Thứ Hai, 16 tháng 1, 2023

 

Nâng cao đạo đức công vụ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

(LLCT) - Đạo đức công vụ là những tiêu chí, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó. Trong quá trình đổi mới đất nước, do chịu sự tác động tiêu cực từ sự thay đổi các quan hệ xã hội, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái đạo đức, quan liêu, tham nhũng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, gây bất bình trong nhân dân. Vì vậy, cần nghiên cứu, đề ra và thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao đạo đức công vụ vì sự phát triển bền vững của đất nước.

Nâng cao đạo đức công vụ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Từ khóa: nâng cao đạo đức công vụ.

1. Nội dung cơ bản của đạo đức công vụ

Có nhiều cách tiếp cận, nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức nhưng chung nhất có thể hiểu đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, sức mạnh truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức là một loại quy phạm xã hội hiện diện trong tất cả các quan hệ xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục, gia đình, cộng đồng..., thay đổi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đạo đức tuy không mang tính cưỡng chế như pháp luật nhưng có tác động sâu sắc tới lương tâm con người và ảnh hưởng lâu dài, rộng rãi trong xã hội. Do đó, cùng với pháp luật, đạo đức có vai trò quan trọng để góp phần xây dựng một xã hội quy củ, chuẩn mực, dân chủ, trật tự, kỷ cương, văn minh, tiến bộ, nhân văn và vì con người.

Đạo đức công vụ là những tiêu chí, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao cho. Đạo đức công vụ được tạo nên bởi hai thành tố cơ bản là: đạo đức cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức và đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động công vụ được pháp luật quy định. Đạo đức công vụ bao gồm ý thức đạo đức và hành vi đạo đức. Ý thức đạo đức là nhận thức, thái độ của cán bộ, công chức, viên chức đối với những chuẩn mực đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp. Hành vi đạo đức chỉ được thực hiện trên thực tế nếu cán bộ, công chức, viên chức có nhận thức đầy đủ và thái độ đúng đắn đối với các chuẩn mực đạo đức công vụ, từ đó họ có hành vi, xử sự phù hợp với chuẩn mực, không coi thường, không làm trái các chuẩn mực đó, thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức theo quy định.

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy định, nhiều văn bản pháp luật về đạo đức công vụ và chuẩn mực văn hóa ứng xử của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt luôn là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm, chú trọng thực hiện ngay từ khi thành lập Đảng và đã được thể hiện trong chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp của Đảng qua các thời kỳ, trong đó, chỉ tính riêng từ Đại hội XI (năm 2011) tới nay, Đảng ta đã ban hành hai Nghị quyết về đẩy mạnh tự phê bình và phê bình nhằm nâng cao đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII gồm: Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16-1-2012 về Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30-10-2016 về Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ) và ba Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp (đó là: Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư, Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị và Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương).

Thể chế hóa các quy định, định hướng của Đảng, trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010, đạo đức công vụ được thể hiện ở nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân; thể hiện ở nghĩa vụ và những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Ngoài ra, đạo đức công vụ còn được thể hiện trong văn hóa ứng xử, trong giao tiếp của cán bộ, công chức, viên chức với đồng nghiệp, với cấp trên, cấp dưới và với công dân, tổ chức. Trong Luật Tiếp công dân năm 2013, trong Quyết định số 1847/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27-12-2018 về việc phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ và trong quy định của chính quyền hầu hết các địa phương trong cả nước đã ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong thi hành công vụ và xây dựng công sở, cơ quan văn hóa(1). Ở nhiều địa phương, nhiều bộ, ngành, những chuẩn mực giao tiếp, văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành công vụ đã được khái quát thành những cụm từ, những bài thơ dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và còn được niêm yết công khai tại nhiều công sở như: “4 xin, 4 luôn” (Xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép. Luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ). Trong giao tiếp với công dân, tổ chức đến làm việc thì cán bộ, công chức phải thực hiện “10 nên” (Khách đến, được chào hỏi. Khách ở, luôn tươi cười. Khách hỏi, được trả lời. Khách yêu cầu, phải tận tâm. Khách cần, được thông báo. Khách vội, giải quyết nhanh. Khách chờ, được xin lỗi. Khách phàn nàn, phải lắng nghe. Khách nhờ, luôn chu đáo. Khách về, được hài lòng) được treo bảng niêm yết công khai tại phòng tiếp dân, tại bộ phận “một cửa” của Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn ở Thành phố Hà Nội ...

Nội dung của đạo đức công vụ có thể được khái quát ở những điểm sau đây:

Một là, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói và làm đúng với chủ trương, đường lối của Đảng. Luôn tin tưởng, ủng hộ sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Bài trừ, phản bác các quan điểm, luận điệu chống phá của các thế lực thù địch để bảo vệ uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Hai là, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ, gắn bó chặt chẽ với Nhân dân. Phải luôn gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin. Trong quan hệ giải quyết công việc với nhân dân không được sách nhiễu, không được tự ý đặt ra các yêu cầu, thủ tục gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân. Phải luôn lấy việc giúp đỡ nhân dân và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, làm cho nhân dân hài lòng, tin yêu là mục tiêu và tôn chỉ hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức.

Ba là, luôn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Nếu như công dân được làm những gì pháp luật không cấm thì cán bộ, công chức, viên chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép trong thực thi công vụ. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay thì thượng tôn pháp luật là yêu cầu đặt lên hàng đầu đối với hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện pháp luật là tiêu chuẩn tiên quyết để đánh giá phẩm chất đạo đức công vụ của họ, đồng thời đó cũng là hình ảnh, tấm gương để nhân dân soi vào và noi theo.

Bốn là, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Trong đó:

“Cần” không chỉ là cần cù, siêng năng, chăm chỉ mà trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay còn đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức phải làm việc một cách khoa học, sáng tạo, luôn cải tiến, đổi mới để nâng cao năng suất lao động, không ngừng học tập nâng cao trình độ, phấn đấu vươn lên trong công tác. “Cần” không thể tách rời “Trí”.

“Kiệm” là tiết kiệm, sử dụng hợp lý, hiệu quả của cải, vật chất và thời gian, công sức,...của Nhà nước, của tập thể, của người khác và của bản thân không xa hoa, lãng phí nhưng cũng không hà tiện, keo kiệt.

“Liêm” là trong sạch, không tham lam tiền của, địa vị, danh lợi... “Liêm” phải đi kèm với “Dũng”, không chỉ riêng bản thân mình trong sạch mà còn phải luôn có ý thức xây dựng tập thể, cơ quan, đơn vị trong sạch, phải dũng cảm đấu tranh với những hành vi tiêu cực, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân...

“Chính” là ngay thẳng, trung thực, trọng danh dự, nhân văn, lời nói đi đôi với việc làm, luôn có ý thức giữ gìn uy tín của Đảng, Nhà nước, của cơ quan, đơn vị và cá nhân trong mọi hoạt động. Như vậy, “Chính” phải song hành cùng với “Nhân, Nghĩa, Tín”.

“Chí công vô tư” là luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ; tận tụy, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Năm là, tính nguyên tắc và ý thức tổ chức kỷ luật trong thực thi công vụ. Cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cá nhân phải phục tùng tổ chức trong mọi phát ngôn và hành động khi thực thi công vụ. Bảo đảm tuân thủ đúng các nguyên tắc, thứ bậc hành chính và có tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc trong thực hiện công việc được giao. Phát huy dân chủ, tính sáng tạo của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng phải trên cơ sở đảm bảo tính nguyên tắc và kỷ luật, phối hợp tốt với đồng chí, đồng nghiệp và xây dựng khối đoàn kết trong tập thể.

 2. Những vấn đề đặt ra đối với đạo đức công vụ trong bối cảnh hiện nay

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bị quyết định bởi tồn tại xã hội nên cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xã hội ngày càng phát triển thì các chuẩn mực đạo đức cũng có sự thay đổi tương ứng. Đạo đức công vụ cũng không ở ngoài quy luật đó. Sự thay đổi phương pháp, cách thức quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường mở cửa, trong xu thế toàn cầu hóa dẫn đến nhiều quy tắc giao tiếp, hành vi ứng xử trong thực thi công vụ truyền từ nền hành chính tập trung, bao cấp đến nay không còn phù hợp nữa. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử, Hà Nội và nhiều thành phố khác đang tiến tới xây dựng thành phố thông minh thì giao tiếp trực tiếp giữa người dân với cán bộ, công chức và giữa cán bộ, công chức, viên chức với nhau sẽ giảm đi nhưng giao tiếp gián tiếp thông qua hệ thống truyền thông, qua mạng internet, điện thoại... và tính chất quốc tế hóa trong giao tiếp lại tăng lên. Mỗi người dân có thể giám sát trực tiếp, thường xuyên, liên tục hoạt động của từng khâu trong quy trình quản lý nhà nước. Không những thế, thời gian giải quyết công việc ngày càng được rút ngắn trong kỷ nguyên kỹ thuật số sử dụng công nghệ cao và bùng nổ thông tin(2) đòi hỏi cán bộ, công chức phải đổi mới phong cách làm việc, không ngừng học tập, nâng cao trình độ, nắm vững quy trình hoạt động, có kỹ năng thành thạo trong thu thập, xử lý thông tin mới có thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Do đó, cùng với sự phát triển của xã hội tất yếu sẽ hình thành những chuẩn mực mới trong cách thức giao tiếp và hành vi đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

Sự phát triển của kinh tế thị trường ở nước ta những năm qua bên cạnh những thành tựu, kết quả tích cực cũng bộc lộ những mặt trái, tiêu cực, trong đó nổi lên là tâm lý coi trọng quá mức đồng tiền, kiếm tiền bằng mọi giá làm cho đạo đức xã hội có nhiều biểu hiện xuống cấp, tình trạng làm ăn gian dối, cố ý làm trái pháp luật, tham nhũng, gây sách nhiễu, phiền hà cho người dân để trục lợi diễn ra ở nhiều nơi...làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, làm mất niềm tin trong nhân dân và tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Vì thế, củng cố, nâng cao đạo đức công vụ nói riêng và đạo đức xã hội nói chung là yêu cầu quan trọng góp phần bảo vệ những thành quả chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo hướng bền vững và xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Mặt khác, cùng với sự phát triển kinh tế thì trình độ dân trí của người dân cũng ngày càng được nâng cao, từ đó nhu cầu dân chủ của nhân dân cũng tăng lên không ngừng đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải điều chỉnh hoạt động theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, dân chủ hóa để bảo đảm cho mọi người dân được thực hiện quyền làm chủ của mình đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Vì thế, trong thời gian qua, các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước được ban hành ngày càng đầy đủ, rõ ràng, chặt chẽ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, quy tắc ứng xử, văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức, viên chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là “công bộc” của nhân dân. Ngày nay, không thể tồn tại trong bộ máy nhà nước, trong hệ thống chính trị những “ông quan cách mạng” tự coi mình là thượng cấp, là bề trên với tác phong xử sự lạnh lùng theo kiểu chuyên quyền, độc đoán, hách dịch đối với cấp dưới, đối với người dân mà mọi cán bộ, công chức, viên chức phải có phong cách dân chủ, khiêm tốn, cầu thị và trách nhiệm trong công tác, gần gũi với nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.

Đứng trước những đòi hỏi cấp bách của sự phát triển xã hội như vậy nhưng hiện nay một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn nhiều lúng túng trong nhận thức và thực hiện đạo đức công vụ. Tình trạng vi phạm pháp luật, thiếu chuẩn mực trong hành vi ứng xử vẫn còn xảy ra ở nhiều cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước. Các quy định, tiêu chí, tiêu chuẩn về đạo đức công vụ chưa được cụ thể hóa vào từng ngành nghề, lĩnh vực mà chủ yếu mới dừng lại ở quy định chung nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, khó thực hiện trên thực tế cũng như khó đánh giá kết quả. Cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiện đạo đức công vụ chưa thực sự hiệu quả, chế tài quy định không rõ ràng nên xử lý thiếu kịp thời, chưa nghiêm minh, còn bỏ lọt nhiều cán bộ, công chức, viên chức vi phạm đạo đức dẫn đến gây dư luận xấu, bức xúc trong nhân dân. Chế độ đãi ngộ, chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức hiện nay còn nhiều bất cập, đồng lương không đủ sống nên phần lớn không thể toàn tâm, toàn ý vào công việc, thậm chí một bộ phận còn nảy sinh tâm lý và hành vi tiêu cực, tham nhũng...

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu kết luận tại phiên họp lần thứ 17 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng họp ngày 15-1-2020 tại Hà Nội đã nhấn mạnh: Mặc dù chúng ta đã đạt được nhiều thành tích quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua (từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 90 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (hai Ủy viên Bộ Chính trị), 22 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Qua thanh tra, kiểm toán đã phát hiện vi phạm, kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính 135.816 tỷ đồng và hơn 897ha đất, đã thu hồi hơn 35.000 tỷ đồng; riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch tài sản giá trị gần 24.000 tỷ đồng; kiến nghị xử lý hành chính đối với 1.967 tập thể và nhiều cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 98 vụ việc, 121 đối tượng), Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành rất nhiều văn bản về đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí để triển khai thực hiện trên thực tế, nhất là từ Đại hội XII tới nay, nhưng tình hình tham nhũng, lãng phí vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, nghiêm trọng, do đó, công tác phòng chống tham nhũng không được dừng lại, thỏa mãn với những kết quả đạt được mà cần phải tiếp tục thực hiện tốt hơn, với quyết tâm cao hơn(3).

Như vậy, hoàn thiện chế độ đạo đức công vụ, nêu cao trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu tất yếu khách quan để đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển đất nước trong tình hình mới.

3. Một số giải pháp nâng cao đạo đức công vụ đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước trong tình hình mới

Một là, cần đổi mới hình thức, phương pháp, nội dung tuyên truyền, giáo dục đạo đức công vụ, trong đó cần tận dụng, phát huy vai trò của mạng lưới truyền thông chính thống, của mạng xã hội để giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tuyên truyền những điển hình tốt, những tấm gương đạo đức trong học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần định hướng xây dựng, hình thành những chuẩn mực đạo đức mới, tiến bộ, phù hợp với thời đại. Đồng thời, các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường nắm bắt thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm đạo đức trong thực thi công vụ cũng như những luận điệu phản tuyên truyền, những thông tin bôi nhọ, xuyên tạc, bịa đặt được phát tán trên internet làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh, uy tín của cán bộ, công chức, viên chức.

Hai là, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động công vụ bằng nhiều hình thức khác nhau như: kiểm tra, thanh tra công vụ định kỳ và đột xuất, giám sát thường xuyên qua camera, lấy ý kiến nhân dân qua hòm thư góp ý, qua phiếu điều tra, khảo sát trên diện rộng, qua nút bấm hài lòng, qua đường dây nóng,... Phải lấy sự hài lòng của nhân dân trong giải quyết công việc với cơ quan nhà nước làm thước đo, làm tiêu chí đánh giá chất lượng thực thi công vụ để từ đó nâng cao đạo đức và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong công tác. Mặt khác, cần xử lý nghiêm minh, kịp thời, công khai những trường hợp vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức trong thực thi công vụ, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những người suy thoái về phẩm chất đạo đức, yếu kém về năng lực công tác, không đáp ứng yêu cầu công việc và không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Ba là, cần xây dựng hệ thống giá trị chuẩn mực đạo đức công vụ riêng cho từng ngành nghề (giáo dục, y tế, công an, quân đội...), cho từng vị trí, chức vụ (cán bộ lãnh đạo, cán bộ dân cử, công chức chuyên môn nghiệp vụ, nhân viên thừa hành, lao động hợp đồng,...) bên cạnh hệ thống tiêu chí chung hiện có, bởi vì mỗi ngành nghề, mỗi công việc, mỗi vị trí có đặc thù và yêu cầu về chuẩn mực đạo đức công vụ khác nhau, nhất là cần quy định rõ chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc thực hiện đạo đức công vụ ở cơ quan, đơn vị mình phụ trách bởi vì văn hóa, đạo đức của người đứng đầu có ảnh hưởng quyết định đến hành vi đạo đức, văn hóa ứng xử của tổ chức và các thành viên. Hệ thống các chuẩn mực, tiêu chí đạo đức cần cụ thể, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu đặc thù của từng ngành nghề, từng nhóm vị trí việc làm để cán bộ, công chức, viên chức có thể áp dụng vào công việc của mình, trên cơ sở đó phấn đấu, rèn luyện và đánh giá kết quả thực hiện trong thực tế. Mặt khác, hệ thống các tiêu chí, chuẩn mực đạo đức công vụ cũng cần đề cập toàn diện cả “đức” và “tài” vì để đạt hiệu quả trong thực thi công vụ, nhất là trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay thì người có đức cũng phải có tài mới làm được việc, không thể xây dựng đội ngũ chỉ có đức mà không có tài và ngược lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Có tài mà không có đức là vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Bên cạnh đó, để nâng cao ý thức đạo đức và đảm bảo cho các chuẩn mực đạo đức được tôn trọng, thực hiện trên thực tế thì không những phải thể chế hóa các quy phạm đạo đức thành pháp luật mà còn cần phải xây dựng hệ thống chế tài phù hợp, kết hợp giữa tác động của dư luận xã hội, giáo dục, thuyết phục, răn đe với các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.

Bốn là, công tác đánh giá, tuyển dụng và bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức hiện nay cần được đổi mới về hình thức, phương pháp, quy trình thực hiện để đảm bảo được cả hai tiêu chí “đức” và “tài”, trong đó “đạo đức công vụ” là gốc. Đồng thời, mỗi người lãnh đạo, quản lý phải là tấm gương sáng trong thực hành đạo đức để cấp dưới noi theo. Khi cán bộ “tâm phục, khẩu phục” với tài năng và đức độ của người lãnh đạo, quản lý và được đánh giá, sử dụng “đúng người, đúng việc”, được phát huy sở trường trong công tác thì họ sẽ có niềm tin vào công lý, vào lẽ công bằng, từ đó sẽ hình thành ý thức tự nguyện, tự giác thực hiện đạo đức công vụ. Bên cạnh đó, cũng cần nghiên cứu, tìm tòi, học tập kinh nghiệm các nước tiên tiến để xây dựng cơ chế hữu hiệu, chặt chẽ nhằm khắc phục tính chủ quan, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm trong đánh giá, tuyển dụng, sử dụng cán bộ.

Ngoài ra, trong thời gian tới, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cần thực hiện thực sự nghiêm túc, đồng bộ cơ chế đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo hướng đa chiều, toàn diện, liên tục, lấy phẩm chất chính trị, đạo đức làm gốc, dựa trên chất lượng, hiệu quả công việc là thước đo chủ yếu theo đúng tinh thần Quy định số 132-QĐ/TW ngày 8-3-2018 của Bộ Chính trị về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị. Đánh giá cán bộ có vai trò rất quan trọng, là cơ sở của công tác cán bộ nhưng trong hệ thống chính trị nước ta thời gian qua ở nhiều nơi, nhiều lúc, công tác đánh giá cán bộ còn được thực hiện thiếu chính xác, qua loa, mang nặng tính chủ quan, hình thức,... dẫn đến bố trí, sử dụng cán bộ không phù hợp với yêu cầu công việc. Do vậy, kết quả đánh giá cán bộ cần đúng thực chất, đảm bảo tính khách quan, toàn diện, chính xác và phải được dùng làm căn cứ cho việc quy hoạch, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm cán bộ trên thực tế.

Năm là, cần xây dựng chế độ lương, chính sách đãi ngộ thỏa đáng để đảm bảo cho cán bộ, công chức, viên chức và gia đình đủ sống, từ đó họ mới có thể yên tâm công tác, toàn tâm toàn ý cho công việc, dốc lòng, dốc sức phục vụ nhân dân. Ngoài ra cần có chế độ khen thưởng kịp thời cho những hành vi đẹp, những tấm gương tốt trong thực thi công vụ để ghi nhận và động viên, khích lệ mọi người cố gắng.

Sáu là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của hệ thống các trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từ trung ương đến địa phương đối với công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp. Hệ thống các trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ không chỉ có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ mà còn cần đặc biệt coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ Trung ương đến cơ sở, nhất là những học viên đang nắm giữ cương vị lãnh đạo, quản lý hoặc nguồn lãnh đạo, quản lý của các cơ quan, đơn vị trong tương lai để góp phần xây dựng chuẩn mực đạo đức, văn hóa ứng xử trong công sở từ cấp trên lan tỏa xuống cấp dưới.

Tuy nhiên, giáo dục đạo đức công vụ ở các trường chính trị, trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ không giống như giáo dục công dân trong các trường phổ thông hiện nay mà phải ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn, phải trên cơ sở kết hợp cả lý luận với thực tiễn bằng những phương pháp giáo dục phù hợp với người lớn, người có kinh nghiệm trong công tác. Thông qua các lớp học, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, các trường cần lồng ghép hoặc xây dựng chuyên đề riêng để tuyên truyền cho học viên nắm được những quy định của Đảng, Nhà nước về yêu cầu của đạo đức công vụ trong từng giai đoạn, những chuẩn mực đạo đức công vụ mà cán bộ, công chức, viên chức cần học tập, tu dưỡng, rèn luyện, cũng như trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và các chế tài phải chịu nếu họ vi phạm đạo đức trong thực thi công vụ, nhiệm vụ. Ngoài ra, trong tuyên truyền, giáo dục, bên cạnh việc ca ngợi, phổ biến những điển hình tốt, những tấm gương sáng về đạo đức công vụ, các giảng viên cũng cần mạnh dạn phê phán những hành vi không đẹp, những thái độ không đúng đắn trong thực thi công vụ, nhiệm vụ, nhất là tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí còn đang xảy ra ở không ít các cơ quan của hệ thống chính trị làm xấu đi hình ảnh của đội ngũ cán bộ, gây bức xúc trong nhân dân và làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ...

Bên cạnh hoạt động giáo dục, tuyên truyền, mỗi người giảng viên trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng phải luôn rèn luyện đạo đức, tác phong của mình, thực sự mẫu mực trong công tác, trong giao tiếp, ứng xử với học viên, với đồng nghiệp và nhân dân... để xứng đáng với vai trò là người thầy, là tấm gương sáng cho học viên học tập, làm theo, qua đó góp phần nâng cao ý thức đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ các cấp tham gia học tập tại trường, chung tay xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Tóm lại, để hoàn thiện chế độ đạo đức công vụ, nâng cao ý thức đạo đức và hành vi đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần nhận thức được những yếu tố tác động cả tích cực và tiêu cực đến đạo đức công vụ trong bối cảnh hiện nay để từ đó đề ra và thực hiện đồng bộ những giải pháp hữu hiệu, phù hợp trong từng giai đoạn. Nâng cao đạo đức công vụ không thể thực hiện ngay xong trong một sớm, một chiều, một lần là được mà phải coi vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài của cả hệ thống chính trị vì sự phát triển bền vững của đất nước.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2020

(1) Ngày 25-1-2017, UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 522/QĐ-UBND về việc ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội.

(2) Theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1-1-2019 của Chính phủ và Kế hoạch số 78/KH-UBND ngày 27-3-2019 của UBND Thành phố Hà Nội về thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

(3) Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng họp phiên thứ 17, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 15-1-2020.

Nguồn : ThS Bùi Thị Phương Liên

Khoa Nhà nước và Pháp luật,

Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Hà Nội

 

Nhà nước điều hành chính sách kinh tế trước nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu

(LLCT) - Sau hơn 2 năm chịu tác động của đại dịch Covid-19 và những diễn biến bất thường về chính trị, kinh tế thế giới, nền kinh tế toàn cầu đang đứng trước nguy cơ suy thoái. Để kiềm chế lạm phát, các ngân hàng trung ương trên thế giới đồng loạt nhiều lần tăng lãi suất chủ đạo. Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương Trung Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ đi ngược lại xu thế này nhằm thúc đẩy phục hồi nền kinh tế. Đối với nền kinh tế Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước cần điều hành chính sách tiền tệ độc lập, không bị cuốn theo xu hướng số đông tăng lãi suất, nhất quán thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về thúc đẩy phục hồi kinh tế, giảm thiểu tác động bởi nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu.


Trụ sở Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tại Washington DC - Ảnh: AFP/TTXVN

1. Một số đánh giá về nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu

Trong báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới tháng 7-2022, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã hạ các mức dự báo tăng trưởng của kinh tế toàn cầu năm 2023, đồng thời cảnh báo về chu kỳ suy thoái trước mắt nếu các chính phủ không xử lý hiệu quả cuộc chiến chống lạm phát. IMF cũng đánh giá, việc ngânhàng trung ương (NHTƯ) các nền kinh tế tăng lãi suất có thể giúp kiềm chế lạm phát qua giảm đầu tư và hạn chế tiêu dùng cá nhân. Nhưng nó có thể dẫn đến sự suy thoái của các nền kinh tế giàu có và khủng hoảng ở các nước nghèo, do nợ công tăng lên, các cân đối kinh tế vĩ mô bị phá vỡ(1).

Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đưa cảnh báo nguy cơ suy thoái toàn cầu đang gia tăng trong bối cảnh các NHTƯ tập trung nỗ lực vào việc kiềm chế lạm phát. WB khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách các nước chuyển trọng tâm từ giảm tiêu dùng sang thúc đẩy sản xuất, nhằm tăng nguồn cung để nới lỏng những hạn chế khiến giá cả leo thang(2).

Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng đưa ra cảnh báo, chính sách tài chính và tiền tệ của các nền kinh tế phát triển đã đẩy thế giới vào nguy cơ suy thoái toàn cầu và thời kỳ suy thoái, lạm phát kéo dài. UNCTAD cho rằng, những hệ lụy của cuộc suy thoái này thậm chí trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và đại dịch Covid-19(3).

Nguyên nhân gây ra nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu là:

Thứ nhất, từ đầu tháng 02-2020, thế giới trải qua diễn biến bất thưởng bởi đại dịch Covid-19, bắt đầu tại Trung Quốc. Trung Quốc tiếp tục thực hiện chính sách Zero Covid-19 đến cuối năm 2022. Điều đó gây ra đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, chi phí sản xuất - kinh doanh và dịch vụ gia tăng. Việc làm cho người lao động, thu nhập cá nhân và thu ngân sách của các quốc gia sụt giảm mạnh trong khi chi ngân sách tăng lên. Trong hai năm 2020-2021, nhiều quốc gia tung ra các gói trợ giúp người lao động, cứu trợ nền kinh tế cực lớn. Thâm hụt ngân sách, nợ công tăng cao. Những điều đó gây sức ép lên chi phí, giá cả và tiêu dùng.

Thứ hai, sau hơn 02 năm kể từ thời điểm bùng phát đại dịch Covid-19, thế giới lại chứng kiến diễn biến bất thường khác, đó là ngày 24-02-2022, Nga chính thức mở chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ucraina. Hàng loạt lệnh trừng phạt kinh tế của phương Tây đối với Nga được tung ra. Chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục bị đứt gãy. Nhiều tuyến đường hàng không, hàng hải, đường sắt phải đi vòng. Giá năng lượng như dầu thô và khí đốt, cùng các sản phẩm có liên quan tăng mạnh; giá thức ăn chăn nuôi, giá nhiều mặt hàng lương thực khác tăng, gây sức ép lên giá cả.

Thứ ba, NHTƯ một loạt quốc gia tăng mạnh lãi suất để kiềm chế lạm phát trong 30-50 năm qua. Tăng mạnh nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến kinh tế toàn cầu là lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Tính đến ngày 02-11-2022, Fed đã 6 lần tăng lãi suất liên tiếp, tổng cộng tăng 300 điểm từ mức thấp kỷ lục 0-0,25% lên 3,75-4%(4).

Tiếp theo FED, ngày 03-11-2022, NHTƯ Anh (BoE) cũng tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm, mức tăng lớn nhất trong 33 năm, đưa lãi suất của Anh lên 3%, cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhằm kiểm soát lạm phát dự báo tăng cao kỷ lục lên khoảng 11%(5).

Lãi suất tăng mạnh để kiềm chế lạm phát, kiềm chế sức mua của người tiêu dùng. Người dân tại các nền kinh tế lớn, nền kinh tế bị lạm phát cao giảm mua sắm, cầu nội địa và cầu quốc tế giảm.

Thứ tư, lãi suất của FED và của một loạt quốc gia hàng đầu tăng cao, gây biến động lớn trên thị trường tài chính toàn cầu. Đã xuất hiện tình trạng các nhà đầu tư đua nhau bán tháo cổ phiếu ngày 23-9-2022 sau khi FED, BoE tăng lãi suất và dự báo FED tiếp tục tăng lãi suất(6).

 


Đô la Mỹ tăng giá cao nhất so với các ngoại tệ chủ chốt. Ngày 22-9-2022, chỉ số DXY đo lường biến động của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt trên thị trường tài chính quốc tế tăng vọt lên mức 111,66 điểm. Đây là mức cao kỷ lục mới trong 20 năm qua. Đồng Yên của Nhật Bản cũng sụt giảm lịch sử; ngày 22-9-2022, đã giảm hơn 25%. Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc giảm mạnh trong bối cảnh quan điểm chính sách giữa FED và Ngân hàng Nhân dân Trung quốc có sự khác biệt lớn(7).

2. Biện pháp phòng chống tác động tiêu cực của một số quốc gia trên thế giới

Bên cạnh việc hàng loạt NHTƯ tăng lãi suất, thì một số quốc gia có hành động ngược lại. Ngày 15-8-2022, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã bất ngờ cắt giảm lãi suất chủ chốt lần thứ 2 trong năm nhằm phục hồi nhu cầu tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế. PBoC giảm lãi suất từ 2,85% xuống 2,75% đối với các khoản vay trong khuôn khổ cơ chế cho vay trung hạn (MLF) kỳ hạn 1 năm áp dụng với các tổ chức tài chính, qua đó cung ứng thêm 400 tỷ CNY (khoảng 59,33 tỷ USD) vào thị trường. Cơ chế MLF được PBoC áp dụng từ năm 2014 để giúp các ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách duy trì thanh khoản bằng cách vay tiền từ NHTƯ thế chấp bằng cổ phần. Ngoài ra, PBoC cũng giảm chi phí vay với biên độ từ 2,1% xuống còn 2%, cung ứng 20 tỷ CNY vào thị trường thông qua các hợp đồng mua lại (repo) kỳ hạn 7 ngày. Tháng 1-2022, PBoC cũng đã điều chỉnh giảm cả 2 lãi suất trên khoảng 10 điểm cơ bản. Chính phủ Trung Quốc kiên trì và thực hiện nhất quán chính sách hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng(8).

Tháng 9-2022, CBRT đã hạ lãi suất chính sách 100 điểm cơ bản xuống 12%. Ngày 20-10-2022, NHTƯ Thổ Nhĩ Kỳ (CBRT) tiếp tục hạ lãi suất chính sách 150 điểm cơ bản, xuống 10,5%. Đợt giảm lãi suất lần này nằm trong nỗ lực giảm lạm phát. CBRT nhận định, lạm phát tăng là do tác động gián tiếp của chi phí năng lượng tăng, việc định giá không được hỗ trợ bởi các nền tảng kinh tế, nguồn cung bị gián đoạn(9)

Đến cuối tháng 10-2022, NHTƯ Nhật Bản (BoJ) vẫn quyết định giữ lãi suất của mình ở mức dưới 0%. Nhật Bản là nền kinh tế lớn duy nhất làm như vậy trong khi các NHTƯ chủ chốt khác tăng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát. Kể từ năm 2016, BoJ đã duy trì lãi suất chính ở mức âm 0,1%. Ngày 28-10-2022, BoJ đã quyết định giữ nguyên lãi suất chính sách ngắn hạn ở mức -0,1%. Ngoài ra, BoJ cam kết giữ lợi tức trái phiếu Chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm ở mức 0% bằng cách mua “số lượng cần thiết” trái phiếu như vậy mà không đặt ra giới hạn trần(10).

3. Dự báo tác động đến nền kinh tế Việt Nam

Nguy cơ về suy thoái rõ ràng sẽ tác động đến nền kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở lớn, đang và sẽ thực hiện 17 FTAs thế hệ mới, với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu gấp 2 lần GDP. Suy thoái hay đình trệ kinh tế toàn cầu, nếu diễn ra theo các dự báo, sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam do sự suy giảm đối với cầu hàng hóa, dịch vụ từ Việt Nam.

Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 336,31 tỷ USD. 9 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 282,52 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước(11).

Dự báo kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2023 sẽ có hàng loạt biến động mới, bởi nhiều doanh nghiệp và người tiêu dùng tại các nền kinh tế lớn bắt đầu thắt chặt chi tiêu, giảm đầu tư do tác động của suy thoái hay đình trệ kinh tế, nhu cầu đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từ Việt Nam chắc chắn sẽ bị suy giảm.

Nhu cầu đi du lịch nước ngoài của người dân tại các nền kinh tế bị lạm phát cao cũng bị hạn chế, ảnh hưởng đến việc thu hút khách quốc tế của Việt Nam. Khả năng xuất khẩu lao động của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng lớn.

Giá năng lượng và nhiều mặt hàng hóa chất có liên quan, giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và phân bón, nguyên liệu nhựa,… tăng cao, tiếp tục ảnh hưởng đến giá xăng dầu và nhiều mặt hàng nhập khẩu tương ứng. Chi phí logistics tăng. Những diễn biến đó tác động đến mặt bằng giá và hiệu quả kinh doanh trong nước.

Lãi suất tăng và giá USD lên cao, chi phí các dòng vốn quốc tế đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam tăng cao, tạo ra nguy cơ sụt giảm dòng vốn đầu tư vào Việt Nam. Vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị sụt giảm cho thấy rõ tác động này.

4. Những chính sách và kết quả bước đầu phục hồi kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Cho đến nay, Đảng, Nhà nước đang quyết liệt triển khai các chính sách, biện pháp phòng, chống suy giảm nền kinh tế Việt Nam sau 2 năm diễn ra đại dịch Covid-19. Quốc hội và Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ phục hồi, ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, như: Nghị quyết 43/2022/QH15 ngày 11-01-2022 của Quốc hội “về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội”, Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30-01-2022 của Chính phủ “về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội 2022-2023”; Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 11-7-2022 của Chính phủ “về phát triển thị trường vốn an toàn, minh bạch, hiệu quả, bền vững”; Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 29-8-2022 “về một số giải pháp thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững”; Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 16-9-2022 “về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế trong tình hình mới”; Nghị định 65/2022/NĐ-CP ngày 16-9-2022 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 153/2020/NĐ-CP quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ; dự thảo sửa một số luật quan trọng như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Giá v.v..

Thực hiện các chính sách và giải pháp nói trên, đến nay, các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam đạt được rất ấn tượng. GDP quý III năm 2022 tăng 13,67% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng trưởng quý III cao nhất từ năm 2010 đến nay. CPI bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 2,73%, chủ yếu do tác động của giá 3 nhóm hàng hóa - dịch vụ là giao thông tăng 14,98%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,69%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,11%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 558,5 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại thặng dư 6,5 tỷ USD.  Lũy kế đến hết ngày 20-9-2022, tổng vốn FDI đăng ký giảm 15,3% (đạt 18,8 tỷ USD); giải ngân vốn FDI đạt 15,4 tỷ USD, tăng 16,2%. Tính đến hết tháng 9-2022, thu ngân sách nhà nước đạt 1.327,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2021(12).

Các tổ chức quốc tế đánh giá cao nỗ lực phục hồi, ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam. Theo đó, (i) Chỉ số Phục hồi Covid-19 do Nikkei công bố (tháng 10-2022) đánh giá Việt Nam xếp thứ 8/121 quốc gia, tăng 82 bậc so với tháng 1-2022; (ii) Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P (tháng 5-2022), nâng hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+ (từ mức BB), với triển vọng "Ổn định"; Moody’s (tháng 9-2022) cũng đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ mức Ba3 lên mức Ba2, triển vọng ổn định do đánh giá cao sức mạnh nội tại và khả năng chống chịu tốt hơn của nền kinh tế; (iii) IMF (tháng 10-2022) và World Bank (tháng 9-2022) đều có những đánh giá lạc quan, nâng triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2022 (khoảng 7-7,2%), cao hơn 1% so với dự báo của 3 tháng trước đó. Cùng với chính sách phòng chống dịch và mở cửa nền kinh tế phù hợp, đang mở ra nhiều cơ hội thu hút đầu tư FDI của Việt Nam(13).

5. Khuyến nghị hàm ý chính sách

Những dự báo về khả năng suy thoái là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm để chủ động và độc lập về điều hành chính sách kinh tế. Chính sách tiền tệ và chính sách tài chính trong mọi trường hợp cần kiên trì, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Một số kiến nghị đó là:

Một là, Việt Nam không nên để cuốn theo xu hướng tăng lãi suất của số đông NHTƯ mà thiếu đi sự phân tích khoa học về thực tiễn nền kinh tế Việt Nam

Tháng 10-2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã 2 lần tăng mức lãi suất điều hành.

Về lo ngại lạm phát, so với tháng 12-2021, CPI tháng 9-2022 của Việt Nam tăng 4,01% và so với cùng kỳ năm trước tăng 3,94%. CPI bình quân quý III/2022 tăng 3,32% so với quý III/2021. Bình quân 9 tháng năm 2022, CPI tăng 2,73% so với cùng kỳ năm 2021; lạm phát cơ bản tăng 1,88%. Nhiều dự báo trong nước và quốc tế đều thống nhất cho rằng, Việt Nam sẽ kiềm chế lạm phát năm 2022 ở mức không quá 4%. Do đó, so với Mỹ và EU cũng như nhiều nước khác, thì thực tế CPI hiện nay của Việt Nam vẫn ở mức thấp và nằm trong mục tiêu đề ra từ đầu năm, nên không có cơ sở thực tiễn để Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất điều hành.

Trong khi đó, CPI tăng khá trong những tháng qua của Việt Nam được chỉ rõ là do chi phí đẩy, do giá nhiều mặt hàng chiến lược nhập khẩu tăng, chứ không phải do tiền tệ. Việt Nam về cơ bản tự cung tự cấp lương thực, trừ nguyên liệu thức ăn chăn nuôi; thâm hụt năng lượng ở mức khiêm tốn, chiếm khoảng 3-4% GDP(14).

Chính sách tài chính nới rộng nhằm mục tiêu phục hồi nền kinh tế. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và điều hành của Chính phủ về phục hồi nền kinh tế, hệ thống ngân hàng đang triển khai gói tín dụng hỗ trợ 2% lãi suất với quy mô hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là 40.000 tỷ đồng.

Hai là, cần ổn định tỷ giá góp phần kiềm chế lạm phát có hiệu quả

Tỷ giá VND/USD tăng, hay giá VND giảm, làm cho giá thành các sản phẩm dịch vụ có đầu vào là nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu tăng. Giá xăng dầu chịu sức ép tăng giá vì nhập khẩu thanh toán chủ yếu bằng USD, tác động đến mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, trong đó có CPI. Giá điện cũng tăng cao vì hầu hết thiết bị điện nhập khẩu phải hạch toán, thanh toán bằng USD. Nợ ngoại tệ của Chính phủ và doanh nghiệp gia tăng. Giá các mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu có linh, phụ kiện nhập khẩu tăng. Trong điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đang lo ngại lạm phát gia tăng. Ngân hàng Nhà nước cũng hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô. Song, rõ ràng tỷ giá tăng không có tác động đến ổn định kinh tế vĩ mô. Hiện nay, Quốc hội, Chính phủ đang phải dùng chính sách tài chính, giảm một loạt thuế đối với mặt hàng xăng dầu nhập khẩu để kiềm chế giá bán, kiềm chế lạm phát. Nên biện pháp tăng tỷ giá đi ngược lại mục tiêu kiềm chế lạm phát, làm tổn thất thêm đối với ngân sách nhà nước.

Ba làkiên trì và thực hiện nhất quán chính sách tài chính hỗ trợ phục hồi nền kinh tế sau đại dịch và phòng chống tác động tiêu cực của nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu

Để giảm bớt tác động về cầu đối với hàng hóa và dịch vụ từ thị trường toàn cầu, chi tiêu trong nước cần được kích thích nhằm bù đắp cho sự suy giảm từ cầu bên ngoài. Chi tiêu chính phủ, đặc biệt là đầu tư công, đầu tư phát triển nếu được thực hiện hiệu quả, kịp thời sẽ đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh này. Vì vậy, cần thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, ưu tiên đặc biệt đối với các dự án về giao thông. Vốn đầu tư công các bộ, ngành, các địa phương xin trả lại hay giải ngân không hết nên chủ động bố trí cho các dự án giao thông, ưu tiên các dự án đường cao tốc. Chính phủ, Bộ Giao thông giám sát, đôn đốc tiến độ các dự án, quan tâm lớn nhất là dự án sân bay Long Thành, cao tốc Bắc Nam.

Bốn là, điều hành chính sách tài chính - tiền tệ cần hướng vào hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí, tăng cường đầu tư

Lạm phát tăng cao, nguy cơ suy thoái đang đến gần, cầu tiêu dùng cá nhân giảm. Tuy nhiên, nhu cầu những mặt hàng thiết yếu không giảm nhiều. Việt Nam cần tận dụng cơ hội này, tiếp tục hỗ trợ mạnh mẽ sản xuất các mặt hàng nông sản có chất lượng cao, an toàn, bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế, như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, thủy hải sản, rau quả…

Cải thiện chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh về giá, điều chỉnh quy mô sản xuất, tăng cường đa dạng hóa thị trường nhằm tận dụng cơ hội của các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã tham gia ký kết, là những giải pháp để giảm thiểu các nguy cơ về sụt giảm cầu.

_________________

Ngày nhận: 15-11-2022; Ngày bình duyệt: 29-11-2022; Ngày duyệt đăng:15-12-2022.

 

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (9), (10), (13) VAFI: Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Namhttps://www.vafi.org.vn, truy cập từ ngày 29-10 đến 2-11-2022.

(7), (8),Tổng hợp Báo cáo tài chính năm 2020 và 2021 của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

(11), (12), (14) Tổng cục Thống kê: Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội hằng tháng, quý các năm 2019-2022,wwww.gso.gov.vn.

Nguồn : PGSTS NGUYỄN ĐẮC HƯNG

Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

 

CHỦ NHIỆM UBKT TRUNG ƯƠNG TRẦN CẨM TÚ: KIÊN QUYẾT XỬ LÝ ĐẢNG VIÊN SUY THOÁI

Ngành kiểm tra, giám sát Đảng kịp thời phát hiện, kiểm tra, kiên quyết xử lý đối với tổ chức đảng, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhấn mạnh yêu cầu này khi phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2023.

Sau phát biểu chỉ đạo của Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng và nghe các tham luận của cấp ủy và UBKT cấp ủy trực thuộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú trân trọng tiếp thu ý kiến, đồng thời nhấn mạnh, năm 2023 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, có nhiều thời cơ, thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, thách thức.

Tình hình vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên còn diễn biến phức tạp, có mặt nghiêm trọng hơn, nhất là vi phạm về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm.

Theo đó, người đứng đầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu toàn ngành phải chủ động, quyết tâm, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng; nhấn mạnh tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, nâng cao nhận thức hơn nữa về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng.

UBKT các cấp tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện kịp thời các quy định, quy chế, quy trình về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, đảm bảo chặt chẽ, khoa học, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Đồng thời, tập trung thực hiện toàn diện, có hiệu quả các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp uỷ giao, trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.

“Phải kịp thời phát hiện, kiểm tra, kiên quyết xử lý đối với tổ chức đảng, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa, vi phạm những điều đảng viên không được làm, vi phạm nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm và những vụ, việc bức xúc trong xã hội; những vụ việc, vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo”, ông Trần Cẩm Tú nói.

Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị toàn ngành tiếp tục xây dựng, tổ chức bộ máy cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương đồng bộ, thống nhất theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; tham mưu cấp ủy tiếp tục thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp về làm công tác kiểm tra và cán bộ kiểm tra sang công tác ở các ngành khác để đào tạo, bồi dưỡng.

Thông tin tại hội nghị cho biết, năm 2022, cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra gần 61.600 tổ chức đảng và gần 335.000 đảng viên; giám sát hơn 74.500 tổ chức đảng và gần 194.000 đảng viên; thi hành kỷ luật 410 tổ chức đảng và hơn 21.700 đảng viên…

Các số liệu này đều tăng hơn so với năm 2021. Trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; nhiều vụ việc vi phạm mới được phát hiện kiểm tra xử lý kịp thời, nhiều vụ việc khó, phức tạp, tồn đọng nhều năm được kiểm tra xử lý dứt điểm. Sau kiểm tra, đã xem xét trách nhiệm và xử lý nghiêm minh, kịp thời các tập thể, cá nhân vi phạm, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng./.


 

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM ĐƯỢC BẠN BÈ QUỐC TẾ NHÌN NHẬN TÍCH CỰC

 

Sự thật là quyền con người tại Việt Nam luôn được đảm bảo trong Hiến pháp, thể chế pháp luật, được chú trọng trong các chính sách của Nhà nước và ngày một tốt hơn trên mọi phương diện đời sống.

Tình hình nhân quyền tại Việt Nam đang được thế giới nhìn nhận ngày một khách quan hơn, bất chấp nhiều luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống phá. "Việt Nam là một đối tác quan trọng của Liên Hợp Quốc, đã có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Mối quan hệ tốt đẹp này cần được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới để thúc đẩy hòa bình, sự phát triển bền vững và quyền con người trên thế giới". Đó là đánh giá mới nhất về Việt Nam của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres

Còn ông Jean-Pierre Archambault, Nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp-Việt thì cho rằng: "Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận".

Không phải ngẫu nhiên Việt Nam được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Bởi theo bà Caitlin Wiesen, nguyên trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, trong nhiều thành tựu, tiến bộ mà bà ấn tượng về Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực – đó chính là công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân. Tình trạng nghèo cùng cực tại Việt Nam đã giảm từ tỷ lệ cao nhất khoảng 40% ở những năm 1990 xuống dưới 5% vào năm 2020. Đó chính là sự thay đổi phi thường.

Ngoài ra, trong 2 năm đại dịch vừa qua, bà Caitlin Wiesen cũng đánh giá rất cao những thành tựu mà chính phủ Việt Nam đạt được trong việc đảm bảo sự an toàn cho người dân, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”:

“Chính phủ Việt Nam đã nhận được đánh giá cao của người dân và cộng đồng quốc tế vì đã chủ động dự báo được tình hình đại dịch, nhanh nhạy và thích ứng linh hoạt, hiệu quả trong việc kiểm soát được dịch bệnh Covid-19. Vai trò lãnh đạo mạnh mẽ, các biện pháp nhanh chóng và minh bạch với ưu tiên hàng đầu là an toàn của người dân được coi là những yếu tố then chốt củng cố niềm tin và sự ủng hộ của người dân với chính phủ và các nhà lãnh đạo”, bà Caitlin Wiesen nhấn mạnh.

Cùng với đó là việc người dân, các doanh nghiệp được Chính phủ Việt Nam hỗ trợ tài chính kịp thời. Trong đại dịch, người dân được đảm bảo các quyền được tiếp cận các nhu yếu phẩm thiết yếu, quyền được chăm sóc y tế, đi lại và giáo dục trực tuyến. Kiều bào tại nước ngoài được dang rộng vòng tay trở về nước.

Còn với ông Hervé Conan - Giám đốc quốc gia  Cơ quan Phát triển Pháp – ông rất ấn tượng về những thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới.

“Hình ảnh của người phụ nữ hiện nay hoàn toàn khác với hình ảnh cách đây 30 năm, vốn luôn gắn liền với công việc bếp núc và chăm lo nhà cửa. Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Việt Nam cũng cho thấy vai trò rất tích cực trong thúc đẩy bình đẳng giới trên thế giới khi là một trong những nước đầu tiên thông qua Công ước về cấm mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ cách đây hơn 40 năm và sau đó là Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995”, ông Hervé Conan phân tích thêm.

Trong khi đó, Các thành viên Ủy ban Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc (CRC) cũng hoan nghênh những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực đảm bảo các quyền trẻ em, đặc biệt là việc xây dựng và cải thiện, sửa đổi luật pháp của Chính phủ khi ban hành luật trẻ em 2016 thay thế luật chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em năm 2004.

Nhiều chính trị gia và học giả quốc tế đã rất ấn tượng về những thành công mà Việt Nam đạt được sau 36 năm đổi mới, đặc biệt là tấm gương thành công về phát triển kinh tế xã hội, quyền con người và hoàn thành trước hạn nhiều Mục tiêu phát triển Thiên nhiên kỷ (MDG). Theo LHQ, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng theo các năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Về khía cạnh quyền tự do Internet, ngôn luận, báo chí, sử dụng mạng xã hội, Việt Nam đang đứng top đầu thế giới. Như We Are Social & Hootsuite đã thống kê về chỉ số tiếp cận Internet, Việt Nam có tới 150 triệu kết nối mobile, khoảng 70 triệu người dùng internet. Hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường xã. Tự do báo chí được thể hiện cụ thể với việc cả nước có khoảng 800 cơ quan báo chí, hơn 100 báo có hoạt động báo điện tử, hơn 600 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập.

Bất chấp những luận điệu xuyên tạc, thù địch, quốc tế đang có những đánh giá cao về vấn đề nhân quyền Việt Nam – vốn đã đạt những thành tựu “không thể phủ nhận”. Với việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc lần thứ hai, Giáo sư James Borton, Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Chính sách đối ngoại, Đại học Johns Hopkins cho biết, điều này không chỉ làm sâu sắc thêm sự hội nhập vào hệ thống quốc tế mà còn đem đến cơ hội thúc đẩy hơn./.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 17 THÁNG 01 NĂM 1951!

     “Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Mặt trận trung du, đợt thứ hai chiến dịch bắt đầu như thế là khá lắm. Bác thân ái gửi lời khen các chú. Bác mong mỗi người, mỗi đơn vị đều hăng hái thi đua xung phong, giết cho nhiều địch, hạ cho nhiều đồn”!
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Điện gửi cán bộ và chiến sĩ Mặt trận Trung du, vào ngày 17 tháng 01 năm 1951, trong thời điểm thực dân Pháp ở Đông Dương do tướng Tátxinhi chỉ huy, đang tăng cường binh lực nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang, đàn áp, giết hại đồng bào, phá hủy mọi thành quả cách mạng; song chúng đã bị quân và dân ta đánh bại liên tiếp nhiều cuộc hành quân càn quét, đẩy địch vào thế bất lợi, binh lính hoang mang, lo sợ.
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bức Điện đã khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Mặt trận trung du trong thời gian qua đã lập nhiều công lớn; mong muốn cán bộ và chiến sĩ Mặt trận trung du hăng hái thi đua giết giặc lập công nhiều hơn nữa. Lời khích lệ của Người đã nhanh chóng lan truyền khắp mặt trận, cổ vũ động viên nhân dân và cán bộ, chiến sĩ cả nước, phát huy thắng lợi của chiến dịch lần trước, tiếp tục đoàn kết, thi đua giữa các đơn vị trong mặt trận, lập nhiều chiến công, thắng lợi lớn, đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. 
     Hiện nay, đất nước ta hòa bình, độc lập, công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng; phong trào thi đua yêu nước không ngừng được phát triển; Đảng và Nhà nước quan tâm tổ chức các hoạt động tôn vinh cái đúng, cái đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Trong quân đội, công tác thi đua và phong trào thi đua quyết thắng được đẩy mạnh, gắn chặt chẽ với Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; khơi dậy và phát huy cao độ bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, ý thức, trách nhiệm, tài năng, sức sáng tạo to lớn của cán bộ, chiến sĩ toàn quân cống hiến cho sự nghiệp cách mạng cao cả, vẻ vang, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.

NẮM VỮNG NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI!

         Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, là tư tưởng cốt lõi xuyên suốt toàn bộ hệ thống quan điểm của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là một trong các nhân tố quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua. Theo Người, độc lập dân tộc là điều kiện, tiền đề không thể thiếu để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là sự bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Trên cơ sở đó, Người cũng chỉ ra những điều kiện để đảm bảo cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam, như: có sự lãnh đạo của Đảng; có khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công - nông - trí thức; có sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.
     Hơn 90 năm qua, nhờ đi theo con đường đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng./.




Yêu nước ST.

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ CỦA BÁC HỒ VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG LUÔN VẸN NGUYÊN GIÁ TRỊ!

     Tết đến, Xuân về nhà nhà, người người chuẩn bị đón Tết. Một cái Tết đủ đầy, đầm ấm, nhất là cái Tết chúng ta đang đón là lần thứ 50 lập lại hòa bình ở Việt Nam, nói chính xác là ở miền Bắc XHCN. Ăn Tết này ta nhớ đến Tết xưa, nhớ công lao của bao nhiêu lớp lớp cán bộ, đảng viên và nhân dân đã hy sinh mới có được. Đón Xuân vui Tết chúng ta càng nhớ công ơn trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tưởng nhớ tới Người chúng ta ôn lại những lời dạy của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự. Xin trân trọng gửi tới cùng bạn đọc gần xa và toàn thể bạn bè trên không gian mạng:
1. Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.

2. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

3. Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.

4. Cần mà không Kiệm thì làm chừng nào xào chừng ấy. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

5. Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.

6. Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

7. Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.

8. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

9. Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

10. Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác./.
Yêu nước ST.

"KHÔNG CÓ ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG THÌ LÀM SAO CÓ HIỆP ĐỊNH PARIS"

 Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan phân tích: "Không có Điện Biên Phủ làm sao có Hiệp định Geneve. Tương tự như vậy, không có Điện Biên Phủ trên không, làm gì có Hiệp định Paris đầu năm 1973".

Được bắt đầu từ năm 1968 và kết thúc vào đầu năm 1973, cuộc đàm phán ở Hội nghị Paris bàn về hòa bình ở Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử đấu tranh ngoại giao của nhân loại. Trong vòng 4 năm 9 tháng, cuộc đàm phán đã diễn ra với hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo và 1.000 cuộc phỏng vấn.
Trải qua quá trình đấu tranh kiên trì, khi kiên quyết, khi mềm dẻo, chúng ta đã buộc siêu cường Mỹ, lần đầu tiên phải chấp nhận thất bại, trong lịch sử 200 năm, từ ngày lập nước. Với Hiệp định này, con đường đi tới hòa bình của chúng ta ngày càng được rộng mở. Thắng lợi trong cuộc đấu trí ngoại giao này, trở thành bài học sinh động, mẫu mực trong lịch sử của nền ngoại giao non trẻ Việt Nam.
Đêm giao thừa Tết Mậu Thân năm 1968, 4 thành phố lớn, 37 thị xã và hơn 100 thị trấn, chi khu quân sự do Mỹ-ngụy chiếm đóng đồng loạt bị tấn công. Toàn miền Nam rung chuyển, tiếng súng, pháo và chớp lửa xuất hiện khắp nơi. Đài Phát thanh Sài Gòn, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn và Tòa Đại sứ Mỹ, những nơi được cho là tuyệt mật, bất khả xâm phạm bị đánh phá. Các cơ quan đầu não của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn rung lên liên hồi.
Sự kiện này đã gây chấn động thế giới. Quân viễn chinh Mỹ và quân đội, chính quyền tay sai Sài Gòn hoang mang cực độ. Nhà Trắng, Lầu Năm Góc bàng hoàng, sửng sốt. Chúng ta đã giáng một đòn sét đánh cực mạnh và bất ngờ vào thẳng đô thị. Sự kiện này, khiến người Mỹ bừng tỉnh nhận ra rằng, họ không còn giữ được thế thượng phong của một siêu cường nữa. Tiếng "sét" Mậu Thân đã buộc họ phải xuống thang chiến tranh. Ngoại trưởng Mỹ Kissinger đã phải tuyên bố: Sự kiện Mậu Thân đã làm cho toàn bộ chiến lược đang lên của Hoa Kỳ bị lật nhào.
Đúng như thế, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố, đơn phương chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, sẵn sàng cử đại diện đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Đại tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà nhận định: Đòn tiến công vào Tết Mậu Thân 1968 là bản lề mang tính quyết định, mở đường cho cuộc đàm phán hòa bình tại Hội nghị Paris.
"Tết Mậu Thân là một mốc rất quan trọng với đất nước ta. Ý nghĩa chiến lược là rất lớn, nó làm thay đổi cục diện chiến tranh. Cũng như Bác Hồ nói dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải quyết giành cho được độc lập, tự do. Trung ương Đảng quyết định là phải có một cuộc tấn công lớn, toàn diện để đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, làm cho nước Mỹ phải rung động. Từ đó mới có Hiệp định Paris về Việt Nam", nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà nhấn mạnh.
Trên cơ sở tạo đà chiến thắng của Tết Mậu Thân, ngày 13/5/1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên. Mặt trận ngoại giao chính thức được mở, song song với mặt trận quân sự. Tuy nhiên, đến với bàn đàm phán Paris, người Mỹ vẫn đang trông chờ, ảo tưởng vào một thắng lợi quyết định trên chiến trường, để ép chúng ta phải ký vào Hiệp định, theo những điều khoản mà họ đã định sẵn. Vì thế, con đường đi đến hòa bình trên bàn đàm phán Paris, không đơn giản và thuận lợi như lúc đầu chúng ta hình dung.
Tiến sĩ Trần Xuân Trí, Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng, cũng một phần do trong suốt hơn 4 năm đàm phán, chúng ta chưa giành được những thắng lợi mang tính quyết định, nên chưa đủ sức đè bẹp, áp đảo người Mỹ trên chiến trường và trên bàn đàm phán. Chỉ khi, chúng ta giành thắng lợi mang tính quyết định, đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội năm 1972, đế quốc Mỹ mới nhìn nhận về Hội nghị Paris một cách nghiêm túc.
"Trong thời gian diễn ra hội nghị, mặc dù chúng ta đã giành được những thắng lợi quân sự đánh bại lần lượt các chiến lược chiến tranh của Mỹ, tuy nhiên, từ năm 1968 đến khoảng năm 1971 và đầu năm 1972, những thắng lợi quân sự của ta chưa có ý nghĩa quyết định đánh bại hoàn toàn ý chí và hành động xâm lược của Mỹ. Chính vì thế Mỹ vẫn tỏ ra ngoan cố. Thực tế, chỉ từ năm 1972, khi chúng ta đã giành được thắng lợi quyết định, đó là trận Điện Biên Phủ trên không vào tháng 12/1972, mới buộc Mỹ phải nối lại đàm phán, chấp nhận ký kết Hiệp định Paris", Tiến sĩ Trần Xuân Trí phân tích.
Nói về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to, tiếng mới lớn. Nếu chiếu theo tư tưởng của Người, thì đòn tấn công sấm sét vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân là một minh chứng cho thấy thực lực của chúng ta đã có những lớn mạnh. Liên tiếp sau đó, những thắng lợi ở chiến trường Nam Lào năm 1971, Chiến trường Quảng Trị năm 1972 và đặc biệt là thắng lợi trong Chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972, chính là quá trình chúng ta tạo ra một chiếc chiêng to, có đủ khả năng để tạo ra tiếng vang lớn trên bàn đàm phán ngoại giao. Và thực tế chiến trường đã cho thấy, khi chiêng đủ to, tiếng đủ lớn thì người Mỹ phải lắng nghe và chấp nhận thực tế.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan phân tích: "Không có Điện Biên Phủ làm sao có Hiệp định Geneve. Tương tự như vậy, không có Điện Biên Phủ trên không, làm gì có Hiệp định Paris đầu năm 1973. Do đó, có chiến thắng trên chiến trường, mới có thể thắng lợi ngoại giao được. Làm sao họ chấp nhận ngồi vào bàn thương lượng, nếu không có Tổng tiến công Mậu Thân, làm sao họ chịu ký Hiệp định Paris, nếu không có thắng lợi Điện Biên Phủ trên không. Điều đó chứng tỏ triết lý của Bác Hồ là phải trông ở thực lực, thực lực mới là quyết định, còn kết quả ngoại giao chỉ là phản ảnh thực lực".
Để kết thúc chiến tranh bằng một hiệp định là điều không dễ dàng, nhất là khi hai bên đều đặt những lợi ích, toan tính của mình vào trong đó. Vấn đề mấu chốt và quyết định nhất, chính là kết quả của cuộc đối đầu giữa hai bên trên chiến trường.
Lịch sử các cuộc chiến tranh đã cho thấy, bên nào chiếm ưu thế trên chiến trường sẽ có quyền áp đảo, ép buộc đối phương phải ký vào những bản hiệp ước, hiệp định. Thực dân Pháp ép buộc Triều đình nhà Nguyễn phải ký vào Hiệp ước đầu hàng, nhượng lại vùng Nam Kỳ cho Pháp, công nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp. Đến chiến tranh thế giới thứ hai, khi là nước bại trận, Nhật Bản buộc phải chấp nhận đầu hàng theo tuyên bố của Hội nghị Potsdam. Nhưng với người Mỹ, họ chưa bao giờ chịu thất bại trong các cuộc chiến tranh. Vì lẽ đó, thất bại ở Việt Nam, chịu đau sau những đòn quyết định của quân dân Việt Nam, Mỹ không còn lựa chọn nào khác, buộc phải ký trong tư thế của người chiến bại. Đây cũng là nhận định của Thiếu tướng Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
"Hội nghị Paris được mở ra ngay giữa Thủ đô nước Pháp, ngay giữa trung tâm thông tin truyền thông của quốc tế lớn nhất Châu Âu. Điều đó hết sức có lợi. Ở đây chúng ta đã có sự kết hợp rất tuyệt vời giữa thực lực về quân sự trên chiến trường, đặc biệt là chiến trường Sài Gòn. Rõ ràng, toàn miền Nam nổi dậy tấn công Sài Gòn là trọng điểm. Hội nghị Paris sau đó buộc Mỹ phải ngồi vào đàm phán với Việt Nam. iều đó là gì, điều đó có nghĩa là trên thực tế Mỹ công nhận một sự thật là người Việt Nam chống xâm lược", Thiếu tướng Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự phân tích.
Cùng chung quan điểm, Tiến sĩ Hà Minh Hồng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh nêu rõ: "Một hiệp định để kết thúc chiến tranh, thì hiệp định đó phải giải quyết những lợi ích của mỗi bên trong cuộc chiến này. Nên nhớ rằng đây là hai bên của cuộc chiến mà nó rất khác biệt với nhau. Một bên là mục tiêu, mục đích, lợi ích của một đế quốc toàn cầu. Họ không thể thua, họ chưa bao giờ thua, thậm chí họ chưa bao giờ hòa, suốt từ năm 1776 cho đến thời điểm đó. Hiệp định kết thúc chiến tranh đã là điều chưa từng có với họ rồi. Cho nên làm sao để có thể đảm bảo được là họ không thua. Nhưng mà đến với chiến tranh Việt Nam và đến khi mà phải nghĩ đến việc một Hiệp định, thì thắng như thế nào? Câu hỏi đó, bài toán đó rất khó với người Mỹ. Bởi vì họ phải giải bài toán đó suốt từ năm 1968 cho đến tháng 1/1973, thậm chí đến tháng 12/1972, họ còn chưa giải xong".
Như vậy, với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Hội nghị Paris được thiết lập. Với trận quyết chiến chiến lược trên không năm 1972, Hiệp định Paris được ký kết. Nhưng trong suốt chặng hành trình 4 năm 9 tháng dai dẳng giữa Thủ đô Paris hoa lệ, cuộc đấu trí của nền ngoại giao non trẻ Việt Nam với siêu cường ngoại giao nước Mỹ, không hề trải đầy hoa hồng, mà đó là cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt không kém gì ngoài trận địa./.