Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

SỨC MẠNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRONG CHIẾN THẮNG TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI


Cách đây 50 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.
Chiến thắng lịch sử trên bầu trời Hà Nội được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó, sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân (CTND) là nhân tố hết sức quan trọng.
Hội nghị Paris, sau 4 năm đàm phán không tiến triển, tháng 10-1972, trước ngày bầu cử Tổng thống Mỹ một tháng, Mỹ nhanh chóng nhất trí với dự thảo văn bản “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” do phía ta đưa ra và thỏa thuận sẽ ký chính thức vào cuối tháng 12-1972. Tuy nhiên, đó chỉ là mưu đồ chính trị nhằm tái cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai của Nixon.
Sau khi trúng cử tổng thống, Nixon cố tình kéo dài đàm phán để xúc tiến việc chuẩn bị cho hành động phiêu lưu quân sự mới, nhằm buộc ta chấp nhận các điều kiện của chúng. Ngày 14-12-1972, Nixon chính thức phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích lớn bằng không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương ở miền Bắc Việt Nam. Với sự huy động lớn về lực lượng, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tin rằng sẽ giành được thắng lợi tuyệt đối.
Đúng như nhận định của ta, sau thời gian trinh sát và đánh phá thăm dò, tối 18-12-1972, Mỹ tập trung lực lượng lớn không quân với nhiều máy bay B-52 cùng các loại máy bay hiện đại khác, bất ngờ mở cuộc tập kích chiến lược mang tên “Linebacker II”, đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền Bắc. “Quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ”, các đơn vị radar đã phát hiện địch từ xa và kịp thời báo cáo.
Mệnh lệnh chiến đấu, tín hiệu thông báo, báo động nhanh chóng được chuyển tới quân và dân ta để tất cả bước vào trạng thái chiến đấu, không quân được lệnh xuất kích chặn đánh máy bay địch từ xa. Ngay trận đầu, bộ đội tên lửa cùng quân và dân Hà Nội đã bắn rơi máy bay B-52 và bắt sống phi công Mỹ, từ đó củng cố vững chắc lòng tin đánh thắng kẻ thù.
Trước khi máy bay B-52 ném bom rải thảm ở Hà Nội, lệnh sơ tán khẩn cấp và triệt để được thông báo tới toàn dân. Những dòng người hối hả rời nội thành, tỏa về vùng nông thôn trong vòng tay đùm bọc, che chở của bà con các làng quê giàu lòng nhân nghĩa. Những người ở lại yên tâm bám trụ Hà Nội và sẵn sàng chiến đấu với quân thù.
Không chỉ tổ chức cho nhân dân sơ tán, để triển khai thế trận CTND hiệu quả, chính quyền Hà Nội tổ chức hệ thống còi báo động rộng khắp. Mỗi khi nhận được thông tin máy bay địch vượt qua biên giới, xâm phạm vào vùng trời nước ta, còi báo động trong thành phố lập tức vang lên. Các loa phóng thanh trên mọi tuyến phố, nẻo đường truyền đi tiếng nói điềm tĩnh, dõng dạc của phát thanh viên: "Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội một trăm cây số. Đồng bào bình tĩnh và nhanh chóng về nơi ẩn nấp. Lực lượng vũ trang về vị trí chiến đấu". Lúc này, cả thành phố nhanh chóng bước vào trạng thái chiến đấu.
Cùng với quá trình triển khai sơ tán và tổ chức báo động, Hà Nội đã phát động phong trào toàn dân bắn máy bay địch, lấy lực lượng phòng không 3 thứ quân làm nòng cốt; xây dựng và phát triển phòng không của dân quân, tự vệ gồm các tổ bắn máy bay bay thấp, bố trí và cơ động trên các trận địa đã chọn lựa; lực lượng không trực chiến thì vừa tiến hành sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu, khi có báo động thì triển khai tại các công sự đã chuẩn bị trước để bắn máy bay địch.
Trước sự đánh phá ác liệt mang tính hủy diệt của không quân Mỹ, Hà Nội xác định phải kiên quyết bảo đảm giao thông vận tải (GTVT) thông suốt, liên tục, an toàn để phục vụ sản xuất và chiến đấu. Trên mặt trận này, TP Hà Nội đã phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng GTVT chuyên nghiệp và lực lượng công binh làm nhiệm vụ xung kích ở những trọng điểm bị địch đánh phá. Bên cạnh đó, chính quyền thành phố triển khai rộng rãi lực lượng bảo đảm GTVT không chuyên, gồm các tổ ứng trực và khắc phục hậu quả ở các tuyến giao thông, các bến vượt, các cầu nhỏ mà thành viên là dân quân, tự vệ.
Việc tổ chức và kết hợp chặt chẽ các hoạt động của lực lượng không chuyên và lực lượng chuyên trên mặt trận GTVT là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật chỉ đạo bảo đảm GTVT trong CTND chống lại kẻ thù. Do làm tốt công tác này, dù các mục tiêu GTVT trên địa bàn thành phố bị đánh phá liên tục, nhưng lực lượng bảo đảm giao thông đã kiên cường bám trụ, kịp thời khắc phục hậu quả.
Dưới những đợt máy bay B-52 ném bom rải thảm, vắt qua sông Đuống, sông Hồng vẫn có những chiếc cầu phao và cầu treo cùng những chuyến phà ngày đêm qua lại, giữ vững mạch máu giao thông, bảo đảm chi viện cho các trận địa đánh địch. Đó là kết quả nổi bật của thế trận mà quân và dân Hà Nội tổ chức thực hiện nhằm chống lại chiến tranh hiện đại của quân đội Mỹ.
Mô tả về sự tàn khốc của 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở Hà Nội, tướng Mỹ Taylor trong bài trả lời phỏng vấn hãng tin UPI ngày 1-1-1973, nêu rõ: “Chúng tôi đã thấy cảnh tàn phá, đau thương và chết chóc với quy mô làm cho tất cả chúng tôi đau đớn và kinh hoàng không lời nào tả xiết. Chúng tôi đã thấy những bệnh viện, nhà cửa, khu dân cư bị tàn phá và san bằng, những ga xe lửa và sân bay bị phá hỏng”...
Nhưng trong tiếng đạn bom rung trời chuyển đất cũng như trong những đống đổ nát tan hoang trên mảnh đất “Thăng Long chiến địa” vẫn sừng sững các trận địa phòng không, những tốp thanh niên nam nữ lao nhanh về các trận địa, giúp bộ đội tiếp đạn, tải thương, thay lá ngụy trang, khắc phục hậu quả; các bà mẹ tay xách nách mang những rổ trái cây, ấm nước chè xanh đến từng khẩu đội thăm hỏi, động viên các pháo thủ. Khi những ngôi nhà sụp đổ, bốc cháy rừng rực vì bị ném bom, chị em y tá, cứu thương, đội viên dân phòng nhanh chóng xuất hiện, hối hả đào bới cứu người bị nạn, dập lửa ở những căn nhà bị cháy, tháo gỡ những quả bom đang chờ nổ...
Trải qua 12 ngày đêm chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường, quân dân Hà Nội cùng với Hải Phòng và toàn miền Bắc đã làm nên Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vang dội, đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn nhất, tàn bạo nhất, chưa từng có trong lịch sử thế giới.
Biểu hiện sinh động của sức mạnh CTND trong cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở Hà Nội là hàng trăm tấm gương sáng ngời trên tất cả các lĩnh vực. Ở Nhà máy đèn Bờ Hồ, đồng chí Dương Đức Thọ và Vũ Xuân Hòa bất chấp bom đạn địch, bám máy đến cùng để bảo vệ dòng điện và đã anh dũng hy sinh.
Các xạ thủ xuất sắc: Nguyễn Thị Hiếu, Nguyễn Thị Hải, Bùi Mai, Nguyễn Hùng, Phạm Thị Viễn, chỉ với súng máy cao xạ 14,5mm trên trận địa Vân Đồn đã góp phần quan trọng bắn rơi máy bay F-111. 4 cô gái ở chòi quan sát xã Giang Biên, huyện Gia Lâm (nay là phường Giang Biên, quận Long Biên, TP Hà Nội) không rời vị trí quan sát suốt chiến dịch, kịp thời báo cáo về Huyện đội từng khu vực bị ném bom... (Theo cuốn "Lịch sử Đảng bộ TP Hà Nội (1930-2000)", Nxb Hà Nội, 2004, tr.473-474).
Đồng hành với quân dân Hà Nội, đồng bào miền Nam ruột thịt và quân dân cả nước luôn dõi theo, hòa nhịp vào “bản hợp xướng” của thế trận CTND đánh địch. Ở TP Hải Phòng, quân và dân nơi đây đã anh dũng chiến đấu, trực tiếp bắn rơi 17 máy bay các loại của đế quốc Mỹ. Quân và dân tỉnh Thái Nguyên bắn rơi 2 máy bay B-52. Quân và dân các tỉnh: Hà Bắc (nay là Bắc Ninh và Bắc Giang), Quảng Ninh, Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc và Phú Thọ), Hà Tây (nay thuộc TP Hà Nội)... cũng tích cực "chia lửa" với Thủ đô, góp phần phân tán lực lượng kẻ thù, buộc máy bay địch vào "bẫy" phòng không.
Bên cạnh đó, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và lao động, sản xuất tại Thủ đô trong 12 ngày đêm đánh địch tập kích đường không chiến lược năm 1972 còn có hàng chục nghìn người con ưu tú của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Những thành tích, kinh nghiệm quý trong chiến đấu, lao động, sản xuất của quân và dân các địa phương cũng được chia sẻ để quân và dân Hà Nội vận dụng, góp phần giành thắng lợi vang dội./.
vubao-st
Có thể là hình ảnh về 3 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết '50 năm Chiến thắng HÀ NỘI ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG 18-12 2022 1972 SẪN SÀNG CHIẾN ĐẤU KHԔNG ĐỂ Tổ QUỐC BỊ BẤT NGỜ! Vân finh Tây BMVinhTieTNh Ninh'

Kiên định, kiên quyết bảo vệ những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin


Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2).

Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS.

Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta.

Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

 


ĐẨY THUYỀN, LẬT THUYỀN


Có người bảo, câu hát “Dễ trăm lần, không dân cũng chịu. Khó vạn lần, dân liệu cũng xong” là của cụ Hồ Chí Minh. Tôi thì không nghĩ vậy. Vì tôi chưa từng nghe câu này trong thời gian cụ còn tại thế. Còn câu nói đó xuất phát từ địa phương nào, thì chỉ tác giả mới biết. Có thể dân ta cứ gán vào cho cụ để câu nói có thêm “trọng lượng”. Tôi mạo muội nghĩ thế.
Ấy nhưng mà, từ cổ chí kim, nhiều triều đại phong kiến cũng coi trọng sức dân lắm. Còn câu, “Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, có lẽ xuất phát từ bốn câu thơ trong bài thơ Qua hải, cụ Nguyễn Trãi đã viết:
“Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
“Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên
“Phúc chu thủy tín dân do thủy
“Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên”.
Dưới đây là bản dịch của cụ nhà thơ Khương Hữu Dụng:
“Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển
“Khóa sông xích sắt cũng vậy thôi
“Lật thuyền mới rõ dân như nước
“Cậy hiểm khôn xoay mệnh ở trời”.
Lý Thế Dân, hoàng đế đời nhà Đường bên Trung quốc cũng có những câu với ý nói về sức dân:
“Quân, chu dã
“Dân, thủy dã
“Thủy năng tái chu, diệc năng phúc chu”
Đã có ai dịch nghĩa như sau:
“Vua, là thuyền vậy
“Dân là nước vậy
“Nước có thể chở thuyền, nước cũng có thể lật thuyền”
Trong bài “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi cũng đề cập đến dân, khi cụ viết:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
“Quân điếu phạt trước lo trừ bạo …”
Đến thời đại Hồ Chí Minh, trong bản Tuyên ngôn Độc lập và trong Di chúc của Người, cụ Hồ cũng nhiều lần đề cập đến dân:
“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn đến tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…”.
Bước sang thế kỷ 21, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền của ta đang thực hiện các bước đi để làm cho “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra và dân thụ hưởng’. Muốn vậy thì chính quyền phải là “Của dân, do dân và vì dân”.
Qua bài này tôi muốn nói rằng, các công bộc của dân phải luôn lấy dân làm gốc. Chế độ của ta luôn lo cho dân, tất nhiên không phải việc làm gì cũng chuẩn, cũng thể hiện được câu lấy dân làm gốc.
Đất nước chúng ta từ một nước kém phát triển, ngày nay đã tiến thêm một bước là nước phát triển trung bình thấp, mục tiêu là đến năm 2045 sẽ trở thành một nước phát triển, thu nhập cao và có nền công nghiệp hiện đại. Tôi nói vậy để nói cho những ai cứ chê bai nước mình, hiểu rằng điểm xuất phát của chúng ta ở đâu, và trong thời gian bao lâu, phấn đấu gian khổ lắm mới được như ngày nay.
Xin đừng so sánh đất nước ta với những nước đã trải qua hàng trăm năm phát triển trong điều kiện không phải trải qua bốn, năm cuộc chiến tranh tàn khốc. Xin đưa ra vài con số thế này để chúng ta thấy điểm xuất phát của nước ta thấp đến thế nào.
Vào năm 1910, trong khi cả dân tộc ta chìm trong bóng tôi dưới chế độ nô lệ của thực dân Pháp thì người dân Mỹ đã sở hữu 5,8 triệu điện thoại; năm 1940, 60% dân Mỹ đã sở hữu xe hơi riêng, 45% đã dùng tủ lạnh và 40% có máy giặt. Các bạn nghĩ lại coi, thời gian đó chúng ta đã có những gì. Cho mãi đến năm 1945, chính phủ Cách mạng mới nghĩ đến việc làm cho người cày có ruộng, vì ruộng đất nằm trong tay địa chủ và chín mươi phần trăm người dân không biết chữ nên mới phải tiến hành xóa nạn mù chữ cho dân.
Bây giờ người nông dân chẳng những chỉ có ruộng mà còn canh tác bằng những máy móc hiện đại như máy cày, máy gặt đập lúa, có UAV bón phân phun thuốc vân vân. Ngày nay, người nông dân không chỉ sở hữu nhà khang trang hơn mà nơi nơi đều có các công trình điện, đường (giao thông) trường học và trạm y tế. Theo thống kê, hiện tại số người dùng điện thoại thông minh của nước ta đã lên tới con số 85%. Thôi, đó chỉ là những gì sát sườn với cuộc sống của người dân, chứ chưa nói đến những chuyện cao siêu, những sản phẩm đầy tính khoa học và kỹ thuật khác.
Thành tựu lớn nhất mà người dân chúng ta đạt được, đó là sự bình đẳng, đó là khoảng cách giàu nghèo ngày càng thu hẹp lại. Và nhân dân chúng ta chính là người chủ của đất nước. Về khía cạnh này thì chúng ta có thể tự hào về chế độ chính trị của chúng ta. Ngược lại ở các nước phương tây, như tỷ phú Elon Musk cho biết: “Người dân không phải là chủ nhân ở các nước phương tây. Giới tài phiệt mới là chủ nhân của đất nước. Dân đen đừng mơ tưởng nhé!”. Và chính quyền ở các nước đó bảo vệ quyền lợi cho ai? Cho các nhà tài phiệt giàu có. Một sự kiện mới diễn ra ở nước Anh, khi bà tân Thủ tướng Liz Truss, tuyên bố sẽ giảm 5% thuế thu nhập của nhà giàu (có thu nhập >15.000 bảng/năm) mà không có bất cứ một chính sách gì dành cho người có thu nhập thấp. Điều đó đã tạo ra khoảng cách giàu nghèo trong nước Anh càng rộng hơn.
Có thể nói, tất cả những gì mà nhà nước ta đã làm cho đến nay đều vì dân. Tất nhiên, quá trình thực hiện thể nào cũng có sai sót, thế nào cũng có những công chức không xứng đáng là công bộc của dân. Điều đó là không tránh khỏi và cũng không bao giờ hết. Hãy nhìn vào đại cục, vào cái toàn thể mà đánh giá, chỉ như vậy mới là người có hiểu biết./.
vubao-st

Lênin vận dụng trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác

 

Giống như  C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong thế kỷ 19, V.I.Lênin xuất hiện trong thế kỷ 20 với tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học; là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.

Chủ nghĩa Lênin trở thành cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trên thế giới.

Lênin là người kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo các học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Bolshevik  và nhân dân Nga làm cuộc cách mạng long trời lở đất, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cách mạng vô sản (CMVS) trên phạm vi toàn thế giới.

Với việc bảo vệ và phát triển sáng tạo cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác trước sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, Lênin đã bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; nâng tầm cao thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc CMVS trong giai đoạn CNTB độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc-đêm trước của CMVS.

Sự cống hiến vĩ đại của Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, chắc chắn nhất, trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới.

Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Lênin được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng XHCN.

Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.

Lênin coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở, bởi ông cho rằng lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một bộ môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải.

Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn chặt tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội XHCN.

Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới-thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và CMVS trên phạm vi toàn thế giới.

Chủ nghĩa Mác đã được tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Vì vậy, chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin - nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản.

Trong chiều sâu của sợi dây chuyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.

Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, Lênin đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa trung thành và sáng tạo, bảo vệ và phát triển, lý luận và thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản.

Quan điểm của Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của CMVS ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù.

Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn.

Chìa khóa để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN là sự giác ngộ và làm chủ vận mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và sử dụng hiệu quả tầng lớp trí thức XHCN.


Hiện thực hóa Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị


Để thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống; đồng thời, nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, phòng và chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, ngày 16-9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực"; trong đó, nêu rõ việc gắn công tác phòng, chống tham nhũng đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, ngày 25-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" thay thế cho Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về "Những điều đảng viên không được làm".

Gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên chính là hiểu đúng, hiểu một cách sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”; “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân” và “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”. Hiểu đúng để hành động đúng trên tinh thần "phải làm liên tục, bền bỉ, không ngừng, không nghỉ, không ngại ngần khó khăn; càng khó, càng phải quyết tâm cao, phải phối hợp tốt hơn nữa", chính là góp phần ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm và xử lý ngay từ đầu để ngăn chặn những vi phạm nhỏ, không để chúng tích tụ thành những sai phạm lớn, vụ án lớn; không để những cành cây làm hỏng một thân cây, không để một thân cây bệnh lây lan cả rừng cây như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh.

Vì thế, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị đều phải:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phải học tập, quán triệt và thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng nói chung, về học tập lý luận chính trị nói riêng trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Thông qua quá trình đó, mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện mình theo 3 chuẩn mực và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, năm 1927. Trong triển khai thực hiện, chú trọng nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, "trong trước, ngoài sau"; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn liền với tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát.

Hai là, trong công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" này, cần phải tăng cường vai trò nêu gương trong rèn luyện bản lĩnh chính trị gắn với việc phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng về mọi mặt. Trong đó, chú trọng yêu cầu sự gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý; trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác... trên tinh thần thấm nhuần cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước... Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”.

Ba là, cùng với việc các cơ quan chức năng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng hiệu quả; cùng với việc bổ sung, thay thế Quy định số 47-QĐ/TW bằng Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" và sự phối hợp công tác giữa các cơ quan, ban, ngành chức năng để kịp thời nhận diện rõ hơn, cụ thể hơn các hành vi tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp có liên quan đến tham nhũng của cán bộ, đảng viên (biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tiễn trong phòng, chống tham nhũng và mở rộng thêm nội hàm đấu tranh gắn với chống tiêu cực bằng văn bản cụ thể), thì mỗi cấp ủy cũng cần phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở đảng để làm hạt nhân cho khối đoàn kết của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

 


Tiến hành đồng bộ, kết hợp chặt chẽ trong phòng, chống tham nhũng và tiêu cực


Theo Từ điển tiếng Việt, tham nhũng là "lợi dụng quyền hành để hạch sách nhũng nhiễu dân", cho nên, tham nhũng là sản phẩm của sự tha hóa, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân và người thân. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn khi họ lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được trao, được đảm nhiệm nhằm mục đích vụ lợi cho cá nhân, người thân, nhóm lợi ích... Đó là các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi... và đó cũng chính là các biểu hiện của sự suy thoái.

Vì tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện; là một loại biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cho nên phòng và đấu tranh chống tham nhũng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm; được đẩy mạnh trong những nhiệm kỳ gần đây.

Đặc biệt, những biểu hiện tiêu cực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra lúc sinh thời về cơ bản cũng nằm trong số 27 biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu; trong đó, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự tiêu cực đang diễn ra trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc các cơ quan công quyền.

Thực tiễn chỉ ra rằng, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực đều là "kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta... Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Do đó, không phải ngẫu nhiên lần đầu tiên vấn đề phòng, chống tham nhũng lại được ghi rõ tại khoản 2, Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải... kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền".

Do đó, phòng và đấu tranh chống tham nhũng, chống các biểu hiện tiêu cực không chỉ cần phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ mà còn phải có sự kết hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau, để phát huy hiệu quả của từng bộ phận và bảo đảm tính toàn diện của nhiệm vụ quan trọng này. 


Kiên quyết bảo vệ “hòn đá tảng” của Chủ nghĩa Mác-Lênin

 

Điều khác biệt căn bản về chất so với các luận thuyết chính trị-xã hội có trong lịch sử, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác là sự thống nhất biện chứng giữa tính khoa học và tính đảng, tính lý luận và thực tiễn.

Trong Chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận về hình thái kinh tế-xã hội là một nội dung then chốt, nền tảng, nhờ nó mà quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử không còn là một giả thuyết, mà được chứng minh bằng khoa học; trở thành kim chỉ nam chỉ đạo nhận thức và hành động của các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

Mác và Ăng-ghen đã xác nhận rằng, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội chính là kết quả lớn nhất mà hai ông đã đạt được, nó trở thành kim chỉ nam cho mọi sự nghiên cứu sau này.

Phải chăng vì lẽ đó, những người theo chủ nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại dưới mọi màu sắc luôn tập trung công kích, bài xích, phủ nhận lý luận mác-xít về hình thái kinh tế-xã hội với hy vọng từ đó phủ nhận toàn bộ Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Họ lớn tiếng phê phán “sai lầm chủ yếu trong học thuyết về lịch sử của Mác là học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội”. Từ đó, họ ra sức lý tưởng hóa mô hình xã hội tư bản hiện đại, tán dương các học thuyết xã hội phi mác-xít, chứng minh “tính hợp lý” của học thuyết của Avin Tốp-lơ với ý đồ dùng nó để thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chúng ta không phủ nhận những yếu tố hợp lý trong các học thuyết xã hội ngoài mác-xít, đáng kể là thành tựu cũng như vai trò của khoa học và công nghệ hiện đại, về sự phát triển của lực lượng sản xuất, về đẩy mạnh giáo dục và đào tạo với sự tiếp thu “hạt nhân hợp lý” của nó để nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài...

Song cần thấy rõ hơn những khiếm khuyết, hạn chế của các học thuyết đó, nhất là việc né tránh giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác với vấn đề giải phóng con người, xóa bỏ áp bức, bóc lột và các vấn đề xã hội khác như chiến tranh và hòa bình...

Không phải ngẫu nhiên mà Thời báo Los Angeles (Mỹ), phát hành sau sự kiện cuộc đảo chính tại Liên Xô ngày 19-8-1991, đã nhận định: Tư tưởng xã hội của Chủ nghĩa Mác vẫn còn ghi dấu ấn không thể xóa bỏ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

Nhiều vấn đề chính trị học, xã hội học, kinh tế học của thế giới đương đại đều được phân tích bằng lăng kính của Chủ nghĩa Mác, thậm chí còn được phân tích, sử dụng từ những khái niệm mác-xít. Cựu Tổng thống Mỹ R.Nixon, trong cuốn “Chớp lấy thời cơ-thách thức mới đối với Hoa Kỳ trong thế giới một siêu cường” cũng phải thừa nhận: “Học thuyết Mác vẫn đang được hâm mộ trong các trường đại học ở Mỹ và Tây Âu”.

Hiểu đúng sự thật, tôn trọng sự thật thì phải thừa nhận rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, điều kiện, lực lượng và phương thức đấu tranh giải phóng triệt để xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, bất công, tha hóa, đói nghèo dưới mọi hình thức; đem lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Lẽ phải duy nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra những quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan, sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; đưa giai cấp công nhân và những người dân lao động từ nô lệ lên địa vị làm chủ xã hội.

Bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện ở tính tất yếu khách quan của sự ra đời học thuyết, ở việc khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển lịch sử xã hội loài người, ở quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, ở mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, ở việc khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là quá trình lịch sử-tự nhiên...

Không thể lấy cách tiếp cận khác, ví như cách tiếp cận lịch sử các nền văn minh, các làn sóng văn minh, hoặc cách tiếp cận của sự phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật... để thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin, mặc dù trong các cách tiếp cận của các học thuyết ngoài mác-xít có một số yếu tố khoa học, chúng ta có thể chắt lọc, tiếp thu, kế thừa trên tinh thần phê phán để phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giàu có Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điểm nhấn cần nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin là ở chỗ, Mác làm nổi bật vai trò quyết định-xét đến cùng-của nhân tố kinh tế. Tuy nhiên, Mác, Ăng-ghen và Lênin không bao giờ coi kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động, phát triển của lịch sử.

Về vấn đề này, Ăng-ghen đã khẳng định rõ ràng: “Theo quan niệm duy vật về lịch sử, xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế. Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa. Tình hình kinh tế là cơ sở hạ tầng, nhưng các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng... cũng có ảnh hưởng đến quá trình của cuộc đấu tranh lịch sử và trong nhiều trường hợp chiếm ưu thế trong việc quyết định hình thức của cuộc đấu tranh ấy"(1).

Mác chỉ ra vai trò quyết định của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, con người, loài người. Nếu không có hoạt động sản xuất vật chất, thì con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển. Ngoài chức năng đầu tiên và trực tiếp này, con người thông qua lao động sản xuất vật chất còn sản xuất ra chính bản thân mình.

Ăng-ghen khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người... lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”(2).

Đây là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học để chúng ta tiếp tục vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Chủ nghĩa Mác vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và chính nó là vũ khí lý luận sắc bén để chúng ta đứng vững trên mặt trận tư tưởng, lý luận; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phản động, bảo vệ chân lý khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lênin trước sự tấn công từ nhiều phía của kẻ thù; kiên quyết giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta



Vì sao học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội mác-xít bị chống phá dữ dội?

 

Trước sự biến động dữ dội của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là những khó khăn, thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế kể từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các quan điểm, luận thuyết xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin “nở rộ như nấm sau mưa”.

Vin vào cớ chủ nghĩa tư bản đương đại đang đổi mới, thích nghi và phát triển, họ cho rằng, Việt Nam lại “giậm chân tại chỗ”, vì cứ “bám lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin”, mục tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn nên bị tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Sự trì trệ, bảo thủ chậm khắc phục với những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đại dịch Covid-19 đang hoành hành, đang đẩy Việt Nam xuống vực thẳm, hố sâu, đi vào “ngõ cụt”, “bế tắc”(!).

Mượn cái cớ đó, một số kẻ cơ hội chính trị, bất mãn quan điểm với Đảng, Nhà nước cho rằng, cả đời đã ngưỡng mộ, tin theo học thuyết Mác-Lênin là sai lầm, họ tiếc nuối vì đi theo “con đường chủ nghĩa xã hội không tưởng” của C.Mác nên giờ nhận thức lại, họ thấy cần phải “tẩy sạch, gột rửa nền tảng tư tưởng của Đảng cho sạch đầu” là Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất là lý luận về hình thái kinh tế-xã hội của Mác để “thanh thản đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, mong sớm phát tài, giàu sang, noi gương các nước Đông Âu (!).

Vì sao khi chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch lại chĩa mũi nhọn vào việc xuyên tạc, phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác một cách điên cuồng và quyết liệt như vậy? Hẳn là họ ý thức rõ ràng về sức sống mãnh liệt và sự nguy hiểm của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác đối với sự tồn tại, phát triển và đe dọa lợi ích nhóm của họ.

Bởi lẽ, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác đã vạch ngọn nguồn “bí mật” của chế độ áp bức, bóc lột; chỉ ra con đường, biện pháp “kết liễu”, đập tan sự dối trá của họ; hướng tới xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công; dẫn dắt, chỉ đường cho giai cấp vô sản đấu tranh tự giải phóng mình, xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội xã hội chủ nghĩa.

Những người có quan điểm đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhận thức rằng, chừng nào còn tồn tại học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác thì chừng ấy còn có sự thống trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, còn có đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế, cũng như cuộc đấu tranh không khoan nhượng của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản.

Do đó, họ cảm nhận các nguy cơ đe dọa sự tồn tại của họ là sự thật. Điều tất yếu sẽ đến là sự diệt vong khó tránh khỏi. Rõ ràng, sự tồn tại và ảnh hưởng mạnh mẽ từ học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là “lưỡi dao đâm thẳng vào tim họ” và họ không mong muốn kết cục bi thảm, đau thương ấy.

Vì lẽ đó, họ không thể ngồi nhìn sự “chết dần chết mòn” của đồng đảng, của chính mình và không thể “chịu đựng nổi” uy tín và vai trò ngày càng tăng lên của đảng cộng sản, ưu thế và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội. Để tự cứu lấy mình, buộc họ phải dùng thuyết âm mưu để chống phá học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Mác-một nội dung trọng yếu trong nền tảng tư tưởng của đảng cộng sản-Chủ nghĩa Mác-Lênin.


Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 


Thế giới có nhiều biến động nhưng khuynh hướng phát triển thời đại không thay đổi

 

Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.


Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng


Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”.

Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.


Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay


Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.

V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.

Đây là luận điệu sai trái cần phải phê phán