XÂY
DỰNG HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN
Hiện
nay hệ giá trị văn hóa Việt Nam đang có những biến chuyển phức tạp trước sự
thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng
như những tác động khó lường của bối cảnh trong nước và quốc tế.
Việt
Nam là đất nước ngàn năm văn hiến với một nền văn hóa có bề dầy truyền thống
mang đậm bản sắc dân tộc. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) cho rằng
những truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam là: “thương nước, thương nhà,
thương người, thương mình”. Nghị quyết số 03-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5
khóa VIII (năm 1998) xác định: “Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam”. Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm
2014) chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam với các đặc trưng: dân tộc, nhân
văn, dân chủ và khoa học”.
Dự báo về xu hướng vận động
Hiện
nay hệ giá trị văn hóa Việt Nam đang có những biến chuyển phức tạp trước sự
thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng
như những tác động khó lường của bối cảnh trong nước và quốc tế. Từ việc tham
khảo một số công trình nghiên cứu đi trước và nhận diện các yếu tố tác động
liên quan, có thể đưa ra một số dự báo về xu hướng vận động của hệ giá trị văn
hóa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
như sau:
Xu
hướng từ đề cao các giá trị tinh thần, đạo đức sang đề cao các giá trị vật
chất, kinh tế. Đây là quá trình vận động của các giá trị gắn với nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đề cao chính đáng các giá trị vật chất
và làm giàu hợp pháp.
Xu
hướng coi trọng các giá trị tình cảm sang coi trọng giá trị pháp lý. Đây là kết
quả tất yếu của sự chuyển đổi từ một xã hội tiểu nông sang xã hội công nghiệp,
văn minh, hiện đại. Nền văn hóa Việt Nam xưa nay vốn là nền văn hóa trọng tình,
“một trăm cái lý không bằng một tý cái tình”. Trong bối cảnh mới hiện nay, các
nguyên tắc trọng lý đang dần dần chiếm ưu thế trước lối sống trọng tình truyền
thống.
Xu
hướng dựa vào tập thể, đề cao cộng đồng chuyển sang khẳng định cái tôi, giá trị
tài năng cá nhân. Một đặc trưng cơ bản của văn hóa truyền thống Việt Nam là
tính cộng đồng làng xã tạo nên sự cố kết trong sản xuất nông nghiệp, chống
thiên tai, địa họa. Nhưng xã hội hiện đại, dân chủ ngày nay đòi hỏi một nền văn
hóa coi trọng các cá nhân có năng lực và bản lĩnh, tránh tình trạng cào bằng,
dựa dẫm, ỷ lại tập thể, “cha chung không ai khóc”, “xấu đều hơn tốt lỏi”.
Xu
hướng tôn trọng kinh nghiệm, trọng lão sang đề cao tri thức khoa học, trọng tài
năng, thực lực. Truyền thống đề cao kinh nghiệm, trọng lão, “trọng xỉ” trong
nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp đang chuyển biến mạnh sang coi trọng trí
tuệ, kiến thức khoa học kỹ thuật, tiếp thu cái mới, đáp ứng yêu cầu của nền
kinh tế tri thức, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 hiện nay.
Xu
hướng trọng tĩnh chuyển sang trọng động. Trọng tĩnh, ưa ổn định là một trong
những đặc trưng nổi bật của văn hóa Việt Nam, đến nay để đáp ứng yêu cầu phát
triển và hội nhập, đang chuyển mạnh sang trọng năng động, đổi mới và sáng tạo.
Xu
hướng sống theo tôn ti, trật tự chuyển sang đòi hỏi cuộc sống dân chủ, bình
đẳng. Từ một xã hội chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo đề cao tôn ti, thứ bậc,
gia trưởng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xu hướng coi trọng các giá trị
mới, tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, nhân quyền... ngày
càng cởi mở.
Xu
hướng chuyển từ thế giới quan hướng nội đến nỗ lực hướng ngoại. Trong bối cảnh
hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, các giá trị hướng nội sẽ dần dần được bổ
sung hoặc thay thế bằng các giá trị hướng ngoại.
Một số quan điểm
Về
quan điểm xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam hiện nay có nhiều luồng ý kiến
khác nhau, nhưng về cơ bản có thể quy về ba trường phái cho rằng: 1) Chỉ nên
đúc kết và nhấn mạnh những giá trị văn hóa đã định hình và đang tồn tại trong
thực tế. Việc xác định hệ giá trị văn hóa chính là chắt lọc, tìm ra đúng các
giá trị tiêu biểu, cốt lõi, mang tính đại diện cho văn hóa Việt Nam hiện nay;
2) Đưa ra những giá trị kỳ vọng, giá trị định hướng mà nền văn hóa Việt Nam cần
hướng tới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập; 3) Kết hợp giữa các giá
trị đang tồn tại với các giá trị định hướng nhằm hướng tới sự phát triển bền
vững và có tầm nhìn xa. Tác giả bài viết ủng hộ quan điểm thứ ba.
Về
nguyên tắc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam hiện nay, qua tham khảo kinh
nghiệm quốc tế và xuất phát từ thực tiễn Việt Nam có thể đưa ra một số lưu ý:
Một là, nhìn chung, khó có thể bao quát hết toàn bộ các giá trị của một nền văn
hóa, do vậy, việc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam chỉ nên dừng lại ở các
giá trị mang tính cốt lõi, trọng điểm, tiêu biểu. Hai là, hệ giá trị mới cần kế
thừa có chọn lọc các giá trị truyền thống đã được định hình lâu đời trong lịch
sử Việt Nam. Trong bối cảnh đương đại, một số giá trị đã trở nên lỗi thời, bị
lịch sử vượt qua, trở thành vật cản cho sự phát triển thì phải cương quyết sàng
lọc, gạt bỏ. Ba là, tiếp thu, bổ sung những giá trị mới, tiến bộ của văn hóa
nhân loại. Trong tương quan với các giá trị truyền thống, các giá trị ngoại
sinh có thể đem tới những sức mạnh lớn lao. Đó thường là những giá trị văn
minh, hiện đại mà chúng ta còn thiếu hoặc có ở mức thấp. Bốn là, bám sát các
điều kiện thực tiễn của Việt Nam, gắn với trình độ phát triển của nền kinh tế,
đặc điểm của thể chế chính trị, mặt bằng dân trí, nền tảng giáo dục, năng lực
pháp luật và quan trọng nhất là những đặc thù về văn hóa. Năm là, cấu trúc của hệ
giá trị cần cô đọng, súc tích, dễ nhớ, dễ thuộc. Kinh nghiệm của các nước cho
thấy hệ giá trị thường chỉ có từ 4-5 giá trị, nếu dài hoặc khó hiểu quá, người
dân sẽ khó tiếp thu, khó đi vào cuộc sống, chẳng hạn, Philippines đề xuất 9 giá
trị, Thái Lan đề xuất 12 giá trị, đến nay đều không phát huy tác dụng. Các giá
trị cũng không nên quá cao siêu, lý tưởng, mà phải gần gũi, thiết thực, khả thi
với điều kiện sống hôm nay.
Những giá trị cốt lõi
Trên
cơ sở tổng kết, đúc rút kết quả nghiên cứu của một số công trình đi trước, tham
khảo kinh nghiệm quốc tế đồng thời bám sát quan điểm, định hướng của Đảng, kế
thừa có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với bổ sung các giá
trị mới của thời đại, kiểm chứng và đo lường qua điều tra xã hội học, xin đề xuất
hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế với 4 giá trị cốt lõi là: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, tiến bộ.
Có thể diễn giải về nội hàm và căn cứ lựa chọn các giá trị nêu trên như sau:
Thứ
nhất, giá trị dân tộc thể hiện một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, toát
lên truyền thống văn hiến Việt Nam. Đó cũng là nền văn hóa độc lập, tự chủ, có
nội lực, không bị lấn át trước văn hóa ngoại lai. Nền văn hóa đó cũng có khả
năng tiếp thu, “dân tộc hóa”, “Việt hóa” những ảnh hưởng tốt đẹp của văn hóa
bên ngoài, làm giàu và nâng tầm cho văn hóa dân tộc. Tính dân tộc có thể được
biểu hiện qua cả nội dung và hình thức của nền văn hóa.
Trên
thực tế, dân tộc là giá trị nổi bật của văn hóa Việt Nam, từ đó tạo nên bản
sắc, cốt cách, tinh hoa của văn hóa Việt Nam. Đây cũng là giá trị luôn được đề
cao và nhất quán trong đường lối lãnh đạo văn hóa, văn nghệ của Đảng ta, từ Đề
cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị
quyết Trung ương 9 khóa XI. Trong cơn lốc của toàn cầu hóa hiện nay, việc giữ
gìn bản sắc dân tộc càng cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta “hòa nhập mà
không hòa tan”. Đề cao giá trị dân tộc chính là đối trọng để giữ thế cân bằng,
tạo sức đề kháng trước nguy cơ “xâm lăng văn hóa” cũng như vươn lên khẳng định
văn hóa Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới.
Thứ
hai, giá trị dân chủ là biểu hiện của một nền văn hóa của dân, do dân và vì
dân. Người dân vừa là chủ thể vừa là khách thể của văn hóa, vừa là người sáng
tạo vừa là người hưởng thụ văn hóa. Một nền văn hóa dân chủ góp phần đề cao
quyền tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do sáng tạo văn hóa.
Mọi công dân đều được bình đẳng và tôn trọng trong phát triển văn hóa, làm đối
trọng chống lại tình trạng độc tôn quyền lực, lạm dụng quyền lực, xâm phạm
quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ cũng là giá trị tiến bộ của thời đại mà đa
số các quốc gia văn minh đều hướng tới. Đây cũng là một trong những mục tiêu
lớn mà Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu để “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”. Dân chủ cũng là một yêu cầu mà Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI
đã đề ra và là giá trị chúng ta còn khá yếu, cần tập trung xây dựng.
Thứ
ba, giá trị nhân văn thể hiện ở nền văn hóa yêu thương con người, nhân ái, bao
dung, lấy con người làm gốc. Nhân văn có nội hàm rộng hơn bác ái của phương
Tây, còn có ý nghĩa tôn trọng nhân phẩm, đề cao nhân quyền, tôn trọng quyền con
người.
Văn
hóa Việt Nam từ xưa đến nay là nền văn hóa trọng tình cảm, thương yêu con
người, đề cao tình yêu thương đồng loại. Từ truyền thống “Đem đại nghĩa thắng
hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” thời Nguyễn Trãi đến tinh thần nhân ái,
vị tha “thương người như thể thương thân” ngày nay luôn thể hiện tính nhân văn
sâu sắc của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay giá trị này đang bị đe dọa
trước lối sống vị kỷ, vô cảm trong cơ chế kinh tế thị trường. Vì những mục tiêu
vụ lợi người ta có thể xâm hại, chà đạp, vùi dập nhân phẩm của nhau. Do vậy,
rất cần khôi phục và củng cố sự tử tế, lòng nhân ái, nghĩa tình vốn sẵn có
trong văn hóa Việt Nam. Nhân văn cũng là một giá trị mà Nghị quyết Trung ương 9
khóa XI đề ra đối với văn hóa Việt Nam.
Thứ
tư, giá trị tiến bộ thể hiện một nền văn hóa ngày càng phát triển theo chiều
hướng đi lên, tốt hơn trước, phù hợp với xu thế thời đại và nhân loại. Tiến bộ
đối lập với thụt lùi, trì trệ, bảo thủ, chậm tiến. Giá trị tiến bộ sẽ khắc phục
những biểu hiện cổ hủ, lạc hậu, phản khoa học trong văn hóa.
Tựu
trung, hệ giá trị văn hóa Việt Nam nêu trên đã cố gắng đảm bảo sự cân đối, hài
hòa giữa các chiều kích: truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, ổn định
và phát triển.
Việc
xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam là một công việc vô cùng khó khăn, tuy
nhiên, khó hơn nữa là việc triển khai thực thi những giá trị đó trong đời sống
thực tiễn. Còn rất nhiều công việc chúng ta phải làm để có thể xây dựng một nền
văn hóa vừa giàu truyền thống lịch sử, mang đậm bản sắc dân tộc, vừa bắt kịp
với bước tiến của nhân loại và mang hơi thở của thời đại.
