Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

 

XÂY DỰNG HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN

Hiện nay hệ giá trị văn hóa Việt Nam đang có những biến chuyển phức tạp trước sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng như những tác động khó lường của bối cảnh trong nước và quốc tế.

Việt Nam là đất nước ngàn năm văn hiến với một nền văn hóa có bề dầy truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) cho rằng những truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam là: “thương nước, thương nhà, thương người, thương mình”. Nghị quyết số 03-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) xác định: “Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2014) chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam với các đặc trưng: dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”.

Description: ☀️Dự báo về xu hướng vận động

Hiện nay hệ giá trị văn hóa Việt Nam đang có những biến chuyển phức tạp trước sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng như những tác động khó lường của bối cảnh trong nước và quốc tế. Từ việc tham khảo một số công trình nghiên cứu đi trước và nhận diện các yếu tố tác động liên quan, có thể đưa ra một số dự báo về xu hướng vận động của hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế như sau:

Xu hướng từ đề cao các giá trị tinh thần, đạo đức sang đề cao các giá trị vật chất, kinh tế. Đây là quá trình vận động của các giá trị gắn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đề cao chính đáng các giá trị vật chất và làm giàu hợp pháp.

Xu hướng coi trọng các giá trị tình cảm sang coi trọng giá trị pháp lý. Đây là kết quả tất yếu của sự chuyển đổi từ một xã hội tiểu nông sang xã hội công nghiệp, văn minh, hiện đại. Nền văn hóa Việt Nam xưa nay vốn là nền văn hóa trọng tình, “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình”. Trong bối cảnh mới hiện nay, các nguyên tắc trọng lý đang dần dần chiếm ưu thế trước lối sống trọng tình truyền thống.

Xu hướng dựa vào tập thể, đề cao cộng đồng chuyển sang khẳng định cái tôi, giá trị tài năng cá nhân. Một đặc trưng cơ bản của văn hóa truyền thống Việt Nam là tính cộng đồng làng xã tạo nên sự cố kết trong sản xuất nông nghiệp, chống thiên tai, địa họa. Nhưng xã hội hiện đại, dân chủ ngày nay đòi hỏi một nền văn hóa coi trọng các cá nhân có năng lực và bản lĩnh, tránh tình trạng cào bằng, dựa dẫm, ỷ lại tập thể, “cha chung không ai khóc”, “xấu đều hơn tốt lỏi”.

Xu hướng tôn trọng kinh nghiệm, trọng lão sang đề cao tri thức khoa học, trọng tài năng, thực lực. Truyền thống đề cao kinh nghiệm, trọng lão, “trọng xỉ” trong nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp đang chuyển biến mạnh sang coi trọng trí tuệ, kiến thức khoa học kỹ thuật, tiếp thu cái mới, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 hiện nay.

Xu hướng trọng tĩnh chuyển sang trọng động. Trọng tĩnh, ưa ổn định là một trong những đặc trưng nổi bật của văn hóa Việt Nam, đến nay để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập, đang chuyển mạnh sang trọng năng động, đổi mới và sáng tạo.

Xu hướng sống theo tôn ti, trật tự chuyển sang đòi hỏi cuộc sống dân chủ, bình đẳng. Từ một xã hội chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo đề cao tôn ti, thứ bậc, gia trưởng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xu hướng coi trọng các giá trị mới, tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, nhân quyền... ngày càng cởi mở.

Xu hướng chuyển từ thế giới quan hướng nội đến nỗ lực hướng ngoại. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, các giá trị hướng nội sẽ dần dần được bổ sung hoặc thay thế bằng các giá trị hướng ngoại.

Description: ☀️Một số quan điểm

Về quan điểm xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam hiện nay có nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng về cơ bản có thể quy về ba trường phái cho rằng: 1) Chỉ nên đúc kết và nhấn mạnh những giá trị văn hóa đã định hình và đang tồn tại trong thực tế. Việc xác định hệ giá trị văn hóa chính là chắt lọc, tìm ra đúng các giá trị tiêu biểu, cốt lõi, mang tính đại diện cho văn hóa Việt Nam hiện nay; 2) Đưa ra những giá trị kỳ vọng, giá trị định hướng mà nền văn hóa Việt Nam cần hướng tới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập; 3) Kết hợp giữa các giá trị đang tồn tại với các giá trị định hướng nhằm hướng tới sự phát triển bền vững và có tầm nhìn xa. Tác giả bài viết ủng hộ quan điểm thứ ba.

Về nguyên tắc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam hiện nay, qua tham khảo kinh nghiệm quốc tế và xuất phát từ thực tiễn Việt Nam có thể đưa ra một số lưu ý: Một là, nhìn chung, khó có thể bao quát hết toàn bộ các giá trị của một nền văn hóa, do vậy, việc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam chỉ nên dừng lại ở các giá trị mang tính cốt lõi, trọng điểm, tiêu biểu. Hai là, hệ giá trị mới cần kế thừa có chọn lọc các giá trị truyền thống đã được định hình lâu đời trong lịch sử Việt Nam. Trong bối cảnh đương đại, một số giá trị đã trở nên lỗi thời, bị lịch sử vượt qua, trở thành vật cản cho sự phát triển thì phải cương quyết sàng lọc, gạt bỏ. Ba là, tiếp thu, bổ sung những giá trị mới, tiến bộ của văn hóa nhân loại. Trong tương quan với các giá trị truyền thống, các giá trị ngoại sinh có thể đem tới những sức mạnh lớn lao. Đó thường là những giá trị văn minh, hiện đại mà chúng ta còn thiếu hoặc có ở mức thấp. Bốn là, bám sát các điều kiện thực tiễn của Việt Nam, gắn với trình độ phát triển của nền kinh tế, đặc điểm của thể chế chính trị, mặt bằng dân trí, nền tảng giáo dục, năng lực pháp luật và quan trọng nhất là những đặc thù về văn hóa. Năm là, cấu trúc của hệ giá trị cần cô đọng, súc tích, dễ nhớ, dễ thuộc. Kinh nghiệm của các nước cho thấy hệ giá trị thường chỉ có từ 4-5 giá trị, nếu dài hoặc khó hiểu quá, người dân sẽ khó tiếp thu, khó đi vào cuộc sống, chẳng hạn, Philippines đề xuất 9 giá trị, Thái Lan đề xuất 12 giá trị, đến nay đều không phát huy tác dụng. Các giá trị cũng không nên quá cao siêu, lý tưởng, mà phải gần gũi, thiết thực, khả thi với điều kiện sống hôm nay.

Description: ☀️Những giá trị cốt lõi

Trên cơ sở tổng kết, đúc rút kết quả nghiên cứu của một số công trình đi trước, tham khảo kinh nghiệm quốc tế đồng thời bám sát quan điểm, định hướng của Đảng, kế thừa có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với bổ sung các giá trị mới của thời đại, kiểm chứng và đo lường qua điều tra xã hội học, xin đề xuất hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với 4 giá trị cốt lõi là: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, tiến bộ. Có thể diễn giải về nội hàm và căn cứ lựa chọn các giá trị nêu trên như sau:

Thứ nhất, giá trị dân tộc thể hiện một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, toát lên truyền thống văn hiến Việt Nam. Đó cũng là nền văn hóa độc lập, tự chủ, có nội lực, không bị lấn át trước văn hóa ngoại lai. Nền văn hóa đó cũng có khả năng tiếp thu, “dân tộc hóa”, “Việt hóa” những ảnh hưởng tốt đẹp của văn hóa bên ngoài, làm giàu và nâng tầm cho văn hóa dân tộc. Tính dân tộc có thể được biểu hiện qua cả nội dung và hình thức của nền văn hóa.

Trên thực tế, dân tộc là giá trị nổi bật của văn hóa Việt Nam, từ đó tạo nên bản sắc, cốt cách, tinh hoa của văn hóa Việt Nam. Đây cũng là giá trị luôn được đề cao và nhất quán trong đường lối lãnh đạo văn hóa, văn nghệ của Đảng ta, từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI. Trong cơn lốc của toàn cầu hóa hiện nay, việc giữ gìn bản sắc dân tộc càng cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta “hòa nhập mà không hòa tan”. Đề cao giá trị dân tộc chính là đối trọng để giữ thế cân bằng, tạo sức đề kháng trước nguy cơ “xâm lăng văn hóa” cũng như vươn lên khẳng định văn hóa Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới.

Thứ hai, giá trị dân chủ là biểu hiện của một nền văn hóa của dân, do dân và vì dân. Người dân vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa, vừa là người sáng tạo vừa là người hưởng thụ văn hóa. Một nền văn hóa dân chủ góp phần đề cao quyền tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do sáng tạo văn hóa. Mọi công dân đều được bình đẳng và tôn trọng trong phát triển văn hóa, làm đối trọng chống lại tình trạng độc tôn quyền lực, lạm dụng quyền lực, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ cũng là giá trị tiến bộ của thời đại mà đa số các quốc gia văn minh đều hướng tới. Đây cũng là một trong những mục tiêu lớn mà Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu để “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Dân chủ cũng là một yêu cầu mà Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đã đề ra và là giá trị chúng ta còn khá yếu, cần tập trung xây dựng.

Thứ ba, giá trị nhân văn thể hiện ở nền văn hóa yêu thương con người, nhân ái, bao dung, lấy con người làm gốc. Nhân văn có nội hàm rộng hơn bác ái của phương Tây, còn có ý nghĩa tôn trọng nhân phẩm, đề cao nhân quyền, tôn trọng quyền con người.

Văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay là nền văn hóa trọng tình cảm, thương yêu con người, đề cao tình yêu thương đồng loại. Từ truyền thống “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” thời Nguyễn Trãi đến tinh thần nhân ái, vị tha “thương người như thể thương thân” ngày nay luôn thể hiện tính nhân văn sâu sắc của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay giá trị này đang bị đe dọa trước lối sống vị kỷ, vô cảm trong cơ chế kinh tế thị trường. Vì những mục tiêu vụ lợi người ta có thể xâm hại, chà đạp, vùi dập nhân phẩm của nhau. Do vậy, rất cần khôi phục và củng cố sự tử tế, lòng nhân ái, nghĩa tình vốn sẵn có trong văn hóa Việt Nam. Nhân văn cũng là một giá trị mà Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đề ra đối với văn hóa Việt Nam.

Thứ tư, giá trị tiến bộ thể hiện một nền văn hóa ngày càng phát triển theo chiều hướng đi lên, tốt hơn trước, phù hợp với xu thế thời đại và nhân loại. Tiến bộ đối lập với thụt lùi, trì trệ, bảo thủ, chậm tiến. Giá trị tiến bộ sẽ khắc phục những biểu hiện cổ hủ, lạc hậu, phản khoa học trong văn hóa.

Tựu trung, hệ giá trị văn hóa Việt Nam nêu trên đã cố gắng đảm bảo sự cân đối, hài hòa giữa các chiều kích: truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, ổn định và phát triển.

Việc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam là một công việc vô cùng khó khăn, tuy nhiên, khó hơn nữa là việc triển khai thực thi những giá trị đó trong đời sống thực tiễn. Còn rất nhiều công việc chúng ta phải làm để có thể xây dựng một nền văn hóa vừa giàu truyền thống lịch sử, mang đậm bản sắc dân tộc, vừa bắt kịp với bước tiến của nhân loại và mang hơi thở của thời đại.


 

Không thể tách rời kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 

Kết hợp kinh tế với quốc phòng là nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, vấn đề này đang chịu những tác động tiêu cực từ âm mưu, hoạt động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và từ chính nhận thức, hành động chưa đúng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; đòi hỏi phải có nhiều hình thức, biện pháp đấu tranh bác bỏ.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề có tính quy luật nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Nó nảy sinh từ mối quan hệ giữa kinh tế với chiến tranh, kinh tế với quốc phòng, giữa xây dựng và bảo vệ đất nước; là phương thức hiệu quả để vừa nâng cao tiềm lực kinh tế, vừa tăng cường tiềm lực quốc phòng của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, kết hợp kinh tế với quốc phòng còn là sự tiếp nối truyền thống, quy luật đặc thù của lịch sử dân tộc: dựng nước đi đôi với giữ nước; là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Và thực tiễn cũng cho thấy, những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được các cấp, ngành, lực lượng, địa phương thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách để phát triển nhanh, bền vững.

Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại những vấn đề tác động tiêu cực, cản trở quá trình kết hợp kinh tế với quốc phòng của đất nước. Trước hết là âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Nổi bật là sự xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kết hợp kinh tế với quốc phòng; kích động, cổ súy tư tưởng phát triển kinh tế bằng mọi giá; lợi dụng quá trình mở cửa, kêu gọi đầu tư nước ngoài của nước ta để tiếp cận những ngành, lĩnh vực, vị trí có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng; thông qua giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa, v.v. Cùng với đó, vẫn còn hiện tượng một số cán bộ nhận thức mơ hồ cả về lý luận và thực tiễn đối với quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng; một số địa phương buông lỏng quản lý, mất cảnh giác, kém hiệu quả trong việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, nhất là việc thẩm định, cấp phép cho các dự án tại các vùng chiến lược trọng điểm. Nguy hiểm hơn, có những cán bộ cố tình làm sai sự hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chức năng, thậm chí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng để thực hiện các dự án kinh tế nhằm phục vụ lợi ích nhóm, trục lợi cá nhân, v.v. Những nhận thức, hành động đó, dù cố tình hay vô ý đều đi ngược với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc; là lực cản đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cơ sở lý luận và thực tiễn

Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, kinh tế, quốc phòng, an ninh tồn tại khách quan trong đời sống xã hội và có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau; trong đó, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội tác động trở lại kinh tế. Vì thế, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trở thành vấn đề có tính quy luật chung của các quốc gia trên thế giới.

Nhìn vào tiến trình phát triển của các quốc gia trên thế giới chúng ta thấy, dù là nước lớn hay nước nhỏ, trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị có thể khác nhau, nhưng tất cả các quốc gia đều chăm lo thực hiện gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, kể cả những nước mà hằng trăm năm nay chưa có chiến tranh. Tất nhiên, sự kết hợp đó ở mỗi quốc gia sẽ có những khác biệt về mục đích, nội dung, phương thức, kết quả và ngay trong một nước, ở mỗi giai đoạn phát triển thì sự kết hợp cũng khác nhau. Điều này được thể hiện rõ nét khi hầu hết các nước phát triển đều quy định: chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại đều phải được thông qua hội đồng quốc phòng, an ninh quốc gia và phải đáp ứng các yêu cầu của chiến lược an ninh quốc gia. Các nước đều rất chú trọng xây dựng khung khổ pháp lý cho việc gắn phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ đối ngoại với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Nhiều quốc gia đặc biệt coi trọng những yêu cầu về quốc phòng, an ninh trong xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình đô thị, trụ sở, nơi làm việc của các cơ quan đầu não, các cơ sở sản xuất trọng yếu, then chốt; lồng ghép các hoạt động nghiên cứu phát triển cho cả mục đích dân sự, quân sự trong các cơ sở nghiên cứu phát triển của cả dân sự và quân sự; gắn đào tạo nhân lực cho nhu cầu quân sự, quốc phòng trong các nhà trường dân sự. Đặc biệt, các nước luôn coi trọng phát triển công nghiệp cả dân sự và quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, điển hình là Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc. Hiện nay, ở Nhật có hơn 1.500 xí nghiệp tham gia sản xuất trang bị quân sự, với khoảng 70.000 công nhân, chiếm khoảng 0,1% tổng số công nhân trên toàn quốc1. Tổ hợp công nghiệp quốc phòng ở Mỹ có khả năng chế tạo các sản phẩm đa dạng, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, từ trang bị vũ khí đến hàng tiêu dùng hoặc các dịch vụ có công dụng quân sự, như: vận tải, xăng dầu, thiết bị điện tử. Ở Nga, tổ hợp công nghiệp quốc phòng có khả năng vừa chế tạo vũ khí trang bị và các phương tiện quân sự, vừa tạo ra các sản phẩm công nghiệp dân dụng cao, chiếm tới 70% toàn bộ sản phẩm ngành công nghiệp. Điều đó khẳng định, kết hợp kinh tế với quốc phòng là yêu cầu, xu thế chung trên toàn thế giới.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, kể từ khi các Vua Hùng dựng nước đến nay, đất nước ta luôn luôn bị các thế lực ngoại bang nhòm ngó, xâm lăng. Nếu chỉ tính từ năm 214 trước Công nguyên đến năm 1945, trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dân tộc ta đã trải qua hơn 2.000 năm luôn phải tiến hành các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Trong điều kiện lịch sử như vậy, một trong những bài học quý báu mà tổ tiên ta đúc rút ra là dựng nước luôn gắn liền với giữ nước, với những tư tưởng: “thực túc, binh cường”, “quốc phú binh cường”,… chú trọng kết hợp xây dựng, phát triển kinh tế, chăm lo đời sống của nhân dân với xây dựng, củng cố quốc phòng, chuẩn bị nguồn lực động viên cho quốc phòng vững mạnh; thực hiện huy động vật lực của toàn dân, của cả nước để đánh giặc. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã ban hành và thực hiện một số chính sách lớn (có thế nói là quốc sách), như: “Ngụ binh ư nông”, “tĩnh vi nông, động vi binh”, v.v. Khi hòa bình là nông dân, khi có chiến tranh được huy động để bổ sung cho quân đội. Chính sách “Ngụ binh ư nông” là một cơ chế hoàn thiện về mặt động viên và sử dụng nhân lực trong việc xây dựng lực lượng vũ trang phòng giữ đất nước, xây dựng tiềm lực quốc phòng mạnh trên cơ sở phát triển kinh tế với củng cố lực lượng quân sự. Với việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, nhất là chính sách “Ngụ binh ư nông”, các triều đại phong kiến Việt Nam đã xây dựng được nguồn nhân lực động viên từ thời bình phù hợp với khả năng của đất nước, để khi có chiến tranh, huy động kịp thời nhằm bảo vệ Tổ quốc. Điều đó khẳng định rằng, tuy còn sơ khai, song việc kết hợp kinh tế với quốc phòng đã được cha ông ta quan tâm thực hiện từ rất sớm; là phương thức cốt yếu để vừa bảo đảm đời sống ấm no cho nhân dân, vừa giữ cho đất nước hòa bình, ổn định và phát triển.

Quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh là quan điểm xuyên suốt, chủ trương nhất quán của Đảng, được bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện thực tế qua các kỳ đại hội. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”2. Thực hiện chủ trương mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường quốc phòng, an ninh, những năm qua, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trên phạm vi cả nước đã được thực hiện ngày càng toàn diện, chặt chẽ, đồng bộ, trách nhiệm và hiệu quả hơn. Điều đó được thể hiện ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch vùng, lãnh thổ, các ngành, lĩnh vực; các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn; trong từng công trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,... đều gắn với quy hoạch tổng thể xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ. Các địa phương, nhất là ở địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã coi trọng quy hoạch phân bố dân cư, phát triển lực lượng dân phòng cùng các tổ, đội liên kết của ngư dân,... bảo đảm mục tiêu vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc địa bàn biên giới, biển, đảo. Các đơn vị Quân đội vừa bảo đảm huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn đóng quân, v.v. Các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, bên cạnh việc sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu quốc phòng còn tận dụng tiềm năng, thế mạnh tham gia sản xuất các mặt hàng phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội. Điển hình như những doanh nghiệp trong lĩnh vực đóng và sửa chữa tàu, cơ khí, hóa chất, điện - điện tử, quang học với nhiều sản phẩm uy tín, có thương hiệu và hội nhập sâu rộng vào thị trường trong nước, khu vực và thế giới. Tổng Công ty Sông Thu, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Nhà máy Z189 đã đóng được nhiều loại tàu, xuồng hiện đại phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ. Nhiều nhà máy đã bứt phá mạnh mẽ với các sản phẩm quốc phòng mũi nhọn và sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường. Trong đó, Nhà máy Z176 đã và đang là “lá cờ đầu” trong việc sản xuất sản phẩm kinh tế xuất khẩu (hiện xuất khẩu chiếm hơn 80% tổng doanh thu), v.v. Những kết quả từ sự kết hợp đó đã góp phần trực tiếp tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước nhanh, bền vững.

Đó là những cơ sở để khẳng định tính tất yếu, khách quan phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng trong mọi giai đoạn phát triển, nhằm mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đó cũng là những minh chứng sống động bác bỏ những nhận thức và hành động đòi tách rời kinh tế với quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

TS. NGUYỄN ĐỨC LONG, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
_______________

1 - http://tapchi.vdi.org.vn/article/2889/chien-luoc-phat-trien-cong-nghiep-quoc-phong-nhat-ban.

2 - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 68.

Trong Đảng Cộng sản Việt Nam không có “thanh trừng nội bộ”

 Những nhận định không khách quan không chỉ xuyên tạc công tác cán bộ, cuộc đấu tranh chống tham nhũng gắn liền với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam mà còn gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong xã hội. Vì thế, bác bỏ những luận điệu phản động này là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết.

Những ngày vừa qua, mạng xã hội có khá nhiều những bài viết suy diễn và xuyên tạc bản chất vấn đề Phó Thủ tướng thường trực Phạm Bình Minh thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII và Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam thôi chức Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII theo kết quả biểu quyết tại phiên họp bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ngày 30/12/2022 và việc Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm 2 Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2021- 2026 (Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam) vào chiều 5/1/2023 theo “nguyện vọng cá nhân” của các đồng chí đó là “sự thanh trừng nội bộ”, là sự “tranh giành phe cánh” trước kỳ họp lấy phiếu tín nhiệm giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Những nhận định không khách quan này không chỉ xuyên tạc công tác cán bộ, cuộc đấu tranh chống tham nhũng gắn liền với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam mà còn gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong xã hội. Vì thế, bác bỏ những luận điệu phản động này là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết.

Có một sự thật cần phải khẳng định là, trong Đảng Cộng sản Việt Nam không có chuyện thanh trừng nội bộ, không có đấu đá nội bộ hay trành giành phe cánh để vào “Bộ Chính trị” hay “ngôi tứ trụ” khi Đảng cho “thôi chức” hay Quốc hội “miễn nhiệm” một cán bộ, đảng viên nào đó tùy theo nguyện vọng cá nhân hay khả năng đảm nhiệm công việc được giao phó (trừ việc bị kỷ luật, vi phạm pháp luật buộc phải tuân thủ). 

THÔI CHỨC, MIỄN NHIỆM LÀ MỘT ĐIỂM MỚI CỦA CÔNG TÁC CÁN BỘ 

Năm 2022 là năm lần đầu tiên tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương đã cho thôi tham gia Ban Chấp hành đối với 3 Ủy viên Ban chấp hành Trung ương đương nhiệm (do bị kỷ luật, cảnh cáo, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút); cũng là năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng biểu quyết, thống nhất để ông Phạm Bình Minh thôi giữ chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII và ông Vũ Đức Đam thôi giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII tại kỳ họp bất thường ngày 30/12/2022 mà không cần chờ hết nhiệm kỳ hay thời hạn bổ nhiệm.

Nhắc lại các sự kiện này để thấy rằng, năm 2022 là một năm công tác cán bộ có nhiều biến động trong bối cảnh cả nước triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và đây cũng là năm công tác cán bộ đã đổi mới, ngày càng phù hợp hơn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hơn. Thực tế, việc “cho thôi”, “miễn nhiệm” này là một trong những dấu ấn nổi bật, có tính đột phá khi đánh giá, xem xét cán bộ, phù hợp việc triển khai gắn thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" với Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", nhất là theo đúng tinh thần Thông báo kết luận số 20-TB/TW ngày 8/9/2022 của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật và Thông báo kết luận số 20-TB/TW ngày 8/9/2022 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới...

Theo Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thì việc cho “thôi chức” đối với các cán bộ cấp cao như đã nêu trên là bước tiến rất lớn, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” trong công tác cán bộ được triển khai sâu rộng, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình xây kết hợp với chống, vừa xây vừa chống nhuần nhuyễn để làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; đồng thời để “từ chức” và “văn hóa từ chức” khi đã có những hạn chế, khuyết điểm hay khi thấy năng lực công tác của mình không còn phù hợp với vị trí công tác được đảm nhiệm… dần trở thành một lựa chọn bình thường trong sự nghiệp của một con người.

Cùng với đó, việc “miễn nhiệm” 2 Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam “theo nguyện vọng của cá nhân” cũng không chỉ là sự thay đổi, phù hợp mà còn là minh chứng thể hiện tính nhân văn trong công tác cán bộ của Đảng, chứ tuyệt đối không phải là “sự thanh trừng nội bộ” và càng không phải việc “thôi chức”, “miễn nhiệm” này là “kết quả một vụ tranh chấp phe nhóm trong nội bộ”.

ĐẨY MẠNH CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ LÀM TRONG SẠCH ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Thực tế cũng cho thấy rằng, năm 2022 là năm có nhiều vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử, đang điều tra để xét xử và đi liền cùng đó là những cái tên như  Chu Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Long, Phạm Xuân Thăng, Tô Anh Dũng, Trịnh Văn Quyết, Đỗ Anh Dũng, Trương Mỹ Lan, Nguyễn Thị Thanh Nhàn… vì liên quan đến vụ án Công ty Việt Á; vụ án “chuyến bay giải cứu”; vụ án thao túng giá chứng khoán; vụ án liên quan Tân Hoàng Minh; vụ án liên quan Vạn Thịnh Phát; vụ án Công ty Cổ phần tiến bộ quốc tế (AIC)… Sự thật này cũng cho thấy việc trong Đảng có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa vào tham ô, tham nhũng, tiêu cực ở những cấp độ khác nhau đã, đang và sẽ tiếp tục phải chịu sự trừng phạt của pháp luật không chỉ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, mà còn gây bức xúc trong nhân dân là không thể phủ nhận.

Và cũng vì thế, việc các phần tử phản động, cơ hội, chống đối theo đuôi các thế lực thù địch thường vin cớ/dựa vào việc có “những cành cây sâu mọt làm ảnh hưởng đến cả một rừng cây” để bẻ cong sự thật, xuyên tạc khi có cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị không chú trọng việc rèn mình, bị sa ngã trước cám dỗ vật chất liên quan đến các vu án tham nhũng cũng là sự thật. Một trong những luận điệu mà các phần tử này ưa dùng và bịa đặt chính là suy diễn, cắt cúp theo chủ ý cá nhân về các vụ án tham nhũng để phủ nhận nỗ lực, phủ nhận kết quả đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đấu tranh chống tham nhũng để chụp mũ rằng “chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là những khẩu hiệu rỗng tuếch” và “đốt lò chỉ là là chiêu bài để triệt hạ lẫn nhau”… Từ ngày được thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một khối thống nhất trong nhận thức, ý chí và hành động, nên ở đó không có sự “triệt hạ lẫn nhau”, cũng không có “sự thanh trừng nội bộ”, mà luôn là mọi cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên đều phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, tuân thủ Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, Hiến pháp, pháp luật để hoàn thành nhiệm vụ của mình. 

Phòng và đấu tranh chống tham nhũng trong cả hệ thống chính trị ở Việt Nam là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Đấu tranh chống tham nhũng không phải là công việc một sớm, một chiều; cũng không phải chỉ là hình thức, là “chiêu trò” do phụ thuộc vào tình trạng “đấu đá tranh giành chức quyền” giữa các phe nhóm chính trị, nhóm lợi ích trong Đảng Cộng sản Việt Nam như luận điệu của các thế lực thù địch. Và vì thế, việc tự biên, tự diễn để bịa đặt rằng chống tham nhũng ở Việt Nam “là cho cuộc thanh trừng phe phái, mạnh được yếu thua”, là “phe thân Tàu đang thắng phe thân Mỹ”… đang “gây mất đoàn kết, làm cho bộ máy cầm quyền cộng sản càng trở nên suy yếu đi đến bất lực” chỉ là bịa đặt thiển cận, không có căn cứ. Thực tế, quyết tâm chống tham nhũng quyết liệt trên tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, dù đang công tác hay đã nghỉ chế độ và kết quả của cuộc đấu tranh này đã góp phần cảnh tỉnh, răn đe những người muốn lợi dụng/lạm dụng quyền lực để tham nhũng. Thực tế, tham nhũng đã từng bước được ngăn chặn, kiểm soát, chứ không phải tham nhũng “càng chống càng tăng về quy mô, tính chất” và biểu hiện của nó ngày càng “hung hãn, kịch liệt, tinh vi” như các thế lực thù địch xuyên tạc. Chính việc thực thi nghiêm khắc, triệt để Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã góp phần phát hiện sớm những biểu hiện tiêu cực, những hành vi vụ lợi từ những cán bộ, đảng viên, những người đã suy thoái để kịp thời đưa ra khỏi Đảng, làm trong sạch tổ chức và xử lý theo pháp luật.

THAM NHŨNG KHÔNG PHẢI DO ĐẢNG ĐỘC QUYỀN LÃNH ĐẠO

Bất cứ một người nào am hiểu về chính trị thì đều biết rằng tham nhũng là vấn nạn của tất cả các quốc gia, dù quốc gia đó theo “chủ nghĩa tư bản” hay “chủ nghĩa xã hội”. Từ rất sớm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi tham nhũng là “kẻ địch nội xâm” và cũng như các quốc gia khác, Việt Nam nhận thức rất rõ sự nguy hại và những hệ lụy khôn lường của tham nhũng, nên đặc biệt chú trọng phòng và chống tham nhũng. Vì tham nhũng là kẻ địch, làm hủy hoại niềm tin của nhân dân vào các cơ quan công quyền, nên đương nhiên nó sẽ không được “dung túng” và phải quyết liệt phòng, chống không ngừng, không nghỉ để từng bước ngăn chặn, đẩy lùi.

Những năm gần đây, cuộc đấu tranh chống tham nhũng ngày càng đạt được những kết quả khả quan. Số lượng các vụ án tham nhũng và đi liền cùng đó là các tổ chức, cá nhân tham ô, tham nhũng đã, đang và sẽ được xử lý nghiêm minh theo pháp luật là minh chứng rõ nhất để trả lời, để phủ nhận những luận điệu phản động như: Đảng Cộng sản không thể chống được tham nhũng; chế độ độc Đảng có muốn chống tham nhũng thật không? hay “trong chế độ độc tài cộng sản thì chống tham nhũng chỉ là hình thức” và “phe thắng cuộc xem đất nước như là chiến lợi phẩm để ban phát bổng lộc cho nhau vì họ đang độc quyền và chiến thắng” của các thế lực thù địch.

Không có cơ sở lý luận và thực tiễn nào để cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam, hệ thống chính trị ở Việt Nam là “mục ruỗng”, “bị vô hiệu hóa”; cán bộ, đảng viên nào cũng tham ô, tham nhũng, “các cơ quan thuộc về lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng chỉ là một do Đảng lãnh đạo và phục vụ quyền lợi của Đảng”. Thực chất, đó là các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau hoạt động theo đúng khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: Ở Việt Nam “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Thực tế, không bao giờ do Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo nên mới có tham ô, tham nhũng và sự thật là đại đa số cán bộ, đảng viên của Đảng đều luôn nỗ lực tu dưỡng về đạo đức cách mạng và phấn đấu để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, cũng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật… Song cũng không thể chỉ vì một bộ phận "sâu mọt” mà bôi đen tất cả cán bộ, đảng viên của Đảng; lại càng không thể chụp mũ rằng chống tham nhũng ở Việt Nam là “một trò hề chính trị” như một số trang mạng xấu, độc rêu rao. Đặc biệt, kiểu la làng là: “trong 18 ông bà ủy viên Bộ Chính trị khóa 13 của đảng CSVN hiện nay, người nào không tham nhũng, không lợi dụng chức quyền để trục lợi?” và “vô số vụ tham nhũng lớn khác” vẫn được Đảng “bao che cho nhau, thỏa hiệp với nhau để duy trì ách thống trị trên đầu trên cổ gần một trăm triệu dân” nên chỉ “càng làm tăng thêm tham nhũng” của các đối tượng nhân danh dân chủ, đấu tranh cho dân chủ chính là sự bịa đặt, chụp mũ, vu khống nhằm bôi đen chế độ.

Mục đích của sự bịa đặt, xuyên tạc, thậm chí vu khống này chính là nhằm xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; là đòi không coi chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng; là đòi thay đổi Điều 331 và Điều 117, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)… Những nhận định mang tính suy diễn, quy chụp, bôi đen sự thật; đặc biệt việc mượn sự kiện liên quan đến công tác cán bộ nêu trên để tung những thông tin xấu độc, những nhận định mang tính suy diễn, xuyên tạc, “chung quy lại là ở thể chế độc tài" là lối diễn ngôn có tính kích động, gây tâm lý bất an trong xã hội; là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm vu khống, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Cần phải khẳng định chắc chắn rằng: Việc cho “thôi chức” và “miễn nhiệm” cán bộ; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng gắn liền với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo chắc chắn không phải là “việc đấu đá, tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm”. Những kết quả đạt được dù tiếp cận ở chiều cạnh nào cũng cho thấy tham nhũng không chỉ từng bước được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe đến tất cả mọi người, mọi cán bộ, đảng viên của Đảng. Và cũng vì thế, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng; chủ động đấu tranh và bảo vệ, bác bỏ sự vu khống cho rằng công tác cán bộ của Đảng và đấu tranh chống tham nhũng là “cuộc thanh trừng nội bộ” của các thế lực thù địch, để đón chào Xuân Quý Mão 2023 và vững tin trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng là bản lĩnh, là trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam yêu nước nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng!.

TS. Văn Thị Thanh Mai - TS. Đinh Quang Thành

Củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ

 Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là mối quan hệ gắn bó thống nhất vì mục tiêu, lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tầm quan trọng của mối quan hệ này đã được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII khi đề ra các giải pháp về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.

YÊU CẦU CẦN PHẢI TIẾP TỤC CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ VÀ NHÂN DÂN LÀM CHỦ

Đảng - Nhà nước - Nhân dân là ba thành tố có quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau; trong đó, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo; Nhà nước đại diện cao nhất của quốc thể thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại; Nhân dân làm chủ trong thực hiện đường lối lãnh đạo, bầu cử lập ra hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước và thụ hưởng thành quả lãnh đạo. Cần phải củng cố, tăng cường, củng cố mối quan hệ này xuất phát từ những khía cạnh sau:

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta chưa thật sự chú trọng đến mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố Đảng - Nhà nước và Nhân dân. Từ khi đổi mới đến nay, nhận thức về mối quan hệ này ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn. Với nhận thức về vị trí, vai trò của mối quan hệ này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vững và ngày càng phát huy là nhân tố định hướng sự tồn tại và phát triển của ba thành tố: Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Theo Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc mới về chất so với trước đây “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được pháp luật quy định. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý và Nhân dân là chủ.

Thứ hai, xuất phát từ những hạn chế, bất cập trong quá trình hiện thực hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý.  Nhân dân làm chủ thời gian qua. Mặc dù mối quan hệ này ngày càng được hoàn thiện, củng cố cả về lý luận và thực tiễn nhưng vẫn có tình trạng nhấn mạnh một chiều vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao tính tất yếu coi Nhân dân làm chủ như là hệ quả, là kết quả đương nhiên của sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, nhưng vai trò“đồng thời là bộ phận của hệ thống chính trị ấy”chưa thấy rõ, dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước chưa thực sự trở thành “công bộc” của Nhân dân, mà có nơi, có lúc dường như trở thành“ông chủ”của Nhân dân; tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng ở một số nơi còn rất hình thức. Quyền lực chính trị của Đảng rất lớn nhưng cả trong Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước không quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của tổ chức đảng và cá nhân đứng đầu tổ chức đảng nên dường như trong một số trường hợp chưa thực sự kiểm soát được quyền lực của người đứng đầu cấp ủy các cấp trên thực tế. Vì thế, không ít cá nhân giữ trọng trách của Đảng và Nhà nước ở các cấp có điều kiện thao túng quyền lực, độc đoán, chuyên quyền, hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo.

Thứ ba, trong thời gian qua, một trong những vấn đề bị các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc, chống phá là mô hình và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

Để thực hiện các mưu đồ chống phá, các phần tử cơ hội chính trị còn ráo riết đưa người ứng cử tự do vào Quốc hội và hội đồng Nhân dân các cấp. Khi các vòng hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc chủ trì loại chúng ra khỏi danh sách ứng cử (vì không đủ tiêu chuẩn và không được tín nhiệm), thì chúng yêu cầu “phải xóa bỏ cơ chế hiệp thương”. Chúng đòi hỏi phải xây dựng “xã hội dân sự”, để các tổ chức quần chúng hoạt động độc lập, như là lực lượng đối trọng, đối lập với đảng cầm quyền, để kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước, để xây dựng cơ sở xã hội cho các đảng đối lập ở Việt Nam.

Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ ở Việt Nam trong thời gian tới.

NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN TRIỂN KHAI

Ngày nay, bối cảnh tác động đến mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ đã có sự thay đổi căn bản. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng đã có bước phát triển nhất định, bộc lộ đầy đủ các quy luật vận động của nó. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo những nguyên tắc mới, chủ quyền Nhân dân, phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước được đề cao. Dân trí và dân chủ của đông đảo các tầng lớp Nhân dân được nâng lên một trình độ mới. Hội nhập quốc tế sâu rộng không chỉ về kinh tế mà còn trên tất cả các mặt văn hóa, khoa học, công nghệ,... Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi tư duy và lối sống của con người. Bối cảnh đó, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức và cách thức giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

Trong nội dung bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”(1). Sau chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư, tại Nghị quyết số 28-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”, Đảng ta cũng nhấn mạnh đến việc củng cố, tăng cường mối quan hệ này và xem đây là một trong những giải pháp quan trọng. Nghị quyết nêu rõ cần phải: “Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, vận hành thông suốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.

Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, của Tổng Bí thư, để củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.  Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới theo định hướng tạo lập điều kiện và môi trường thuận lợi hơn để các thiết chế của bộ máy nhà nước năng động, sáng tạo, làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không dựa dẫm, ỷ lại. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm soát quyền lực nhà nước để kịp thời phòng, chống sự thao túng quyền lực của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể của Nhân dân theo định hướng phát huy mạnh mẽ hơn nữa quyền làm chủ của Nhân dân; dân chủ phải thực sự trở thành động lực của sự phát triển trong điều kiện mới.

Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân thực sự là một Nhà nước dân chủ, pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Tiếp tục nâng cao nhận thức, thực hiện đúng đắn nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước nhằm xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trước hết là kiểm soát được xã hội và sau nữa là kiểm soát được bản thân mình. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, ủy quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền các cấp ở địa phương theo Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết của Đảng. Xây dựng một Quốc hội mạnh và thực quyền về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; một Chính phủ năng động, sáng tạo, quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả; một nền tư pháp vì công lý, vì quyền con người, quyền công dân.

Kiểm soát quyền lãnh đạo của Đảng và quyền lực nhà nước là nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN. Theo đó, quyền lãnh đạo của Đảng cũng như quyền lực nhà nước được Nhân dân ủy quyền, Nhân dân giao quyền là có giới hạn mà không phải vô hạn. Giới hạn đó là Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2). Do đó, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các tổ chức Đảng, các cơ quan nhà nước và giữa các tổ chức của hệ thống chính trị. Thể chế hóa vai trò của Nhân dân kiểm tra, giám sát các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ thật sự của Nhân dân. Để dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải thực sự dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mình và đặc biệt phải tiếp tục tạo lập môi trường và điều kiện để Nhân dân thực sự làm chủ trên thực tế. Trong mọi hoạt động, Đảng và Nhà nước luôn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ XHCN, quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(2). Đặc biệt, các cơ quan nhà nước cần phải “đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước” (3). Đảng và Nhà nước phải thực sự tạo điều kiện và môi trường để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật cởi mở, thân thiện, dễ dàng trong việc thực hiện các quyền dân chủ cơ bản của công dân. Trong đó, sớm xây dựng và hoàn thiện các đạo luật về các quyền làm chủ trực tiếp của công dân, như Luật Bầu cử, Luật về Hội, Luật về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, Luật Giám sát và phản biện xã hội... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội nâng cao nhận thức, thực hiện mạnh mẽ, thực chất chức năng giám sát và phản biện xã hội, coi đó là phương tiện của những tổ chức đại diện Nhân dân kiểm soát trước và sau đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đảng và Nhà nước thực sự coi đó là phương thức khắc phục những khiếm khuyết trong hoạt động của hệ thống chính trị nhất nguyên, bảo đảm tính hiệu quả, thiết thực trong việc mở rộng dân chủ, đi đôi với giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa để Nhân dân thực sự là chủ nhân của đất nước. Lợi ích, sức mạnh của đất nước đồng nhất với lợi ích, sức mạnh của Nhân dân. Sứ mệnh, vai trò của Đảng, Nhà nước là bảo vệ và phục vụ Nhân dân. Quyền lực của Đảng, Nhà nước là do Nhân dân ủy thác. Đảng viên và cán bộ, công chức, viên chức là con em của Nhân dân, được Nhân dân nuôi dưỡng phải thực sự là “công bộc”, “đầy tớ” trung thành của Nhân dân.

Bốn là, tích cực, chủ động, nhạy bén nhận diện những thủ đoạn mới và kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu,... chống phá thành quả cách mạng cùng những quan điểm “tư bản hóa” Việt Nam, chia rẽ Đảng với Nhân dân, xuyên tạc, phá hoại quan hệ: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đồng thời củng cố, phát triển thực chất mối quan hệ này để làm căn cứ thực tiễn xác đáng, giàu tính thuyết phục đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Box: Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ chính là sự thể hiện rõ nhất tính đặc sắc, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta đang xây dựng. Đó là sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và toàn xã hội; là sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở thể chế hóa những chủ trương của Đảng và vai trò làm chủ của Nhân dân. Do đó, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ chính là giải pháp cần thiết để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ thực sự của Nhân dân.

Hà Thị Bích Thủy

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

(1) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2022.

(2) (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, , Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.50, 51.

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2023

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG, GỪNG CÀNG GIÀ CÀNG CAY!

     Trong mấy ngày gần đây, sau khi Quốc hội miễn nhiệm chức danh Chủ tịch nước của ông Nguyễn Xuân Phúc thể theo nguyện vọng nghỉ hưu của ông. Nhiều người đưa ra rất nhiều chủ thuyết âm mưu và không quên xiên xỏ kiểu "ông Nguyễn Xuân Phúc 68 tuổi xin nghỉ hưu, ông Nguyễn Phú Trọng 78 tuổi vẫn làm thêm khoá nữa...". Xin có đôi lời như sau:

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người có uy tín rất cao trong Đảng, trong nhân dân. Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà người đứng đầu là Ông Nguyễn Phú Trọng, đất nước ta phát triển mạnh mẽ. Trong thì xây dựng và chỉnh đốn Đảng; thiêu đốt tham quan ô lại, tin dùng người có đức, có tài. Ngoài thì mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới. Việt Nam vừa làm tốt công tác phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm quốc phòng - an ninh. Trong một thập kỷ qua, đất nước ta nổi lên như một điểm sáng của châu Á và thế giới về sự ổn định và phát triển. Có được điều đó là nhờ nỗ lực của toàn dân, toàn Đảng; thế nhưng với cương vị là người đứng đầu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã để lại trong lòng dân sự tin tưởng, sự yêu quý. Đúng như ông nói: “đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, vị thế, uy tín như hôm nay!”. Nếu sức khỏe cho phép, bác Trọng luôn được nhân dân tuyệt đối ủng hộ để “gánh vác sơn hà” lâu hơn nữa, dài hơn nữa. Đó là hồng phúc của nhân dân Việt Nam khi có người có tâm, tầm cầm trịch, dẫn dắt.

Hãy nhìn sang các nước trên thế giới, Mahathir Mohamad của Malaysia, đắc cử Thủ tướng khi đã 93 tuổi và hiện nay vẫn đang hoạt động chính trị. Bà Pesoli vẫn là Chủ tịch Hạ viện Mỹ khi đã 81 tuổi, Tổng Thống Biden cũng ngấp nghé 82 tuổi…những con người đó được nhiều người trong giới “hoạt động dân chủ” ca ngợi là già nhưng dẻo dai, già nhưng tâm huyết với non sông đất nước. Trong khi đó ở Việt Nam, họ cho rằng “già mà tham quyền, cố vị, không nhường cho lớp trẻ”…Đúng là tiêu chuẩn kép! Quy ngược về lịch sử Hoa Kỳ, khi các đại biểu tham dự Hội nghị Hiến pháp Mỹ năm 1787, họ cân nhắc vấn đề về độ tuổi của Tổng thống, mối quan tâm lớn không phải là việc người giữ chức vụ quá cao tuổi mà là quá trẻ - quan điểm chính trị của những người trẻ là quá thô và non, có thể ảnh hưởng đến các quyết sách. Do đó, Điều II Hiến pháp Hoa Kỳ quy định độ tuổi tối thiểu của Tổng thống là 35, nhưng không quy định tuổi tối đa. Miễn là có sức khỏe, uy tín thì có thể làm Tổng thống Mỹ. Vậy không lý người Mỹ lại là chúa của tham quyền cố vị, không chịu hưởng an nhàn của tuổi già mà Biden và ví dụ điển hình?

Trong lịch sử của dân tộc ta, không ít những vị làm rạng rỡ non sông khi tuổi cao. Lý Thường Kiệt khi đã hơn 80 tuổi, ông còn cầm quân đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (1103). Năm 1104, khi đã 85 tuổi, vua Chiêm Thành là Chế Ma Na (Jaya Indravarman 2, 1086-1113) đem quân xâm phạm Đại Việt... Lý Thường Kiệt một lần nữa kéo quân đi đánh, phá tan quân Chiêm, Chế Ma Na thua to phải cầu hòa. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ra giúp vua Quang Trung (1791), khi đã 78 tuổi, được Vua Quang Trung xem như thầy. Cụ Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước ta, sau khi Bác Hồ về với thế giới của người hiền, lúc đó cũng 80 tuổi. Vậy nên nếu bác Trọng (78 tuổi), tiếp tục gánh vác trọng trách do Đảng và nhân dân giao phó, đó cũng là chuyện thường tình! Với lại, uy tín của Ông Nguyễn Phú Trọng là rất cao, không những người Việt Nam mà ngay cả bạn bè quốc tế cũng đánh giá rất cao về tâm, tầm của người đứng đầu Đảng cộng sản Việt Nam. 

Cổ nhân dạy: "Thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ”: 70 tuổi sẽ đạt đến tình trạng hoàn hảo về cách xử thế ở đời, nói hay làm điều gì cũng thể hiện đúng với chủ tâm của lòng mình, muốn sao được vậy và không bao giờ vượt ra khỏi khuôn khổ (bất du củ = không vượt ra ngoài quy tắc). Đảng có điều lệ và nguyên tắc của mình. Vậy nên không một ai được phép vượt qua những quy tắc đã định. Không hề có vùng cấm, không hề có bất kỳ ai đứng cao hơn pháp luật và Điều lệ Đảng. Quyết tâm chính trị của Đảng mà người đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là rất lớn lao, hừng hực khí thế, bạt núi lấp sông để gạn đục khơi trong, củng cố niềm tin yêu của nhân dân vào Đảng lãnh đạo. Cầu mong cụ Tổng Bí thư luôn khoẻ và để gánh giang sơn muôn dặm./.
Yêu nước ST.