Thứ Năm, 19 tháng 1, 2023

 

ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Để thu hút sự quan tâm của xã hội, các phần tử phản động trong và ngoài nước cùng với những phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất đã và đang triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội đăng tải những thông tin sai trái, bịa đặt. Họ lập ra các website, blog, sử dụng nhiều tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn, trộn lẫn thông tin thật-giả, cắt ghép hình ảnh, tán phát, nhằm thu hút sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh, thiếu niên. Chủ ý của họ nhằm bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ thanh danh của Đảng, Nhà nước ta; đặc biệt, nhằm vào các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ; đồng thời, tổ chức lực lượng chia sẻ bình luận với mục đích hạ uy tín, làm hoen ố hình ảnh cao đẹp của Đảng, Nhà nước ta và các đồng chí lãnh đạo cấp cao trong hệ thống chính trị.

Những thông tin sai trái, bịa đặt như luồng gió độc là tác nhân gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của ta. Nếu không nhận rõ sẽ gây nên sự hoài nghi trong dư luận xã hội, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tổn hại đến hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Vì vậy, Đảng, Nhà nước cần có những biện pháp hữu hiệu để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng internet và mạng xã hội để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong đường lối đổi mới của Đảng. Các cơ quan, ban, ngành từ trung ương đến địa phương luôn tích cực chủ động làm tốt công tác thông tin tuyên truyền. Cung cấp thông tin chính thống đến mọi người dân trong xã hội qua nhiều kênh thông tin của Đảng và trên mạng xã hội.

Hai là, chúng ta phải tỉnh táo, kịp thời và chủ động vạch trần âm mưu thâm độc và những thông tin bịa đặt, xuyên tạc thì mới góp phần vào sự ổn định tình hình, làm lành mạnh dư luận xã hội. Luôn nắm quyền chủ động ngăn chặn những thông tin xấu độc liên quan đến an ninh chính trị, an ninh quốc gia.

Ba là, hiện nay ứng dụng của khoa học công nghệ đang đi vào tất cả các ngành, các lĩnh vực; tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh còn có những mặt trái của nó, luôn đi kèm cả những ứng dụng trái quy định pháp luật, gây ảnh hưởng tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy, cần làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người khi sử dụng mạng xã hội, làm cho mọi người luôn có trách nhiệm khi tham gia sử dụng mạng xã hội. Từ trách nhiệm chia sẻ thông tin của mình hoặc của người khác đến trách nhiệm phản bác thông tin xuyên tạc, bịa đặt...

Bốn là, các cơ quan ban ngành, tổ chức xã hội, đoàn thể không ngừng tích cực tuyên truyền, cung cấp thông tin, viết bài đấu tranh trên các trang mạng xã hội để định hướng dư luận một cách đúng đắn, chính thống trên mạng xã hội.

Năm là, cơ quan quản lý Nhà nước tiếp tục, rà soát chỉnh sửa, xây dựng chính sách, pháp luật, các quy định về an toàn thông tin mạng quốc gia nhằm hạn chế, ngăn chặn các thông tin xấu độc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta./.

ST

 

Ông Tân giờ đã nhận ra...

 

Ông Tân có hai người con trai đi lao động, định cư ở nước ngoài và một người con gái lấy chồng xa. Cách đây chừng nửa tháng, hai anh con trai về chơi trong kỳ nghỉ Tết Dương lịch.

Nghiêm trị những chiêu trò xuyên tạc, phá hoại

 

Cứ mỗi dịp chuẩn bị đến ngày hội tòng quân trên cả nước, không gian mạng lại xuất hiện những thông tin, hình ảnh cắt ghép, xuyên tạc, có nội dung nói xấu, bôi nhọ, đả kích môi trường quân ngũ. Đây là thủ đoạn nguy hiểm của các đối tượng xấu, có tư tưởng cực đoan, bất mãn. Những sản phẩm xấu độc này đã tiếp tay cho các thế lực thù địch thực hiện chiến dịch tuyên truyền nhằm hạ thấp uy tín Quân đội, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong đời sống xã hội...

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2023

10 DẤU ẤN TIÊU BIỂU CỦA VIỆT NAM TRONG NĂM 2022!

     Năm 2022, thế giới có nhiều biến động khó lường, tuy nhiên, với sự nỗ lực của cả Hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, Việt Nam đã vượt qua khó khăn, thách thức để đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, cụ thể: 
1. Khống chế thành công dịch Covid-19 Với chính sách phòng, chống dịch đúng đắn, hiệu quả; sự quyết liệt, sát sao của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị; nỗ lực cống hiến, hy sinh của đội ngũ nhân viên y tế, Quân đội, Công an và sự đồng lòng của người dân, năm 2022, sau hơn hai năm ứng phó với đại dịch Covid-19, Việt Nam đã khống chế thành công đại dịch. Đây là điều kiện quan trọng để nước ta mở cửa trở lại nền kinh tế và các hoạt động xã hội trong trạng thái bình thường mới. 

2. Trong bối cảnh kinh tế thế giới ảm đạm, GDP Việt Nam tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 Với các giải pháp phục hồi nền kinh tế sau dịch Covid-19, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2022 ước đạt 8,02%, mức cao nhất giai đoạn 2011-2022. Kinh tế Việt Nam cũng ghi nhận những điểm sáng như: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân cả năm chỉ tăng 3,15% so với năm 2021 (vượt mục tiêu đề ra); năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 732,5 tỷ USD, tăng 9,5% so với năm trước... Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2022 ước đạt gần 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua. Kết quả đạt được nêu trên của Việt Nam được đánh giá cao trong bối cảnh kinh tế thế giới nhìn chung đang rất ảm đạm. 
 
3. Một năm thành công của đối ngoại Việt Nam Năm 2022 có nhiều hoạt động đối ngoại quan trọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là lãnh đạo cấp cao nước ngoài đầu tiên tới thăm Trung Quốc sau Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm cấp nhà nước tới Singapore, Hàn Quốc, Indonesia; thăm chính thức Vương quốc Thái Lan và dự Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 29... Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, Hội nghị cấp cao ASEAN; thăm chính thức Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 45 năm ASEAN-EU... Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thăm chính thức Hungary, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Lào, Campuchia, Philippines, Australia, New Zealand; tham dự Đại hội đồng Liên Nghị viện các quốc gia Đông Nam Á lần thứ 43 (AIPA-43)... 

4. Kỳ họp bất thường đầu tiên trong lịch sử 76 năm Quốc hội Việt Nam Kỳ họp bất thường lần thứ nhất Quốc hội khóa XV diễn ra từ ngày 4-1 đến 11-1-2022 trở thành kỳ họp bất thường đầu tiên trong lịch sử 76 năm của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu quan trọng nhất của kỳ họp là kịp thời ban hành gói chính sách tài khóa trị giá khoảng 347.000 tỷ đồng nhằm hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời thông qua những quyết sách cực kỳ quan trọng cho việc phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Nhờ tinh thần làm việc “từ sớm, từ xa”, những quyết sách được quyết định đúng thời điểm, trúng lĩnh vực, góp phần cực kỳ quan trọng để nước ta chớp thời cơ, đạt được những thành tựu nổi bật. 

5. Đảng có nhiều quyết sách quan trọng trong định hướng phát triển đất nước Năm 2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII của Đảng đã có các nghị quyết quan trọng về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao; về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII của Đảng có các nghị quyết về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới..Đây là những quyết sách lớn, rất quan trọng định hướng cho sự phát triển của đất nước.
 
6. Xét xử kịp thời, nghiêm minh các vụ đại án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng Trong năm 2022, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được triển khai quyết liệt. Nhiều vụ đại án tham nhũng, đại án kinh tế đã bị phanh phui, đã hoặc đang trong quá trình tố tụng để xử lý nghiêm minh trước pháp luật, như: Vụ án Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19; vụ án đưa-nhận hối lộ liên quan “chuyến bay giải cứu”; các vụ án thao túng thị trường chứng khoán liên quan tới cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn FLC Trịnh Văn Quyết, Công ty Cổ phần chứng khoán Trí Việt, Công ty Cổ phần Louis Holdings; vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Tập đoàn Tân Hoàng Minh; vụ án "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát liên quan tới bà Trương Mỹ Lan; vụ án "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, nhận hối lộ..." xảy ra tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai, Công ty Cổ phần Tiến Bộ Quốc Tế (AIC) liên quan đến bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn... 

7. Việt Nam tổ chức thành công SEA Games 31 Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31) đã diễn ra thành công rực rỡ. Công tác tổ chức của đại hội đã để lại những ấn tượng đẹp với đoàn thể thao các nước trong khu vực. Với 205 huy chương vàng (HCV), đoàn thể thao nước chủ nhà Việt Nam đã chính thức thiết lập kỷ lục mới về số HCV tại một kỳ SEA Games; trong đó bảo vệ thành công 2 huy chương vàng môn bóng đá nam và môn bóng đá nữ. SEA Games 31 thành công trọn vẹn là kết quả của sự quyết tâm, trách nhiệm, nỗ lực của Chính phủ trong việc tổ chức một kỳ đại hội thể thao tầm cỡ khi đại dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường tại khu vực cũng như trên thế giới. 

8. Tổ chức thành công Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022 Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022 tại khu vực sân bay Gia Lâm (Hà Nội) là sự kiện lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Sự kiện thu hút sự tham gia của 174 doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng từ 31 quốc gia và vùng lãnh thổ. Triển lãm đã đón hơn 60.000 lượt người dân, gần 10.000 lượt cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tới tham quan; 52 đoàn khách nước ngoài từ 28 nước tham dự triển lãm và nhiều cuộc gặp gỡ cấp cao. Triển lãm nhằm tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đối ngoại về quốc phòng; quảng bá, tuyên truyền năng lực, tiềm lực công nghệ, vũ khí, trang bị do công nghiệp quốc phòng Việt Nam sản xuất; đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế về công nghiệp quốc phòng, đa dạng hóa các kênh hợp tác mua sắm, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ để sản xuất trang bị kỹ thuật, trang bị hậu cần đáp ứng yêu cầu của lực lượng vũ trang; tìm hiểu xu hướng phát triển của vũ khí, trang bị kỹ thuật trên thế giới... 

9. Thị trường xăng dầu có nhiều biến động Năm 2022 là một năm đặc biệt khó khăn đối với thị trường xăng dầu trong nước, giá cả tăng cao theo giá xăng dầu thế giới, nguồn cung hạn chế, một số thời điểm đã xảy ra tình trạng thiếu xăng dầu cục bộ ở một số địa phương. Trước tình hình đó, Bộ Công Thương đã chỉ đạo các thương nhân sản xuất xăng dầu và thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu tăng lượng nhập khẩu, tăng công suất sản xuất. Bộ Tài chính thực hiện điều chỉnh các chi phí trong giá cơ sở xăng dầu để phù hợp với thực tế phát sinh tại doanh nghiệp. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính tạo điều kiện về tín dụng và thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu xăng dầu... Đến nay, nguồn cung xăng dầu trong nước cơ bản được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, tiêu dùng trong nước, không xảy ra tình trạng thiếu xăng dầu cục bộ. 

10. Lần đầu tiên, Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam vào vòng chung kết World Cup Năm 2022 ghi dấu ấn thành công vang dội của bóng đá Việt Nam trên đấu trường khu vực và thế giới. Đặc biệt, với tinh thần thi đấu quả cảm, kỹ thuật tốt, chiến thuật hợp lý, lần đầu tiên Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam tiến vào vòng chung kết World Cup 2023. 

Đây là dấu ấn lịch sử của Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam nói riêng và của bóng đá Việt Nam nói chung. Thế nhưng, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch lại đi thẳng vào phủ nhận những thành tựu mà Đảng và nhà nước ta đã đạt được trong năm 2022. Những thành phần “xạo ngôn”, tỏ ý phân rã tư tưởng, ly khai lý luận đã lập luận theo lối ngụy biện nhằm phủ nhận kết quả nổi bật nêu trên. Thế nhưng có thể khẳng định rằng, những thành tựu đó là kết tinh trí tuệ, sức lực và bản lĩnh Việt Nam; phủ nhận thành quả đó đồng nghĩa với phủ nhận một công lao, sự hy sinh xương máu của cán bộ, chiến sỹ và nhân dân ta; phủ nhận vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước của Đảng ta; đó là việc làm hoàn toàn trái với sự thật, với công lý và lẽ phải, xúc phạm quá khứ thiêng liêng của dân tộc, cần phải vạch trần, đấu tranh phê phán và bác bỏ. Những thành tựu có được của đất nước Việt Nam khẳng định tính đúng đắn của con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn. Chỉ có những kẻ phản bội, lòng dạ xấu xa, vô trách nhiệm với Tổ quốc, với quê hương, giả nhân, giả nghĩa, những kẻ tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động hoặc những người vì lý do, động cơ cá nhân, đầu óc hẹp hòi mới cố tình phủ nhận lịch sử, phủ nhận truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phủ nhận sự thật khách quan trong quá trình phát triển của đất nước. Những người Việt Nam yêu nước chân chính không bao giờ chấp nhận hành động của một số ít những kẻ cố tình mưu toan lội ngược dòng lịch sử./.




Yêu nước ST.

CÁC HÀNH VI SẼ BỊ XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH Ở VÙNG BIỂN, ĐẢO VÀ THỀM LỤC ĐỊA!

     Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư 105/2022/TT-BQP hướng dẫn thực hiện một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trên các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam; xử phạt VPHC trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu; quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia...

Các hành vi vi phạm quy định về treo Quốc kỳ
     Cụ thể, Thông tư 105/2022/TT-BQP hướng dẫn cụ thể về hành vi vi phạm các quy định về treo Quốc kỳ Việt Nam và treo cờ quốc tịch quy định tại Điều 7 Nghị định số 162/2013/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 23/2017/NĐ-CP là hành vi không thực hiện đúng các quy định về treo cờ đối với tàu thuyền tại cảng biển theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Nghị định 58/2017/NĐ-CP (quy định về quản lý hoạt động hàng hải); về treo Quốc kỳ trên tàu biển Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 61 Nghị định 58/2017/NĐ-CP và treo cờ quốc tịch và treo Quốc kỳ Việt Nam đối với tàu thuyền nước ngoài khi hoạt động trong khu vực biển giới biển theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 71/2015/NĐ-CP.

Về các hành vi vi phạm các quy định về đi qua không gây hại trong lãnh hải quy định tại Điều 5 Nghị định 162/2013/NĐ-CP, Thông tư quy định: hành vi dừng lại, neo đậu trái phép trong lãnh hải Việt Nam là hành vi của tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam nhưng dừng lại hoặc neo đậu trong lãnh hải Việt Nam mà không phải do gặp sự cố hàng hải, sự cố bất khả kháng, gặp nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay tàu bay đang gặp nạn.

Hành vi đi vào vùng cấm hoặc vùng hạn chế hoạt động trong lãnh hải Việt Nam là hành vi của tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam đã đi vào vùng cấm hoặc vùng hạn chế hoạt động trong lãnh hải Việt Nam do Chính phủ Việt Nam thiết lập để bảo vệ chủ quyền, quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia hoặc an toàn hàng hải, bảo vệ tài nguyên, sinh thái biển, chống ô nhiễm, khắc phục sự cố, thảm họa môi trường biển, phòng chống lây lan dịch bệnh mà chưa được Nhà nước CHXHCN cho phép. Vùng cấm, vùng hạn chế hoạt động trong lãnh hải Việt Nam được quy định tại Luật biển Việt Nam năm 2012, Nghị định 16/2018/NĐ-CP, Nghị định 71/2015/NĐ-CP, Thông tư 162/2016/TT-BQP của Bộ Quốc phòng.

Đồng thời, Thông tư cũng hướng dẫn rõ hành vi vi phạm các quy định về xâm phạm vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam quy định tại khoản 3 Điều 8, Điều 9, Điều 11, khoản 6 Điều 13 Nghị định 162/2013/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 27/2022/NĐ-CP là các hành vi của cá nhân, tổ chức nước ngoài sử dụng, điều khiển tàu thuyền hoặc phương tiện khác đi vào và thực hiện các hoạt động điều tra, thăm dò, nghiên cứu khoa học tài nguyên biển; hoạt động du lịch; khai thác, mua, bán thủy sản; xây dựng, lắp đặt, sử dụng các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trong vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chưa được Nhà nước CHXHCN Việt Nam cho phép theo quy định của pháp luật.

Thuyền viên không mang theo chứng chỉ chuyên môn
     Đối với nhóm hành vi thuyền viên làm việc trên tàu, thuyền không có hoặc không mang theo các loại chứng chỉ chuyên môn theo quy định tại Thông tư 03/2020/TT-BGTVT và các văn bản pháp luật có liên quan, Thông tư hướng dẫn: Về hành vi vi phạm về sổ thuyền viên là hành vi thuyền viên làm việc trên tàu thuyền không có hoặc không đầy đủ sổ thuyền viên theo quy định tại Thông tư 23/2017/TT-BGTVT quy định về chức danh, nhiệm vụ theo chức danh của thuyền viên và đăng ký thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam.

Ngoài ra, Thông tư cũng nêu rõ hành vi vi phạm các quy định về an toàn sinh mạng trên biển; vi phạm các quy định về an toàn phòng, chống cháy, nổ đối với tàu biển quy định tại Điều 18 Nghị định 162/2013/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 10 Điều 3 Nghị định 37/2022/NĐ-CP và Nghị định 162/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 37/2022/NĐ-CP.

Theo đó, các trang thiết bị an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển (bao gồm các phương tiện cứu sinh, phòng cháy, phát hiện và chữa cháy) được lắp đặt trên tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến nội địa được quy định tại Quyết định 59/2005/QĐ-BGTVT quy định về trang thiết bị an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển lắp đặt trên tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến nội địa. Hành vi không bố trí đủ định biên an toàn tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định 162/2013/NĐ-CP là hành vi không bố trí đủ định biên an toàn tối thiểu của tàu biển Việt Nam theo quy định tại Thông tư 03/2020/TT-BGTVT và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Thông tư 105/2022/TT-BQP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/2/2023./.
Theo: Báo Pháp luật Việt Nam.
Yêu nước ST.

KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG CỦA ĐẢNG TA!

     Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
     Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong cộng đồng quốc tế. Nội dung và chiêu thức xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng đặc biệt nguy hiểm, Một trong những thủ đoạn đó là chúng cho rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói tay mình”, là chính sách “không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”, nếu không thì không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền của đất nước. Đây là luận điệu hoàn toàn mang tính xuyên tạc, suy diễn làm méo mó, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước và làm giảm uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế.
     Không thể nói rằng, thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói tay mình”, “cần phải thay đổi”, nếu không thì không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền đất nước. Đây thực chất là nhằm tạo ra sự hoài nghi, hoang mang, dao động, từ đó đẩy nước ta rơi vào sự lệ thuộc, phụ thuộc mới. Cần khẳng định rõ rằng, trong lịch sử từ trước tới nay, nhân dân Việt Nam bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc luôn dựa trên tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần tự lực tự cường, phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế.
     Chính sách quốc phòng “bốn không”, mà trọng yếu là không liên minh quân sự, là biểu hiện đặc thù của đường lối, chính sách độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng trong bối cảnh lịch sử mới, là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp. Thực hiện chính sách này, chúng ta mới có thể kết hợp và phát huy tốt nhất các nguồn sức mạnh để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Nghiêng về bên này hay ngả về bên kia, tức là phụ thuộc vào một nước lớn nào đó đồng nghĩa với việc bị mất độc lập, tự chủ. Bị phụ thuộc, mất độc lập, tự chủ thì vấn đề “bảo vệ độc lập, chủ quyền” cũng không còn ý nghĩa, không còn giá trị.
     Liên minh quân sự thường gây nhiều hệ lụy tiêu cực, trong nhiều trường hợp và tình huống cụ thể, có những diễn biến bất lợi, rất khó lường. Thứ nhất, liên minh quân sự dẫn đến gia tăng sự căng thẳng, đối đầu giữa các nước trong liên minh và ngoài liên minh, dễ “biến” những nước ngoài liên minh, nhất là nước lớn trở thành “đối trọng”, thậm chí trở thành “đối thủ”, dù liên minh có tuyên bố là tự vệ, không nhằm chống lại ai; thứ hai, các nước “nhỏ hơn” trong liên minh có thể phải hy sinh hoặc hy sinh một phần lợi ích của mình, nhất là vấn đề độc lập, chủ quyền, quyền tự quyết; thứ ba, các nước “lớn hơn” thường tác động, chi phối các nước “nhỏ hơn”, và thỏa hiệp, “mặc cả” với nhau vì lợi ích chiến lược của họ; thứ tư, dù có liên minh, nhưng không có nước nào lại hy sinh lợi ích của mình chỉ vì lợi ích của nước khác. Trong bối cảnh đó, liệu hòa bình, ổn định, độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc của nước nhỏ hơn có được bảo đảm không? Chắc chắn là không! Những vấn đề tiêu cực và hệ lụy đó của liên minh quân sự trong thế giới đương đại càng trở nên rõ ràng.
     Như vậy, với chính sách “bốn không” trong quan hệ quốc phòng, Việt Nam có thể đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm chủ quyền, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Không tham gia các liên minh quân sự không đồng nghĩa với việc chúng ta bế quan tỏa cảng với thế giới bên ngoài. Trong lĩnh vực quân sự, nước ta vẫn là một thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, luôn có sự giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, thực hiện cam kết vì hòa bình, thịnh vượng và phát triển. Bằng chứng rõ ràng nhất đó là, chúng ta đã cử Sĩ quan liên lạc công tác ở Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, v.v.
     Trong bối cảnh tình hình hiện nay, trước các mối quan hệ rất nhạy cảm của Việt Nam với các nước lớn, nếu chúng ta thực hiện liên minh quân sự với một cường quốc nào đó, thì những hệ lụy tiêu cực trên càng nguy hiểm, trở thành “hợp lực” tác động tổng hợp, đặt hòa bình, ổn định, độc lập, chủ quyền của đất nước và sự tồn vong của chế độ trước nguy cơ rất khó lường. Chính vì vậy, đường lối đối ngoại quốc phòng của Đảng ta hiện nay là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức đầy đủ chính xác nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của chính sách Quốc phòng “Bốn không” mà Đảng và Nhà nước ta đang kiên trì thực hiện đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình, xu thế phát triển của thế giới hiện đại tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức. Tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với đường lối đối ngoại Quốc phòng. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch, xây dựng mặt trận chính trị tư tưởng kiên định vững vàng, làm cơ sở vững chắc xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
Yêu nước ST 

VỊ TƯỚNG TÂY NGUYÊN THỜI MÁU LỬA!

         Lúc sinh thời, tôi thường hay tới nhà riêng Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tặng ông những cuốn sách hồi ức của các tướng lĩnh do tôi thể hiện.
     Ông nhận sách rồi trân trọng mở từng trang, từng trang. Xem xong một lượt, ông nói với tôi: "Những cuốn hồi ký chiến tranh của các tướng lĩnh và cán bộ cao cấp trong quân đội đã qua chiến đấu là vô cùng quý báu. Những cuốn hồi ký ấy cũng là một phần lịch sử. Lịch sử của một thời đã qua, nhưng nó mãi mãi có ý nghĩa với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của mọi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau". Nhìn ông hiền từ, đôi mắt sáng, ít ai biết rằng vị tướng lẫy lừng đã một thời làm cho quân Mỹ ở Tây Nguyên phải nể phục.
     Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo (1921-2008) tên thật là Tạ Thái An, sinh ra tại làng Cao, xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình thợ may. Hoàng Minh Thảo là học trò của thầy giáo Võ Nguyên Giáp, trên ghế Trường Thăng Long (Hà Nội) nổi tiếng. Ông tham gia cách mạng từ những ngày không khí sục sôi của phong trào Mặt trận Bình dân vào cuối thập kỷ 1930. Ông bị thực dân Pháp lùng bắt, đã buộc phải bỏ quê hương lên vùng rừng núi Tràng Định, Lạng Sơn.
     Đến đây, ông đổi tên là Hoàng Minh Thảo. Ông chất chứa trong lòng nỗi nhục mất nước, khát khao Tổ quốc được độc lập, tự do. Hoàng Minh Thảo được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn cùng một số đồng chí trẻ tuổi qua học đào tạo quân sự tại Trường Tây Cán Bang ở Liễu Châu (Trung Quốc) từ năm đầu của thập kỷ 1940. Trở về nước, ông tiếp tục tham gia cách mạng và được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao đảm nhận nhiều trọng trách lớn lao. Đặc biệt, ông đã có nhiều đóng góp cho công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quân đội và đã được vinh danh Nhà giáo Nhân dân, học hàm Giáo sư.
     Cuộc đời của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo không chỉ đứng trên bục giảng mà uy tín học thuật của ông còn được đúc kết từ thực tiễn cuộc chiến đấu ác liệt ở chiến trường.
     Tháng 11 năm 1967, khi vào chiến trường Tây Nguyên giữ chức Tư lệnh thay cho đồng chí Chu Huy Mân, ông đã tỏ rõ trí thông minh dùng mưu kế thế trận đánh địch trong Chiến dịch Đắk Tô, tiêu diệt gần hết Lữ đoàn dù 173 của Mỹ. Dạo đó, tôi là chiến sĩ đã từng nghe những câu thơ ca ngợi ông trong chiến dịch này:
"Đồng chí Tư lệnh ơi!
Chắc đêm qua hẳn là không ngủ
Tấm bản đồ với cây chì đỏ
Điệu chúng vào phương án của ta".
     Chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh, tôi còn được nghe các anh ở Phòng Tham mưu Mặt trận Tây Nguyên kể lại: 5 ngày đêm liền, Tư lệnh Hoàng Minh Thảo không tháo giày ra khỏi chân. Chỉ đến khi nghe tin ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Tân Cảnh, bắt hơn 1.000 tù binh, trong đó có Đại tá, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 22 ngụy Vi Văn Bình, lúc đó mọi người mới thấy ông cởi giày.
     Rồi đến Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch. Ta đã đánh lừa cả bộ máy chiến tranh khổng lồ của địch, hút chúng về phía bắc Tây Nguyên rồi ta bất ngờ tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột, làm rung chuyển cao nguyên, buộc địch phải rút lui chiến lược, mở đầu cho sự tan rã ở chiến trường miền Nam, tạo thời cơ chiến lược kết thúc chiến tranh.
     Trong cuộc đời và sự nghiệp của mình, Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo đã để lại cho Quân đội ta, đất nước ta một kho tàng kiến thức quân sự đồ sộ với gần 100 đầu sách về "Tổ tiên ta đánh giặc", về "Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc", về "Cách dùng binh"... Ngoài ra, ông còn viết rất nhiều bài đăng trên các báo và tạp chí. Với những đóng góp cho nền nghệ thuật quân sự, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

     Về cách dùng binh, ông nói:
"Mưu cao nhất là mưu lừa địch
Kế hay nhất là kế điều địch
Lừa địch là tạo ra bất ngờ
Điều địch là giành được chủ động
Bất ngờ và chủ động là mạch sống của tác chiến"!
     Thượng tướng Hoàng Minh Thảo còn thông tỏ những lời dạy của Bác Hồ về đạo làm tướng: "Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, trung". Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vĩ đại. Nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và của loài người. Trong cuốn "Về cách dùng binh”, ông viết: "Tướng lãnh đạo chiến tranh phải giỏi cả chính trị, quân sự, kinh tế. Tướng quốc phải là người văn võ song toàn”, "Tướng của dân là phải trọng đức độ, tài năng hơn là tiền tài danh vọng; trọng trí tuệ hơn là giàu sang", "Tướng của hiền từ, đức độ thì mới thu hút được hiền tài và sống mãi trong lòng dân, lòng quân", "Tướng không được đem mưu mẹo, gian dối, xảo trá đối với địch để đối với ta, lừa lọc đối với địch, không được lừa lọc đối với ta".
     Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”: "Trong một buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu, khi ta chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là một thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất. Từ đây ta có khả năng phát triển xuống đồng bằng”.
     Khi về cuộc sống đời thường, Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo luôn làm gương sáng cho con cháu. Ông sống giản dị, thanh tao, hết lòng giúp đỡ mọi người. Ông không bao giờ vắng trong những lần các đơn vị thuộc Mặt trận Tây Nguyên họp mặt. Ông ân cần thăm hỏi mọi người. Ông xúc động khi thấy những người thương binh nặng đi xe lăn đến dự. Tôi không thể nào quên trong lễ tang con trai tôi là Lê Viên Hải Nguyên, hai lão tướng Hoàng Minh Thảo và Đặng Vũ Hiệp đã không thể cầm lòng, đôi vai gầy của các ông rung lên, nước mắt đầm đìa...
     Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã nhẹ gót trần ai vào cõi vĩnh hằng, song Tây Nguyên và những trận đánh máu lửa của ông vẫn mãi còn trong ký ức đồng chí, đồng đội...
Bài và ảnh: Lê Hải Triều.
Yêu nước ST.

ĐÒI BỎ TẾT CỔ TRUYỀN LÀ Ý ĐỒ RŨ BỎ VĂN HÓA DÂN TỘC!

         Mỗi năm, khi Nhân dân cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài hân hoan chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, thì trên mang xã hội lại “lao nhao” các bài viết xuyên tạc, phủ nhận giá trị tốt đẹp Tết cổ truyền (Nguyên đán). Với suy nghĩ chủ quan, một số “nhà thông thái” chê bai Tết cổ truyền của dân tộc ta; cho rằng: Tết Nguyên đán “làm cho nền kinh tế èo uột”, “thủ phạm của sự đình trệ kinh tế”, gây lãng phí thời gian, tiền của… Từ đó, đề nghị “gộp” Tết Nguyên đán vào “Tết Tây”; hoặc bỏ Tết Nguyên đán. Đó là những luận điệu xỏ xiên, bởi đòi bỏ Tết cổ truyền là rũ bỏ văn hóa dân tộc.
     Việt Nam ta đã và đang thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Song, để trở thành quốc gia văn minh, không có nghĩa chối bỏ quá khứ tốt đẹp; gạt bỏ giá trị văn hóa dân tộc.
     Tết cổ truyền Việt Nam là nét văn hóa độc đáo tổ tiên truyền lại; bởi nó lưu giữ hồn cốt tổ tiên, cội nguồn, gốc tích dân tộc. Ở đó, là những giá trị tinh thần, tín ngưỡng, tâm linh, ước vọng, nuôi dưỡng tâm hồn Việt; đặc biệt, nó đã được “sàng lọc” qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của tổ tiên ta. Chối bỏ Tết cổ truyền là hành vi cổ súy chối bỏ tổ tiên, chối bỏ văn hóa Việt! TS. Sin Harng Luh chua chát: “Nếu cội nguồn truyền thống của mình mà không giữ được thì sao dám trông mong phát triển những thứ lớn lao hơn”.
     Bác Hồ của chúng ta đã dạy “… Cái gì cũ mà tốt phải phát triển thêm”. Tết cổ truyền có lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, cần gìn giữ. Ai đó, nếu quan tâm văn hóa dân tộc, thay vì “đề xuất” bỏ Tết Nguyên đán, sao không “hiến kế” các giải pháp góp phần hạn chế những tiêu cực phát sinh? Chớ nên “tạo cớ” để các thế lực phản động lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ta./.
Yêu nước ST.

KHÔNG LƠ LÀ, CHỦ QUAN TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19


Bộ Y tế nhận định, thời gian tới, tình hình dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp. Các biến chủng, biến thể phụ của virus SARS-CoV-2 liên tục biến đổi; miễn dịch do tiêm vaccine giảm dần theo thời gian; cùng với việc mở cửa, nới lỏng các chính sách phòng, chống dịch (PCD) của một số nước trong khu vực sẽ dẫn đến nguy cơ số ca nhiễm Covid-19 gia tăng. Theo nhận định của các chuyên gia y tế, trong bối cảnh mới, các biện pháp PCD của nước ta phải linh hoạt và chủ động.
Theo dõi sát các biến chủng mới
Ngay khi sau hoạt động xuất, nhập cảnh tại cửa khẩu những tỉnh miền Bắc của Việt Nam và các cửa khẩu của Trung Quốc chính thức được khôi phục, đoàn công tác của Bộ Y tế đã kiểm tra thực tế công tác PCD dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội 2023 tại Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn). Tại buổi kiểm tra, ông Nguyễn Lương Tâm, Phó cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) đã đề nghị Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn kích hoạt hệ thống trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC), trung tâm y tế huyện, trạm y tế xã để kiểm soát các ổ dịch bất thường, đồng thời lấy mẫu tại cửa khẩu gửi về các viện để giải trình tự gen nhằm phát hiện sớm các biến chủng, biến thể phụ mới. "Cần tăng cường công tác truyền thông từ cửa khẩu, biên giới vào nội địa để phục vụ khách du lịch và người dân nâng cao ý thức PCD, nhất là việc thực hiện 2k (đeo khẩu trang và khử khuẩn). Trong bối cảnh mới, các biện pháp PCD phải linh hoạt và an toàn", ông Nguyễn Lương Tâm nhìn nhận.
Theo đánh giá của ông Ngũ Duy Nghĩa, Trưởng khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương): “Nền tảng miễn dịch trong nước đã tăng, các ca bệnh nặng đã giảm. Dù vậy, khi các biến thể của virus SARS-CoV-2 thay đổi liên tục, chúng ta vẫn cần chủ động các biện pháp ứng phó. Theo chủ trương của Chính phủ và Bộ Y tế, các đơn vị cần tăng cường kiểm soát, phát hiện sớm để cảnh báo, chủ động PCD, lấy mẫu xét nghiệm với mục đích cao nhất là theo dõi được các biến chủng mới”. TS Vũ Ngọc Long, Phó trưởng phòng Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Cục Y tế dự phòng cho rằng, việc test nhanh các trường hợp nghi ngờ ngay tại cửa khẩu là cần thiết. Với các ca dương tính, cần được hướng dẫn phân loại kịp thời, hợp lý.
Theo đánh giá mới nhất của Bộ Y tế, dự báo tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp thời gian tới, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các làn sóng dịch bệnh do biến thể mới. Giai đoạn giao mùa tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các bệnh dịch đường hô hấp, dẫn đến nguy cơ dịch chồng dịch. Thời gian tới là dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội, nhu cầu giao thương du lịch tăng cao, cùng thời tiết chuyển mùa thay đổi bất thường là điều kiện thuận lợi cho các loại dịch bệnh truyền nhiễm lây lan, có thể gia tăng số nhiễm, nhất là với nhóm trẻ em có sức đề kháng yếu và người cao tuổi có bệnh lý nền. Do đó, Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở y tế chuẩn bị sẵn sàng phương án, điều kiện bảo đảm PCD Covid-19 và các dịch bệnh khác trong dịp Tết Nguyên đán 2023; chuẩn bị sẵn sàng và tổ chức tốt công tác thu dung, điều trị; bảo đảm thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế, nhân lực cho công tác PCD.
Vẫn phải thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch
Để bảo đảm công tác PCD đạt hiệu quả cao nhất, Cục Y tế dự phòng đề nghị các địa phương, nhất là những địa phương có cửa khẩu thực hiện nghiêm Công điện số 05/CĐ-TTg ngày 8-1-2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác PCD dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội 2023 cũng như tiếp tục bảo đảm công tác phân luồng, thu dung, điều trị bệnh nhân Covid-19; đồng thời chuẩn bị đầy đủ vật tư y tế, thuốc phục vụ công tác PCD.
PGS, TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), Cố vấn cao cấp Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam chia sẻ: “Trên thực tế, dịch Covid-19 tại các nước vẫn diễn biến phức tạp với nhiều biến chủng Covid-19 mới khiến nhiều nước vẫn cảnh giác. Đến nay, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chưa công bố bỏ tình trạng y tế công cộng khẩn cấp do dịch Covid-19. Tình hình này khiến chúng ta phải tiếp tục có các biện pháp PCD thích ứng, linh hoạt. Quan trọng là phải đánh giá đúng nguy cơ và thực hiện biện pháp dự phòng hiệu quả. Tiêm vaccine ngừa Covid-19 đầy đủ, đúng lịch đặc biệt quan trọng đối với các nhóm có nguy cơ cao, bao gồm: Người lớn tuổi, nhân viên y tế, người bị suy giảm miễn dịch, người có bệnh nền, giáo viên, phụ nữ mang thai và những người lao động thiết yếu”.
Theo khuyến cáo của bà Angela Pratt, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam, những loại vaccine Covid-19 được WHO phê chuẩn vẫn đang chống chọi tốt với các biến thể mới và có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa bệnh nặng và tử vong do Covid-19. Vì vậy, trong thời điểm hiện tại, WHO khuyến nghị áp dụng các biện pháp phòng ngừa với biến thể XBB tương tự như đã thực hiện đối với các biến thể phụ khác của Omicron và Covid-19 nói chung. Theo đó, khuyến khích người dân đeo khẩu trang ở những nơi có nguy cơ cao; rửa tay thường xuyên; tiêm vaccine ngừa Covid-19 đầy đủ, bao gồm tất cả liều nhắc lại.
QĐND điện tử.

YÊU VIỆT NAM TỪ CÁI NHÌN ĐẦU TIÊN

 

"Cảm xúc khi lần đầu tiên đặt chân tới Hà Nội đúng 50 năm trước đã theo tôi suốt cuộc đời. Đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên của tôi với đất nước, với con người Việt Nam". Người cựu binh già Hungary, Botz László, bồi hồi nhớ lại trong cuộc trò chuyện thân mật với phóng viên TTXVN tại thủ đô Budapest của đất nước quê hương ông.
Ngày 26/1/1973, đúng 1 ngày trước khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27/1/1973), chàng thanh niên 29 tuổi Botz László đặt chân tới Hà Nội. Khi đó, ông là một trong những thành viên của nhóm công tác đầu tiên thuộc phái đoàn Hungary tham gia Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế (ICCS), còn gọi là Ủy ban 4 bên, có nhiệm vụ giám sát việc thực thi Hiệp định Paris.
Ông Botz László có dáng người cao lớn, nét mặt cương nghị điển hình của một quân nhân từng phục vụ nhiều năm trong quân ngũ, nhưng khi nhắc tới hai tiếng Việt Nam, ông nở nụ cười thân thiện, giọng nói tình cảm như lắng đọng cảm xúc và ký ức của nửa thế kỷ đã trôi qua.
Ông kể rằng cảnh tượng tiếp đón đoàn công tác Hungary ở Hà Nội 50 năm trước đã để lại ấn tượng sâu sắc khiến ông không bao giờ có thể quên được. Ông đã được tận mắt chứng kiến quang cảnh phố phường, nhà cửa, đường sá và những công trình bị bom tàn phá chỉ vài tuần trước trong những đợt rải thảm B-52 của Mỹ. Trong khung cảnh đổ nát đó, điều khiến chàng thanh niên đến từ châu Âu ấn tượng là những khuôn mặt rạng rỡ, vui mừng của người dân thủ đô Hà Nội bởi ông cảm nhận được ở những người dân Việt Nam niềm tin vào hòa bình đang đến.
Với chất giọng trầm ấm, ông nói: “Cảm xúc khi lần đầu tiên đặt chân tới Hà Nội đúng 50 năm trước đã theo tôi suốt cuộc đời. Đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên của tôi với đất nước, với con người Việt Nam. Do đó, trong tất cả thời gian qua, thời gian tôi làm nhiệm vụ ở Việt Nam cho tới những năm sau này, tôi vẫn luôn sẵn lòng quay trở lại Việt Nam bất kỳ lúc nào để gặp gỡ, tiếp xúc với những con người tuyệt vời”.
Ông Botz László nhấn mạnh Chính phủ Hungary đã rất vui vẻ nhận lời và sẵn sàng chuẩn bị nhân sự khi được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị cử đoàn tham gia Ủy ban 4 bên giám sát thi hành Hiệp định Paris. Trong khoảng thời gian từ ngày 26/1/1973 - 9/5/1975, Hungary đã cử 636 quân nhân, lính biên phòng, nhân viên dân sự và ngoại giao thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại Việt Nam, trong đó có 2 người hy sinh trong khi làm nhiệm vụ vào tháng 4/1973. Ông bày tỏ xúc động khi Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhận những đóng góp và đánh giá cao sự đồng hành của Hungary trong Ủy ban 4 bên, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Ông tâm sự: “Vào thời điểm đó, chúng tôi với tư cách là người lính đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Tôi có thể nói, niềm tự hào của một quân nhân Hungary, cộng với mong muốn giúp đỡ, hỗ trợ đất nước và dân tộc Việt Nam là những tình cảm chi phối hoàn toàn hoạt động của chúng tôi trong những năm tháng đó. Rất đáng tiếc, chúng ta ai cũng nghĩ rằng với việc ký Hiệp định Paris tháng 1/1973 thì hòa bình đã thực sự đến rất gần với Việt Nam, nhưng phải mất gần hai năm rưỡi sau với rất nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh xương máu các bạn mới có thể giành được độc lập hoàn toàn, thống nhất đất nước”.
Cũng nhân dịp này, người cựu binh Hungary cho biết ông rất khâm phục tinh thần của các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, những người đã chiến đấu hết sức dũng cảm trong nhiều thập kỷ liền để giải phóng dân tộc, để thực hiện ước mơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là thống nhất đất nước. Ông nói: “Những người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng với những chiến sĩ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã cùng nhau làm nên thắng lợi mùa Xuân năm 1975 để thống nhất đất nước, mang lại hòa bình thực sự cho đất nước Việt Nam. Bên cạnh đó, không thể không nhắc tới sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam đối với những người lính để họ có thể hoàn thành nhiệm vụ hết sức cao cả”. Ông Botz László nói rằng bản thân ông cùng các đồng đội, những người đã tham gia Ủy ban 4 bên, cảm thấy tự hào và cũng cảm ơn Việt Nam vì đã có cơ hội để trở thành một phần, đóng góp vào sự nghiệp giành độc lập, tự do của Việt Nam.
Ông cũng đánh giá rất cao sự phát triển của Việt Nam sau chiến tranh và nhấn mạnh trong 50 năm qua, bằng tất cả trái tim, khối óc, nỗ lực của mình, dân tộc Việt Nam đã thực hiện được những bước tiến phát triển thần kỳ mà theo ông không nhiều quốc gia trên thế giới làm được. Ông nói: “Chúng tôi rất vinh dự được hỗ trợ, giúp đỡ các bạn trong những năm tháng khó khăn, và chúng tôi cũng rất vinh dự được làm bạn với các bạn”.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, trở về từ Việt Nam, dù luôn bận rộn với công việc ở trong nước và ngoài nước, đặc biệt sau khi nắm giữ những trọng trách của một vị tướng trong quân đội Hungary và sự nghiệp nghiên cứu khoa học của một tiến sĩ, học giả nổi tiếng, ông Botz László vẫn luôn dành sự quan tâm và tình yêu đặc biệt với "dải đất hình chữ S". Ông cùng với những người bạn cựu chiến binh, cán bộ Hungary từng công tác tại Ủy ban 4 bên tham gia sáng lập Hội hữu nghị Hungary-Việt Nam năm 1989, trở thành cầu nối bền bỉ, nhiệt thành giữa hai nước. Trong hơn 30 năm qua, các thành viên của Hội đã và đang góp phần vun đắp mối quan hệ Hungary - Việt Nam trên tinh thần hữu nghị, coi việc giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt Nam tại Hungary là nhiệm vụ trọng tâm.
Trong năm 2022, sau khi tình hình đại dịch COVID-19 lắng dịu, Hội hữu nghị Hungary - Việt Nam đã tích cực nối lại hoạt động bình thường với các kế hoạch, chương trình rất cụ thể. Là Chủ tịch Hội, cùng với hơn 130 thành viên ban chấp hành, ông Botz László thường xuyên tổ chức các cuộc họp để đánh giá về tình hình nhân sự, công tác tổ chức và phối hợp với các hội đoàn phía Việt Nam như Hội người Việt Nam tại Hungary, Hội hữu nghị Việt Nam - Hungary và Đại sứ quán Việt Nam tại Hungary. Đại diện của Hội tham gia diễn đàn về chủ đề “Đông Nam Á hậu COVID-19” hồi tháng 2/2022, cùng Hội người Việt Nam tại Hungary tổ chức lễ kỷ niệm 47 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngày Văn hóa Việt Nam…
Ông Botz László cho biết bản thân ông cùng các đồng đội trong những năm tháng sau này khi làm việc tại Hội hữu nghị Hungary - Việt Nam, tiếp tục cống hiến để tăng cường và củng cố hơn nữa các mối quan hệ giữa hai đất nước, giữa hai dân tộc. Ông bày tỏ mong muốn ngày càng có nhiều người Việt Nam và người Hungary hiểu biết hơn về đất nước của nhau, lịch sử của nhau. Ông nói: “Chúng ta hãy đến thăm đất nước của nhau nhiều hơn nữa để truyền cảm hứng này cho các thế hệ mai sau”.
Theo TTXVN

 

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHỦ NHẬN

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI TA

 

         Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, thâm độc và ngày càng quyết liệt hơn. Mục đích là nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Hình thức và thủ đoạn chống phá rất đa dạng, xảo quệt, bọn chúng thường lợi dụng những khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng; kích động, lôi kéo những người cơ hội, tiêu cực, bất mãn, suy thoái về tư tưởng chính trị đưa ra luận điệu, yêu sách đòi tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng và trung lập về chính trị. Thực chất đây là âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng về chính trị, xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng, của cách mạng, phản bội lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam nói chung và mỗi quân nhân trong Quân đội nói riêng, phải nêu cao cảnh giác, nhận thức đúng đắn, đầy đủ rằng: Đảng lãnh đạo Quân đội là tất yếu khách quan; đặc biệt, trong tình hình hiện nay, sự khẳng định đó có cơ sở lý luận, thực tiễn vững chắc.

Trước hết, xuất phát từ thực tiễn lịch sử ra đời, hình thành, phát triển của Quân đội ta. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp và nhà nước, chiến tranh và quân đội là những hiện tượng chính trị - xã hội mang tính lịch sử. Sự xuất hiện của chiến tranh và quân đội gắn chặt với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. Từ bản chất giai cấp và quy luật đấu tranh giai cấp, sự xuất hiện của chiến tranh đã khẳng định sự ra đời của quân đội là tất yếu, phù hợp quy luật lịch sử. Bất cứ quân đội nào cũng đều do giai cấp thống trị xã hội đó tổ chức ra và là công cụ bạo lực vũ trang để bảo vệ lợi ích và địa vị thống trị của giai cấp ấy. Giai cấp thống trị xã hội bao giờ cũng nắm quân đội để thực hiện mục đích chính trị của giai cấp mình. Đây là vấn đề mang tính quy luật về sự lãnh đạo của giai cấp thống trị xã hội đối với quân đội do giai cấp đó tổ chức ra. Như vậy, không có quân đội nào trung lập về chính trị, quân đội bao giờ cũng bảo vệ lợi ích của giai cấp đã sinh ra nó.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục” Sự lãnh đạo của Đảng trở thành nguyên tắc căn bản trong xây dựng Quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất có mối quan hệ biện chứng, không tách rời, được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.

Hai là, xuất phát từ bản chất chính trị của Quân đội và mối quan hệ của Quân đội với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chức năng, nhiệm vụ của Quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp, mục đích chính trị của nhà nước tổ chức ra và nuôi dưỡng nó, không có quân đội trung lập về chính trị, quân đội đứng ngoài giai cấp và nhà nước. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ cơ bản của quân đội với đảng, nhà nước và nhân dân. Điều này cho thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của cái gọi là “quân đội phi giai cấp”. Mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng vẻ vang của Quân đội; mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội đã trở thành bản chất, truyền thống quý báu của Quân đội ta. Mọi âm mưu tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng đều nhằm cô lập Đảng, làm cho Đảng mất đi lực lượng chính trị trung thành, tin cậy nhất, mất đi sức mạnh vật chất to lớn để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Trong mối quan hệ với Nhà nước và Nhân dân, Quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do Nhà nước quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng. Quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước thực chất cũng chính là công cụ bạo lực của Nhân dân; Quân đội bảo vệ Nhà nước xét đến cùng cũng chính là bảo vệ Nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tất yếu phải lãnh đạo Quân đội.

Ba là, xuất phát từ thực tiễn xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt 78 năm qua. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân khi mới ra đời đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Quân đội ta là quân đội “quyết chiến quyết thắng”, “có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Điều đó chỉ rõ bản chất giai cấp của Quân đội ta là bản chất giai cấp công nhân và Quân đội là của Nhân dân, do Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo.

Thực tiễn xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Quân đội ta luôn lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc làm mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của mình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội luôn nhận rõ kẻ thù của Nhân dân, của dân tộc; xác định đúng đối tượng tác chiến; vận dụng, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc, luôn kề vai, sát cánh, đoàn kết, gắn bó máu thịt với Nhân dân, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - sức mạnh vô cùng to lớn để chiến đấu và giành những chiến thắng vĩ đại, đánh bại những tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta nhiều lần. Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã xây dựng được sức mạnh chiến đấu vô địch, trở thành một trong những quân đội bách chiến, bách thắng ở thế kỷ XX. Thực tế đó, là không thể phủ nhận, mà còn là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điểm xuyên tạc, kích đồng của những kẻ hiềm khích hoặc có ý đồ cá nhân hay do nhận thức không thấu đáo nên đưa ra luận điệu méo mó, xuyên tạc đòi tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Thiết nghĩ, ai đó muốn tô hồng danh tính của mình bằng những luận điệu “giật gân”, làm méo mó, xuyên tạc sự thật, hãy nên suy xét lại, nhìn nhận một cách toàn diện, chân lý và sự thực luôn hiện hữu không thể “đổi trắng thành đen” được. Đảng lãnh đạo Quân đội luôn là tất yếu khách quan./.

ST

 

ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Để thu hút sự quan tâm của xã hội, các phần tử phản động trong và ngoài nước cùng với những phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất đã và đang triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội đăng tải những thông tin sai trái, bịa đặt. Họ lập ra các website, blog, sử dụng nhiều tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn, trộn lẫn thông tin thật-giả, cắt ghép hình ảnh, tán phát, nhằm thu hút sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh, thiếu niên. Chủ ý của họ nhằm bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ thanh danh của Đảng, Nhà nước ta; đặc biệt, nhằm vào các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ; đồng thời, tổ chức lực lượng chia sẻ bình luận với mục đích hạ uy tín, làm hoen ố hình ảnh cao đẹp của Đảng, Nhà nước ta và các đồng chí lãnh đạo cấp cao trong hệ thống chính trị.

Những thông tin sai trái, bịa đặt như luồng gió độc là tác nhân gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của ta. Nếu không nhận rõ sẽ gây nên sự hoài nghi trong dư luận xã hội, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tổn hại đến hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Vì vậy, Đảng, Nhà nước cần có những biện pháp hữu hiệu để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng internet và mạng xã hội để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong đường lối đổi mới của Đảng. Các cơ quan, ban, ngành từ trung ương đến địa phương luôn tích cực chủ động làm tốt công tác thông tin tuyên truyền. Cung cấp thông tin chính thống đến mọi người dân trong xã hội qua nhiều kênh thông tin của Đảng và trên mạng xã hội.

Hai là, chúng ta phải tỉnh táo, kịp thời và chủ động vạch trần âm mưu thâm độc và những thông tin bịa đặt, xuyên tạc thì mới góp phần vào sự ổn định tình hình, làm lành mạnh dư luận xã hội. Luôn nắm quyền chủ động ngăn chặn những thông tin xấu độc liên quan đến an ninh chính trị, an ninh quốc gia.

Ba là, hiện nay ứng dụng của khoa học công nghệ đang đi vào tất cả các ngành, các lĩnh vực; tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh còn có những mặt trái của nó, luôn đi kèm cả những ứng dụng trái quy định pháp luật, gây ảnh hưởng tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy, cần làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người khi sử dụng mạng xã hội, làm cho mọi người luôn có trách nhiệm khi tham gia sử dụng mạng xã hội. Từ trách nhiệm chia sẻ thông tin của mình hoặc của người khác đến trách nhiệm phản bác thông tin xuyên tạc, bịa đặt...

Bốn là, các cơ quan ban ngành, tổ chức xã hội, đoàn thể không ngừng tích cực tuyên truyền, cung cấp thông tin, viết bài đấu tranh trên các trang mạng xã hội để định hướng dư luận một cách đúng đắn, chính thống trên mạng xã hội.

Năm là, cơ quan quản lý Nhà nước tiếp tục, rà soát chỉnh sửa, xây dựng chính sách, pháp luật, các quy định về an toàn thông tin mạng quốc gia nhằm hạn chế, ngăn chặn các thông tin xấu độc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta./.

ST

 

HIỆP ĐỊNH PARIS - KINH NGHIỆM ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG HOÀN CẢNH MỚI

 

Những ngày này, nhân dân cả nước cũng như thế giới nhớ về thời điểm lịch sử nửa thế kỷ trước - Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27.1.1973-27.1.2023).


Một chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, khát vọng hòa bình mãnh liệt của một dân tộc Việt Nam luôn có truyền thống hòa hiếu, tinh thần nhân văn sâu sắc.


Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan - người có may mắn được đi theo đoàn của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh sang Paris ký Hiệp định vào tháng 1.1973, đã chia sẻ tại Hội thảo khoa học: “50 năm Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam - Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm”.


Theo ông Vũ Khoan, lịch sử đặt lên vai dân tộc Việt Nam một sứ mệnh rất vẻ vang nhưng cũng vô cùng gian khổ. Từ sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, suốt mấy chục năm trời, nhân dân ta đã phải lần lượt tiến hành các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất và xây dựng đất nước.


Cũng trong thời gian ấy, Việt Nam là nước duy nhất tham gia tới 4 hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, khẳng định tầm vóc của dân tộc cũng như tầm vóc của ngoại giao Việt Nam. Đó là Hội nghị Geneve năm 1954 về Đông Dương, Hội nghị Geneve về Lào năm 1961-1962, Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973, Hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Campuchia năm 1991.


Trong tất cả sự kiện trên, theo ông Vũ Khoan, Hiệp định Paris chiếm một vị trí đặc biệt, đem tới cho dân tộc ta và thế giới những ý nghĩa lớn. Với Hiệp định Paris, Mỹ đã phải cam kết rút hết quân, mang lại hòa bình cho miền Bắc nước ta, khôi phục lại nền kinh tế đồng thời tăng cường thêm nguồn lực để tiến hành cuộc đấu tranh ở miền Nam Việt Nam, đi đến thống nhất đất nước.


Hiệp định Paris cũng có ý nghĩa nâng vị thế nước ta lên tầm cao mới. Trong năm 1973, đã có 15 nước công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Sau Hội nghị Paris, lần đầu tiên nước ta tham gia một hội nghị quốc tế để xác nhận, cam kết thực hiện Hiệp định Paris với sự hiện diện của 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.


Ông Vũ Khoan khẳng định, với cuộc đấu tranh của dân tộc ta và chiến thắng từ Hiệp định Paris, Việt Nam đã đóng góp rất lớn vào sự nghiệp độc lập, hòa bình, phát triển sức mạnh của phong trào cộng sản quốc tế và các nước xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi tương quan lực lượng trên thế giới.


Nêu những bài học rút ra từ quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris, ông Vũ Khoan chỉ ra bài học về chữ “K”; đó là tinh thần “Kết hợp” nhằm tạo được sức mạnh tổng hợp để có thể chiến thắng một đối thủ hùng mạnh.


Lúc đó, dân tộc ta ở trong tình thế lấy yếu đánh mạnh, do đó, phải tạo dựng sức mạnh tổng hợp, kết tinh những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa thành sức mạnh. “Chúng ta đã hình thành thế trận “3 vòng mặt trận” theo cách nói của đồng chí Trường Chinh, với vòng thứ nhất là đoàn kết Bắc-Nam. Vòng thứ 2 là đoàn kết giữa Việt Nam với Lào và Campuchia trên bán đảo Đông Dương. Vòng thứ 3 là đoàn kết giữa cuộc đấu tranh của nhân dân chúng ta với nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập”, ông Vũ Khoan nói.


Sự kết hợp tiếp theo là giữa chính trị - quân sự - ngoại giao, trong đó, quân sự và chính trị có ý nghĩa quyết định; ngoại giao cũng có vai trò riêng. Ngoại giao ở đây không chỉ liên quan đến quá trình đàm phán mà còn liên quan đến 3 lĩnh vực: Tố cáo tội ác của Mỹ đã gây ra trên đất nước ta; ngoại giao phát huy đường lối chính nghĩa; ngoại giao đóng góp vào tập hợp lực lượng nhân dân thế giới ủng hộ, giúp đỡ, hình thành mặt trận của toàn thế giới.


Đó còn là sự kết hợp giữa các ngành, lĩnh vực; giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; sự phối hợp lẫn nhau của các Đoàn đàm phán Việt Nam, nhất là đoàn miền Nam Việt Nam trong việc tiến hành nhiều hoạt động sôi nổi trong phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam. Đặc biệt, tại Hội nghị Paris, truyền thông đóng vai trò rất lớn.


Theo ông Vũ Khoan, một bài học nữa là phải kiên trì để giành thắng lợi từng bước, từng bộ phận. “Trước tiên, chúng ta đòi Mỹ phải chấm dứt vô điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc. Sau đó, chúng ta đòi Mỹ phải nói chuyện với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam; từ đó, buộc Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam, tạo tình thế mới để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam”, ông Vũ Khoan cho biết.  


Bài học thứ ba, có 2 điều phải kiên quyết, bất di bất dịch; đó là, Mỹ phải rút hết quân đội của Mỹ và các nước đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 60 ngày. Cùng với đó, miền Nam phải có đại diện chân chính của nhân dân miền Nam Việt Nam, đó là Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời. Việt Nam cũng buộc Mỹ phải công nhận độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam.


Bài học thứ tư là phải linh hoạt, khôn khéo như Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”. Theo đó, khi đàm phán, đoàn Việt Nam chưa đặt ra vấn đề xóa bỏ chính quyền Sài Gòn. Việt Nam có hai đoàn miền Bắc và miền Nam nhưng hai đoàn luôn thực hiện phương châm Bác Hồ căn dặn: “Tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Đây là sách lược rất khôn khéo và chưa từng có trong lịch sử thế giới. 


Ông Vũ Khoan cho rằng, nên đặt Hiệp định Paris trong dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc. Ông nêu một sự trùng hợp đáng chú ý, vào năm 1417, khi quân Minh sang đánh chiếm nước ta, Lê Lợi và Nguyễn Trãi cũng áp dụng chiến lược vừa đánh vừa đàm trong vòng 5 năm.


Cuối cùng, hai bên đã đi đến một thỏa thuận là Hội thề Đông Quan, buộc quân nhà Minh phải cam kết rút hết ngay về nước. Phía ta cũng cam kết tạo điều kiện quân Minh về nước. “Liên hệ với Hiệp định Paris-cũng kéo dài gần 5 năm với điều kiện buộc phía Mỹ phải rút hết quân về nước mới chiêm nghiệm được dòng chảy lịch sử của dân tộc”, ông Vũ Khoan đánh giá.


Một điểm nữa được ông Vũ Khoan nêu, sau khi ký Hiệp định Paris, Việt Nam tiếp tục có 2 năm đấu tranh ngoại giao đến khi giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, giai đoạn này ít được đề cập tới dù có rất nhiều bài học quý trong quãng thời gian này.


Nhận định ngày nay tình hình đất nước ta và thế giới đã thay đổi rất nhiều, ông Vũ Khoan cho rằng, những bài học cơ bản của Hiệp định Paris vẫn để lại nhiều điều quý giá để có thể vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh mới.

PBVN ST 

Đúng là hão huyền


Tết sắp về trong mỗi ngôi nhà Việt "mồng mộ tết mẹ tết cha, mồng hai tết họ, mồng ba tết thầy". Ai mà không nhớ tết, dù giàu hay nghèo, ai xa quê cũng nau náu trong lòng với những điều ước giản dị: "Tết đoàn viên".


Thế nhưng, với những kẻ phản động như Đoàn Thị Thùy Dương, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Hải Điếu cày, Cù Huy Hà Vũ và cả Bạch Hồng Quyền nữa..., giấc mơ Tết đoàn viên là giấc mơ xa xỉ và vạn kiếp mơ thôi!


Thật buồn cười là trốn cả cơ quan an ninh Na Uy nhưng vẫn có vẻ ta đây được về quê mẹ rồi đăng ảnh chụp ở sân bay Tân Sơn Nhất và khẳng định mình đang ở Việt Nam.


Đúng là đám "Tam côn xuyên diệp" có khác nhỉ! Chẳng có gì hơn ngoài lừa đảo xuyên tạc, bỉ bôi đất nước.


Thử về xem Dương ơi! 

30A ST