật là, tại thời điểm
C.Mác và Ph.Ăngghen viết Tuyên ngôn đảng Cộng sản, ở khắp Châu Âu và Hoa Kỳ,
trẻ em từ 5 đến 14 tuổi phải làm việc phổ biến trong các ngành nông nghiệp, nhà
máy, hầm mỏ hay bán báo, thậm chí phải làm đến 12h/ngày. Tuyên ngôn Cộng sản
của C.Mác và Ph.Ăngghen đã không khoan nhượng tình trạng ấy, các ông yêu cầu
giáo dục miễn phí cho trẻ em trong các trường học công và xóa bỏ bóc lột trẻ em
trong các nhà máy. Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác đã khởi xướng và bắt nhịp cho
dàn đồng ca khắp thế giới để ngăn chặn chấp dứt lao động trẻ em và đưa trẻ đến
trường. Cũng chính ở thời điểm đó, người phụ nữ ở Mỹ và các nước Châu Âu vốn có
địa vị thấp kém hơn so với đàn ông, họ bị coi như nô lệ trong gia đình, thậm chí
bị coi như là một món món hàng để giới tư sản mua bán, trao đổi, quyền công dân
của họ bị tước bỏ, không được bỏ phiếu bầu cử và cũng chẳng được tham gia bất
cứ hoạt động chính trị nào. C.Mác và Ph.Ăngghen đã tố cáo gay gắt sự bất công
ấy, nhưng quan trong hơn, các ông không chỉ vách trần nguồn gốc sự bóc lột tư
bản đối với nữ giới mà còn chỉ ra con đường giải phong phụ nữ thành công. Đó là
một tầm cao mà tại thời điểm đó tư tưởng nhân loại chưa thể vươn tới.
Đối với nhân loại cần lao, quyền
bình đẳng là cái mà họ phải phấn đấu đấu tranh cả đời, nên ai ai cũng rất hiểu
và thấm thía. Khi ấy giới tư bản chỉ tập trung làm giầu trong một số ít giai
cấp tư sản, còn đại bộ phận nhân dân không được bảo vệ trước áp bức, bất công.
Nơi nào có áp bức tất yếu nơi đó có đấu tranh. Dự báo của C.Mác về việc đấu
tranh rút ngăn thời gian lao động từ 14, 15h/ngày xuống còn 8h/ngày trở thành
mục tiêu quan trọng được tuyên bố trong Quốc tế Cộng sản I, sau này tiếp tục
được nêu trong Quốc tế Cộng sản II để rồi từ ngày 1/5/1890, Quốc tế lao động
đầu tiên ra đời với quy mô toàn thế giới cùng hiệp lực, cùng đấu tranh đã biến
ngày làm 8h thành hiện thực.
Có lẽ chính bởi sự vạch trần và
phê phán gay gắt, quyết liệt đến tận cốt tử về bản chất của CNTB nên CNTB trở
lên thù hận Chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí họ còn ngông cuồng coi đó như là
một bóng ma cần phải trừ khử. Thế nhưng chính sự phê phán của Chủ nghĩa Mác -
Lênin đã khiến CNTB tự biến đổi, tự sửa chữa những sai lầm của mình như, xây
dựng các nhà nước phúc lợi hay tìm cách thu hẹp khoảng cách giầu nghèo nhằm
điều hòa mâu thuẫn xã hội, mâu thuấn giai cấp. Thực tế CNTB không phải đi từ tờ
giấy trắng để có sự tốt đẹp. Để có thành tựu hôm nay, CNTB đã để lại trên con
đường đi của mình biết bao mồ hôi, xương máu của con người. Biết bao người da
đen, da đỏ, da vàng đã phải bị giết chóc, tù đầy, biết bao người lao động đã bị
hành hạ, bóc lột đến tận xương tủy…để họ xây dựng chế độ như ngày nay?
Jacques Derrida, một nhà triết
học người Pháp viết trong tác phẩm “Những bóng ma của Mác” cho rằng: "con
người trong xã hội hiện đại, dù là những người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin hay
những người phê phán C.Mác cũng gắn chặt với C.Mác. Sẽ không thể có tương lai
nếu không có các di sản của C.Mác". Ông khẳng định: “cần phải trở về với
Mác để chống lại cái "trật tự thế giới mới" của thị trường tư bản chủ
nghĩa”. Còn Tery Eagleton, giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste Vương quốc
Anh thì viết trong cuốn “Vì sao Mác đúng?” rằng: "Chủ nghĩa Mác giống như
bác sỹ, khi mà cơ thể khỏe mạnh sẽ không để ý, song một khi CNTB gặp vấn đề
nghiêm trọng thì chủ nghĩa Mác lại phát huy tác dụng phê phán vốn có của mình.
Chính Mác đã thúc đẩy những thay đỏi tích cực của các nước tư bản". Đối
với các đảng cộng sản, đảng công nhân, đảng dân chủ xã hội và loài người tiến
bộ, hàng tỉ người trên khắp thế giới vẫn khẳng định học thuyết của C.Mác có giá
trị thời đại, vững bền.
Linh hồn và sự sống của chủ nghĩa
Mác - Lênin chính là phương pháp luận, những đòi hỏi đổi mới và sáng tạo không
ngừng. Nhưng nguyên lý này không chỉ đúng trong thế kỷ trước, trong thế kỷ này
mà còn đúng cho những thế kỷ sau, vì đó là những quy luật khách quan. Một số
người chống đối chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ tập trung phê phán 3 người sáng lập
C.Mác, Ph.Ăngghen, VI. Lênin mà tách rời tư tưởng hoặc tìm cách đối lập tư
tưởng của họ với những người tiếp nối về sau. Họ cố tình lời đi sự phát triển
của chủ nghĩa Mác - Lênin trong hơn một thế kỷ qua mà chỉ nhằm vào mục tiêu
chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, giáo điều, hay xa rời thực tiễn.
Cách suy luận siêu hình đó tất yếu sai lầm. Tiếp nối C.Mác, VI.Lênin khắp thế
giới có nhiều nhà tư tưởng kiệt xuất. Ở Việt nam, chủ tịch Hồ Chí Minh không
chỉ vận dụng tài tình chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam mà còn cống
hiến, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên những tư tưởng tầm vóc lịch sử,
những cuộc cách mạng chấn động địa cầu, đẩy lùi chiến tranh xâm lược của Đế
quốc, thực dân, những nô dịch, áp bức, bất công để thiết lập lên nền tảng của
cuộc sống độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Tiếp sau Hồ Chí
Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công hơn 30 năm đổi mới tạo ra
sự biến đổi về chất, từ một đất nước bị bóc lột, tàn phá đến quyệt quệ, bị cô
lập, chống phá quyết liệt sau chiến tranh thành quốc gia tự tin hội nhập cùng
thế giới. Bởi vậy, chính sự nối tiếp một cách biện chứng và bản chất sáng tạo,
luôn phát triển của mình làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời hay
lạc hậu.
Sức sống của chủ nghĩa Mác -
Lênin không chỉ bởi tính lôgic, khoa học mà còn tính nhân văn, nhân bản trong
mục tiêu, đích đến. Giá trị thời đại trong chủ nghĩa Mác chính là sự hiện tồn
những giá trị tốt đẹp của CNXH. CNXH liệu có xa xôi đến mức không tưởng? Thực
ra không cần tìm kiếm đâu xa, chỉ nhìn rất gần xung quanh chúng ta, rất nhiều
người dù thành đạt hay chưa thành đạt lắm vẫn dành thời gian đều đặn tham gia
nấu những bữa cơm cho người bệnh, vui vẻ chung tay xây dựng những chương trình
từ thiện, lo những xuất ăn cho người nghèo… Dù là chủ doanh nghiệp hay cán bộ,
nhân viên, thỉnh thoảnh lại chi ra một số tiền cho hoạt động thiện nguyện và
trực tiếp thực hiện những chương trình của mình. Không những thế, họ rất chu
đáo, tậo tâm với công việc này, vẫn quan tâm chi sẽ nỗi lo, niềm vui vì lợi ích
của người khác, cho dù thế giới đang khủng hoảng tài chính hay nền kinh tế gặp
khó khăn.
V.I.Lênin gọi những người quan
tâm đến lợi ích của những người bà con xa là những người của CNXH. Ở Việt Nam,
sự tự nguyện, tự giác chăm lo cho người khác ngày càng được nhân lên nhiều mô
hình phong phú: những phụ nữ làm tủ bánh mì miễn phía cho người cơ nhỡ; những
người đàn ông bơm, vá xe miễn phí cho sinh viên, người lao động nghèo; góc
đường phố có bình nước mát miễn phí ai đó đặt... Trong kinh tế thị trường ai
cũng vất vả kiếm sống không dễ, nhưng chia sẻ với nhau bằng tấm lòng vị tha,
nhân ái thì không phải là xã hội nào cũng có. Họ có lẽ chưa hiểu đầy đủ về
CNXH, CNCS nhưng họ đã có hành động như vậy đấy.
CNXH không phải là sản phẩm của
C.Mác, của Ph.Ăngghen, của VI.Lênin. Ngay từ thế kỷ VII, VIII, các nhà tư
tưởng ở phương Đông đã mơ về một xã hội không còn người lầm than, không còn
người lê la ở nơi hang cùng, xóm vắng nữa. Thuật ngữ CNXH đã bắt đầu xuất hiện
trước lúc C.Mác sinh ra hơn 100 năm. Có điều, làm thế nào để xây dựng được một
xã hội như vậy thì các nhà tư tưởng lúc đó chưa tìm ra được con đường, thế cho
nên người ta gọi CNXH không tưởng. Chỉ đến khi C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện ra
cơ sở lịch sử để thực hiện lý tưởng XHCN thì CNXH mới không còn là một “bóng
ma”. Các ông đã tìm thấy ở đó lực lượng, điều kiện mà những người trước đó
không tìm thấy. Với Tuyên ngôn Đảng Cộng sản 1848, CNXH được khẳng định là một
thực thể, một sự tồn tại có thật và đang lớn lên từng ngày, trở thành lực lượng
khuynh đảo thế giới, cân bằng lại thế giới đang trong thời của bờ vực rạn vỡ.
CNXH mới được hơn 100 năm kể Cách
mạng tháng Mười. Nếu nhìn rộng ra CNTB có tận 500 năm lịch sử. Thế nên nếu chỉ
nhìn vào sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu những năm 90 mà vội kêu lên
CNXH đã cáo chung thì hoàn toàn sai lầm. CNXH là chủ nghĩa cộng đồng, tư tưởng
cộng đồng không dễ gì bác bỏ, tiêu vong được. Nhân loại đã đi qua rất nhiều
chặng đường và lịch sử của CNXH cũng đã trải qua những bước thăng trầm tất yếu
với 4 lần khủng hoảng, điều đó cho thấy sức sống của một lý tưởng không hề bằng
phẳng. Các thế lực thù địch công kích nó đã đành, nội tại bản thân nó cũng phải
đấu tranh để tồn tại và phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “CNCS
không phải là một lý tưởng hay một khuân mẫu để chạy theo. Đối với chúng tôi
CNCS là sự vận động của đời sống hiện thực”. Con đường đi lên CNXH sẽ không
bằng phẳng mà còn rất nhiều gập ghềnh, thử thách, thậm chí phải trả giá bởi
những thất bại tạm thời, bởi đó không phải con đường có sẵn, mà muốn đi lên
phải tìm tòi, thử nghiệm, điều chỉ, sửa chữa, đục kết, hoàn thiện… Để có một
chế độ xã hội tốt đẹp phải trải qua quá trình xây dựng. Đó là con đường tất yếu
mà xã hội nào cũng phải trải qua. CNXH mà Hồ Chí Minh quan niệm là độc lập, tự
do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một nước XHCH tức là một
nước có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập. Ba mục tiêu mà chúng ta
hướng tới đó là độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là mục tiêu sống còn, là đích
đến cuối cùng mà chúng ta xây dựng. Lựa chọn con đường nào để đi đến chân trời
tươi sáng là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc. Người ta có thể nghi ngờ, nhưng
rõ ràng ở Việt Nam hiện nay phát triển theo CNXH là con đường duy nhất đúng. Để
đạt được mục tiêu ấy con đường đi lên của chúng ta không phải là con đường tư
bản đã đi, mà là đi theo con đường XHCN. Một đất nước ổn định về chính trị, yên
bình về xã hội, an toàn về quốc phòng an ninh để phát triển kinh tế, thu hút
đầu tư phải là một nước Việt Nam của con người CNXH. Khi đất nước đã bước qua
những năm tháng chiến tranh đói khổ, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
CNXH ở Việt Nam tiến lên một bước mới: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh.
Thế giới đã đổi thay, thế nhưng
thực tiễn xã hội cũng như sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ vẫn
không đưa ra được bằng chứng xác thực nào để bác bỏ nguyên lý căn bản của triết
học Mác - Lênin. Hơn thế, đi ngược về các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
trong thế kỷ này, tức là trên dưới 150 năm học thuyết Mác ra đời người ta buộc
phải tìm lại giá trị Mác để tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng đương thời,
bởi Mác đã mô tả hoàn toàn chính xác về quy luật phát triển của CNTB. Cho đến
hôm nay, chính nội tại của các nước Tư bản, đằng sau sự hào nhoáng thì con
người phải đối diện với những bất an, bất lực, phân biệt chủng tộc, khoảng cách
giầu nghèo, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn chính trị xã hội. Và cũng
chính ở đó, sự an hòa, yên bình, người với người sẻ chia của xã hội XHCN lại là
những chân trời mà nhân loại khao khát vươn tới.
Hơn 100 năm qua tư tưởng của các
nhà kinh điển đã vượt qua thử thách của thời đại cũng như sự công kích, chống
phá của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, bất chấp mội công kích, bôi nhọ, xuyên
tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn vững vàng và phát huy vai trò trong thời đại mới.
Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với tư tưởng Mác ngày càng tăng như một
đơn đặt hàng của lịch sử./.
VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÒNG, CHỐNG MÊ TÍN, DỊ ĐOAN
🍁🍂🍁🍂🍁🍂🍁🍂🍁🍂
Một trong những trăn trở của
không ít cán bộ, đảng viên hiện nay là tham gia đời sống tâm linh như thế nào
cho phù hợp, để không vi phạm Điều 19 của Quy định số 37-QĐ/TW “về những điều
đảng viên không được làm”: “Mê tín, hoạt động mê tín, ủng hộ hoặc tham gia các
tôn giáo bất hợp pháp hoặc lợi dụng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng để trục
lợi”.
Ranh giới giữa hoạt động tâm linh
với hoạt động mê tín, dị đoan thường rất mỏng manh. Định hình được ranh giới
ấy, cán bộ, đảng viên sẽ thấy thoải mái, tự tin hơn trong tham gia các hoạt
động tâm linh...
Mỗi dịp Tết đến, những ai là con
dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời
khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong
tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người
cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội
từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên
những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương,
vận hạn.
Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các
danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi
dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất
nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản
thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể
trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần
cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân-thiện-mỹ mãnh liệt.
Tuy nhiên, cũng có không ít những
hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ
con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm
trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng
trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng,
hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh,
ma quỷ.
Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta
cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không
được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là
“mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa
học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì
đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp.
Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới
vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và
đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói
chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng.
Vậy, đứng vững trên nền tảng tư
tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt
động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những
nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra.
Thậm chí, sẽ có những người ngẫu
nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi
người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ,
động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm
tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt
động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những
mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người.
Do đó, hoạt động tâm linh là một
nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên.
Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc
Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh,
“sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu
nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin
từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu
trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại
đã tạo ra”.
Với tinh thần đó, người đảng viên
cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà
phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu
tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị
cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
"ĐỒNG ĐỘI" - NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM!
Khi bước vào trận đánh, người chiến sĩ có biết bao điều muốn
gửi gắm cho nhau. Có những mệnh lệnh vang lên thành lời tâm huyết. Có sự tin
yêu chợt đến trong cử chỉ lặng lẽ, nhẹ nhàng. Có những điều chỉ nói được sau
trận đánh. Vậy mà mọi người đều hiểu - hiểu cả những điều không muốn nói ra.
Bởi một lẽ giản đơn, họ là "ĐỒNG ĐỘI".
“ĐỒNG ĐỘI - một câu đặc biệt như một bản lề khép mở. Nó như
nốt nhấn trên bản đàn, buộc chúng ta phải dừng lại suy nghĩ về ý nghĩa mà nó
gợi ra. Đó là tiếng gọi thiêng liêng của những người có chung chí hướng, lý
tưởng vang lên từ sâu thẳm tâm hồn người lính. Tình đồng đội là đỉnh cao của
tình bạn, tình người, là kết tinh của mọi tình cảm, là cội nguồn sức mạnh để
người lính vượt qua những tháng ngày khó khăn gian khổ. Hai tiếng “ĐỒNG ĐỘI”
đơn sơ mà cảm động đến nao lòng.
Trên chiến hào cùng nhau “chia lửa”, lúc khó khăn cùng giúp đỡ
sẻ chia, trong hoạn nạn quên mình cứu đồng đội, trong vinh quang cùng chia ngọt
sẻ bùi, chiến đấu vì dân, quên mình vì Tổ quốc. Đó là những phẩm chất cao đẹp
nhất của Bộ đội Việt Nam - những người lính thời đại Hồ Chí Minh chiến đấu quên
mình trong thời chiến, lặng lẽ hy sinh trong thời bình. Tất cả vì Tổ quốc, vì
dân tộc phồn vinh.
ST




