Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2023

NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO CÁN BỘ, CHIẾN SỸ TRONG QUÂN ĐỘI VỀ CÔNG TÁC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ HIỆN NAY

 

Bảo v chính trị nội bộ trong các tổ chức Đảng, hệ thống chính trị là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ liên quan đến sự sống còn của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ rất khó khăn, phức tạp. Trước những diễn biến của tình hình trong nước và quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề buộc chúng ta phải quan tâm giải quyết, đó là:

Cần nhận thức rõ nhiệm vụ của bảo vệ chính trị nội bộ trước hết là nền tảng tư tưởng của Đảng đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ Cương lĩnh chính trị; bảo vệ Hiên pháp và pháp luật của Nhà nước; bản vệ chủ trương, đường lối, quan điểm, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo vệ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chủ động, kịp thời đấu tranh ngăn chặn và xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, đảng viên vi phạm tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với Nhân dân là yếu tố quyết định sự thành công của công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Nắm và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay. Trong giai đoạn phát triển mới hiện nay của đất nước, nhiều vấn đề thuộc về chính trị nội bộ Đảng tiếp tục nảy sinh và có diễn biến phức tạp. Đây là những vấn đề khó, phức tạp nhưng lại là những vấn đề quan trọng, cốt yếu trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Yêu cầu, nội dung công tác bảo vệ chính trị nội bộ hiện nay là hết sức quan trọng. Trong khi các thế lực thù địch đang điên cuồng tiến hành các hoạt động chống phá, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khi nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưỏng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn đang là những vấn đề nhức nhối, bức xúc của xã hội thì việc nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.

Gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chăm lo xây dựng hệ thông chính trị trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là bn nhóm giải pháp được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

Chú trọng công tác quản lý cán bộ, đảng viên có liên quan đến yêu t nước ngoài, quản lý lưu học sinh ngưi Việt Nam đang làm việc, học tập, sinh sng ở nước ngoài. Phát hin, ngăn chặn và xử lý kịp thời những trường hợp tham gia hoạt động hoặc tiếp tay cho hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Thực hiện tt quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thường xuyên tổ chức giao ban, trao đổi thông tin, nhất là khi phát hiện cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm, những vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội b để phục vụ cho công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ hệ thống chính trị, bảo vệ cán bộ, đảng viên.

Trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, thì việc đấu tranh phòng, chng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội chính trị và vi phạm nguyên tắc t chức, kỷ luật Đảng là đặc biệt quan trọng.

Để thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, chiến sỹ trong Quân đội thời gian tới, cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, xác định rõ vai tròtrách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Trước hết, cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay. Xác định rõ tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong công tác xây dựng Đảng. Thực tiễn đã khắng định bảo vệ chính trị nội bộ là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa sông còn của Đảng, của chế độ. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị mà trước hết là trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị.

Đ cao trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy cơ sở trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đặc biệt là công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt phương châm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ lấy phòng ngừa là chính. Gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là công tác xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng, t chức và về cán bộ.

Hai tiếp tục củng cố kiện toàn và nâng cao hiệu qua hoạt động của cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ các cấp.

Cần tiếp tục sắp xếp, kiện toàn cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ các cấp cả về tổ chức, cán bộ, phương thức hoạt động, bảo đảm để cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ có đủ các điều kiện về nhân lực, cơ chế, quyền hạn hoạt động, để nắm chắc tình hình chính trị nội bộ, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ. Kiện toàn cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm, bảo đảm tính độc lập tương đối với cơ quan quản lý cán bộ, đảng viên trong tham mưu giúp cấp ủy xử lý, giải quyết tốt những vấn đ liên quan đến chính trị nội bộ Đảng, góp phần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Cán bộ làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ phi có bn lĩnh chính trị vững vàng, không ngừng phấn đấu, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ba là, Đẩy mạnh việc giải quyết kịp thờichính xác những khiếu nại, tố cáo liên quan đến tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên.

Trong các trường hợp khiếu nại, tố cáo, có trường hợp liên quan đến lịch sử chính trị, có trường hợp liên quan đến chính trị hiện nay; có những vụ việc mới phát sinh, có những vụ việc kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm. Giải quyết tt khiếu nại, tố cáo sẽ tạo được sự đồng thuận trong nội bộ Đảng, trong dư luận nhân dân, góp phần xây dựng tổ chức đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

Bốn là, tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên ra nước ngoài và quan hệ, tiếp xúc với tổ chức, cá nhân là người nước ngoài.

Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên đang giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và cán bộ, đảng viên công tác trong các cơ quan, bộ phận trọng yếu, cơ mật phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước khi ra nước ngoài công tác, học tập, du lịch, thăm thân, chữa bệnh...; quy định về đảng viên có quan hệ hôn nhân với người nước ngoài, có con kết hôn với người nước ngoài; quy đinh về kỷ luạt phát ngôn, cung cấp trao đổi thông tin với t chức, cá nhân là người nước ngoài.

Năm , thường xuyên rà soátkiểm tra việc chấp hành các quy định về chế độ bảo mật.

Nêu cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc quản lý thông tin, tài liệu, ngăn chặn, không để lộ, lọt thông tin, tài liệu bí mật quc gia và các hoạt động thu thập thông tin của các thế lực phản động. Tăng cường đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, ngăn chăn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, kịp thời đấu tranh với luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thê lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước.

Bảo vệ chính trị nội bộ được tiến hành bằng nhiều biện pháp, song quan trọng nhất là giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao khả năng “miễn dịch” của mỗi cán bộ đảng viên trước sự tác động chuyển hóa từ bên ngoài và bên trong. tăng cường bảo vệ chinh trị nội bô góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa ngăn chặn sư suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ góp phân xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Thứ Năm, 26 tháng 1, 2023

ĐỂ KINH TẾ TƯ NHÂN THỰC SỰ LÀ ĐỘNG LỰC CỦA NỀN KINH TẾ TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, các thế lực thù địch xác định: chống phá về chính trị là trọng tâm, tư tưởng văn hóa là khâu đột phá, lĩnh vực kinh tế làm mũi nhọn. Riêng đối với kinh tế, chúng xác định, chuyển hóa về kinh tế sẽ chuyển hóa về chính trị, do vậy, chúng đã tìm cách thúc đẩy kinh tế thị trường tự do, “tư nhân hóa” kinh tế song song với chống phá kinh tế nhà nước, tập thể, làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chệch hướng sang quỹ đạo của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Để thực hiện âm mưu, ý đồ trên, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng cơ hội chính trị đã tuyên truyền bằng nhiều luận điệu rằng: “Việt Nam đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, ở Việt Nam hiện nay chủ nghĩa tư bản đang diễn ra một cách cuồng nhiệt”; “Phát triển kinh tế tư nhân là quay lại đúng quỹ đạo để phát triển theo tư bản chủ nghĩa, mở đường cho “tư nhân hóa”, “tự do hóa” về kinh tế và “dân chủ”, “nhân quyền” về chính trị ở Việt Nam”; “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thực chất là tư nhân hóa nền kinh tế quốc dân”... Có thể thấy, đây là những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch nhằm “diễn biến” chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Trong thời gian gần đây, khi một số tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả do ảnh hưởng của đại dịch covid -19 thì  một số tờ báo, trang mạng càng có dịp “hô hào” về việc xét lại vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, kêu gọi phải “tư nhân hóa” nền kinh tế hay kinh tế tư nhân phải thay thế kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân… Những quan điểm này càng được cổ xúy thông một số cuộc hội thảo khoa học và phương tiện truyền thông đại chúng. Tiếp sức cho các quan đểm trên còn có “cố vấn” đẳng cấp nước ngoài. Vấn đề trung tâm mà họ kêu gọi là tư nhân hóa nền kinh tế... Vậy nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Liệu kinh tế tư nhân có trở thành động lực, nền tảng trong nền kinh tế quốc dân được hay không?

Nếu như trước đây trong giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước ta (1958 - 1960), kinh tế tư nhân, hay nói cách khác chế độ tư hữu bị lên án, bị xem là biểu hiện của phương thức sản xuất lạc hậu, không tương thích với chủ nghĩa xã hội. Thậm chí cho đến sau ngày đất nước thống nhất (sau năm 1975) tư tưởng đó vẫn còn rất nặng nề, dẫn tới tình trạng kinh tế tư nhân gần như không có “đất diễn” trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thay vào đó là sự phát triển của phong trào đưa nông dân vào hợp tác xã, quốc hữu hóa nền kinh tế quốc dân. Kết quả thì dường như chúng ta đã thấy, đó là sự phát triển chậm chạm của nền kinh tế với sức ỳ quá lớn dẫn tới tình trạng kém phát triển. Đó chính là bài học đắt giá cho cái nhìn phiến diện, một chiều đối với vai trò của kinh tế tư nhân, phủ định sạch trơn những giá trị to lớn mà kinh tế tư nhân mang lại. Điều đó đã khiến chúng ta đã phải trả những giá rất đắt. Vì vậy, tại Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng ta đã phải thừa nhận những thiếu sót này.

Như vậy, từ chỗ chưa được chấp nhận, đến nay kinh tế tư nhân đã có một vị trí, một chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế tư nhân. Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng, chính sự xuất hiện của kinh tế tư nhân đã tạo động lực rất lớn để phát triển nền kinh tế quốc dân. Điều này đã được Đảng ta khẳng định tại Đại hội lần thứ X của Đảng, đó là “kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”. Không những vậy, đến Đại hội XI của Đảng (2011) còn khuyến khích thành lập các tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đại hội XII của Đảng đã có một một bước phát triển mới về nhìn nhận vai trò của kinh tế tư nhân và được đông đảo dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Đó là sự xác nhận “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng” trong sự phát triển của đất nước.

Nhờ sự khơi thông về mặt lý luận và mở đường về đường lối, cơ chế, chính sách mà kinh tế tư nhân nước ta đã được phát triển với tốc độ khá cao, trở thành một trong những lực lượng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Điều đó được thể hiện rất rõ ở việc đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP. Trong khi tỷ lệ đóng góp của kinh tế nhà nước có chiều hướng giảm xuống. Tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế tư nhân cũng cao hơn tốc độ tăng trưởng chung…

Đó là bức tranh về sự tăng trưởng và phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân. Nhìn vào bức tranh đó, không ít người đã phải khẳng định rằng, nhờ có sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tư nhân và nền kinh tế quốc dân đã có những bước tăng trưởng vượt bậc. Tuy nhiên, kinh tế tư nhân có trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân hay không?

Một số quan điểm cho rằng, hiện nay kinh tế nhà nước hoạt động kém hiệu quả, chỉ có kinh tế tư nhân mới là động lực chủ yếu để đưa nền kinh tế đi lên nên hãy để cho tư nhân đảm nhiệm vai trò phát triển kinh tế. Một số quan điểm khác cho rằng, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước phải là chủ đạo, là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải điều hành, quản lý nền kinh tế, không thể để tư nhân điều hành nền kinh tế. Vậy nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng: kiến trúc thượng tầng không thể vận hành theo định hướng XHCN mà cơ sở hạ tầng dựa trên sở hữu tư nhân. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn, vì kinh tế tư nhân, như kinh nghiệm thế giới đã chỉ ra, nếu tự nó, sẽ vận động theo con đường TBCN, luôn đặt mục đích là lợi nhuận của chủ sở hữu là tư nhân.

Cơ sở hạ tầng của mỗi thời đại lấy quan hệ sản xuất đặc trưng, tiêu biểu của thời đại đó làm nền tảng. Những quan hệ sản xuất khác trước đó vẫn được sử dụng nếu thực tế có nhu cầu, nhưng không bao giờ lại đóng vai trò là nền tảng, là chủ đạo của nền kinh tế quốc dân.

Trong tổng thể nền kinh tế, đặc biệt với sự phát triển kinh tế ở nước ta đó là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường nhưng phải luôn đảm bảo được tính ổn định, bền vững, phát triển vững chắc của nền kinh tế. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”. Trong khi đó, Khoản 1, Điều 51, Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ rõ: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Điều đó có thể thấy, dù kinh tế tư nhân đóng vai trò rất quan trọng nhưng trong tổng thể của nền kinh tế quốc dân, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo.

Để lý giải điều này, chúng ta có thể lấy một vài ví dụ, nước Nga hậu Xô Viết tiến hành tư nhân hóa nền kinh tế trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, hàng chục ngàn doanh nghiệp lớn, nhỏ bị tư nhân hóa, tư nhân nắm lấy hầu hết các lĩnh vực huyết mạch của nền kinh tế, hình thành một tầng lớp tài phiệt khống chế cả nền kinh tế Nga trong một thời gian dài. Còn nếu nhìn vào hệ thống các siêu thị ở Việt Nam, một số siêu thị từng có tiếng tăm nay đã bị các nhà đầu tư nước ngoài mua đứt, điển hình là hệ thống siêu thị Nguyễn Kim bị Thái Lan mua đứt; tập đoàn Kinh Đô từng “làm mưa làm gió” trên thị trường nhưng cũng đã bán hết cổ phần cho nước ngoài, rồi còn đó những P/S (kem đánh răng PS), Dạ Lan (mỹ phẩm Dạ Lan), bia Huda Huế… cũng đã bị nước ngoài thâu tóm. Vậy thì nếu kinh tế tư nhân làm nền tảng thì đến một lúc nào đó nền kinh tế này sẽ đi về đâu?

Hiện nay, có thể có những doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động, làm ăn kém hiệu quả, điều đó xuất phát từ sự yếu kém trong khâu quản lý và sự vận hành thiếu trơn tru của các doanh nghiệp. Đặc biệt, khi đại dịch covid-19 lan rộng ra 205 quốc gia và vùng lãnh thổ đã làm thiệt hại lớn về người và của các nước trong đó có Việt Nam. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ quyết liệt của Chính phủ, nước ta đã và đang ngăn chặn tốt đại dịch covid-19 và thực hiện mục tiêu kép (vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế), sau một năm đại dịch xảy Việt Nam trở thành điểm sáng về chống dịch và phát triển kinh tế được Thế giới đánh giá cao, đây chính là một đòn chí mạng đánh vào các thế lực phản động, chống phá Việt Nam. Theo đó, phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển.

Để kinh tế tư nhân là động lực phát triển nền kinh tế, không còn tâm lý kỳ thị, có nhận thức đúng đắn, không tạo sơ hở, thiếu sót, tạo điều kiện cho thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc cần thống nhất về mặt nhận thức và hành động những quan điểm của Đảng và Nhà nước những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao.

Thứ hai, xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng. Phát huy mặt tích cực, có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, “quan hệ, lợi ích nhóm”, thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi.

Thứ ba, kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo môi trường điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Khuyến khích các hình thức các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn và các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Thứ tư, khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa hoặc Nhà nước thoái vốn. Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác, nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan tỏa rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, mở rộng thị trường.

Thứ năm, chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành phát luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản lý, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân.

CƠ SỞ KHOA HỌC-THỰC TIỄN ĐỂ BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ ẢO VỌNG”

 

Thời gian qua, trên một số diễn đàn, mạng xã hội và trang tin điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí nước ngoài, có ý kiến vẫn cố tình cho rằng, “tương lai thế giới này không có chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội là hoang tưởng”, "chủ nghĩa xã hội-đường đi không đến đích", “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng”.
Những ý kiến trên mang hàm ý hoài nghi về tính hiện thực của lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nhân loại đang hướng tới và có dụng ý phủ nhận con đường XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đang xây dựng và đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Xu hướng xã hội hóa, dân chủ hóa là tất yếu
Theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, CNXH trước hết và tiêu biểu là sự vận động của đời sống hiện thực theo xu hướng xã hội hóa. Nó đối lập với xu hướng tư nhân hóa của xã hội hiện tồn.
Vậy, biểu hiện của “xu hướng xã hội hóa trên thực tế” là như thế nào?
Đó là xu hướng ngày càng tăng lên các mối liên kết xã hội trong sản xuất như hợp tác, liên kết, phối hợp, phân công trong sản xuất hoặc dịch vụ. Thực tiễn sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội hóa thì cách tổ chức quản lý xã hội cũng buộc ngày càng phải dân chủ hóa. Theo C.Mác, đây là những xu hướng hiện thực cơ bản cho sự ra đời của CNXH. Lý tưởng về xây dựng một xã hội trên các nguyên tắc: Công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... cũng được xây dựng và hiện thực hóa từ những xu hướng này.
Thế nhưng, phải đến thế kỷ 19 thì những nhân tố cho việc định hình xu hướng xã hội hóa trên thực tiễn mới rõ ràng. Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa hoặc các cuộc cách mạng công nghiệp là biểu hiện thực tế tiêu biểu nhất cho xu hướng này.
Cùng với sự trưởng thành của phong trào công nhân, sự hình thành các đảng cộng sản, cuộc đấu tranh cho lý tưởng công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... đã có thêm sự dẫn đường của lý luận CNXH khoa học. Cái tất yếu và cái tự giác hòa quyện với nhau cùng nâng tầm nhận thức và hiệu quả hành động cho nhân loại.
Tính hiện thực của CNXH thể hiện ở nhiều cấp độ
Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra các cấp độ hiện thực hóa của CNXH như sau:
Cấp độ thứ nhất, tính hiện thực của CNXH được thể hiện qua những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa ngay trong thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản. Điển hình là sự phổ biến phương thức sản xuất công nghiệp, sự tăng lên các mối liên kết của nhân loại trong sản xuất, dịch vụ và sự định hình hệ thống pháp luật-công pháp quốc tế để cùng nhau giải quyết một cách công bằng, bình đẳng những vấn đề của phát triển hiện đại.
Cấp độ thứ hai, tính hiện thực của CNXH thể hiện ở những phong trào, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... Thực chất là những xu hướng vận động, những cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội với các mục tiêu hòa bình, độc lập, cùng phát triển trong dân chủ, công bằng và bền vững.
Cấp độ thứ ba là thông qua các cuộc cách mạng xã hội, xác lập chế độ dân chủ XHCN, thông qua đó xác lập quyền làm chủ của nhân dân, chế độ kinh tế XHCN trên cơ sở công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động... Đặc trưng chính trị của chế độ XHCN là giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thông qua vai trò cầm quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua nhà nước XHCN.
Cấp độ thứ tư là sự xác lập trên thực tế hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa-chủ nghĩa cộng sản. Một xã hội mới phát triển ở trình độ rất cao cả về sản xuất dịch vụ và tổ chức quản lý, được xây dựng trên nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”, con người được phát triển tự do, xã hội không còn giai cấp, không còn nhà nước, môi trường thiên nhiên được bảo vệ bền vững; hòa bình và hữu nghị trở thành quan hệ phổ biến và tất định trong quan hệ quốc tế. Loài người trên trái đất này bước vào một giai đoạn phát triển với trình độ mới: Xã hội cộng sản văn minh.
Phản ánh các cấp độ phát triển của CNXH hiện thực là lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Hiện thực hóa lý luận này tiêu biểu nhất là quá trình xây dựng CNXH hiện thực trên thế giới mà khởi đầu là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và các xu hướng đi lên CNXH hơn 100 năm qua. Trải qua khá nhiều thăng trầm, tính hiện thực của CNXH vẫn được thể hiện trên nhiều phương diện và cấp độ.
CNXH hiện diện ở nhiều quốc gia là minh chứng khách quan
Ở cấp độ là những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp đang nối tiếp nhu cầu thúc đẩy xu hướng này, khiến cho sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng ngày càng gắn bó. Cùng với đó là các biểu hiện mới của xã hội hóa hiện đại, như: Toàn cầu hóa, phân công và hợp tác lao động quốc tế, sự hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất, kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng. Các liên kết hợp tác, đồng thuận giữa nhiều nước trong quản trị để giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Tất cả xác định rằng, xu thế xã hội hóa hiện nay đang rất mạnh mẽ.
Ở cấp độ là những xu hướng, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... mà biểu hiện cụ thể là tìm tới một mô hình tổ chức xã hội khác với chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phủ định kiểu tổ chức xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”-như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.
Hiện nay, mô hình phát triển này đang là thực tiễn ở nhiều nước Bắc Âu và một số quốc gia phát triển khác. Ở những nước này, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuy vẫn còn là chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng khá nhiều giá trị XHCN, nhân tố XHCN đã và đang được tích lũy. Giá trị xã hội, lợi ích xã hội, mục tiêu xã hội, ý nghĩa xã hội của các hoạt động rất được xem trọng và được coi như những nhân tố hữu cơ của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Những thành quả ấy trước hết là kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân nhưng mặt khác, cũng cần thấy rằng, chính quy luật của cuộc sống-ở đây là xu thế xã hội hóa, đã thúc đẩy những tiến bộ xã hội ấy.
Ở cấp độ là chế độ XHCN, sau cuộc khủng hoảng của một mô hình xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô (1989-1991), nhiều nước vẫn giữ vững chế độ XHCN, tiến hành cải cách đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. CNXH hiện thực đang là thực tế ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba... Ở những quốc gia này, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã và đang gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhà nước XHCN, quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân đều là những thực tế không thể phủ nhận. Đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH trong cải cách đổi mới ở các nước XHCN hiện nay không chỉ xác nhận xu thế đi lên CNXH ở cấp độ quốc gia mà còn cống hiến những con đường, biện pháp mới mẻ để xây dựng CNXH. Những cống hiến đó đã được các đảng cộng sản và đảng công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới thừa nhận như những giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh, xu thế thời đại ngày nay.
Những “mảnh ghép” tốt đẹp đang định hình xã hội tương lai
Điều khá thú vị là, một số “mảnh ghép” của xã hội tương lai-chủ nghĩa cộng sản, cũng đang dần xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hiện nay. Chế độ tự quản của các cộng đồng dân cư, cái mà C.Mác cho rằng sẽ thay thế cho nhà nước trong xã hội cộng sản, hiện nay cũng đã xuất hiện ở nhiều nước trong một số lĩnh vực quản trị xã hội. Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh thế thế giới và cũng là tác giả của khái niệm “cách mạng công nghiệp 4.0” nhận định rằng: Hiện nay chúng ta đã có chủ nghĩa cộng sản về thông tin! Hàm ý của ông phản ánh một thực tế là hiện nay, nếu bạn có phương tiện nối mạng, nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu, chỉ cần tra một từ khóa vào công cụ tìm kiếm, sẽ có ngay hàng triệu thông tin và gần như hoàn toàn miễn phí! Ngay ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều hành động thiện nguyện tự giác cũng phản ánh lối tư duy và hành động của con người trong xã hội tương lai: “Bánh mì miễn phí”, “nước uống miễn phí”, “dịch vụ sửa xe miễn phí”...
Chúng ta có thể coi những ví dụ trên là những “mảnh ghép” của hiện thực đang định hình cho xã hội tương lai-xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Như vậy, với một cách nhìn khoa học, chúng ta có thể khẳng định CNXH vẫn đang là một thực tế với nhiều cấp độ trên thế giới hiện nay. Thực tế đó đang biểu hiện rất sinh động, có sức hấp dẫn mạnh mẽ với nhân loại. Thế giới đang đi lên CNXH với nhiều con đường, cách thức khác nhau. Như lời C.Mác và Ph.Ăng-ghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”(1).
PGS, TS NGUYỄN AN NINH

NHỮNG CÁNH BAY "CHUYÊN CHỞ" MÙA XUÂN


Tết đến, Xuân về, đa số người lao động ở các lĩnh vực, ngành nghề đều có những ngày nghỉ để sum họp, quây quần bên gia đình. Tuy nhiên, với đội ngũ nhân viên hàng không như phi công, tiếp viên, kỹ sư bảo dưỡng tàu bay,… được ăn Tết cùng gia đình là điều rất hiếm hoi.
Ai cũng có những nỗi niềm riêng nhưng tất cả đều khẳng định, được thực hiện nhiệm vụ trong những ngày Xuân là niềm hạnh phúc, tự hào. Họ sẵn sàng gác lại niềm vui cá nhân, góp một phần nhỏ bé đem lại niềm vui Tết đoàn viên của hàng nghìn gia đình, “chuyên chở” mùa Xuân dưới đôi cánh bay.
Thời điểm Tết Nguyên đán, hầu như năm nào chị Nguyễn Ly Hương, cơ trưởng của Hãng Vietnam Airlines cũng bay, nhưng vẫn cố gắng dành thời gian nghỉ cho gia đình. Phi công có quyền đề xuất bộ phận khai thác dành cho mình ngày nghỉ cố định, nếu đề nghị nghỉ ngày 30 Tết, đơn vị sẽ bố trí bay trước đó để trong ngày 30 Tết về tới nhà.
Những ngày Tết, các phi công sẽ được linh động sắp xếp để ở nhà 1, 2 ngày. Khi bay những chuyến Tết, tổ bay thường có tục lệ mừng tuổi và chúc nhau một năm bay an toàn, tạo không khí vui vẻ, hào hứng trên không.
Trong dịp Tết Nguyên đán này, tiếp viên Trần Ngọc Trung (Vietnam Airlines) đón năm mới ở đất nước Mặt trời mọc Nhật Bản và cũng là năm thứ 3 anh không đón Giao thừa cùng gia đình. Lần đầu, anh được đón Giao thừa trên độ cao gần 11.000m là dịp Tết năm 2019, khi thực hiện chặng bay Cam Ranh-Bắc Kinh (Trung Quốc).
Đến giờ, anh vẫn giữ kỷ niệm tờ tiền của tổ tiếp viên hôm ấy và tờ 10 nhân dân tệ của một hành khách mừng tuổi.
Bên cạnh đội ngũ cơ trưởng, tiếp viên, những nhân viên làm bảo dưỡng máy bay cũng đòi hỏi phải thường xuyên làm việc ngoài trời, nhiều khi nhiệt độ lên tới 40, 50oC vào mùa hè hay dưới 0oC vào mùa đông, bất kỳ tình huống nào cũng phải bảo đảm tuyệt đối không được sai sót trong công việc. Đối với các anh, tham gia chuyến bay phục vụ chuyên cơ, sửa chữa tàu bay ở nước ngoài, tăng cường cho trung tâm khác,… là nhiệm vụ thường xuyên, kể cả trong ngày lễ, Tết.
Trong dịp Tết năm nay, anh Nam cũng như nhiều kỹ sư máy bay khác nhận nhiệm vụ làm việc cả ngày mồng 1 và mồng 2 Tết. Trong khi nhiều gia đình quây quần sum họp, du xuân những ngày Tết, thì các anh vẫn cần mẫn làm việc dưới bụng máy bay hay bên trong động cơ. Trong thời khắc Giao thừa, từ sân bay, bên cạnh những chú chim sắt, họ dừng tay cờ-lê đôi phút, ngắm nhìn pháo hoa bung nở rực rỡ trên bầu trời đêm.
Khoác lên mình đồng phục mang thương hiệu Hãng hàng không quốc gia là niềm tự hào để đội ngũ từ phi công, tiếp viên, đến nhân viên ở các khâu ngày ngày gắng sức tỏa sáng hơn nữa, đó là động lực để họ cảm thấy giữa tiết trời giá lạnh vẫn thấy ấm lòng.
Nhandan.vn
Có thể là hình ảnh về máy bay

Tất cả cảm 

Những luận điệu sai trái về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 

Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước ra sức chống phá, xuyên tạc rằng, không có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, đạt được kết quả còn lớn hơn nhiều (?!).

Các thế lực thù địch còn cho rằng, phải có sự chuyển hướng, “xoay trục” phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, theo nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, vì kinh tế thị trường vốn là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa (?!). Nếu “ghép” định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, “nước với lửa”, tạo thành “đầu Ngô mình Sở”, chỉ mang đến những thất bại (?!). Chúng suy diễn rằng, dường như Việt Nam đã, đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng sự điều tiết của thị trường, mặc dù vẫn tuyên truyền bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của chủ nghĩa xã hội (?!).

Những luận điệu trên thực chất là mưu đồ đen tối, cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Đây là những luận điệu hết sức phản khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn./.