Thứ Năm, 26 tháng 1, 2023

Sự chống phá của các thế lực thù địch tác động đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến vô cùng nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tuy hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ yếu, song thế giới đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, như: “Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên”, các vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn đang tiếp diễn, đại dịch COVID-19 vẫn có những diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu... Đặc biệt, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”. Điều này tiếp tục gây nên những khó khăn, cản trở rất lớn đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng những “điểm nóng” trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam, nhằm xuyên tạc tình hình phát triển của đất nước, mưu toan hướng lái những tư tưởng và hành động sai trái, gây chống đối, “bất tuân dân sự”, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội; từ đó lôi kéo, tập hợp những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã tận dụng tối đa phương tiện truyền thông, như in-tơ-nét, mạng xã hội cùng với hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở hải ngoại để phát tán các bài viết tuyên truyền xuyên tạc sai sự thật về Việt Nam, đồng thời đăng tải nhiều video clip xấu, độc lên Facebook, Youtube..., thư gửi, kiến nghị, tuyên bố, hội thảo của các tổ chức, cá nhân; trao giải thưởng của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và của các tổ chức phản động, đối lập; trả lời phỏng vấn, bình luận của các báo, đài... Sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt đó đã tác động không nhỏ đến nhận thức, tâm lý, thái độ của một bộ phận Nhân dân, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên./.

Những yếu tố tác động đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, vì “địch đứng trong bóng tối, ta đứng ngoài ánh sáng; địch có năm, bảy kẻ thù với nhiều âm mưu, thủ đoạn, được sự hậu thuẫn của tài chính, khoa học - kỹ thuật còn ta vẫn chỉ là một nước đang phát triển”. Tuy nhiệm vụ khó khăn như vậy, nhưng thực tế cho thấy, những điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ vẫn còn nhiều hạn chế.

Về nhân lực, hiện nay nước ta có đội ngũ đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học, trong đó nhiều người có trình độ chuyên môn giỏi, trình độ lý luận chính trị cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông, nhất là in-tơ-nét và mạng xã hội, để đẩy mạnh các hoạt động chống phá trên không gian mạng, thì một số chuyên gia, nhà khoa học lại chưa thực sự theo kịp sự phát triển của mạng xã hội để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị trong tình hình mới.

Hiện nay, chúng ta đã chú trọng đến việc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, nhưng thực tế cho thấy, mạng xã hội là “trận địa” quan trọng để các thế lực phản động, thù địch tiến hành thực hiện âm mưu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn chưa đáp ứng yêu cầu; việc rà soát, phát hiện các trang mạng, các đối tượng phản động còn chậm; cách thức tiến hành đấu tranh, tác chiến trên không gian mạng, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để vô hiệu hóa thủ đoạn của các thế lực thù địch... còn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Những hạn chế về nguồn lực, phương tiện vật chất - kỹ thuật đã tác động trực tiếp đến việc thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta trong thời gian qua. Những hạn chế đó làm cho việc thực hiện nhiệm vụ gặp nhiều khó khăn, chủ yếu mới được triển khai trên bề rộng. Ở một số nơi, có những thời điểm, việc thực hiện công tác đấu tranh còn chưa đi vào thực chất, chưa có hiệu quả rõ rệt, mới chủ yếu là xử lý tình huống nảy sinh, chứ chưa có chiến lược lâu dài và chưa thực sự giành được thế chủ động, nhất là trên không gian mạng./.

"KHÔNG CÓ ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG THÌ LÀM GÌ CÓ HIỆP ĐỊNH PARIS"

 

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan phân tích: "Không có Điện Biên Phủ làm sao có Hiệp định Geneve. Tương tự như vậy, không có Điện Biên Phủ trên không, làm gì có Hiệp định Paris đầu năm 1973".
Được bắt đầu từ năm 1968 và kết thúc vào đầu năm 1973, cuộc đàm phán ở Hội nghị Paris bàn về hòa bình ở Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử đấu tranh ngoại giao của nhân loại. Trong vòng 4 năm 9 tháng, cuộc đàm phán đã diễn ra với hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo và 1.000 cuộc phỏng vấn.
Trải qua quá trình đấu tranh kiên trì, khi kiên quyết, khi mềm dẻo, chúng ta đã buộc siêu cường Mỹ, lần đầu tiên phải chấp nhận thất bại, trong lịch sử 200 năm, từ ngày lập nước. Với Hiệp định này, con đường đi tới hòa bình của chúng ta ngày càng được rộng mở. Thắng lợi trong cuộc đấu trí ngoại giao này, trở thành bài học sinh động, mẫu mực trong lịch sử của nền ngoại giao non trẻ Việt Nam.
Đêm giao thừa Tết Mậu Thân năm 1968, 4 thành phố lớn, 37 thị xã và hơn 100 thị trấn, chi khu quân sự do Mỹ-ngụy chiếm đóng đồng loạt bị tấn công. Toàn miền Nam rung chuyển, tiếng súng, pháo và chớp lửa xuất hiện khắp nơi. Đài Phát thanh Sài Gòn, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn và Tòa Đại sứ Mỹ, những nơi được cho là tuyệt mật, bất khả xâm phạm bị đánh phá. Các cơ quan đầu não của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn rung lên liên hồi.
Sự kiện này đã gây chấn động thế giới. Quân viễn chinh Mỹ và quân đội, chính quyền tay sai Sài Gòn hoang mang cực độ. Nhà Trắng, Lầu Năm Góc bàng hoàng, sửng sốt. Chúng ta đã giáng một đòn sét đánh cực mạnh và bất ngờ vào thẳng đô thị. Sự kiện này, khiến người Mỹ bừng tỉnh nhận ra rằng, họ không còn giữ được thế thượng phong của một siêu cường nữa. Tiếng "sét" Mậu Thân đã buộc họ phải xuống thang chiến tranh. Ngoại trưởng Mỹ Kissinger đã phải tuyên bố: Sự kiện Mậu Thân đã làm cho toàn bộ chiến lược đang lên của Hoa Kỳ bị lật nhào.
Đúng như thế, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố, đơn phương chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, sẵn sàng cử đại diện đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Đại tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà nhận định: Đòn tiến công vào Tết Mậu Thân 1968 là bản lề mang tính quyết định, mở đường cho cuộc đàm phán hòa bình tại Hội nghị Paris.
"Tết Mậu Thân là một mốc rất quan trọng với đất nước ta. Ý nghĩa chiến lược là rất lớn, nó làm thay đổi cục diện chiến tranh. Cũng như Bác Hồ nói dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải quyết giành cho được độc lập, tự do. Trung ương Đảng quyết định là phải có một cuộc tấn công lớn, toàn diện để đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, làm cho nước Mỹ phải rung động. Từ đó mới có Hiệp định Paris về Việt Nam", nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà nhấn mạnh.
Trên cơ sở tạo đà chiến thắng của Tết Mậu Thân, ngày 13/5/1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên. Mặt trận ngoại giao chính thức được mở, song song với mặt trận quân sự. Tuy nhiên, đến với bàn đàm phán Paris, người Mỹ vẫn đang trông chờ, ảo tưởng vào một thắng lợi quyết định trên chiến trường, để ép chúng ta phải ký vào Hiệp định, theo những điều khoản mà họ đã định sẵn. Vì thế, con đường đi đến hòa bình trên bàn đàm phán Paris, không đơn giản và thuận lợi như lúc đầu chúng ta hình dung.
Tiến sĩ Trần Xuân Trí, Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng, cũng một phần do trong suốt hơn 4 năm đàm phán, chúng ta chưa giành được những thắng lợi mang tính quyết định, nên chưa đủ sức đè bẹp, áp đảo người Mỹ trên chiến trường và trên bàn đàm phán. Chỉ khi, chúng ta giành thắng lợi mang tính quyết định, đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội năm 1972, đế quốc Mỹ mới nhìn nhận về Hội nghị Paris một cách nghiêm túc.
"Trong thời gian diễn ra hội nghị, mặc dù chúng ta đã giành được những thắng lợi quân sự đánh bại lần lượt các chiến lược chiến tranh của Mỹ, tuy nhiên, từ năm 1968 đến khoảng năm 1971 và đầu năm 1972, những thắng lợi quân sự của ta chưa có ý nghĩa quyết định đánh bại hoàn toàn ý chí và hành động xâm lược của Mỹ. Chính vì thế Mỹ vẫn tỏ ra ngoan cố. Thực tế, chỉ từ năm 1972, khi chúng ta đã giành được thắng lợi quyết định, đó là trận Điện Biên Phủ trên không vào tháng 12/1972, mới buộc Mỹ phải nối lại đàm phán, chấp nhận ký kết Hiệp định Paris", Tiến sĩ Trần Xuân Trí phân tích.
Nói về ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có to, tiếng mới lớn. Nếu chiếu theo tư tưởng của Người, thì đòn tấn công sấm sét vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân là một minh chứng cho thấy thực lực của chúng ta đã có những lớn mạnh. Liên tiếp sau đó, những thắng lợi ở chiến trường Nam Lào năm 1971, Chiến trường Quảng Trị năm 1972 và đặc biệt là thắng lợi trong Chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972, chính là quá trình chúng ta tạo ra một chiếc chiêng to, có đủ khả năng để tạo ra tiếng vang lớn trên bàn đàm phán ngoại giao. Và thực tế chiến trường đã cho thấy, khi chiêng đủ to, tiếng đủ lớn thì người Mỹ phải lắng nghe và chấp nhận thực tế.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan phân tích: "Không có Điện Biên Phủ làm sao có Hiệp định Geneve. Tương tự như vậy, không có Điện Biên Phủ trên không, làm gì có Hiệp định Paris đầu năm 1973. Do đó, có chiến thắng trên chiến trường, mới có thể thắng lợi ngoại giao được. Làm sao họ chấp nhận ngồi vào bàn thương lượng, nếu không có Tổng tiến công Mậu Thân, làm sao họ chịu ký Hiệp định Paris, nếu không có thắng lợi Điện Biên Phủ trên không. Điều đó chứng tỏ triết lý của Bác Hồ là phải trông ở thực lực, thực lực mới là quyết định, còn kết quả ngoại giao chỉ là phản ảnh thực lực".
Cùng chung quan điểm, Tiến sĩ Hà Minh Hồng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh nêu rõ: "Một hiệp định để kết thúc chiến tranh, thì hiệp định đó phải giải quyết những lợi ích của mỗi bên trong cuộc chiến này. Nên nhớ rằng đây là hai bên của cuộc chiến mà nó rất khác biệt với nhau. Một bên là mục tiêu, mục đích, lợi ích của một đế quốc toàn cầu. Họ không thể thua, họ chưa bao giờ thua, thậm chí họ chưa bao giờ hòa, suốt từ năm 1776 cho đến thời điểm đó. Hiệp định kết thúc chiến tranh đã là điều chưa từng có với họ rồi. Cho nên làm sao để có thể đảm bảo được là họ không thua. Nhưng mà đến với chiến tranh Việt Nam và đến khi mà phải nghĩ đến việc một Hiệp định, thì thắng như thế nào? Câu hỏi đó, bài toán đó rất khó với người Mỹ. Bởi vì họ phải giải bài toán đó suốt từ năm 1968 cho đến tháng 1/1973, thậm chí đến tháng 12/1972, họ còn chưa giải xong".
Như vậy, với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Hội nghị Paris được thiết lập. Với trận quyết chiến chiến lược trên không năm 1972, Hiệp định Paris được ký kết. Nhưng trong suốt chặng hành trình 4 năm 9 tháng dai dẳng giữa Thủ đô Paris hoa lệ, cuộc đấu trí của nền ngoại giao non trẻ Việt Nam với siêu cường ngoại giao nước Mỹ, không hề trải đầy hoa hồng, mà đó là cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt không kém gì ngoài trận địa./.

Âm mưu gây nhiễu loạn thông tin của các thế lực thù địch

 

Các thế lực thù địch không ngừng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt. Trong đó, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa là “mũi đột phá”.  Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, bịa đặt, thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin; gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, v.v.      

Nhằm xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, họ cố tình lớn tiếng cho rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, nên cần phải thay đổi bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản. Đồng thời, ra sức tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, tự ngộ nhận rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là xã hội áp bức, bóc lột, v.v. Thông qua đó, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, thành tựu công cuộc đổi mới đất nước cũng như mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, chúng ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nhất là khi Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh xử lý các vụ án tham nhũng về kinh tếNgoài ra, chúng còn bới móc, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng, cấp ủy, chính quyền các cấp./.

Đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện Thiếu văn hóa ở các đơn vị trong Quân đội

 

Quân đội với vai trò là trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống, thì không thể để cho sự tồn tại của những biểu hiện phản văn hóa len lỏi trong môi trường hoạt động quân sự. Hiện nay, bên cạnh những tiêu cực bên ngoài xã hội tác động đến tâm lý, tình cảm của bộ đội, thì các thế lực thù địch ra sức lợi dụng không gian mạng, dùng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thẩm thấu những nội dung văn hóa xấu độc vào trong môi trường quân đội, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ chạy theo ham muốn tầm thường, từ đó nhạt phai lý tưởng, xa rời mục tiêu chiến đấu, v.v. Bởi vậy, nhận diện, nêu cao cảnh giác và đấu tranh ngăn ngừa các biểu hiện phản văn hóa ở các đơn vị hiện nay cần được tiến hành chủ động, tích cực, kiên quyết với những giải pháp cơ bản đó là: Tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị Quân đội”; phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên; nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của hệ thống chỉ huy, tăng cường kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm. 

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ ” đã có nền tảng ngay từ khi thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, nét đẹp văn hóa đó được lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội hãy góp sức mình để nét đẹp truyền thống đó ngày càng được bồi đắp, trở thành giá trị vĩnh hằng. Không để “con sâu làm rầu nồi canh”; nêu cao cảnh giác nhận diện và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với mọi biểu hiện phản văn hóa, không để văn hóa xấu độc thâm nhập vào đơn vị./.

Nhận diện và đấu tranh trước những biểu hiện lệch lạc trong Quân đội

 

Để đạt mục tiêu phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá Quân đội với các thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Do vậy, cần chủ động đấu tranh ngăn ngừa mọi biểu hiện phản văn hóa để Quân đội luôn là môi trường mẫu mực, điển hình về văn hóa và là trung tâm giáo dục, rèn luyện bộ đội về phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.

Để nhận diện được các biểu hiện phản văn hóa, đòi hỏi mỗi người phải nâng cao nhận thức tới tầm lý trí, hòa nhập vào tư duy khoa học đạt tới sự trưởng thành của ý thức. Các biểu hiện phản văn hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống, dưới rất nhiều diện mạo khác nhau, thường thể hiện ở những biểu hiện về lối sống, cách ứng xử về tính cá nhân, ích kỷ, vụ lợi xảy ra trong xã hội. Biểu hiện đầu tiên của các hiện tượng phản văn hóa là nó đứng về phía cái sai, nhân danh cái sai, ủng hộ, cổ vũ cho cái sai, ra sức trấn áp, hù dọa cái đúng. Phản văn hóa thường xuất hiện từ cái sai, cái phản khoa học, chống lại công lý và chân lý.

Đặc biệt, trước những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập và sự phát triển của Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư, các biểu hiện phản giá trị văn hóa đang hằng ngày, hàng giờ tác động, thẩm lậu vào trong môi trường văn hóa quân sự. Nổi lên là những biểu hiện tiêu cực, như: bệnh thành tích, không trung thực, thiếu khách quan, minh bạch; một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, chế độ quy định của đơn vị. Các chuẩn mực văn hóa ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, tình đồng chí, đồng đội có biểu hiện nhạt phai vẫn xảy ra, thiếu đi sự chuẩn mực trong mối quan hệ qua lại giữa quân nhân và tập thể quân nhân; xen vào đó là những quan hệ do lợi ích vật chất chi phối, v.v. Những giá trị phản văn hóa đó tác động không chỉ làm cho một số cán bộ, chiến sĩ, nhạt phai mục tiêu, lý tưởng, xa rời đạo đức cách mạng, mà còn làm suy giảm uy tín, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng Nhân dân./.