Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023

Đối ngoại quốc phòng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa

 

Trong những năm qua, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng không ngừng được đẩy mạnh, có những bước phát triển đột phá cả về nhận thức và hành động; góp phần nâng cao vị thế của đất nước, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Đối ngoại quốc phòng đã trở thành một kênh quan trọng, góp phần củng cố và phát triển quan hệ của Việt Nam với các quốc gia, tổ chức, khu vực trên thế giới. Các hoạt động đối ngoại quốc phòng đã thúc đẩy củng cố lòng tin chiến lược, xây dựng quan hệ hữu nghị với các đối tác. Việt Nam đã tham gia nhiều cơ chế, diễn đàn quốc phòng, quân sự đa phương khu vực, quốc tế và có đóng góp tích cực, quan trọng vào các cơ chế, diễn đàn này. Qua đó, vị thế, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày càng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có đầy đủ năm nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thiết lập Tùy viên quốc phòng tại hơn 30 nước và đã có hơn 40 nước thiết lập Tùy viên quốc phòng tại Việt Nam.

Trong khu vực, với việc chủ động, tích cực tham gia các cơ chế quốc phòng, quân sự của ASEAN ngay từ những ngày đầu thành lập, Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí, vai trò trong các hoạt động hợp tác quốc phòng, quân sự của ASEAN, đặc biệt trong cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Thành công nhất khi tham gia các cơ chế này là Việt Nam đã chuyển từ tham gia thuần túy sang chủ động làm chủ “cuộc chơi”, xây dựng và thiết kế “luật chơi”; trở thành một thành viên có tiếng nói quan trọng tại các diễn đàn. Các đề xuất, sáng kiến hợp tác của Việt Nam luôn được các nước đánh giá cao và đã chứng minh được hiệu quả khi triển khai trên thực tế. Việt Nam đã xây dựng được hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm, chủ động, tích cực trong hợp tác quốc phòng, quân sự ASEAN.

Trên trường quốc tế, với việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam đã và đang khẳng định được vị thế, uy tín, hình ảnh của một quốc gia có tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng quốc tế. Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là một trong những trụ cột của đối ngoại quốc phòng, là điểm sáng trong quan hệ đa phương của Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm gần đây. Đáng chú ý, để tạo hành lang pháp lý cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, ngày 13-11-2020, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Điều này thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, khẳng định sự tham gia lâu dài của Việt Nam đối với sứ mệnh gìn giữ và kiến tạo hòa bình ở khu vực và trên thế giới, phù hợp với chủ trương đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Những chiến sĩ mũ nồi xanh của Việt Nam đã giành được sự ủng hộ của nhân dân các nước nơi mà chúng ta đặt chân tới và lan tỏa sự ủng hộ lòng yêu mến dân tộc Việt Nam tới nhân dân các nước khác. Đây là một tài sản tinh thần quý báu góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam từ sớm, từ xa.

Những kết quả đạt được trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng cùng với thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao không chỉ phát triển cả về bề rộng, mà còn phát triển cả về chiều sâu đã góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; là tiền đề quan trọng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa, tạo động lực mới để chúng ta tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Quán triệt sâu sắc các luận điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục và nỗ lực cố gắng hiện thực hóa mục tiêu “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”, góp phần thắng lợi vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực hiện định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”, đối ngoại quốc phòng Việt Nam sẽ tích cực đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế cả trên bình diện song phương và đa phương hiệu quả, thiết thực, góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam nói chung, quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế, tiếp tục lan tỏa hình ảnh và phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” ra toàn thế giới.

Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, thành tựu nổi bật nhất là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước”. Đối ngoại quốc phòng là bộ phận của đối ngoại quốc gia đã góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, nỗ lực không để xảy ra xung đột, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, thuận lợi và thách thức, cơ hội và nguy cơ đan xen; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, ổn định của đất nước luôn bị đe dọa, nhiệm vụ đặt ra cho Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng nặng nề. Chính vì vậy, để thực hiện “kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình”, góp phần củng cố vững chắc “tuyến phòng thủ đầu tiên”, đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục thực hiện phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, không ngừng đổi mới, tham mưu hiệu quả cho Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực liên quan để có đối sách kịp thời, giành thắng lợi to lớn trên bàn đàm phán, chiến thắng trên mặt trận ngoại giao, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng để góp phần củng cố nội lực, tranh thủ nguồn lực và sự hỗ trợ từ bên ngoài về cả vật chất và tinh thần để xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước, tạo thế và lực, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

HAIVAN

Đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 

Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng nhiều biện pháp khác nhau: một mặt, xây dựng quan hệ bang giao, hòa hiếu, hữu nghị với các nước láng giềng; mặt khác, chủ động xây dựng lực lượng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa. Người khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” và căn dặn toàn dân, toàn quân Việt Nam: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Kế thừa quan điểm, tư tưởng, bài học kinh nghiệm quý báu ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là cần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, đồng thời triển khai toàn diện trên mọi lĩnh vực, phương diện của đất nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ, để thực hiện được các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thì một trong những nhiệm vụ là chúng ta phải “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII cũng chỉ rõ: “nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế”. Điều này thể hiện sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Đảng ta, đồng thời cũng cho thấy vai trò của công tác đối ngoại và hoạt động đối ngoại quốc phòng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong đó, ngoại giao được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và quân đội được coi là lực lượng then chốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cụ thể:

Một là, sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thể hiện thông qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XIII). Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã có sự đổi mới về tư duy đối ngoại, tạo bước chuyển trong mọi hoạt động hợp tác quốc phòng, chuyển từ tình trạng “đối đầu” sang “đối thoại”, “thêm bạn, bớt thù”, “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới”. Đại hội VII đã đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Đại hội VIII khẳng định “Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế”; “đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại” với phương châm “muốn là bạn của tất cả các nước”.

Năm 2003, Đảng ta đề ra Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thay đổi quan niệm bạn - thù sang linh hoạt xác định đối tác, đối tượng; lĩnh vực hợp tác quốc phòng đã được đề cập cụ thể hơn trong các văn kiện Đại hội. Đại hội IX xác định “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế”. Đây là lần đầu tiên Đảng ta đề ra chủ trương xây dựng quan hệ đối tác và thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong quan hệ quốc tế. Với tinh thần này, đối ngoại và hợp tác quốc phòng được triển khai mạnh mẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, cả trên bình diện song phương và đa phương. Đại hội X khẳng định: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”. Đại hội XI bổ sung và phát triển toàn diện hơn khi xác định: “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đáng chú ý, lần đầu tiên trong các kỳ Đại hội của Đảng, công tác đối ngoại quốc phòng được khẳng định rõ ràng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội XI của Đảng đã xác định nhiệm vụ quan trọng “Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”. Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội XI, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, trong đó nhấn mạnh, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là định hướng, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình. Thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng cả song phương và đa phương đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc. Đây là định hướng cơ bản, tạo nền tảng vững chắc góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XII tiếp tục khẳng định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Đại hội XIII chỉ rõ, một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 là “nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước”. Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng về hội nhập quốc tế, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, “Về hội nhập quốc tế”, trong đó lần đầu tiên nêu rõ những định hướng hội nhập quốc phòng, gồm: “Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác song phương về quốc phòng, an ninh với các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống” và “Chủ động và tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà nước ta là thành viên, trước hết là các cơ chế trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN làm chủ đạo”.

Có thể thấy, sự đổi mới tư duy về đối ngoại và hợp tác quốc phòng đã được hoàn thiện sâu sắc hơn qua các kỳ Đại hội, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước qua từng thời kỳ. Đặc biệt, đối ngoại và hợp tác quốc phòng ngày càng được coi trọng và được coi là kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Sự đổi mới về tư duy đối ngoại này của Đảng đã góp phần thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế về quốc phòng ngày càng sâu rộng, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện của Đảng và Nhà nước ta.

Hai là, sự nhất quán trong chủ trương, mục tiêu hợp tác quốc phòng. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2004 xác định, chủ trương đối ngoại quốc phòng là “thiết lập và phát triển quan hệ giao lưu, hợp tác trên cơ sở bình đẳng, hiểu biết lẫn nhau với lực lượng vũ trang các nước khác”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 nhấn mạnh: “Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với tất cả các nước”; “sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển” trên tinh thần “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào”  và “Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”. Với mong muốn “thêm bạn, bớt thù”, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác quốc phòng song phương và đa phương với các nước, tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau, cùng có lợi, sẵn sàng tham gia giải quyết những thách thức an ninh chung trên cơ sở tôn trọng, tuân thủ luật pháp quốc tế, như Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 xác định: “Việt Nam xem xét tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương và cơ quan pháp lý quốc tế khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia”.

Có thể thấy, chủ trương đối ngoại và hợp tác quốc phòng của Việt Nam đã thể hiện rõ bản chất của Quân đội Nhân dân Việt Nam là yêu hòa bình, vì hòa bình, chiến đấu để bảo vệ hòa bình, mang tính chất tự vệ để bảo vệ chính nghĩa.

Với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, năng động, sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng và chức năng nhiệm vụ đặc thù của lực lượng vũ trang, mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là “góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững hòa bình và an ninh ở khu vực và trên thế giới”. Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, xác định đối ngoại quốc phòng nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình; tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, đối ngoại quốc phòng còn nhằm mục tiêu duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới; thể hiện trách nhiệm trước các vấn đề của khu vực và cộng đồng quốc tế.

HAIVAN

Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, vấn đề kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn của 36 năm đổi mới theo hướng mở rộng và bao quát hơn những nội dung cần phải kiên định. Kiên định nguyên tắc là cơ sở để chúng ta phân biệt đối tượng, đối tác trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta lần đầu tiên khẳng định: Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức. Tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức đó vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến tổ chức rệu rã và có nguy cơ tan rã.

Trải qua hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Tổng kết công tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, tuy cách diễn đạt về các nguyên tắc xây dựng Đảng có khác nhau một vài điểm nhưng nhìn chung, Đảng ta vẫn luôn khẳng định những nguyên tắc trên cơ sở vận dụng và tuân thủ các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta phát triển nguyên tắc về nền tảng tư tưởng: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cũng tại đại hội lần này, Đảng ta bổ sung thêm nguyên tắc: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc chủ yếu nói trên trong quá trình xây dựng Đảng là một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm cho Đảng ta giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng vai trò người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trên cơ sở những nguyên lý về xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân do Lênin nêu ra và thực tiễn hoạt động của Đảng ta, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua (các nhiệm kỳ XII và XIII thống nhất giữ nguyên Điều lệ) quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động như sau: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định thực hiện nghiêm 5 nguyên tắc này và đó cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Đảng ta trong thời gian qua.

Thứ hai, quan điểm chỉ đạo là kiên định nhưng không phải là cứng nhắc, giáo điều và cũng không phải là đổi mới vô nguyên tắc.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Trong quá trình thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo: Kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Kiên trì, kiên định nhưng không trở thành giáo điều, cứng nhắc; đổi mới, kế thừa và phát triển nhưng trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc chứ không phải là vô nguyên tắc, dân chủ quá đà, lẫn lộn giữa đối tượng, đối tác.

Thứ ba, về thực tiễn, trong nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện các nghị quyết của Đảng thì chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục nên khi thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng rất cần phải kiên định tuân thủ các nguyên tắc. Nếu ai không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm bằng các hình thức kỷ luật của Đảng.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc và đổi mới phương thức lãnh đạo, văn kiện Đại hội XIII chỉ ra những ưu điểm sau: “Công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng”. “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ ưu điểm: “Đảng ta luôn vững vàng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc về xây dựng Đảng”.

Về hạn chế, khuyết điểm trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng nói chung, các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm như Văn kiện Đại hội XIII chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục”.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Văn kiện Đại hội XIII nêu: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. “Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài. Đây là điều rất đáng trăn trở vì trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.091 tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên (trong đó có 23.432 cấp ủy viên). Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên (trong đó có 53 đồng chí là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Các cấp ủy đã giám sát 193.993 tổ chức đảng và 528.652 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát 124.469 tổ chức đảng và 185.731 đảng viên.

Điều cần lưu ý là rất nhiều vi phạm xảy ra từ nhiệm kỳ trước nhưng đến nay mới bị phát hiện và xử lý. Như vậy trước đó, việc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa thật sự được coi trọng, thậm chí bị buông lỏng. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa một số cấp ủy với đảng đoàn, ban cán sự đảng có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Việc phân định trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể. Việc xây dựng, phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu về công tác xây dựng Đảng có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận cán bộ tham mưu chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong thời gian tới, để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, kiên định những nguyên tắc xây dựng Đảng gắn với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị. Tăng cường tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội dung các nguyên tắc xây dựng Đảng để từ nhận thức sẽ có hành động đúng và tạo sự lan tỏa theo phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Thứ hai, tập trung xây dựng, thông tin chủ động, chính xác, kịp thời, toàn diện, đúng đối tượng về các hoạt động, sự kiện chính trị, xã hội của đất nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các chuyên trang, chuyên mục, fanpage, blog, tài khoản mạng xã hội (Zalo, Facebook...) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ ba, thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng dư luận xã hội; thực hiện tốt quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời cho báo chí; công khai kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện truyền thông; xử lý nghiêm những thông tin phản ánh không đầy đủ, phiến diện, tiêu cực một chiều trên báo chí, mạng xã hội.

Thứ tư, quán triệt, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6-7-2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội; thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác, không tham gia bình luận tiêu cực hoặc chia sẻ những thông tin xấu độc trên không gian mạng./.

Khẳng định vị thế quốc tế trong bảo đảm quyền con người

 Việc Việt Nam nhận được tín nhiệm cao và trúng cử trở thành một trong 14 thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 không chỉ khẳng định niềm tin của các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới, mà còn cho thấy sự coi trọng của bạn bè quốc tế đối với vị thế của Việt Nam trong các hoạt động thúc đẩy, bảo đảm quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

Với vị trí là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng Nhân quyền là cơ chế quan trọng nhất của Liên hợp quốc về quyền con người, có nhiệm vụ thảo luận tình hình về quyền con người trên phạm vi toàn cầu và đưa ra các khuyến nghị đến các quốc gia cũng như Báo cáo trình Đại hội đồng Liên hợp quốc vấn đề vi phạm quyền con người… Trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền là cơ hội quan trọng để tăng cường thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở cả cấp độ quốc tế và quốc gia.

Việt Nam được các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ủng hộ trở thành ứng cử viên duy nhất trong khu vực để tranh cử vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam đạt được sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế khi bỏ phiếu trúng cử, cùng với Bangladesh, Maldives, Kyrgyzstan trở thành đại diện của khu vực châu Á và Thái Bình Dương trong Hội đồng Nhân quyền.

Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, trước đó trong nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam cũng đã nhận được sự ủng hộ rất cao của bạn bè quốc tế. Việc tái cử vào Hội đồng Nhân quyền thể hiện sự tín nhiệm của các quốc gia đối với Việt Nam về những nỗ lực bảo vệ quyền con người ở cấp độ khu vực cũng như toàn cầu.

Tuy nhiên, lợi dụng cơ chế Kháng thư Liên hợp quốc, số đối tượng chống đối, phản động lưu vong không chỉ gửi Kháng thư để kêu gọi đại diện các quốc gia như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu tại Liên hợp quốc không bỏ phiếu cho Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, mà còn gửi Kháng thư yêu cầu thả các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam mà chúng cho rằng đó là “người bất đồng chính kiến” hay “người bảo vệ nhân quyền”...

Trong giai đoạn 2015-2020, Việt Nam tiếp nhận và gửi thông tin trả lời 50 Kháng thư Liên hợp quốc. Việt Nam đã tiếp xúc với Nhóm làm việc về giam giữ độc đoán của Liên hợp quốc để làm rõ các thông tin sai lệch trong Kháng thư liên quan đến quá trình bắt giữ, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các đối tượng được đề cập. Sau đó các tổ chức của Liên hợp quốc không gửi thêm Kháng thư về các đối tượng này.

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định cơ chế đối thoại về nhân quyền tại Hội đồng Nhân quyền là cơ hội để Việt Nam đưa ra những bằng chứng về thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, đấu tranh với những luận điệu vu cáo, bôi nhọ, xuyên tạc chủ trương, chính sách về quyền con người của Việt Nam.

Ngoài ra, Việt Nam còn tích cực đăng cai tổ chức một số hội thảo, hội nghị quốc tế, chủ động mời các báo cáo viên đặc biệt Liên hợp quốc vào thăm Việt Nam, đón các đoàn khách quốc tế vào làm việc, qua đó thể hiện thiện chí hợp tác của Việt Nam với các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc. Trong bài viết “Nhân phẩm, tự do và công lý cho tất cả” công bố vào ngày 10/12/2022 bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam khẳng định: “Việt Nam đã ưu tiên thực hiện các cam kết và nghĩa vụ của mình theo các điều ước quốc tế về quyền con người”.

Vai trò của Việt Nam trong những nỗ lực chung để bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trên phạm vi toàn cầu thể hiện qua những đóng góp tích cực của Việt Nam trong Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Tháng 7/2022, Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bangladesh và Philippines soạn thảo, đề xuất lên Hội đồng Nhân quyền thông qua Nghị quyết về bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Nghị quyết được thông qua phản ánh nỗ lực của Việt Nam thực hiện có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế, cũng như kêu gọi các nước cần có hành động tích cực để bảo đảm sự tham gia của đại diện các nhóm dễ bị tổn thương trong việc xây dựng các biện pháp, chính sách về ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam chủ động đề xuất lên Hội đồng Nhân quyền ban hành Nghị quyết về biến đổi khí hậu và quyền của từng nhóm yếu thế như quyền trẻ em, quyền của phụ nữ hay quyền cho các nhóm yếu thế về sức khỏe, quyền có lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu…

Đặc biệt, vấn đề bảo vệ môi trường sống cho con người và ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề đang được Việt Nam thực hiện bằng nhiều biện pháp, từ đưa ra các cam kết quốc tế về mục tiêu giảm phát thải ròng khí nhà kính bằng “0” vào năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050), hay đưa vào trong quy định của Luật Bảo vệ môi trường.

Những cam kết và nỗ lực mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc Việt Nam tiếp tục cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei. Từ tháng 10/2018 đến nay, Việt Nam triển khai 4 bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Nam Sudan để chăm sóc sức khỏe cho nhân viên Liên hợp quốc, cũng như các hoạt động hỗ trợ bệnh viện địa phương trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân.

Một điểm sáng về sự tiên phong của Việt Nam trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế, nhằm khẳng định vai trò của phụ nữ và hòa bình và an ninh theo tinh thần Nghị quyết 1325 (2000) của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về chương trình phụ nữ, hòa bình và an ninh đó là cử 74 nữ quân nhân, 01 nữ sĩ quan công an tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Việt Nam cũng là thành viên có trách nhiệm, luôn ủng hộ các chương trình phát triển của Liên hợp quốc, tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ thực hiện các dự án tại

Việt Nam, nhất là các dự án nhằm tăng cường vai trò cũng như bảo đảm quyền của các nhóm yếu thế trong xã hội. Sự chủ động, tích cực của Việt Nam trong các cam kết nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đã giúp chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam tăng 45,8% vào năm 2020, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia có tốc độ tăng trường HDI cao nhất thế giới.

Nhờ đó Việt Nam đã tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu từ 117 trên 189 quốc gia vào năm 2019 lên 115 trên 191 quốc gia vào năm 2021. Bên cạnh đó, Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (World Happiness Report - WHR) năm 2022 cho biết, Việt Nam đã tăng 2 bậc so với năm 2021, xếp thứ 77 trên hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chỉ còn 4,4% vào năm 2021…

Tại khu vực Đông Nam Á, năm 2020, với vai trò là Chủ tịch ASEAN, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR), Việt Nam đề xuất sáng kiến để cùng các quốc gia AICHR ra Thông cáo báo chí chung về đại dịch Covid-19, từ đó Nhóm công tác liên ngành Hội đồng điều phối ASEAN về các tình huống y tế công cộng khẩn cấp được thành lập, huy động thành lập Quỹ ASEAN ứng phó với dịch bệnh Covid-19, qua đó thúc đẩy sự đoàn kết, thống nhất và hợp tác trong ASEAN để bảo vệ quyền con người trong đại dịch.

Những nỗ lực và thành quả nêu trên có được là do những ưu tiên, nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc ghi nhận, bảo đảm quyền con người và thúc đẩy bình đẳng xã hội, nhất là trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, bảo đảm tự do tín ngưỡng, chăm lo chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, vùng sâu vùng xa... Nhưng các đối tượng chống phá và phản động lưu vong ở nước ngoài luôn tìm cách chống phá, xuyên tạc, phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam.

Lợi dụng việc Nhà nước xử lý một số vụ việc nóng, phức tạp về an ninh trật tự theo quy định của pháp luật, chúng luôn tìm cách khơi lại, thổi phồng, bóp méo bản chất sự việc nhằm xuyên tạc, vu cáo đó là biểu hiện của “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp người dân tộc thiểu số” kích động bất bình trong dư luận hoặc lấy cớ gặp gỡ các tổ chức nhân quyền quốc tế hay những nhân vật có định kiến với Việt Nam.

Qua đó nhằm tìm kiếm sự ủng hộ, hỗ trợ về tài chính để tiến hành các hoạt động chống đối; kêu gọi các nước phương Tây, các tổ chức NGO can thiệp, đưa ra các đạo luật, nghị quyết chống Việt Nam; mưu đồ tham gia các hội nghị quốc tế về nhân quyền, lợi dụng diễn đàn quốc tế để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, yêu cầu đòi tự trị, ly khai; tổ chức biểu tình trước Đại sứ quán, lãnh sự quán của Việt Nam tại nước ngoài để ủng hộ cái gọi là “phong trào đấu tranh đòi tự do”, “lên án, phản đối” nhà cầm quyền Việt Nam, đòi thả “tù nhân lương tâm”…

Thể hiện sự minh bạch về thông tin, trong các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên với Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ hay Australia, Việt Nam luôn chủ động cung cấp thông tin, vừa vận động vừa đấu tranh để giải đáp các thắc mắc, thu hẹp khác biệt với các nước về vấn đề nhân quyền cũng như vạch mặt những đối tượng vi phạm pháp luật, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước. Qua đó giúp các bên hiểu rõ hơn về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, bác bỏ thông tin sai lệch, thiếu khách quan.

Trong thời gian tới, dự báo các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam, tạo cớ can thiệp, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, hạ thấp uy tín, hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, các hoạt động ngoại giao, thông tin đối ngoại và đối thoại về vấn đề dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam càng cần được chú trọng.

Cụ thể cần tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh ngoại giao và chủ động cung cấp thông tin, đối thoại về nhân quyền với các nước, tổ chức quốc tế theo hướng giữ vững nguyên tắc độc lập chủ quyền và an ninh quốc gia, tôn trọng lập trường, quan điểm của nhau. Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch về dân chủ, nhân quyền. Mở rộng quan hệ với các chính giới, doanh nghiệp, học giả phương Tây để cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn chính sách của Việt Nam, tạo sự đồng tình, ủng hộ./.

Tiếp tục đẩy mạnh, có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(6). Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng

 Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: (i) Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; (ii) Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (iii) Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...

Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.

Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.

Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam…

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam

 Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(1). Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(2). Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(3). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(4).

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, khai sinh ra Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 35 năm đổi mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay… Từ điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn của cách mạng Việt Nam trong việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(5).

Thực hư luận điệu “Đảng không có năng lực lãnh đạo phòng, chống tham nhũng”

 

Điệp khúc cũ, chiêu trò mới; đích hướng tới của các thế lực thù địch

Từ sau hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 của Đảng ta (tháng 6-2021) đến nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cấu kết với nhau đẩy mạnh công kích, bài xích, chống phá Đảng, Nhà nước ta về công tác nhân sự và công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực nhằm hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng và Nhà nước ta.

Ngoài điệp khúc “Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ uy tín lãnh đạo đất nước”, chúng còn tung ra nhiều luận điệu sai trái để vu cáo, buộc tội Đảng, Nhà nước ta “có tội với dân”, đã “tham nhũng nặng nên không đủ năng lực lãnh đạo đất nước”, “không thể phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” bởi tham nhũng là “căn bệnh nan y”, không thể chữa trị của “chế độ một đảng độc quyền, toàn trị”. Từ đó, chúng kêu gọi nhân dân vùng lên “chấm dứt chế độ độc tài do một đảng cầm quyền”, “thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị”. Cùng với đó, thực hiện ngay chế độ “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực.

Chúng triệt để khai thác những hạn chế, khuyết điểm của vụ Việt Á, chuyến bay giải cứu và các vụ án tham nhũng khác để thổi phồng “sai phạm của đội ngũ cán bộ, đảng viên”. Vin vào cái cớ: Đảng đã thi hành kỷ luật một số cán bộ có chức, có quyền vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm, đã xử lý pháp luật để quy hiện tượng thành bản chất, coi đó là vấn đề có tính quy luật, mang tính phổ biến của chế độ XHCN và kết luận một cách cực đoan: Đảng ta đã suy thoái, tha hóa, biến chất; tham nhũng đã trở thành “căn bệnh nan y”, mang tính “kinh niên” nên Đảng không còn đủ tư cách lãnh đạo đất nước và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; “Đảng phải rút lui khỏi chính trường, nhường quyền lãnh đạo cho một đảng khác” do chúng dựng lên…

Quan điểm sai trái và thái độ ngạo mạn đã làm chúng “lóa mắt”, rơi vào quan điểm duy tâm, phương pháp siêu hình, “chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” nên đã “phủ định sạch trơn” kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng do Đảng ta lãnh đạo. Một số kẻ quá khích cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã thất bại trong cuộc chiến chống tham nhũng” vì tệ nạn này đang tăng lên mỗi ngày, cán bộ vi phạm kỷ luật “năm sau cao hơn năm trước”, “lò Tổng Trọng củi tươi đang đỏ rực” và chúng phán bừa rằng, chống tham nhũng ở Việt Nam thực chất là “cuộc đấu đá nội bộ” ngày càng thêm tàn khốc, sự “thanh trừng phe phái đang lên cao”, v.v..

Rõ ràng là quan điểm sai trái nêu trên mang tính áp đặt chủ quan, duy ý chí đến mức cực đoan, đã bộc lộ rõ dã tâm đen tối là bôi nhọ thanh danh, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ của Đảng, gây hoang mang, nghi ngờ, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, phủ nhận tính ưu việt của chế độ ta. Về thực chất, đây là sự giáo đầu về tư tưởng, kích hoạt âm mưu “diễn biến hòa bình” để chuẩn bị cho “một cuộc cách mạng về chính trị”, thúc đẩy bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đón rước giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản về Việt Nam.

Dã tâm này thật nguy hiểm và hết sức vô lý; chúng ta không bao giờ chấp nhận. Trên thực tế, nó đã bị vạch mặt và chắc chắn sẽ bị đập tan vì ở Việt Nam, tuyệt đại đa số người dân không tin, không dung tha chúng; đạo lý và luật pháp Việt Nam không chứa chấp chúng và chúng chẳng có chỗ dung thân.

Trước đây, khi chúng còn có tổ chức, lực lượng, lại được phương Tây hà hơi, tiếp sức nhưng đã không thể làm gì cách mạng dù điên khùng quậy phá, thì nay âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta của chúng đã bại lộ, được nhân dân cảnh giác cao. Vì thế, chúng càng giở trò xấu xa, thì chúng càng chuốc lấy thất bại, cho dù chúng là ai, được thế lực nào chống lưng bởi làm sai thì phải chịu hậu quả.

Lật mặt kẻ sai trái, âm mưu, chiêu trò khôn, dại được phanh phui

Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, thu vén cho bản thân, hưởng lợi ích vật chất trái pháp luật “nhờ cậy chức, cậy quyền”, gây hại thiệt cho tài sản nhà nước, tập thể và người khác. Tham nhũng đi liền với suy thoái, tha hóa và biến chất do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên ý thức tổ chức kỷ luật non kém, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; bị mua chuộc bằng lợi ích vật chất, mê muội vì đồng tiền và quyền lực; bị hạ gục bởi “viên đạn bọc đường của thời cơ chế thị trường”. Tham nhũng và suy thoái là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại trong chế độ còn tồn tại tư hữu, giai cấp và nhà nước, ở mọi quốc gia do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội và thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng.

Ai đó cho rằng chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng là hoàn toàn sai lầm, cần học lại lịch sử, nghiên cứu kỹ nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước. Cần nhận thức cho rõ rằng, chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất trong Đảng và đội ngũ cán bộ của Đảng như ai đó cố tình xiên xẹo, vu cáo.

Hãy nhìn xem tệ nạn tham nhũng đang nhức nhối như thế nào ở các quốc gia thực hiện đa đảng và “tam quyền phân lập” do giai cấp tư sản lãnh đạo. Hãy xem lại một số vụ án tham nhũng ở Hàn Quốc, Malaixia khi nguyên thủ đã dính vào các vụ bê bối tham nhũng như thế nào. Hãy xem bảng xếp loại tham nhũng đối với các quốc gia trên thế giới của Tổ chức Minh Bạch Quốc tế sẽ rõ thứ hạng tham nhũng của từng quốc gia TBCN, khi đó người phán xét sẽ tự nhận biết mình đã đúng hay sai; đúng sai ở cấp độ nào.

Đối với nhân dân ta, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cựclà cuộc chiến đấu trong thời bình, “chống giặc nội xâm” để giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Điều đó thể hiện ý thức trách nhiệm và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Vì vậy, trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng rất được lòng dân, đã đạt nhiều kết quả quan trọng, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp, tạo hiệu ứng tích cực và lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội, trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược, được cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận.

Thành công lớn, rất đáng trận trọng, tự hào của Đảng, Nhà nước và nhân dân talà đã phát hiện và xử lý tham nhũng một cách bài bản, đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả với tinh thần “chặt cành sâu mọt để cứu cây”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, cấp chức như thế nào và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào.

Ai đó cho rằng cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không hiệu quả, “đã thất bại” có thể là người đó mù chữ hoặc biết chữ nhưng đã cố tình “đội mũ ni che tai”, nhắm mắt làm ngơ, phớt lờ kết quả 10 năm chống tham nhũng giai đoạn 2012 – 2022 của Đảng, Nhà nước ta. Không cần nhiều lời, chỉ cần nghe lại, xem lại bản báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2012-2022 đã công bố ngày 30-6-2022 trên các phương tiện thông tin đại chúng sẽ tường tận “gốc gác mọi vấn đề” bởi các con số biết nói, biết xui khiến ai mơ hồ “tỉnh ngộ”, phải tự “giảm âm thanh, văn nhỏ còi, tắt tiếng”.

 Ai cũng biết rõ chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Đảng ta đã thi hành kỷ luật hơn 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII), trong đó có 10 Uỷ viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng. Đây là một bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Văn bản còn ghi, sự thật minh chứng. Sự lắm lời, nói lấy được làm sao có thể bác bỏ hiện thực khách quan, sự thật bày ra trước mặt, tự nó nói thành lời.

Bước tiến dài, hứa hẹn ngày mai tươi sáng

Một trong những bước tiến dài trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là các cấp, các ngành đã từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng nhờ bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch và ngày càng dân chủ, công tâm, đúng nguyên tắc, đúng quy trình, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảngchặt chẽ. Vì vậy, tình trạng chạy chức, chạy quyền, cục bộ, địa phương, “thân quen”, “cánh hẩu”, “lợi ích nhóm” đã giảm hẳn.

Cùng với đó, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng được tăng cường nên nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được nâng lên. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII, mới đây, ở các địa phương, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được thành lập và nhanh chóng đi vào hoạt động, đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ.

Cho đến nay, hầu như không còn tình trạng “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây” như trước, vụ án “Việt Á” vừa làm gần đây là một ví dụ điển hình. Điều đó đã bác bỏ quan điểm không đúng cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển đất nước. Sự thật này đang bày ra trước mắt, thế mà người ta “đổi trắng thay đen”, từ xuyên tạc đến vu khống, kết tội Đảng, Nhà nước ta “tha hóa”, “biến chất”, “không còn khả năng lãnh đạo phòng, chống tham nhũng”, nghĩ mà nực cười.

Đây là cơ sở lý luận – thực tiễn sinh động, đầy tính thuyết phục để bác bỏ những luận điệu sai trái cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là do Đảng ta “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, “thanh trừng lẫn nhau”.

Thực tế chỉ ra rằng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm”, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm, đã rơi vào chủ nghĩa cá nhân, lầm đường, lạc lối, sợ bị lộ mặt, khuyết điểm nên “thủ tiêu đấu tranh”.

Ai đó cho rằng Đảng không đủ năng lực lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vì “trên nóng dưới thì lạnh”, “trên dưới không đồng lòng”, “dọc ngang không thông suốt” là sai lè lè. Sự thật hiển nhiên là chẳng có người dân nào tin, theo đuôi luận điệu ấy bởi họ đều đã rõ, đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ cấp bách, rất quan trọng, nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiến hành một cách thận trọng, kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, “không nghỉ”, “không ngừng” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; không thể làm xong một sớm một chiều.

Chúng ta tự ý thức về điều ấy nên không bao giờ chủ quan, nóng vội, thoả mãn; không né tránh, cầm chừng; trái lại, đang rất kiên trì và kiên quyết phấn đấu thực hiện nghiệm vụ “kép”: vừa kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra tham nhũng vàluôn cảnh giác cao; luôn chủ động, tích cực đấu tranh với những âm mưu, hoạt động lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta của các thế lực thù địch.

Ai cũng biết muốn cơ thể muốn khỏe mạnh phải phòng, chống bệnh tốt; đất nước ta muốn phát triển phồn vinh, hạnh phúc phải chữa trị khỏi căn bệnh tham nhũng, tiêu cực; không được để nó tồn tại, lây lan. Sự thật đã rõ! Đây là việc cần làm ngay và luôn. Ai nhụt chí, không đủ dũng khí thì đứng sang một bên để người khác làm. Hãy vì sự bình yên của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân mà chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, chống “giặc nội xâm”. Đó là mệnh lệnh của cuộc sống, lời kêu gọi từ trái tim, tất cả vì sự bình yên của Tổ quốc, vì hạnh phúc của dân./.