Thứ Ba, 17 tháng 1, 2023

49 NĂM, NGÀY MỸ - TRUNG THOẢ HIỆP ĐỂ TRUNG QUỐC CHIẾM HOÀNG SA VÀ NỖI ĐAU ĐOẠN TRƯỜNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM!


Thấm thoắt 49 năm đã trôi qua, kể từ ngày 19/1/1974 khi Hải quân Trung Quốc dùng vũ lực để đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Song quá khứ đau thương ấy, mãi mãi khắc ghi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đó là nỗi đau đoạn trường của tổ quốc. Hoàng Sa là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam ở biển Đông đã bị xâm chiếm và từ đó đến nay, họ đã không ngừng cải tạo, xây dựng thành cái gọi là "thành phố Tam Sa". Việc Trung Quốc đang đóng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Dựa vào bằng chứng lịch sử hay luật pháp quốc tế thì rõ ràng là người Trung Quốc chẳng có gì cả, có chăng đó là cái lý lẽ "chân lý thuộc về kẻ mạnh" của chiến lược "viễn giao cận công" mà họ theo đuổi từ bao đời nay, nhằm xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của các nước lân bang mà thôi!
Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc chiêu đãi Tổng thống Mỹ Nixon trong buổi dạ yến với món vịt quay tại Bắc Kinh tháng 2/1972, đây có thể xem là "bữa tiệc bằng máu của người Việt Nam". Sở dĩ nói thế là vì đây là cuộc gặp gỡ, thoả hiệp giữa hai nước lớn với nhau; Trung Quốc chỉ muốn giữ miền Bắc nước ta để làm phên dậu cho họ, như cái cách họ đã làm với Triều Tiên chứ không hề muốn chúng ta giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và trở thành một quốc gia hùng mạnh. Với người Trung Quốc thì như thế là "để hoạ về sau".
Mỹ - Trung đã nhiều lần thỏa hiệp trên đôi vai Việt Nam! Năm 1954, tại Hội nghị Genève năm 1954. Trung Quốc đã có sự mặc cả với Mỹ, Pháp trong việc lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời, trước khi tổng tuyên cử toàn quốc, lẽ ra đó là vĩ tuyến 15 chứ không phải là 17 (sau này chính người Pháp đã tiết lộ rõ vấn đề này). Thông cáo chung Thượng Hải, nơi mà người Mỹ đã đạt được thỏa thuận với Trung Quốc, cho phép Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân, người tàu án binh bất động. Ngày 1-3-1972; trong buổi họp báo tại Tokyo, Kissinger tự tin tuyên bố: “Bây giờ chúng tôi chỉ còn nhìn về Mát- Cơ-Va để nghiền nát Hà Nội!
Để đáp lễ người Trung Quốc, năm 1974, Mỹ ngồi yên để cho Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa dù Hạm đội 7 của họ ở gần đó, nếu không có tín hiệu đèn xanh từ Mỹ thì Trung Quốc còn lâu mới cướp được Hoàng Sa! Đặng Tiểu Bình là quân bành trướng Bắc Kinh muốn “dạy cho Việt Nam một bài học”, nuôi dưỡng và đào tạo bọn diệt chủng Pôn Pốt cũng trên cơ sở “đi đêm với Hoa Kỳ”. Hoa Kỳ lúc đó muốn chia rẽ khối XHCN, làm suy yếu Liên Xô vì mục đích bá chủ hoàn cầu nên muốn là bằng hữu của Trung Quốc, lấy điểm tựa Trung Quốc để bật "hòn đá tảng" của phe XHCN. Trung Quốc thì thèm muốn Hoàng Sa và khoa học công nghệ Mỹ, thế nên họ không ngần ngại chìa "củ cà rốt" cho người tàu. Đó chính là lý luận "lợi ích quốc gia là vĩnh viễn" của người Mỹ và "mèo đen, mèo trắng không quan trọng, miễn là bắt được chuột" của Trung Quốc.
Sớm ngày 19/1, Trung Quốc ngang nhiên nổ súng tấn công đảo Hoàng Sa. Ngày 20/1, bốn máy bay MiG-21 và MiG-23 của Trung Quốc ném bom các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Hoàng Sa... Tiếp đó, binh lính Trung Quốc đổ bộ tấn công các đơn vị đồn trú của Việt Nam Cộng hòa trên các đảo này, chiếm nốt phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa. Quân VNCH đánh trả nhưng nhanh chóng bị thất trận. Sau khi chiếm được toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã cho đập phá các bia chủ quyền tại quần đảo, đào các mộ của người Việt đã chôn ở đây, xóa các di tích lịch sử của người Việt. Lịch sử không có chữ nếu, nhưng chúng ta cảm thấy đau xót vì chính ngụy Sài Gòn đã can tâm làm tay sai của Mỹ, chia đôi sơn hà, làm suy yếu đất nước. Đó là nguyên nhân sâu xa để cho ngoại bang xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của tổ quốc.
Sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Ngày 5/6/1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã lên tiếng bác bỏ những thông tin xuyên tạc về Hoàng Sa - Trường Sa và khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền Việt Nam, từ trước đến nay đều do người Việt Nam quản lý.
Nói thế không có nghĩa là xới lại quá khứ, kích động hận thù mà là để chúng ta có cái nhìn toàn cảnh về thời và thế; về thời cơ, vận hội và thách thức! Hiện Mỹ và Việt Nam là bạn, đối tác toàn diện. Với Trung Quốc là quan hệ đối tác chiến lược; song, một khi lợi ích của Mỹ và Trung Quốc đạt được trên biển Đông thì liệu họ còn có cuộc dã tiệc thế này nữa không? Câu trả lời là có thể có. Việt Nam đã có vị thế rất vững vàng trên trường quốc tế, tuy nhiên nói gì đi nữa thì ta so với họ thì vẫn là nước nhỏ. Bởi vậy phải khôn khéo để vừa bảo đảm chủ quyền, vừa có môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Tự lực tự cường là chính trên tinh thần tranh thủ ủng hộ của quốc tế. Muốn hoà bình thì phải chuẩn bị tốt cho chiến tranh, thực túc binh cường. Không theo tàu chống Mỹ, không theo Mỹ để chống tàu. Bất kỳ nước nào tôn trọng độc lập, chủ quyền của ta thì đều có thể hợp tác phát triển. Theo tàu thì không ai dám chắc là trong tương lại họ không tiếp tục xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải của ta? Theo Mỹ thì nguy cơ mất chế độ và phải lệ thuộc vào họ, làm theo ý chí của họ. Vậy nên, ta chơi với cả hai nhưng không lệ thuộc ai cả!
Một đất nước hùng cường khi và chỉ khi đất nước đó đứng vững trên đôi chân của mình. Đừng mơ dựa vào Mỹ để lấy lại biển đảo của chúng ta, cũng đừng mơ dựa vào tàu để bảo vệ đất nước. Đất nước Việt Nam phải do người Việt Nam xây dựng và bảo vệ chứ không mơ hồ ảo tưởng là dựa vào quốc gia khác để mình hùng cường. Ngoảnh mặt về tàu e Mỹ giận, quay đầu về Mỹ sợ tàu ghen! Nói thế để biết chủ trương đa dạng hoá, đa phương hóa trong các mối quan hệ ngoại giao của Đảng là tinh anh. Không dùng đến chiến tranh mà vẫn bảo đảm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đó mới là cái dũng của kẻ cơ trí! Hợp tác nhưng phải đề phòng để đấu tranh. Lợi ích quốc gia là dĩ bất biến, linh động, sáng tạo trong các mối quan hệ là ứng vạn biến. Bài học mất Hoàng Sa năm 1974 là bài học bằng máu và nước mắt. Đừng mơ hồ, ảo tưởng là ai đó sẽ bảo vệ mình. Nếu mình không vững mạnh, không thịnh vượng thì trong mắt các nước lớn, các nước nhỏ, yếu chỉ là con tốt trên bàn cờ lợi ích của họ mà thôi./.
ST

SỰ XUYÊN TẠC VÀ KÍCH ĐỘNG THÂM ĐỘC CỦA ĐÀO TĂNG DỰC


Bài viết “Một câu hỏi vô cùng ngớ ngẩn: Tại sao Việt Nam vẫn nghèo?” của Đào Tăng Dực đăng trên báo Tiếng Dân và sau đó tiếp tục được đăng trên trang Quyenduocbiet.com ngày 6/1/2023 vẫn chỉ là những luận điệu xuyên tạc thâm độc của ông luật sư phản quốc về chế độ xã hội chủ nghĩa, về vị trí và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị… nhằm kích động, lôi kéo sự chống phá Đảng và chế độ.
1. Vì cho rằng dân chủ tư sản và đi theo con đường tư bản chủ nghĩa mới là “thời thượng” cho nên Đào Tăng Dực đã cho rằng: “Các chế độ độc tài, nhất là độc tài cộng sản đều là nguyên nhân lớn nhất đưa đến bất công và nghèo khổ” và chỉ có “một nền dân chủ chân chính là yếu tố ắt có để dân tộc có thể phát huy sáng kiến, tiềm năng và tạo ra một xã hội phồn vinh”. Kỳ thực thì, ngay tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Hàn, Đức… thì vẫn còn những bất công trong xã hội, vẫn còn những khoảng cách giàu nghèo cần phải rút ngắn, và nhất là còn phải tiếp tục thực thi những quyết sách lớn về phát triển kinh tế, thực hiện an sinh xã hội đồng bộ, kịp thời, v.v.. nhằm đem lại một cuộc sống ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn về vật chất và tinh thần cho những người lao động nghèo, những người vô gia cư… chứ không phải là những vấn nạn cần giải quyết ấy chỉ xuất hiện ở các nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo và đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Hơn nữa, dân chủ tư sản cũng không phải là một nền dân chủ “tuyệt đối” và “ưu việt” như Đào Tăng Dực tưởng tượng. Ăn cơm, nhận tiền và làm nghề bồi bút kiếm cơm theo ông chủ tư bản thì việc theo đuôi, tuân chỉ để liên tục “phun” ra những luận điệu phản động, chống phá của ông luật sư này chả có gì là lạ trong cộng đồng mạng. Chỉ có điều là, hành nghề luật mà cứ nói lấy được, cứ xúi giục và kích động lòng người thì chả hiểu cái lương tâm của ông ta để ở đâu, hay bị u ác tính mất rồi!
2. Việt Nam tuyên bố độc lập, trở thành một nước tự do, độc lập đúng là đã hơn 77 năm. 77 năm sau, một Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ngày càng phát triển và khẳng định vị thế của mình trong khu vực và cộng đồng quốc tế so với những năm tháng “đen tối như không có đường ra” trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 và nhất là trước ngày 2/9/1945 như thế nào? hẳn là ông luật sư không đui, không điếc nên có thể biết được trên các phương tiện thông tin truyền thông chính thống của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như các hãng thông tấn của nước ngoài.
Về điều này, chắc hẳn không cần nhắc lại những trang văn kiện, những con số “biết nói”… để ông luật sư cập nhật nữa. Cho nên, cái giọng điệu vừa man trá, vừa đầy sự thù hận của Đào Tăng Dực rằng “quả thật, sau gần 77 năm dưới sự cai trị của đảng CSVN tại miền Bắc và gần nửa thế kỷ trên toàn đất nước, dân tộc ta tụt hậu nghiêm trọng so với các quốc gia cùng nền văn hóa Đông Á. Tại sao dân ta vẫn nghèo?” thật khiến người có lương tâm căm phẫn!
Với những thành tựu mà đất nước và nhân dân Việt Nam đạt được trên hành trình kiên định sự lựa chọn của mình, nhất là những kết quả đạt được trong năm 2022 … đã là một minh chứng gần nhất cho thấy dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã và đang đi đúng hướng trên con đường phát triển bền vững. Cụ thể, theo Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2022 ước đạt 9,513 triệu tỷ đồng, tương đương 409 tỷ USD. So với năm 2000, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã tăng hơn 10 lần và GDP bình quân đầu người năm 2022 theo giá hiện hành ước đạt 95,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110 USD, tăng 393 USD so với năm 2021. GDP bình quân đầu người ở Việt Nam đã tăng gấp nhiều lần sau 20 năm, là một điểm sáng góp phần nâng bậc vị thế của Việt Nam trong khu vực cũng như thương mại và đầu tư toàn cầu…
3. Từ thực tế một Việt Nam ngày càng vươn lên và phát triển bền vững thì chả có lý do gì người dân lại tin vào những sự xuyên tạc thâm độc, sự kích động đầy thủ đoạn của Đào Tăng Dực khi ông ta quy chụp rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam không phụng sự Tổ quốc và nhân dân, không “đem lại nhiều tình yêu thương cho dân tộc” sau khi xuyên tạc sự thật về vấn đề cải cách ruộng đất; về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; về vụ án ở Đồng Tâm và về những người đã vi phạm pháp luật theo Điều 117, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)…
Ngay cả việc trả lời câu hỏi vì sao đất nước ta vẫn nghèo và rồi tự chụp mũ cho rằng “nhân dân Việt và toàn thể nhân loại đều nhận ra rằng nguyên nhân chính của sự khốn cùng của dân tộc là chế độ độc tài đảng trị CSVN, như một con voi khổng lồ trong căn phòng mà Nguyễn Phú Trọng, Vũ Đức Đam và toàn đảng nhắm mắt làm ngơ” của Đào Tăng Dực cũng khiến người đọc mắc cười. Chả có cơ sở lý luận và thực tiễn nào để nói một đất nước Việt Nam phát triển như hiện tại: GDP năm 2022 tăng 8,02%, cao nhất trong giai đoạn 2011-2022; hệ thống an sinh xã hội gồm giảm nghèo bền vững; đào tạo nghề, lao động, việc làm; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các loại bảo hiểm khác; bảo trợ xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản đạt nhiều thành tựu trong bói cảnh chịu tác động không nhỏ từ đại dịch Covid-19… lại đang là “sự khốn cùng của dân tộc” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đặc biệt, để “không ai bị bỏ lại phía sau”, trong hai năm 2020 – 2021, khi dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống xã hội của người dân, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách phù hợp, kịp thời, nhân văn như Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1/7/2021 về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp; thực hiện nhiều giải pháp, ban hành nhiều gói hỗ trợ kịp thời tới người dân, người lao động, người sử dụng lao động, góp phần giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch… thì lòng dân kiên trung như thành như lũy luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng chắc chắn sẽ không mắc bẫy thông tin xấu độc từ Đào Tăng Dực.
4. Đào Tăng Dực đừng có mơ hão và ảo tưởng về cái gọi là “dân tộc Việt chỉ có thể vươn lên, hóa rồng trên bầu trời Đông Á, sau khi độc tài CSVN cáo chung” và cũng đừng có bịa đặt, bẻ cong sự thật khi suy diễn rằng “nguyên nhân chính của sự nghèo khổ là đảng CSVN”. Đúng là trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ 4 bùng nổ như hiện nay thì thông tin nhanh nhạy như vũ bão; con người được tiệm cận với thông tin và kiểm chứng thông tin bằng nhiều nguồn. Vì thế, người dân đủ thông minh và bản lĩnh để hiểu rằng “ngay cả đối với những người dân chủ, thì nếu 39% tán thành chủ nghĩa tư bản thì cũng có 30% ủng hộ chủ nghĩa xã hội”, cho nên, nhận định của ông “quy luật đơn giản là “nơi nào có độc tài, nơi đó có nghèo khổ, nơi nào có dân chủ, nơi đó phát sinh sự phồn vinh thịnh trị” không chỉ thiển cận, ngớ ngẩn mà còn đầy ảo tưởng.
Và vì thế, có một sự thật cần phải khẳng định với ông luật sư phản động Đào Tăng Dực là: Một là, chắc chắn, ở Việt Nam sẽ không có “sự cáo chung của độc tài đảng trị” và cũng không thể có “quan niệm bịp bợm “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” của CSVN sẽ bị quẳng vào thùng phân thối tha của lịch sử” như ông ngáo dân chủ tư sản đang ảo tưởng! Hai là, Việt Nam không thực thi đa nguyên, đa đảng đối lập; không thực thi dân chủ tư sản mà là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Ba là, việc kích động “người Việt trong và ngoài nước hãy cùng hạ quyết tâm, biến ước mơ thành hiện thực, góp phần đạp đổ bạo quyền CSVN, xây dựng một nền dân chủ chân chính và một tổ quốc Việt Nam thịnh vượng cho các thế hệ tương lai” của ông không chỉ điên cuồng mà còn không có cơ sở, nên “cầu cũng không ứng” nhé!.
ST
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Nhận diện sự thật'

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 18/01


“Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản ” mà ta được họ yêu mến ”.
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài nói bế mạc tại Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ 6 ngày 18-1-1949: “...Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hoá. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chỉ đó”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên về việc này trong thời điểm Đảng ta đang tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công cuộc kháng chiến, kiến quốc chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc. Người khẳng định, nhân dân là “nền gốc” sinh ra cán bộ, là cái “nôi” nuôi dưỡng, giúp đỡ cán bộ trưởng thành, phát triển. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng phải luôn tự phê bình, nhận rõ những yếu kém, khuyết điểm về đạo đức, quan hệ quần chúng và hậu quả nguy hại từ những yếu kém, khuyết điểm đó. Nhiệm vụ cấp bách mà thực tiễn cách mạng lúc này đang đòi hỏi là phải tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt với quân chúng nhân dân; từng cán bộ, đảng viên phải tự soi mình, sửa chữa ngay những yếu kém, khuyết điểm về đạo đức, thực hành tiết kiệm, chỉnh sửa lối làm việc, xây dựng tác phong công tác khoa học, gần dân.
Lời nói, cùng tấm gương đạo đức trong sáng của Hồ Chí Minh như nguồn sáng tiếp thêm sức mạnh cho Đảng trong nhiệm vụ lãnh đạo nâng cao chất lượng xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lời của Người nhanh chóng được truyền lan khắp mọi nơi, biến thành hành động cách mạng. Thông qua thực hiện lời của Người, những thói hư, tật xấu, lối làm việc cá nhân chủ nghĩa, thiếu khoa học, kém hiệu quả trong cán bộ, đảng viên dần được phát hiện, chấn chỉnh khắc phục, góp phần làm trong sạch Đảng, củng cố đoàn kết trong nội bộ Đảng, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
Đến hôm nay, lời của Người năm xưa là tài liệu quý, để cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập có ý nghĩa giáo dục có giá trị, đang được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân nghiên cứu học tập, làm theo, liên hệ thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ, thể hiện bản chất của người công sản; tính tiền phong gương mẫu của người cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, lạc hậu; chống các hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng đến xây dựng môi trường văn hóa; ngăn ngtra biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
16

CÔNG CUỘC "ĐỐT LÒ" LÀ ĐỂ GẠN ĐỤC, KHƠI TRONG, KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ “CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẤU ĐÁ, THANH TRỪNG NỘI BỘ"

 

Lâu nay trên không gian mạng vẫn thường nghe các tổ chức phản động rêu rao rằng: “Các đảng viên Cộng sản cao cấp đấu đá ,thanh trừng nhau để tranh giành quyền lực, lợi ích nhóm, đấu đá, thanh trừng nội bộ". Chúng xuyên tạc rằng công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của chúng ta thực chất là đang thanh trừng phe cánh, đấu đá nội bộ... Xin có đôi lời như sau:
Việc "đốt lò", xử lý những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tiêu cực, gây hậu quả nghiêm trọng... là sự cụ thể hóa quyết tâm của Đảng trong việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Những người bị xử lý từ xưa đến nay có cả Ủy Viên bộ Chính trị đến những Đảng viên bình thường. Nghĩa là không chừa một ai, không có vùng cấm, không dung túng cho cái xấu, cái tiêu cực hoành hành. Đảng và nhà nước ta xử lý cán bộ Đảng viên vi phạm theo điều lệ Đảng, theo tinh thần thượng tôn pháp luật, đúng người, đúng tội và có lý, có tình chứ không phải là “thanh trừng nội bộ” như cái cách mà đám xỏ lá ba que vẫn rêu rao, xuyên tạc. Kể cũng lạ thay, khi chúng ta chưa kịp xử lý tham nhũng, tiêu cực thì chúng cho rằng chúng ta bao che, dung túng, vì lợi ích nhóm…nhưng khi chúng ta quyết tâm “diệt trừ tham nhũng, tiêu cực” thì chúng lại cho là đấu đá, thanh trừng nội bộ. Đúng như nhân dân ta thường bảo nhau “không dối trá, xuyên tạc thì không phải là ba que xỏ lá!
Cổ nhân có câu “nhân vô thập toàn” và Đảng cũng không phải là ngoại lệ. Trong mỗi thời kỳ đều luôn có những loài sâu mọt, thậm chí chúng đã chui sâu, leo cao để đứng trong hàng ngũ của những người Cộng sản. Những kẻ thoái hóa, biến chất, sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tiêu cực, cơ hội, trở cờ để hại dân, phản Đảng. Những kẻ đó, thời nào cũng có và dù sớm hay muộn thì chúng cũng bị trừng trị thích đáng. Loại bỏ, ra khỏi hàng ngũ của Đảng, để góp phần làm trong sạch Đảng, để xứng đáng “vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân”. Cổ nhân dạy "cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm; tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Những người không tu thân, không tề gia được thì sao có thể trị quốc, bình thiên hạ. Bất kể là ai, vi phạm thì tất bị xử lý. Cắt bỏ ung nhọt cứu cơ thể, diệt trừ sâu bọ để vườn rau tốt tươi. Đảng cộng sản Việt Nam muốn trường tồn, phát triển và được nhân dân tin yêu thì tất yếu phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự khắc phục khuyết điểm.
ĐẤU ĐÁ, THANH TRỪNG NỘI BỘ:
Đấu đá, tranh giành và thanh trừng nội bộ thì phải kể đến chế độ tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn, một chế độ được Việt Tân và các tổ chức phản động ngợi ca hết lời và tỏ ý vô cùng tiếc nuối, dù nó đã là bộ xương khô trong mả hơn 47 năm. Đó là chế độ mà các cuộc đảo chính liên tiếp xảy ra, phản ánh mức độ mâu thuẫn, tranh giành ảnh hưởng, thanh trừng, giết hại lẫn nhau giữa các phe phái trong “nội bộ” của các nhóm, các đảng phái chánh trị. Chúng giết nhau để tranh giành quyền được phục vụ quan thầy Hoa Kỳ của chúng, được ăn trên, ngồi trốc, được hưởng lợi từ “bố nuôi”, “được danh gia vọng tộc” ngay trên nỗi đau của nhân dân ta. Có lẽ, thuật ngữ “Thanh trừng nội bộ”, “đấu đá nội bộ”, "Nhóm lợi ích" hay "Lợi ích nhóm" đã hình thành rõ nét từ đây.. Nhìn lại thời kỳ đất nước chưa được giải phóng, chế độ ngụy Sài Gòn do bè lũ tay sai Diệm, Thiệu cầm đầu, chúng ta sẽ thấy đó là thời kỳ của những cuộc thanh trừng đẫm máu giữa các phe phái: Có thể dễ dàng kể ra vài vụ như sau:
- Đảo chính 1960: Đây là cuộc đảo chính quân sự đầu tiên của chế độ tay sai ngụy Sài Gòn, do Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu với mục đích lật đổ ngôi vị Tổng thống của Ngô Đình Diệm. Cuộc đảo chính diễn ra trong bối cảnh Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt và thâu tóm được nhóm quân sự Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, nhóm vũ trang của các đảng Đại Việt, Quốc dân Đảng. Phần thắng thuộc về Diệm và đồng bọn; buộc Nguyễn Chánh Thi phải lưu vong nơi đất khách (bản nhạc Hải ngoại thương ca của Nguyễn Văn Đông viết về việc này).
- Đảo chính 1963: Đây là cuộc đảo chính do các tướng lĩnh ngụy Sài Gòn như, Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim cùng các thuộc cấp thực hiện với sự giúp sức của Hoa Kỳ vào ngày 1/11/1963. Chúng đã thanh toán, tiêu diệt đối thủ là anh em Diệm, Nhu, Cẩn, xóa cái gọi là “nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam”; chuyển vai trò lãnh đạo sang “Hội đồng quân sự” do Dương Văn Minh đứng đầu. Lý do dẫn đến cuộc đảo chính 1963 do các tướng lĩnh Việt nam Cộng hòa bất mãn trước cách cai trị của chính quyền Ngô Đình Diệm mà bản chất là sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái trong nội bộ và nó được tiếp sức bởi người Mỹ, do Diệm không thực hiện những thay đổi chính trị theo khuyến cáo của họ.
- Hàng loạt cuộc đảo chính 1964 - 1965: Sau sự kiện anh em Ngô Đình Diệm bị giết, chỉ trong thời gian từ 1964 đến 1965 đã có 5 cuộc đảo chính khác, mà sự kiện mở màn là cuộc chỉnh lý đầu năm 1964. Cuộc “chỉnh lý” năm 1964 của ngụy tặc là một cuộc đảo chính xảy ra vào ngày 30/1/1964 do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Hội đồng quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu. Tiếp theo cuộc "Chỉnh lý" ngày 19/12/1964, lại diễn ra một cuộc đảo chính khác do tướng Nguyễn Khánh, tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ và tướng lục quân Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy.. Kết quả, Nguyễn Khánh và Hội đồng Quân lực mới được thành lập, gồm các tướng đã tham gia vào cuộc đảo chính, đã khôi phục lại quyền kiểm soát dân sự vào ngày 07/01/1965 với một chính phủ do Trần Văn Hương dẫn dắt. Tuy nhiên, Trần Văn Hương không thể thành lập được một “Chính phủ” hữu hiệu và Hội đồng Quân lực đã tiếp tục đảo chính lật đổ Hương vào ngày 27/1, đồng thời đưa Nguyễn Khánh lên nắm quyền. Chỉ sau hơn 3 tuần nắm quyền, Nguyễn Khánh cũng đã lại bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính khác vào ngày 18/02/1965 do Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu. Tới 12/06/1965, một cuộc đảo chính nữa lại nổ ra, khi Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lại lật đổ chính phủ do Phan Huy Quát (anh trai của cố giáo sư sử học Phan Huy Lê) đứng đầu. Nguyễn Văn Thiệu làm Quốc trưởng còn Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng.
Nói đến đấu đá, hạ bệ lẫn nhau để tranh giành tầm ảnh hưởng, tranh giành “quyền lừa đảo kiếm tiền” nhân danh “chống Cộng” là phải nói đến các tổ chức phản động - vong quốc nô, là cộng đồng quốc tế dùng tiếng Việt (cũng có đứa không biết hoặc không rành tiếng Việt nhưng vẫn đi “chống Cộng”) ở hải ngoại. Chúng là tập hợp một lũ ô hợp từ những tên đu càng đến tụt quân từ 1975 cho đến những tên sang nước ngoài theo diện HO, những kẻ “tù nhân lương tâm” được Tây lông chứa chấp và cho “tị nạn chánh trị” cho đến những chị cave “yêu nghề những đã hết vốn làm ăn”, đến những anh nghiện hút nhưng hết tiền để hút…tạo thành một bức tranh hổ lốn, bát nháo và là nơi “quần khuyển tranh cốt” (đàn chó tranh xương); là nơi để hàng trăm tổ chức nhân danh chống Cộng đấu đá, xâu xé, phỉ báng và triệt hạ lẫn nhau theo kiểu nhóm Đào Minh Quân chửi Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng và ngược lại. Với bản chất lừa đảo của mình nên tất cả bọn chúng tranh nhau để xem ai mới là “siêu lừa đảo”, xem ai mới là “chí tôn chống Cộng” với mục đích cuối chỉ là tiền, là bơ thừa, sữa cặn của các thế lực thù địch bơm cho chúng và để lừa Việt kiều quyên tiền cho chúng.
Từ những luận điểm trên, có thể khẳng định rằng: “đấu đá, thanh trừng nội bộ” chỉ có ở ngụy Sài Gòn và lũ vong quốc nô! Chỉ tồn tại ở đám có dòng máu “liếm gót giày tây béo mượt đầu” gia truyền chúng mày mà thôi! luận điệu của chúng là luận điệu của một lũ lừa đảo đầu sỏ, không hơn, không kém! Dù các ngươi có dùng trăm mưu hèn và ngàn kế bẩn thì cái kết sẽ là sự thất bại, đớn hèn và thật nhục nhã như cái cách mà tên phản quốc đã khai sinh ra tổ chức khủng bố Việt Tân là Hoàng Cơ Minh phải nhận mà thôi! Nhân dân Việt Nam sẽ chiến thắng thù trong, giặc ngoài cho dù chúng là ai, lịch sử của dân tộc đã chứng minh chân lý đó. Công cuộc "đốt lò" của Đảng cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã và đang gặt hái được nhiều thành quả, được nhân dân tin yêu và đất nước ngày càng phát triển, là minh chứng rõ nét nhất. Chó vẫn cứ sủa và lò vẫn sáng rực lên./.
ST

Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh - nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm chế độ chính trị ổn định và phát triển bền vững.

 

Ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị trước hết được bảo đảm bằng việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng; kiên định lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc phù hợp với luật pháp quốc tế. Đảng ta là đảng cầm quyền, hạt nhân của hệ thống chính trị, phải được xây dựng trong sạch, vững mạnh, làm cho chính trị sáng suốt, tư tưởng vững vàng, đạo đức liêm chính, tổ chức chặt chẽ, cán bộ thực đức, thực tài. Tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đủ sức quản lý xã hội, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, kiểm soát quyền lực hiệu quả. Không ngừng phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, lấy sức dân để làm lợi cho dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị từ “mặt trận lòng dân”, từ niềm tin yêu của nhân dân.

HAIVAN

Một số nội dung, giải pháp xây dựng Quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 

Một là, kiên định nguyên tắc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững bản chất cách mạng, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu.

Đây là vấn đề cơ bản, nguyên tắc bất di, bất dịch quyết định bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc của Quân đội; bảo đảm trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Việc xây dựng Quân đội phải toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và trong mọi nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, lao động sản xuất, công tác. Trong đó, phải đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, vì: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Do đó, xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, hiện đại phải bảo đảm tinh gọn về tổ chức, nâng cao chất lượng về mọi mặt, phải thường xuyên coi trọng giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong toàn quân.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xác định động cơ, ý chí, quyết tâm cao trong thực hiện nhiệm vụ; tổ chức tốt các phong trào thi đua, các cuộc vận động và xây dựng môi trường văn hóa quân sự thời kỳ mới tiến bộ, lành mạnh, tạo sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận trong toàn quân. Thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, tập trung vào kiểm tra những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hoàn thành nhiệm vụ thấp..., góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương. Làm tốt công tác bảo vệ an ninh, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, ngăn ngừa, đẩy lùi các hành vi tiêu cực, tư tưởng xấu, độc, làm trong sạch nội bộ Quân đội. Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác dân vận với những mô hình, cách làm sáng tạo, thiết thực, góp phần làm tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, thắt chặt mối quan hệ đoàn kết quân - dân. Chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ.

Hai là, thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Đây là một trong những đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định, bảo đảm để Quân đội tiến lên hiện đại. Việc xây dựng nguồn nhân lực cần chú trọng cả về số lượng và chất lượng. Tập trung phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học quân sự, các chuyên gia đầu ngành, giảng viên ở các học viện, nhà trường, cán bộ các viện nghiên cứu trong Quân đội. Quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ quân sự, chính trị chất lượng cao; xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần, kỹ thuật có trình độ, năng lực chuyên môn sâu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Có chính sách phù hợp để thu hút, phát triển và trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Cùng với đó, phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện - đào tạo ở các nhà trường trong Quân đội; tạo nguồn cán bộ các cấp có đủ phẩm chất cách mạng, tư duy, năng lực chuyên môn, trình độ chỉ huy, quản lý,... theo chức trách. Xây dựng nhà trường, viện nghiên cứu tinh, gọn, mạnh, hiện đại; gắn đào tạo cán bộ ở nhà trường với đào tạo, bồi dưỡng ở đơn vị; gắn nhà trường với chiến trường; gắn lý luận với thực tiễn theo phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”; kế thừa nghệ thuật quân sự độc đáo của ông cha ta trong đánh giặc giữ nước và tinh hoa nghệ thuật quân sự thế giới; gắn trách nhiệm của cấp ủy, người chỉ huy với kết quả huấn luyện của đơn vị. Việc tổ chức huấn luyện phải chặt chẽ, linh hoạt, đúng quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp; chú trọng truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực thực hành, làm chủ vũ khí, trang bị khí tài mới, hiện đại, sức cơ động và khả năng tác chiến trong điều kiện mới cho các đối tượng. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng, các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong huấn luyện bộ đội và quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục, đào tạo.

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả đột phá về tổ chức và trang bị.

Đây là một trong những nội dung rất quan trọng, góp phần tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Để giải quyết tốt vấn đề này, trước hết, cần tập trung quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện nghiêm, có hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị, “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”,... Từng cấp chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể, phương pháp tiến hành chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi phù hợp, điều chỉnh tăng, giảm tổ chức, quân số của từng khối phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị, giữ vững và phát huy truyền thống của Quân đội, nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, có cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần lực lượng; giảm đầu mối trung gian và đơn vị bảo đảm, phục vụ; tổ chức một số đơn vị dự bị chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Tiếp tục đầu tư mua sắm một số loại vũ khí, trang bị mới, hiện đại; cải tiến, hiện đại hóa một số vũ khí hiện có, nâng cao tính năng kỹ, chiến thuật của các loại vũ khí, trang bị. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật, tạo bước đột phá trong khai thác, làm chủ vũ khí công nghệ cao, từng bước sản xuất vật tư kỹ thuật và vũ khí, trang bị nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ khác của Quân đội. Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế và ứng dụng thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào công tác quản lý, khai thác, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật, nhất là vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, công nghệ cao. Thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong toàn quân.

Bốn là, tăng cường xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, tạo chuyển biến toàn diện, vững chắc về chấp hành kỷ luật của Quân đội, pháp luật của Nhà nước.

Việc thực hiện chính quy hóa Quân đội là nhằm bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong mọi hoạt động, công tác của bộ đội và các đơn vị trong toàn quân. Trong đó, xây dựng nền nếp chính quy và duy trì kỷ luật là hai yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Đây là một nội dung rộng lớn, gồm nhiều vấn đề, liên quan tới mọi quân nhân, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu và các văn bản có liên quan về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, cùng với những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn chỉ huy, quản lý bộ đội để có chủ trương, giải pháp phù hợp. Nội dung xây dựng chính quy phải toàn diện, song có trọng tâm, trọng điểm, đột phá vào những khâu yếu, mặt yếu; nâng cao trình độ chính quy trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; quản lý con người và vũ khí, trang bị kỹ thuật. Kết hợp chặt chẽ xây dựng chính quy với chấp hành kỷ luật của Quân đội, pháp luật của Nhà nước; hạn chế tối đa các vụ vi phạm nghiêm trọng, mất an toàn trong huấn luyện.

Coi trọng, làm tốt công tác giáo dục, xây dựng động cơ, ý chí quyết tâm, tính tự giác của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, quy định của Quân đội, đơn vị; gắn giáo dục chính trị, pháp luật với các biện pháp hành chính và xử lý liên đới trách nhiệm của cán bộ. Từng cơ quan, đơn vị thường xuyên rà soát, đánh giá tình hình, kết quả xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật, kịp thời rút kinh nghiệm để có chủ trương, giải pháp lãnh đạo, tổ chức thực hiện thiết thực, hiệu quả; duy trì nền nếp, chế độ sinh hoạt, học tập, công tác, quản lý tốt các mối quan hệ xã hội của quân nhân. Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp phân đội có đủ phẩm chất, năng lực chỉ huy, quản lý, giáo dục bộ đội.

Thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong thực hiện chính quy, rèn luyện kỷ luật, quản lý tư tưởng bộ đội; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh, dứt điểm các sai phạm ngay từ cơ sở, không để sai phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Gắn xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” với xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của bộ đội. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, lành mạnh, phong phú; chủ động đấu tranh phòng, chống các tác động tiêu cực và văn hóa xấu, độc. Đồng thời, thực hiện tốt nhiệm vụ hậu cần và các mặt công tác khác, bảo đảm tốt cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội.

Năm là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đạt trình độ tiên tiến, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng... hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội”; Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”. Theo đó, thời gian tới, cần tiếp tục xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đạt trình độ khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại, có quy mô, tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động phù hợp; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm và sự tham gia tích cực, hiệu quả của các thành phần kinh tế, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước. Phát triển công nghiệp quốc phòng gắn với công nghiệp quốc gia và có cơ cấu hợp lý trong tổng thể nền công nghiệp quốc gia, ưu tiên hướng tới những công nghệ hiện đại, hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, cần sớm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp quốc phòng dài hạn, trung hạn, phù hợp với điều kiện mới. Ưu tiên phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp cơ bản, có tính lưỡng dụng cao. Đầu tư xây dựng có trọng điểm một số cơ sở công nghiệp quốc phòng có công nghệ tiên tiến, làm nòng cốt xây dựng các tập đoàn, tổ hợp công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, công nghệ cao, có nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất và bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. Trước mắt, tập trung xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng với quy mô, tổ chức, cơ chế quản lý phù hợp, phát huy vai trò, trách nhiệm tự chủ của các cơ sở công nghiệp quốc phòng. Kiện toàn tổ chức ngành kỹ thuật theo hướng “tinh, gọn, mạnh, thống nhất”, phù hợp với tính năng công nghệ của vũ khí, trang bị kỹ thuật và nhiệm vụ của từng cấp; bảo đảm công tác quản lý, chỉ huy, chỉ đạo thông suốt, không chồng chéo. Đổi mới phương thức bảo đảm kỹ thuật đối với vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, công nghệ cao theo hướng tập trung, thống nhất; đổi mới tư duy sản xuất vật tư kỹ thuật theo hướng mở rộng liên doanh, liên kết, xã hội hóa,...

 

Sáu là, nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.

Đối ngoại quốc phòng là bộ phận quan trọng của ba trụ cột: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, nhằm quán triệt, cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng, góp phần duy trì hòa bình, ổn định để thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Thông qua công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, cần tiếp tục xây dựng lòng tin, nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội trên trường quốc tế; đồng thời, tận dụng, huy động các nguồn lực từ bên ngoài, cập nhật, thích ứng và chuẩn hóa các tiêu chuẩn quốc tế về con người, tổ chức, biên chế, huấn luyện, đào tạo và vũ khí, trang bị, đặc biệt là công tác chỉ huy, hiệp đồng, tác chiến trong môi trường hoạt động khắc nghiệt để phục vụ sự nghiệp hiện đại hóa, xây dựng Quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Trên cơ sở quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng phải được tiến hành tích cực, chủ động, không ngừng đổi mới, linh hoạt, sáng tạo, tập trung tham mưu, đề xuất giải quyết quan hệ hợp tác quốc phòng với các đối tác, thực hiện mục tiêu chiến lược và đáp ứng lợi ích quốc gia - dân tộc. Thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương, đa phương đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định, hiệu quả; ưu tiên quan hệ, hợp tác với các nước láng giềng, các nước ASEAN, bạn bè truyền thống, bảo đảm cân bằng giữa các nước lớn. Mở rộng quan hệ hợp tác với các nước có tiềm năng; giải quyết tốt các mối quan hệ hợp tác quốc phòng, góp phần tăng cường sự tin cậy chính trị, thúc đẩy chiều sâu quan hệ, gia tăng đan xen lợi ích chiến lược với các nước,... Tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở các nội dung và địa bàn phù hợp, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội trên trường quốc tế. Đẩy nhanh tiến độ đàm phán, ký kết các điều ước, thỏa thuận quốc tế, bản ghi nhớ với các đối tác về hợp tác quốc phòng, kỹ thuật quân sự. Xây dựng, triển khai Chiến lược hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, tạo môi trường thuận lợi để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

HAIVAN

Phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại

 

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân cách mạng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh thành lập, giáo dục, rèn luyện. Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn xác định mục tiêu, phương hướng xây dựng Quân đội đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm, đường lối về quân sự, quốc phòng của Đảng qua các kỳ đại hội, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại. Đây là chủ trương nhất quán, đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Thực hiện thắng lợi chủ trương này là yếu tố quyết định bảo đảm cho Quân đội ta có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt sâu sắc quan điểm, mục tiêu, phương hướng xây dựng Quân đội, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tổ chức, biên chế Quân đội ta được điều chỉnh phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam mỗi thời kỳ.

Ngay sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và chiến tranh bảo vệ biên giới, nhiều đơn vị cấp chiến dịch, chiến thuật đã được điều chỉnh sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt, từ năm 2016 đến nay, toàn quân chủ động điều chỉnh tổ chức; giảm biên chế quân số cơ quan cấp chiến lược, chiến dịch, giảm đầu mối trung gian và đơn vị phục vụ, bảo đảm; ưu tiên quân số cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đầu tư thích đáng cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sửa chữa quốc phòng; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của một số học viện, nhà trường trong Quân đội,...

Công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo có nhiều đổi mới theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu ở tất cả các cấp, bảo đảm an toàn khu vực đóng quân và sẵn sàng xử lý các tình huống về quân sự, quốc phòng. Công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng và các mặt công tác khác có bước phát triển mới; đặc biệt, đã nghiên cứu, làm chủ hầu hết vũ khí, trang bị, nhất là vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai tích cực, chủ động, linh hoạt, thực chất và hiệu quả; trở thành một trong những bộ phận quan trọng trong hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng lòng tin, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, nâng cao hình ảnh, vị thế đất nước, Quân đội trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và trên trường quốc tế. Kết quả trên là tiền đề rất quan trọng để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng tiếp tục có những diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, nhất là tranh chấp chủ quyền biển, đảo,... diễn ra phức tạp, quyết liệt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm xuất hiện nhiều loại vũ khí mới, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh phi tiếp xúc ngày càng phổ biến. Các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh, an toàn không gian mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh,... ngày càng phức tạp.

Đối với nước ta, sau 36 năm đổi mới, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, tạo tiền đề quan trọng để phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội,... với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó nhận diện. Tình hình trên đặt ra những yêu cầu mới đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

HAIVAN