Thứ Năm, 26 tháng 1, 2023

Việt Nam là một đất nước rất an toàn


“Việt Nam, với tất cả những gì đã làm cho người dân của mình, các bạn có thể tự hào. Và tôi nghĩ người dân Việt Nam rất hạnh phúc, mọi người đều công nhận rằng Việt Nam là một đất nước rất an toàn”.
Đó là khẳng định của Đại sứ Algeria tại Việt Nam Boubazine Abdelhamid nhân dịp năm mới 2023, bởi theo ông “Việt Nam là một xã hội hòa bình, có giáo dục, không có bạo lực, người dân chan hòa”.
Ông Boubazine Abdelhamid nói rằng Việt Nam là quốc gia luôn tôn trọng quyền con người – điều đó thể hiện ở việc Việc Nam là lực lượng tham gia tích cực vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Chúc mừng Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Đại sứ Boubazine Abdelhamid bày tỏ tin tưởng rằng Việt Nam sẽ là một đại diện tốt, bảo vệ nhân quyền mà không có sự phân biệt đối xử.
“Việt Nam và Algeria sẽ cùng nhau tham gia Hội đồng nhân quyền và chúng ta sẽ bảo vệ quan niệm của mình vì quyền con người - quyền được sống,” ông Boubazine Abdelhamid nhận xét.
Đại sứ Boubazine Abdelhamid bày tỏ sự thán phục về những tiến bộ và thành tựu kinh tế-xã hội của Việt Nam kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986. Theo ông, tầm nhìn sáng suốt và sự lựa chọn đúng đắn các chính sách của các nhà lãnh đạo Việt Nam đã giúp Việt Nam đạt được những bước tiến lớn trong phát triển kinh tế-xã hội.
“Từ một nước thiếu lương thực, Việt Nam ngày nay không chỉ đảm bảo đầy đủ an ninh lương thực trong nước, mà còn vươn lên là quốc gia xuất khẩu gạo và các sản phẩm nông nghiệp đứng đầu thế giới. Không chỉ đạt nhiều thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực nông nghiệp, mà ngay cả ngành công nghiệp của Việt Nam cũng ghi nhận sự phát triển bền vững,” Đại sứ Boubazine Abdelhamid nhấn mạnh.
Theo Đại sứ, Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở nhất trên thế giới hiện nay với khoảng 70 hiệp định thương mại (song phương và đa phương) được ký kết. Trong năm 2023, Việt Nam và Algeria có thể tăng cường trao đổi thương mại. Tuy nhiên, một số hiệp định thương mại, vận tải hàng hải và các hiệp định khác cần được gia hạn và đổi mới, tạo động lực cho sự phát triển quan hệ hợp tác giữa Angeria và Việt Nam.
Kể từ khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 28-10-1962, quan hệ giữa Việt Nam và Algeria không ngừng được củng cố và phát triển. Hai nước luôn dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ cả về chính trị, tinh thần và vật chất trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước ở mỗi quốc gia. Hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật... cũng đã có những bước phát triển tích cực.
Đại sứ cho biết đại dịch Covid-19 đã tác động tiêu cực đến việc trao đổi đoàn và trao đổi thương mại giữa hai nước, do đó việc tổ chức kỳ họp lần thứ 12 của Ủy ban hỗn hợp tại Hà Nội thời gian tới trong bối cảnh dịch bệnh suy giảm sẽ tạo động lực mới cho quan hệ song phương.
Về lĩnh vực đầu tư, dự án thăm dò và khai thác dầu khí của Tổng công ty thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) đã trở thành dự án tiêu biểu cho mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Algeria.
Ngoài ra, trên cơ sở quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước, hợp tác văn hóa cũng luôn là điểm sáng và được triển khai sâu rộng tại Algeria. Hợp tác văn hóa đã thực sự trở thành "cầu nối" giữa Việt Nam và Algeria, trong đó các giá trị văn hóa được chia sẻ trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt.
Đại sứ Boubazine Abdelhamid cho biết thời điểm ông đặt chân đến Việt Nam trùng với dịp đón Tết dương lịch và sau đó là Tết âm lịch cổ truyền của người dân Việt Nam.
“Cũng vào dịp này, tôi đã phát hiện ra sự gắn bó bền chặt của người Việt Nam với văn hóa và truyền thống của tổ tiên đã được hun đúc qua nhiều thế kỷ, lễ tết chính là dịp để thể hiện sự gắn bó của người Việt Nam đối với gia đình, sự gắn kết giữa các thế hệ và sâu sắc hơn là nhớ về cội nguồn,” Đại sứ Boubazine Abdelhamid chia sẻ.
ST

Hiệp định Paris 1973 - Đỉnh cao nghệ thuật vừa đánh, vừa đàm


Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris “Về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký chính thức. Đây là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, của sự phối hợp nhịp nhàng giữa đấu tranh trên chiến trường với đấu tranh trên bàn đàm phán, là điển hình của việc kết hợp chủ trương “vừa đánh, vừa đàm” của Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Độc lập, tự chủ - Quan điểm xuyên suốt
Trong các cuộc kháng chiến, Việt Nam luôn coi trọng giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự cường, tự lực cánh sinh, khi phải trực tiếp đối mặt với kẻ thù ngoài tiền tuyến, cũng như khi đối diện với đối phương trên bàn đàm phán. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), chúng ta chủ trương dựa vào sức mình là chính để “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc chúng ta có thể tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, chứ không ỷ lại, trông chờ bên ngoài.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975); Việt Nam lường trước được hệ lụy từ cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, những hậu quả của cuộc khủng hoảng tên lửa Caribê năm 1962, mà nạn nhân là nước nhỏ, nước yếu. Do đó, chúng ta không muốn để đất nước Việt Nam trở thành “đấu trường” giữa các nước lớn, càng không muốn để nước lớn định đoạt vận mệnh của dân tộc mình. Thậm chí, có một vài quốc gia muốn đưa quân vào giúp đỡ nhân dân Việt Nam, nhưng Đảng, Nhà nước ta chỉ đồng ý để họ làm nhiệm vụ như: Huấn luyện, sửa đường xá... vì chúng ta muốn tự lực cánh sinh, độc lập, tự chủ trong thực hiện đường lối kháng chiến của mình.
Từ năm 1965 đến cuối năm 1966, đế quốc Mỹ vừa tăng cường leo thang chiến tranh xâm lược Việt Nam, vừa tung luận điệu “hòa bình giả hiệu”, yêu cầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi vào đàm phán. Các nước anh em, bạn bè trên thế giới, trong đó có Liên Xô và 14 nước thuộc “Phong trào không liên kết” kêu gọi ta ngồi nói chuyện với Mỹ để giải quyết chiến tranh. Một số nước khuyên ta tiếp tục đấu tranh quân sự cho đến khi giành thắng lợi hoàn toàn. Những ý kiến đóng góp của bạn bè trên thế giới đều được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trân trọng, nghiên cứu; nhưng Trung ương Đảng ta cũng giải thích, trao đổi để bạn bè thế giới hiểu rõ đường lối đấu tranh độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam.
Mùa Xuân năm 1968, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp chiến trường miền Nam (lấy đô thị là hướng tiến công chủ yếu), buộc chính quyền Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris. Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán chính thức giữa Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu Chính phủ Mỹ bắt đầu diễn ra ở Thủ đô Paris (Cộng hòa Pháp), đánh dấu một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ gây ra đối với Việt Nam: Đọ sức trên chiến trường đồng thời với đọ sức trên mặt trận ngoại giao - Cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.
quan trọng nhất là chuyển giao vũ khí hiện đại cho quân đội Sài Gòn, củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ngăn chặn mọi âm mưu đảo chính. Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào ngăn chặn tiếp tế của miền Bắc vào miền Nam, cô lập lực lượng cách mạng miền Nam từ bên ngoài. Về ngoại giao, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới trong khuôn khổ “Học thuyết Nixon”, tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo điều kiện có lợi cho Mỹ. Có thể nói, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã thật sự đẩy cuộc đàm phán trong Hội nghị Paris vào chỗ bế tắc. Những năm 1969 - 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường cũng như tại bàn đàm phán Paris.
Quân ta thắng lớn trên chiến trường
Năm 1971, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với quân đội cách mạng Lào và Campuchia đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” tại khu vực Đường 9 - Nam Lào, cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” và cuộc hành quân “Quang Trung 4” của quân đội Sài Gòn ở Đông Bắc Campuchia và ở Tây Nguyên Việt Nam. Ngày 30-3-1972, quân và dân Việt Nam mở cuộc tiến công chiến lược, đánh địch trên mặt trận lớn từ Trị - Thiên, Khu V, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ đến Đồng bằng sông Cửu Long. Sau ba tháng tiến công, quân và dân Việt Nam giành thắng lợi lớn, tiêu diệt và làm tan rã hơn 11 vạn tên địch, trong đó diệt 2 sư đoàn, 11 trung đoàn bộ binh, 6 trung đoàn thiết giáp, đánh thiệt hại nặng 3 sư đoàn, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị và một phần các tỉnh Kon Tum, Bình Định, Bình Long và Phước Long; mở ra nhiều vùng quan trọng ở Khu V, Đồng bằng sông Cửu Long, giải phóng gần 1 triệu dân.
Trước đòn tiến công mãnh liệt và bất ngờ của quân và dân miền Nam, Mỹ và quân đội Sài Gòn lúng túng, vội vàng bỏ tuyến phòng ngự bên ngoài co về phòng thủ tuyến trong. Cuộc tiến công chiến lược của quân và dân miền Nam nổ ra ngày càng mạnh và đều khắp khiến Mỹ nhận thấy rằng quân đội Sài Gòn - xương sống của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” có nguy cơ đổ vỡ.
Ngày 6-4-1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam, và tháng 5-1972, ra lệnh thả bom mìn bao vây, phong tỏa các sông ngòi, hải cảng ở miền Bắc Việt Nam. Đi đôi với các hoạt động quân sự trên chiến trường, Nixon tuyên bố hoãn không thời hạn các phiên họp của Hội nghị Paris; đồng thời tiến hành các hoạt động ngoại giao như đi thăm Trung Quốc, Liên Xô nhằm cô lập Việt Nam, ép Việt Nam phải đàm phán theo điều kiện có lợi cho Mỹ.
Không dừng lại ở đó, ngay phiên đầu tiên của đợt đàm phán mới vào ngày 20-11-1972, đại diện Chính phủ Mỹ đã đưa ra một số điều kiện mới theo yêu cầu và có lợi cho phía Mỹ cũng như chính quyền Sài Gòn, trong đó có nội dung: Phủ nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; đòi quân đội miền Bắc rút khỏi miền Nam; hai miền tôn trọng lãnh thổ của nhau, tôn trọng khu phi quân sự; yêu cầu ngừng bắn ở Lào và Campuchia cùng lúc với ngừng bắn ở Việt Nam; đòi các lực lượng vũ trang các nước Đông Dương phải ở trong biên giới quốc gia… Tại phiên họp ngày 24-11-1972, H. Kissinger đọc bức điện của Nixon trong đó có đoạn viết: “Tôi ra lệnh cho ông (Kissinger) cắt đứt nói chuyện và chúng ta phải hoạt động quân sự trở lại cho đến khi đối phương phải đàm phán nghiêm chỉnh”. Thực hiện ý đồ đó, từ ngày 18-12 đến ngày 29-12-1972, Nixon ra lệnh cho không quân và hải quân Mỹ mở trận tập kích chiến lược vào miền Bắc Việt Nam với ý định gây sức ép, buộc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho Mỹ… Quyết tâm bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội, quân và dân miền Bắc đã anh dũng chiến đấu đánh bại cuộc tập kích chiến lược của Mỹ vào Hà Nội kéo dài suốt 12 ngày đêm cuối năm 1972.
Chiến thắng oanh liệt “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” - Chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và văn hóa Việt Nam, đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân chiến lược của đế quốc Mỹ, tạo thế vững mạnh cho hai đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khi bước vào vòng cuối cùng của cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris.
Ngoại giao chủ động tiến công, “ra đòn” quyết định
Cuộc đám phán Việt Nam - Mỹ giữa Bộ trưởng Xuân Thủy và Đại sứ Harriman diễn ra hơn 5 tháng từ ngày 13-5 đến cuối tháng 10-1968 với 28 phiên họp công khai và 12 lần gặp bí mật cấp cao và nhiều cuộc tiếp xúc, gặp gỡ riêng ở các cấp khác. Đến ngày 27-10-1968, hai bên đã thỏa thuận được những vấn đề cơ bản như Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, đại diện của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng tham gia đàm phán. Ngày 31-10-1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom, bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấp nhận họp Hội nghị Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, thừa nhận đại diện chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị.
Đúng 10 giờ 30 phút ngày 25-01-1969, Hội nghị đàm phán bốn bên về vấn đề Việt Nam khai mạc tại Thủ đô Paris. Các cuộc đàm phán diễn ra từ năm 1969 đến năm 1973 là sự kết hợp giữa diễn đàn công khai bốn bên với gặp riêng cấp cao Việt Nam - Hoa Kỳ. Chủ trương của phía Việt Nam là phối hợp đấu tranh ngoại giao với hoạt động quân sự, chính trị, phá chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, bảo đảm cho quân và dân miền Nam tiếp tục chiến đấu mà dư luận vẫn đồng tình ủng hộ với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, do mỗi bên đều có ý đồ và mục tiêu riêng nên các cuộc đàm phán vẫn không đi đến kết quả cuối cùng. Phía Việt Nam kiên trì mục tiêu của mình là đòi Mỹ rút nhanh và rút hết quân đội viễn chinh và quân các nước đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam, không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, công việc ở Việt Nam do nhân dân Việt Nam tự giải quyết. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nhiều lần chủ động đưa ra các giải pháp, cũng như dự thảo Hiệp định nhằm kết thúc Hội nghị. Song, phía Hoa Kỳ luôn tìm cách trì hoãn, đồng thời tiến hành các biện pháp quân sự nhằm ép Việt Nam phải ký kết hiệp định theo các điều khoản có lợi cho Mỹ.
Với sự kiên quyết và khôn khéo đấu tranh của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris cùng việc đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ vào Hà Nội, ngày 23-1-1973, tại Thủ đô Paris (Cộng hòa Pháp), Hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” đã được ký tắt giữa đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và đại diện Hoa Kỳ - Cố vấn H. Kissinger.
Hiệp định Paris được ký kết mở ra một giai đoạn mới cho cách mạng Việt Nam. Với việc Mỹ rút quân viễn chinh và quân các nước đồng minh; nhưng lực lượng chính trị và vũ trang Việt Nam vẫn ở nguyên miền Nam đã tạo ra so sánh lực lượng mới, tạo thuận lợi cho việc đánh đổ chính quyền và quân đội Sài Gòn, hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đánh giá thắng lợi của Hiệp định Paris, trong “Lời kêu gọi” ngày 28-01-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định: “Với việc Hiệp định Paris được ký kết, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi rất vẻ vang. Đây là thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. “Hiệp định Paris được ký kết là cơ sở chính trị và pháp lý đảm bảo các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, đảm bảo quyền tự quyết thiêng liêng của đồng bào ta ở miền Nam. Thắng lợi này là cơ sở để nhân dân ta tiếp tục tiến lên giành thắng lợi mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước”.
Theo QĐND Điện tử

Nhớ mãi trận đánh Tết Mậu Thân năm ấy…


Tết Mậu Thân 1968 là cái Tết đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Phúc Thanh.
Tết năm đó, ông được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9 để bước vào một chiến dịch lớn - Chiến dịch Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Trong hồi ký, ông ghi lại nhiều chuyện xúc động về trận đánh Tết Mậu Thân năm ấy…
Vượt sông vào đêm trừ tịch
Chiều 29 Tết, Đại đội 6 bắt đầu hành quân. Gần sáng thì tới khu vực rừng thông ở Dương Hòa bên bờ Bắc sông Hương. Nơi này được chọn làm nơi ém quân qua ngày 30 Tết để đêm mai đơn vị sẽ tiến vào thành phố Huế thân yêu.
Trong hồi ký, Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh ghi rõ: Đó là một ngày dài nhất, đáng nhớ nhất trong cuộc đời tôi. Sau này được học, được đọc nhiều tài liệu khoa học nghiên cứu tâm sinh lý con người tôi mới hiểu thế nào là “thời gian tâm lý”. Một ngày mà trong lòng chúng tôi vừa có nỗi nhớ nhà da diết, vừa có sự lo lắng phập phồng vì đang ở quá gần địch.
Trong làng Dương Hòa, nhà nhà đang rối rít bận bịu với việc chuẩn bị Tết. Tiếng trẻ con nô đùa, tiếng lợn kêu eng éc, làn khói bếp và hương nếp thơm… tất cả đều gợi lên nỗi nhớ khôn nguôi. Có lẽ giờ này ở quê hương, gia đình chúng tôi cũng đang tất bật chuẩn bị đón Tết, tôi biết rằng vào những giờ khắc này, cha mẹ và các em cũng đang đau đáu nhớ thương những đứa con xa nơi tiền tuyến…
Vào đúng đêm Trừ tịch, Đại đội 6 lặng lẽ vượt sông Hương ở đoạn Nguyệt Biều. Sau khi vượt sông sẽ theo sườn đồi Tứ Tây, Ngũ Tây tiến về phía Ngự Bình, Nam Giao. Mục tiêu đầu tiên của Đại đội 6 là tiến công vào khu vực ga Huế, Trại Bảo an, Trại Quân cụ rồi phát triển sang Dinh tỉnh trưởng. Lần đầu chỉ huy bộ đội hành quân chiến đấu trong vùng địch, lại phải vượt sông trong đêm nên Đại đội trưởng Nguyễn Phúc Thanh rất lo lắng. Đêm 30 Tết, trời tối đen, nước sông lạnh buốt như cắt vào da thịt. Đại đội trưởng truyền lệnh vừa đủ nghe, nhắc anh em bám chắc đội hình, vừa bơi vừa cảnh giới, kiểm tra lẫn nhau.
Có một chuyện xảy ra vào cái đêm vượt sông đáng nhớ ấy, cho đến sau này, Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh còn day dứt mãi. Đó là khi Đại đội đã vượt được sang bờ bên kia, kiểm tra quân số thấy thiếu hai chiến sĩ: Nguyễn Văn Đạt và Phùng Văn Mậu. Lập tức, cán bộ trung đội, tiểu đội quay lại tìm nhưng trời tối, sông sâu không tìm thấy họ nữa. Mệnh lệnh hành quân vượt sông là phải tuyệt đối bí mật, không tiếng động, không ánh sáng. Có lẽ khi qua sông, hai chiến sĩ đã bị chuột rút. Nếu họ kêu cứu thì có thể đội hình vượt sông sẽ bị lộ, pháo địch trùm lên ngay lập tức. Hai chiến sĩ này đã hiểu được điều đó và khi bị chuột rút, họ chấp nhận hy sinh chứ kiên quyết không kêu cứu để làm lộ đội hình. Tấm gương hy sinh của họ thật lớn lao.
“Khai hỏa” ngày mồng 1 Tết
Đại đội 6 hoàn thành vượt sông vào lúc 4 giờ sáng ngày 1-2-1968, tức sáng mồng 1 Tết âm lịch. Lúc này súng đã nổ ran trên toàn mặt trận - Trận tổng tiến công Tết Mậu Thân vào thành phố Huế bắt đầu. Đại đội 6 hành tiến theo đội hình, khi vượt qua làng Ngũ Tây thì có chừng một trung đội bảo an địch xuất hiện. Chúng đang ăn nhậu ở đâu đó nghe tiếng súng tấn công của ta thì bỏ chạy về khu vực cầu Bạch Hổ. Đại đội trưởng Nguyễn Phúc Thanh lập tức ra lệnh cho Trung đội 7 do Nguyễn Văn Hạnh chỉ huy tiến lên vậy chặt, bắt gọn tốp lính. Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Tiêu chỉ huy tiểu đội nhanh chóng dùng hỏa lực áp chế rồi đánh chiếm các điểm chốt, các ụ súng trên cầu.
Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh viết: Nghe tiếng súng râm ran, tôi đoán, các mũi, các hướng của ta đang phát triển vào nội thành, mình không thể chậm trễ nên sau khi chiếm cầu Bạch Hổ, tôi xốc lại đội hình cho Đại đội tiến thẳng vào mục tiêu tiếp theo là trại lính Lê Lai. Trại này có tường cao, hàng rào chắc, địch bên trong khá đông. Lúc này chúng đã kịp tổ chức đánh trả. Đạn bắn ra như xối. Tôi ra lệnh cho bộc phá viên Nguyễn Văn Đẩu nhanh chóng tiếp cận, dùng bộc phá cho nổ tung cổng trại để anh em xông vào đánh chiếm mục tiêu. Trái bộc phá của Nguyễn Văn Đẩu nổ tốt, cổng trại lính Lê Lai bị hất tung lên. Các chiến sĩ Đại đội 6 bật dậy xung phong, địch trong trại chống trả yếu ớt, đa số vội đầu hàng ngay.
Bảy giờ sáng, Đại đội 6 bắt đầu nổ súng tiến công Dinh tỉnh trưởng. Để hỗ trợ hướng tiến công chủ yếu, Đại đội trưởng Nguyễn Phúc Thanh điều thêm hai khẩu đại liên và một khẩu ĐKZ lên chi viện, nhiệm vụ của các khẩu đội hỏa lực là phải nhanh chóng thổi tung các ụ súng, boong-ke không để hỏa lực địch không kịp phát dương, cản trở đường tiến công của ta.
Sau hơn một giờ chiến đấu, Đại đội 6 đã làm chủ được hoàn toàn mục tiêu Dinh tỉnh trưởng Thừa Thiên, tiêu diệt một số địch, bắt sống hơn 50 tên. Riêng tên tỉnh trưởng đến 15 giờ chiều ta mới bắt được khi hắn chạy về tới ngã sáu gần khu nhà thờ Phú Cam.
9 giờ sáng mồng 1 Tết Mậu Thân, các chiến sĩ Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9 đã kéo cờ giải phóng lên cột cờ Dinh tỉnh trưởng Thừa Thiên. Trong khi đó, Trung đoàn 9 đã triển khai Tiểu đoàn 1, đánh chiếm và giải phóng hoàn toàn nhà lao Thừa Phủ, giải thoát 3.400 tù nhân. Chiến thắng đầu Xuân tràn ngập khắp thành phố Huế.
TRỊNH DŨNG (lược ghi)

MÙA XUÂN NGHĨ VỀ ĐẢNG

 

Những ngày đầu Xuân, nghĩ về Đảng, về dân, trong tôi bộn bề bao suy nghĩ. Là người từng trải qua chiến tranh, đến thời hòa bình được chứng kiến bao thăng trầm của đất nước, tôi luôn mang trong mình khát vọng về cuộc sống giàu nhân nghĩa, yêu thương.
Thuở nô lệ, thân ta nước mất... (thơ Tố Hữu). Đấy chính là giai đoạn lịch sử bi thảm của đất nước, khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược; hàng chục cuộc nổi dậy chống lại kẻ cướp nước dưới ngọn cờ của những vị vua và sĩ phu phong kiến ái quốc bị dìm trong bể máu. Thất bại là kết cục cuối cùng của mọi cuộc phản kháng từ phong trào Cần Vương đến khởi nghĩa Yên Thế... Lịch sử chỉ chuyển sang trang mới khi vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đã chín mươi ba năm rồi kể từ khi dân tộc ta Lần đêm bước đến khi hửng sáng/ Mặt trời kia! Cờ Đảng giương cao... (thơ Tố Hữu), bao chiến công, kỳ tích vang dội được ghi vào sử sách. Thành công của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945; thắng lợi của hai lần kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ; non sông thống nhất hoà bình, nhân dân đoàn kết dựng xây và bảo vệ Tổ quốc vững bền.
Đoàn quân Việt Nam đi... là biểu tượng những cuộc trường chinh nhiều gian khổ hy sinh, hành trình đi tới tương lai lắm bão giông sóng gió, Đảng với dân, dân với Đảng luôn là một. Mọi thắng lợi, thành công của đất nước đều gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Đảng đã làm rất tốt sứ mệnh của mình - lãnh đạo dân tộc khi biết dựa vào dân. Đảng chỉ mạnh khi dân yêu, dân quý, dân tin. Niềm tin của nhân dân vào Đảng lãnh đạo là nhân tố tạo nên sức mạnh to lớn của đất nước kể cả vào thời điểm chiến tranh hay hoà bình. Muốn dân tin, không thể nào khác Đảng phải thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân (Di chúc Hồ Chí Minh).
Bác Hồ đã nhiều lần nhắc tới nhân dân với sự yêu quý, trân trọng rất mực của mình. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, trong Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người đã nhắc nhở: Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta. Trong Di chúc gửi lại cho đồng chí, đồng bào trước khi đi xa, Bác Hồ cũng căn dặn rõ ràng: Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Nên nhớ rằng trong văn bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngày 10 tháng 5 năm 1969, đoạn nói về Nhân dân lao động, Người đã nhấn mạnh các chữ "kế hoạch" và "nâng cao đời sống của nhân dân".
Quá rõ ràng và vô cùng chuẩn xác, theo tôi nghĩ, cốt lõi cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt Tư tưởng Hồ Chí Minh gói gọn lại trong bốn chữ yêu nước thương dân. Tất nhiên, nước và dân ở đây phải gắn liền với thế giới và nhân loại bao la như quan niệm sáng suốt của Đảng ta hiện nay, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới. Đấy chính là đạo đức, là văn minh mà Đảng ta luôn luôn đề cao trong nhận thức và thực hành. Đó là ứng xử mang tầm vóc văn hoá tương lai đã thể hiện cao đẹp sáng ngời trong tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Soi chiếu từ những điều Bác Hồ mong muốn, ai chẳng đau lòng trước những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức và phẩm chất lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay. Thật xót xa khi thấy những cán bộ cao cấp của Đảng phải ra toà vì những sai phạm rất nghiêm trọng và phải chịu các hình phạt thích đáng của pháp luật. Đảng đau một thì dân đau mười. Vì, dân đã từng tin yêu những con người đó. Có thể nói, các vụ việc như này đã được xử lý nghiêm nhưng cũng rất nhân văn, tài sản thu hồi lớn, nhưng cái lớn nhất vẫn là củng cố, tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Chúng ta cần lắm niềm tin và hy vọng vào tương lai sáng tươi của đất nước.
Tình yêu Tổ quốc luôn gắn với khát vọng đất nước bay lên. Một chiến thắng trên sân cỏ, trên sàn đấu thể thao quốc tế hay khu vực cũng làm nức lòng bao trái tim người Việt. Lá cờ đỏ sao vàng kéo lên cùng bản nhạc Quốc ca làm cho ta xao xuyến rưng rưng. Tình yêu và niềm tự hào đất nước của nhân dân ta lớn lắm!
Đó là dòng chảy dào dạt xuyên suốt của mọi thế hệ, từ xưa đến nay chưa bao giờ đứt đoạn. Đảng đã nâng tình yêu đó lên tầm mới, biến nó thành năng lượng mạnh mẽ của dân tộc trong quá trình giải phóng đất nước và xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân ghi nhận điều đó như một khẳng định lịch sử không ai có thể phủ nhận, đánh tráo được. Cũng như thế, nhân dân ta đang đặt niềm tin to lớn vào Đảng trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Niềm tin sẽ được xác lập vững chắc khi Đảng không khoan nhượng, không lùi bước trước cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn, phức tạp này.
Những ngày đầu xuân, nghĩ về Đảng, về dân trong tôi bộn bề bao suy nghĩ. Là người từng trải qua chiến tranh, thời hòa bình được chứng kiến bao thăng trầm của đất nước, tôi luôn mang trong mình khát vọng về cuộc sống giàu nhân nghĩa, yêu thương. Chắc chẳng ngẫu nhiên, khi nghĩ về Đảng, về dân trong tôi lại ngân rung lên những câu thơ day dứt của Tố Hữu viết từ năm 1992:
Ôi! Đất nước bao năm bom đạn/Từng chia cơm, chia lửa, chia hầm/Cao đẹp vậy lòng người thanh thản/Ta cùng ta, đồng chí, đồng tâm/Đời, đâu phải thị trường nhân phẩm/Gian ác mang mặt nạ thánh hiền/Tình nghĩa cũng theo thời lạnh ấm/Bạc vàng đo giá trị, sang hèn?/Có lẽ nào ta lại quên ta/Đàn chim én báo mùa xuân tới/Vượt muôn trùng sóng lớn, đường xa/Ta sẽ đến, những chân trời mới...
Chúng ta tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam sẽ đến được chân trời hạnh phúc tươi sáng./.

Bác Hồ nói về chữ “Liêm” của cán bộ



Trong các lãnh tụ cách mạng, Hồ Chí Minh là người nổi bật, điển hình nhất về sự quan tâm tới đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đó là các chuẩn mực đạo đức, các giá trị trong lẽ sống, lối sống của mỗi con người tự nguyện phấn đấu, hy sinh cho lý tưởng cộng sản của Đảng, đấu tranh quên mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.
1. Tìm đường cứu nước cứu dân, nặng lòng yêu nước thương dân; lăn lộn trong thực tiễn lao động, học tập và tranh đấu; vượt qua mọi gian lao khó nhọc, thử thách hiểm nghèo nơi chốn lao tù với ý chí và niềm tin mãnh liệt; bằng nghị lực phi thường và lòng dũng cảm vô song, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã thấy đường, chọn đường và trở thành người dẫn đường cách mạng cho dân tộc đi đến mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là “đường cách mệnh”, “phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Con đường ấy không chỉ giải phóng mà còn phát triển, đưa dân tộc ta từ nô lệ tới tự do, từ mất nước tới độc lập, vượt qua đói nghèo, lạc hậu, đi tới bến bờ ấm no, hạnh phúc.
Một sự nghiệp vĩ đại như vậy, muốn thành công, làm cách mạng đến nơi, tức là triệt để, những người cách mạng không chỉ cần giác ngộ lý tưởng, có lý luận khoa học tiên phong dẫn đường, làm kim chỉ nam cho hành động mà còn cần có đạo đức, trước hết là đạo đức trong sáng, dấn thân, hy sinh vì nước, vì dân.
Viết tác phẩm lý luận “Đường kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc lại trước hết nói về “Tư cách một người cách mệnh” là vì vậy. Người gắn chặt tư tưởng lý luận với đạo đức; nhấn mạnh phẩm chất đầu tiên của người cách mạng là “cần kiệm”. Đó là cơ sở của “Liêm”, của “Chính”. Hai yêu cầu nổi bật trong tư cách của người cách mệnh là “giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng tham muốn về vật chất”. “Tư cách”, trong tư tưởng của Người, đó là đạo đức và rộng hơn là nhân cách. Rõ ràng, chủ kiến đạo đức của Người hình thành từ rất sớm và trong hành trình tư tưởng, trong cuộc đời và sự nghiệp của Người, chủ kiến này ngày càng nổi bật, nhất quán từ tư tưởng đến hành động, nhất quán giữa lời nói với việc làm...
Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nổi bật là tư tưởng đạo đức; hoạt động thực tiễn Hồ Chí Minh, trong đó nổi bật là thực hành lý luận, thực hành đạo đức, nêu gương đạo đức, suốt đời ở ngoài vòng danh lợi, suốt đời không màng danh lợi đã làm cho di sản Hồ Chí Minh-thời đại Hồ Chí Minh mà Người để lại cho muôn đời sau thật cao thượng và vĩ đại.
Không ai nói nhiều, viết nhiều về đạo đức và thực hành đạo đức cách mạng như Hồ Chí Minh. Cũng không ai nói về chữ "Liêm" của cán bộ, đảng viên-từ đảng viên thường đến cán bộ có chức có quyền-một cách cặn kẽ và sâu sắc như Hồ Chí Minh. Có thể kể đến các tác phẩm như: “Đường kách mệnh” (năm 1927); “Đời sống mới” (tháng 3-1947); “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10-1947); Lời kêu gọi Thi đua ái quốc (tháng 6-1948); “Cần kiệm liêm chính” (tháng 6-1949); bài báo “Dân vận” tháng 10-1949. Năm 1958, Người viết tác phẩm "Đạo đức cách mạng" về chống chủ nghĩa cá nhân. Nhân dịp Đảng ta 39 tuổi, ngày 3-2-1969, Người viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Trong bản "Di chúc" thiêng liêng, Người chỉ rõ: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch". Đảng cầm quyền phải thật trong sạch để thật vững mạnh; cán bộ, đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính để nêu gương cho quần chúng, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Người còn nói về đạo làm tướng, về người lãnh đạo phải ra sức đề cao trách nhiệm, trước hết là trách nhiệm đạo đức, thực hành đức Liêm, đức Chính.
2. Những chỉ dẫn của Người về chữ "Liêm" của cán bộ, thực hành chữ "Liêm" để gây đời sống mới, trước hết là cán bộ, đảng viên trong Đảng, công chức, nhân viên nhà nước để làm người trong sạch, để xứng đáng với sự tin cậy của dân, trải qua mấy thập kỷ vẫn còn nguyên giá trị. Vậy Liêm là thế nào?
Người nói rõ chữ "Liêm" trong tác phẩm “Đời sống mới”. Thực hành chữ "Liêm" là việc mỗi công chức, viên chức-những đầy tớ của dân-phải thường xuyên chú trọng, phải tự mình đề phòng và vượt qua nguy cơ thoái hóa, hư hỏng. Người cảnh tỉnh: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.
Khởi đầu của Liêm là Cần và Kiệm. “Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”. Lười biếng, vô trách nhiệm đối lập với cần cù, chăm chỉ, tận tụy, chẳng những là kém đạo đức mà còn là bất liêm, là phụ lòng tin của Chính phủ, của nhân dân.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, đồng thời cảnh báo nguy cơ rơi vào bất liêm: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu”. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, có Cần, có Kiệm mới có Liêm. Có Liêm mới có Chính. Có đủ cả cần, kiệm, liêm, chính mới là người hoàn toàn. Thiếu một đức thì không thành người. Song ở đời thì “nhân vô thập toàn”. Ai cũng có cái hay, cái dở, cái tốt và cái xấu. Vậy muốn trở nên hoàn toàn thì phải rèn đạo đức suốt đời, phải suốt đời chống chủ nghĩa cá nhân là giặc ở trong lòng.
Giải thích cặn kẽ chữ "Liêm", trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người nêu lên các yêu cầu: Không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa, nghĩa là không thoái hóa, biến chất, không bị tha hóa.
Người xác định, cán bộ, đảng viên, nhất là đối với thế hệ trẻ, thanh niên phải xây dựng lối sống chân chính, lựa chọn giá trị sống cho đúng: “Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.
Chữ "Liêm" không chỉ hiện diện trong “Cần, kiệm, liêm, chính” mà còn trong “Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”, đủ thấy đức Liêm cần thiết và quan trọng như thế nào trong đạo làm người.
Đến tác phẩm “Cần kiệm liêm chính”, Hồ Chí Minh giảng giải, phân tích thật sâu sắc và hệ thống về chữ "Liêm", về đức liêm chính, liêm trung của người cán bộ. Đáng lưu ý là ở chỗ, ai cũng cần rèn luyện để thành liêm và ai cũng đứng trước nguy cơ rơi vào bất liêm, không chỉ cán bộ mà cả mỗi người dân, nếu không chịu khó tự tu dưỡng, tự đấu tranh với chính mình. Người chỉ dẫn những lời thấm thía:
Sau khi làm rõ nghĩa LIÊM và BẤT LIÊM, Hồ Chí Minh đề ra giải pháp rất thiết thực cho việc thực hành chữ "Liêm" và chống mọi hành vi bất liêm. “Cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên trên”. Người đặc biệt nhấn mạnh: “... Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân".
Người còn nói đến trách nhiệm của dân trong việc giữ chữ "Liêm" cho cán bộ: “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm, cũng phải hóa ra LIÊM. Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM".
Hồ Chí Minh đòi hỏi “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Người thức tỉnh lương tâm, danh dự của mỗi người, phải tự ý thức rằng “tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. Và Người tin rằng: “Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ".
Những chỉ dẫn trên của Người vừa mang ý nghĩa giáo dục, thức tỉnh, cảnh tỉnh, vừa mang tính chất một thông điệp đạo đức từ trong Đảng, Nhà nước đến toàn xã hội, mãi mãi còn giá trị.
GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO, Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương
Có thể là hình ảnh về 9 người và mọi người đang đứng

 "RỪNG TƯỚNG GIÁP" XANH MÃI GIỮA ĐẠI NGÀN


''Rừng Tướng Giáp'' - tên gọi trìu mến mà nhân dân đặt cho khu rừng ở bản Nhọt, xã Gia Phù, huyện Phù Yên (Sơn La) là di tích lịch sử quan trọng trong kháng chiến ch.ống thực dân Pháp.


“Rừng Tướng Giáp” - tên gọi trìu mến mà nhân dân đặt cho khu rừng ở bản Nhọt, xã Gia Phù, huyện Phù Yên (Sơn La) là di tích lịch sử quan trọng trong kháng chiến ch.ống thực dân Pháp. Gần 7 thập kỷ trôi qua, cánh rừng ấy vẫn bạt ngàn, xanh tươi, tựa tình cảm thủy chung của đồng bào các dân tộc nơi đây dành cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng đoàn quân năm ấy.


Con đường ướt lạnh sương đêm không làm chậm nhịp bước chân "tuần tra" bảo vệ "Rừng Tướng Giáp" của những thành viên tổ quản lý, bảo vệ rừng bản Nhọt 2, xã Gia Phù, huyện Phù Yên (Sơn La). Nằm ven quốc lộ, ngay gần bản, nhưng "Rừng Tướng Giáp" với nhiều cây gỗ quý có đường kính hàng mét vẫn trường tồn với thời gian; bởi người dân không ai ch.ặt ph.á, hay s.ăn b.ắt th.ú rừng, mà luôn coi trọng, bảo vệ, vì nơi đây luôn có hình bóng của vị tướng lỗi lạc.


Anh Lò Văn Linh, tổ trưởng Tổ quản lý bảo vệ rừng bản Nhọt 2, xã Gia Phù, huyện Phù Yên chia sẻ: " Mỗi tuần chúng tôi tuần tra rừng 1 lần, mang theo dao, l.iềm đi phát quang đường phòng hộ, phòng ch.áy chữa ch.áy. Chúng tôi rất vinh dự khi khu rừng mang tên Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người dân ai cũng phấn khởi, chung tay bảo vệ rừng. Tổ cũng trích 10% tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng để đóng góp quỹ xây trường học, tường rào, hỗ trợ những hộ khó khăn của bản...".


Câu chuyện về Đại tướng và đoàn quân năm ấy được tái hiện trong câu chuyện của mọi người mỗi chuyến đi tuần rừng. Cách đây gần 70 năm, trên đường hành quân từ Nghĩa Lộ (Yên Bái) lên chiến trường Điện Biên Phủ để tham gia chiến dịch “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng bộ đội đã dừng chân, đóng quân tại khu rừng già nguyên sinh bản Nhọt, xã Gia Phù, huyện Phù Yên (Sơn La).


Án ngữ một vị trí đắc địa, có ý nghĩa chiến lược trên đường 13 (quốc lộ 37 hiện nay), khu rừng bản Nhọt thực sự là “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Bởi trong rừng có một khu bằng phẳng, có dòng suối Bùa chảy qua, lớp lớp cây rừng dày đặc che khuất tầm nhìn của máy bay địch đã trở thành “tấm lá chắn” che chở cho đoàn quân.


Những cái tên hàm chứa bao tình cảm thân thương, trìu mến như: “Rừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, “Rừng ông Giáp”, “Rừng Tướng Giáp”... cũng bắt nguồn từ đó, để bày tỏ lòng biết ơn của người dân địa phương với công lao to lớn của Đại tướng. Cuối năm 2021, huyện Phù Yên đã tổ chức Lễ khánh thành công trình bảo vệ rừng, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích lịch sử kháng chiến ch.ống Pháp Khu rừng bản Nhọt.


Từng vinh dự được gặp Đại tướng khi tham gia bảo vệ Đại tướng tại chiến trường Lào những năm 1970 và khi Đại tướng lên thăm Sơn La năm 1977, ông Đinh Công Són, Chi hội trưởng Chi hội cựu chiến binh bản Nhọt 2, xã Gia Phù, huyện Phù Yên chia sẻ: Gần 30 năm qua, ông rất vinh dự khi được góp sức mình gìn giữ màu xanh cánh rừng Đại tướng và phấn khởi, tự hào khi đón người dân thập phương tới thăm Di tích lịch sử này.


"Chúng tôi có một niềm tự hào là giữ được cánh rừng này, cũng như là giữ được "lá phổi" cho xã Gia Phù nói riêng và huyện Phù Yên nói chung. Đặc biệt, từ khi được xây dựng đền thờ, bà con rất phấn khởi, những ngày lễ tết, bà con đến dâng hương; người dân khắp mọi miền cũng đến đây, khiến chúng tôi thêm vinh dự, tự hào, mong muốn làm sao tôn tạo, bảo vệ khu rừng và đền thờ này", ông nói.


Di tích lịch sử kháng chiến ch.ống Pháp khu rừng bản Nhọt nằm trên quy hoạch rừng phòng hộ và một phần rừng sản xuất tại địa phận các xã Gia Phù, Suối Bau, Suối Tọ với diện tích trên 300 ha, trong đó có gần 200 ha rừng phòng hộ được người dân bản Nhọt 1, Nhọt 2 nhiều năm giữ gìn, bảo vệ. Ông Đỗ Văn Trường, Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La nói: "Đối với khu rừng bản Nhọt, hằng năm Hạt chỉ đạo kiểm lâm địa bàn phối hợp với ban quản lý bản tuyên truyền cho người dân, đặc biệt là người dân sống gần "Rừng Tướng Giáp" nâng cao trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng, giúp dân hiểu rõ về lợi ích từ rừng mang lại. Đồng thời, hướng dẫn ban quản lý bản, chủ rừng bản Nhọt xây dựng phương án bảo vệ, phòng ch.áy chữa ch.áy rừng, ký cam kết trách nhiệm giữa chủ rừng với Ủy ban nhân dân xã".


Xuân mới gõ cửa cũng là lúc nhiều loại cây, hoa trong khu rừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu khoe sắc, nổi bật giữa đại ngàn. Dưới những tán cổ thụ, tia nắng ban mai xuyên qua kẽ lá, chim ríu rít trên cành khiến cả khu rừng bừng sức sống. Cánh rừng xanh tươi này đã và đang được gìn giữ, bảo vệ bằng tình cảm trân quý nhất của bà con dành cho vị tướng lỗi lạc mang tên Võ Nguyên Giáp.

30A ST

CHỨNG BỆNH “ÁI KỶ CHÍNH TRỊ”

 


"Ái kỷ chính trị" là thói lố tự đánh bóng, khoe mẽ, thổi phồng về bản thân vì những ý đồ chính trị, từ đó đẻ ra đủ loại những thói hư, tật xấu tệ hại khác, như tính tham lam, đói khát danh vọng, dối trá, thói ghen tị, xu nịnh, kèn cựa, vụ lợi, tham ô, lãng phí...
Bắt chứng bệnh ái kỷ chính trị không khó, do thói hợm hĩnh, hám danh, “trưởng giả học làm sang”..., nên dù che giấu tinh vi đến đâu vẫn có ngày bị phơi bày, với cả mớ những kiểu thức rởm đời. Có kẻ vô sỉ hả hê lấy mồ hôi, nước mắt của người khác làm thứ màu tô vẽ vào bảng thành tích của mình, bằng tranh công đổ tội, chặn bát chèn đũa đồng nghiệp; có người huênh hoang tự cao tự đại khoe khoang về mình, thuyết giảng đao to búa lớn cả ngày không chán, vừa đôm đốp vỗ ngực tự thổi ta lên chín tầng mây, vừa vẫn không quên dùng thủ đoạn dìm ngay người khác xuống; có người “đánh bóng chuyên nghiệp” khi dùng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để khoe mẽ bản thân bằng những hình ảnh hào nhoáng nhưng đầy thói giả dối, rỗng tuếch, lố bịch, thậm chí lươn lẹo “mớm cung”, mượn tay kẻ khác để tâng hết lời về mình, hòng bịp mắt thiên hạ, dọn đường cho việc tranh quyền đoạt chức về sau; nhiều người tài hèn, đức mọn, nhưng háo danh tìm mọi cách gắn mác học hàm, học vị cho kỳ được, toan tính leo lên ông nọ bà kia; có kẻ dù đã vướng vào vòng lao lý thì vẫn cố vươn khỏi song sắt nhà tù để dùng đám bồi bút bênh vực giảm tội, không nghĩ tới quá khứ táng tận lương tâm bòn rút không tiếc của cải của nhân dân...
Kẻ “ái kỷ chính trị” luôn tìm thấy cảm giác thỏa mãn bản thân mình khi vượt được người khác, bằng mọi giá. Khi tài hèn, tất phải dùng thủ đoạn. Người có chút tài năng thì cũng bị những huyễn hoặc, ảo vọng về bản thân và ham hố danh vọng làm mờ mắt, sinh ra hành động khuất tất, thậm chí bất nhân. Song, dù bôi son trát phấn hào nhoáng thế nào thì chung quy vẫn khó lòng lấy hình thức mà lấp đi nội dung, lấy mớ hổ lốn danh hiệu, bằng khen, “công trạng” mà che đậy đi đống rỗng tuếch bên trong.
Xưa - nay, Đông - Tây, nhìn khắp bốn bể đều thấy, một tổ chức do yếu kém mà dung túng cho nhiều kẻ “ái kỷ chính trị” thì lâu ngày cũng thành một tập thể ái kỷ chính trị, nơi thói xu nịnh, giả dối, rởm đời, bệnh hình thức, đấu đá, chạy danh hiệu, tự mãn lên ngôi; ngại, tránh những cách nói thẳng, nói ngay, dần mất đi sự công bằng, người tài, người hay ngoảnh mặt - tập thể đó tất đến lúc mạt thời. Nguy hại hơn là cả một đất nước, một dân tộc “ái kỷ”, bám víu vào những thành tích nhất thời, chuộng hư danh, thiếu thực lực, mà hàm hồ, thái quá trong ca tụng, ngủ mê với ảo vọng, khiến tinh thần quốc gia bạc nhược.
Người mắc “chứng ái kỷ” nặng thường “không biết mình là ai”, đặt bản thân lên trên hết thảy, không chịu tu dưỡng, nên thiếu sự thấu cảm và đối ác với người khác, mất khả năng kiểm soát ham muốn và dị ứng với sự ăn năn, hối lỗi, do đó khó trông chờ vào sự tự sám hối. “Vực thẳm dễ lấp, nhưng túi tham khó đầy”.
Đây là chứng bệnh “kinh niên” trong đời sống chính trị, lây như vết dầu loang, âm thầm lan rộng, nhất là ở nơi có sức đề kháng kém, nguy cơ biến thành những sân khấu để phường tuồng chính trị diễn tấu; thuyên giảm đi trong môi trường mà sự minh bạch, công tâm, sự thực tài, điều thẳng ngay được coi trọng và có sức sống, cùng con mắt tinh tường, hiểu người, thấu lý, thấu tâm của người lãnh đạo.
Nước càng sâu càng tĩnh. Người thực tài thường khiêm cung. Kẻ yếu nhược lại hay tự cao, tự đại.
Ngẫm lại lời của người đứng đầu Đảng ta càng thấy thêm sự sâu sắc, rằng, mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng quyền lực. Đức Phật cũng dạy: “Thiểu dục và tri túc” (biết tiết chế dục vọng và biết đủ)... Âu đó cũng là đường sáng để những người mắc chứng bệnh này tỉnh ngộ, tự tiết chế bản thân, tránh thành bạo bệnh mà phải gánh hậu họa khôn lường!./.
ST
Có thể là hình ảnh về 6 người, xe môtô và đường
Tất cả cảm xúc:
84

NHỮNG NĂM MÃO ĐÁNG NHỚ TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC


1.Năm Quý Mão 43
Mùa Xuân năm 43, quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chiến đấu với quân Đông Hán do Mã Viện chỉ huy tại khu vực Phong Châu. Khi thất thế, chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị đã tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết khiến quân Hán nể sợ.
2.Năm Ất Mão 1075
Dưới thời Lý Nhân Tông, mùa Xuân năm Ất Mão (năm 1075), nhà Lý tổ chức khoa thi Tam Trường để tuyển chọn những người có học thức cao tham gia vào công việc hành chính quốc gia (nên còn gọi là kỳ thi Minh Kinh Bác Học). Đây là khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam, thể hiện bước thay đổi vị thế quan trọng của Nho học trong mối tương quan Nho – Phật – Lão lúc bấy giờ.
Cũng ngay trong năm 1075, quân đội nhà Lý do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã tấn công các thành lũy Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu, thực hiện chiến lược “tiên phát chế nhân”, phá hủy các tiền đồn mà nhà Tống chuẩn bị để xâm lăng Đại Việt. Hoạt động quân sự nhanh chóng và hiệu quả này đã góp phần quyết định vào chiến thắng vang dội tại sông Như Nguyệt năm 1076, đè bẹp tham vọng bành trướng xuống phía Nam của Đại Tống.
3.Năm Quý Mão 1483
Nhằm củng cố tính chất tập quyền thống nhất, năm Quý Mão 1483, vua Lê Thánh Tông ban hành bộ Quốc triều hình luật, còn được biết đến với tên gọi Luật Hồng Đức. Đây là bộ luật có nhiều nội dung tích cực, tiến bộ so với pháp điển của các triều đại trước cũng như so với luật Trung Hoa đương thời, đánh dấu bước tiến trong tư duy lập pháp của hệ thống chính trị quân chủ Việt Nam.
4.Năm Tân Mão 1831
Năm Tân Mão 1831, vua Minh Mệnh tiến hành một cuộc cải cách hành chính với quy mô, tính chất và phạm vi tác động chưa từng có trong lịch sử. Cụ thể, ông cho xóa bỏ các trấn cũ thời Lê, lập thành 18 tỉnh mới trải dài từ Cao Bằng xuống Quảng Bình (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ). Đứng đầu mỗi tỉnh nhỏ là một Tuần phủ, đứng đầu tỉnh lớn hoặc liên tỉnh là chức Tổng đốc. Hệ thống phân cấp hành chính này tiếp tục được người Pháp và các chính thể sau này kế thừa. Cùng với việc thiết lập các tỉnh mới ở khu vực phía Nam năm 1832, một Việt Nam hiện đại dần hình thành.
5.Năm Đinh Mão 1927
Đầu năm Đinh Mão (năm 1927), Hội Liên hiệp Các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản cuốn sách Đường Kách Mệnh, vốn là tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong các lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu (Trung Quốc). Cuốn sách đánh dấu mốc nổi trội trong quá trình truyền bá chủ nghĩa Mark – Lenin và tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc vào Việt Nam, góp phần thiết thực chuẩn bị cho sự ra đời của các tổ chức Cộng sản đầu tiên ở trong nước.
6.Năm Quý Mão 1963
Vào đầu năm Quý Mão (năm 1963), sau một ngày chiến đấu, Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam đã đánh bại các cuộc hành quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa có cố vấn Mỹ hỗ trợ tại Ấp Bắc (Mỹ Tho, Tiền Giang). Trận đánh kinh điển này, Quân Giải phóng đã làm phá sản chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, bủa lưới phóng lao của địch, làm lung lay tinh thần chiến đấu của quân đội Sài Gòn. Chiến lược chiến tranh đặc biệt hoàn toàn thất bại.
7.Năm Ất Mão 1975
Sau 21 năm gian khổ chiến đấu, mùa xuân năm Ất Mão (năm 1975), Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định sẽ có tên gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh với mục tiêu thần tốc giải phóng Sài Gòn cũng như hoàn thành giải phóng các vùng lãnh thổ còn lại ở miền Nam trước mùa mưa, hạn chế tối đa tổn thất từ chiến tranh.
Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, hoàn thành các mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cả nước có được hòa bình, thống nhất.
Có thể là hình ảnh về ngoài trời và văn bản