Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

QUAN HỆ HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO

 ĐCSVN) – Triển lãm “Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam: Dấu ấn qua từng trang sách” là một trong số những hoạt động, sự kiện tiêu biêu nhằm thiết thực chào mừng “Năm Đoàn kết Hữu nghị Việt Nam - Lào”, kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào...

Chiều 23/8, tại Đà Nẵng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp Nhà xuất bản và Phát hành sách quốc gia Lào tổ chức Lễ khai mạc triển lãm sách “Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam: Dấu ấn qua từng trang sách” và Hội đàm kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962 - 05/9/2022).

Các đồng chí: Phạm Minh Tuấn, Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; Xay-nhạ-phon A-nụ-lạt, Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản và Phát hành sách quốc gia Lào chủ trì sự kiện.

Cùng tham dự buổi lễ có đại diện lãnh đạo Cơ quan Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương tại Đà Nẵng; đồng chí Su-phăn Hạ-đào-hương, Tổng lãnh sự quán Lào tại Đà Nẵng; đại diện lãnh đạo một số ban, vụ trực thuộc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; các thành viên trong Đoàn Nhà xuất bản và Phát hành sách quốc gia Lào...

Phát biểu khai mạc triển lãm, đồng chí Phạm Minh Tuấn, Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật nhấn mạnh: Năm 2022 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam và Lào, khi hàng loạt hoạt động trọng thể đã, đang và sẽ được tổ chức. Trong đó, triển lãm “Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam: Dấu ấn qua từng trang sách” là một trong số những hoạt động, sự kiện tiêu biêu đó nhằm thiết thực chào mừng “Năm Đoàn kết Hữu nghị Việt Nam - Lào”, kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962 - 05/9/2022) và 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1977-18/7/2022).

Triển lãm được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp Nhà xuất bản và Phát hành sách quốc gia Lào tổ chức từ ngày 23/8/2022 đến 15/9/2022 tại trụ sở Chi nhánh Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tại Đà Nẵng (số 349 Lê Thanh Nghị, phường Hoà Cường Nam, quận Hải Châu, Đà Nẵng) hy vọng sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả công tác văn hóa, tư tưởng, phát triển văn hóa đọc nói chung. Độc giả tham quan sẽ tự hào khi thấy tình đoàn kết đặc biệt thủy chung và hợp tác toàn diện Việt Nam- Lào được phác họa rõ nét thông qua các tác phẩm sách.

“Chúng ta có quyền tự hào rằng, mỗi bước tiến của hai nước, của hai dân tộc hôm nay đều ghi nhận sự đóng góp tích cực của hai bên, làm cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày càng keo sơn, bền chặt”, đồng chí Phạm Minh Tuấn nhấn mạnh.

Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật bày tỏ, thông qua triển lãm, những ấn phẩm sách, công chúng sẽ hiểu rõ thêm về tình đoàn kết đặc biệt của hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước Lào - Việt Nam có một không hai, không có gì so sánh được. Mối quan hệ đặc biệt này luôn được hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước dày công vun đắp, ngày càng nở hoa kết trái và tươi đẹp, như Chủ tịch Kaysone Phomvihane đã từng nêu: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam sẽ mãi mãi vững bền hơn núi hơn sông” và bài thơ bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thương nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua, Việt - Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà Cửu Long”.

Tại triển lãm, đồng chí Phạm Minh Tuấn cũng chia sẻ, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đưa đến những thay đổi ngày càng nhanh trong mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, trong đó có lĩnh vực xuất bản. Nhằm đáp ứng được yêu cầu của thời đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã nhanh chóng thích ứng, là một trong những nhà xuất bản đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại. Năm 2019, Nhà xuất bản đã xây dựng hệ thống xuất bản và phát hành sách điện tử trực tuyến, góp phần đẩy mạnh việc đưa các cuốn sách thường thức, lý luận cơ bản, các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên và đông đảo bạn đọc bằng những hình thức ngày càng thuận tiện, dễ dàng hơn.

“Đến nay, trang sách điện tử Stbook.vn của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã xuất bản, phát hành được hơn 500 ấn phẩm điện tử, trong đó có nhiều ấn phẩm phục vụ bạn đọc miễn phí.

Song song với các tủ sách giấy truyền thống, trang sách điện từ Stbook.vn của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật cũng lần lượt xây dựng nhiều tủ sách điện tử với các chủ đề khác nhau, nhằm giúp bạn đọc tiếp cận dễ dàng hơn... Trong đó, tủ sách tiếng Lào là một trong những tủ sách quan trọng, được cập nhật những đầu sách xuất bản bằng tiếng Lào mới nhất của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Bạn đọc có thể truy cập tủ sách Tiếng Lào cũng như các tủ sách điện tử khác của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật trên các thiết bị điện tử cá nhân...

 Triển lãm sách “Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam: Dấu ấn qua từng trang sách” và Hội đàm Kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962 - 05/9/2022) là hoạt động nhằm tuyên truyền về quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào.

Trong đó, triển lãm trưng bày và giới thiệu hàng trăm cuốn sách được chọn lựa kỹ lưỡng, qua đó góp phần khắc họa thành công “Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam” trong 60 năm qua. Đây cũng là các tác phẩm, công trình mang giá trị lý luận và thực tiễn cao, bao gồm các bộ sách lớn như C.Mác - Ph.Ănghghen tuyển tập; Lênin tuyển tập; Hồ Chí Minh toàn tập; Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007).

Những cuốn sách về các lãnh tụ của hai nước như: Cayxỏn Phômvihản – Cuộc đời và sự nghiệp; Xuphanuvông - Tiểu sử và quá trình hoạt động; Biên niên sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh với tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào; Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hiện tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí; sách về lịch sử, văn hóa, xã hội: Ý thức về văn hoá Lào; Kiến thức chính trị phổ thông; Tấm lòng Lào – Việt; Cần phải nắm vững và vận dụng lý luận Mác – Lênin một cách sáng tạo; Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Lào - Lý luận và thực tiễn; Tại sao Đảng và nhân dân Lào chọn con đường chủ nghĩa xã hội; Việt Nam - Lào: Những năm tháng không thể nào quên (Hồi ký); Lịch sử quan hệ đặc biệt Quảng Bình - Khăm Muộn (1945-2015); Thanh Hóa với cách mạng Lào và tỉnh Hủa Phăn (1930 - 2010)...

Cạnh đó, phiên bản điện tử của một số cuốn sách được dịch tặng các bạn Lào cũng đã được phát hành trên trang sách điện tử stbook.vn và thuviencoso.vn của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Theo ban tổ chức triển lãm, nét nổi bật tại triển lãm lần này là trưng bày, giới thiệu các xuất bản phẩm về tình hữu nghị Việt Nam - Lào bằng tiếng Việt và tiếng Lào, góp phần củng cố, tiếp tục vun đắp và phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống gắn bó đã được các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước cũng như giữa hai Nhà xuất bản trân trọng và dày công xây dựng, vun đắp; góp phần tuyên truyền, giáo dục, lan tỏa về lịch sử, ý nghĩa mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ.

 Đại diện hai bên trao biên bản ký kết hợp tác.

Ngay sau lễ khai mạc triển lãm đã diễn ra Hội đàm kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962 – 05/9/2022). Tại buổi Hội đàm, hai bên đã cùng nhau ôn lại truyền thống 60 năm quan hệ ngoại giao hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; trao đổi nhiệt tình, thân thiện, thẳng thắn các vấn đề liên quan đến công tác xuất bản như: tổ chức và hoạt động của Nhà xuất bản; công tác lựa chọn đề tài, tổ chức bản thảo; công tác quản lý in và phát hành; công tác đào tạo cán bộ...

Trong khuôn khổ Hội đàm, hai bên cũng đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với nội dung, chương trình cụ thể nhằm góp phần giúp hai bên thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị và đẩy mạnh phát triển sản xuất - kinh doanh, tăng cường giới thiệu cho độc giả hai nước về đất nước, con người, về kinh nghiệm công cuộc cải cách, mở cửa của Lào và công cuộc đổi mới của Việt Nam cũng như mối quan hệ hợp tác hữu nghị mà hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã dày công vun đắp./.

Đừng lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

 

Những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân VN luôn nỗ lực để nhân quyền được bảo đảm, ngày càng phát triển. Những thành tựu trong công cuộc bảo vệ và phát triển quyền con người mà VN đã đạt được là hết sức rõ ràng, được thế giới đánh giá cao. Kết quả ấy là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản chất ưu việt, tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa với truyền thống nhân đạo, nhân văn của dân tộc VN, giữa chính sách nhất quán của Nhà nước VN luôn đặt con người là trọng tâm trong sự phát triển đất nước, với việc thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực và nghĩa vụ được quy định trong các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người mà VN đã tham gia.
Đảng, Nhà nước và nhân dân VN có quyền tự hào về những kết quả đã đạt được trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở VN, xứng đáng với sự đánh giá cao của đông đảo dư luận quốc tế. Thế nhưng, với những mục tiêu và ý đồ chính trị riêng một số thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc và vu cáo VN về các vấn đề nhân quyền, dân chủ, tôn giáo, dân tộc. Họ thường vu cáo VN vi phạm các quyền dân sự, chính trị và các quyền tự do cá nhân, trong đó có việc hạn chế và đàn áp quyền tự do ngôn luận, tự do chính kiến; chỉ trích VN bắt giam và xét xử không theo chuẩn mực quốc tế những người mà họ gọi là “nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền”; xuyên tạc chính sách đoàn kết và bình đẳng giữa các tôn giáo, dân tộc của Nhà nước VN; ra sức chỉ trích vai trò lãnh đạo của ĐCSVN, đòi xoá bỏ Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 quy định về vị trí và vai trò của ĐCSVN trong hệ thống chính trị của đất nước.
Cùng với đó là các tổ chức cực đoan, hoạt động khủng bố như “Việt Tân”; “Quỹ Người Thượng” ; “Tin lành Đề ga”… được che chở, hà hơi, tiếp sức của một số tổ chức phi chính phủ ra sức hoạt động ly khai. Vì mục đích đó chúng thường xuyên rêu rao vu cáo VN “đàn áp, bắt giam và cưỡng bức người dân tộc ít người bỏ đạo Tin lành ở Tây Nguyên”, tìm mọi cách gây chia rẽ, phá hoại đoàn kết dân tộc, kích động bạo loạn... mà các vụ biểu tình, bạo loạn tại Tây Nguyên năm 2001 và 2004, sự kiện Mường Nhé (Điện Biên) năm 2011 là những biểu hiện cụ thể.
Cay cú trước thất bại của Mỹ - ngụy tại miền Nam Việt Nam năm 1975, một số phần tử phản động chạy ra nước ngoài đứng ra tập hợp, thành lập các tổ chức ra sức chống phá, bôi nhọ hình ảnh của chính nước mình. Núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” một số lực lượng nước ngoài đã ủng hộ các tổ chức trên nhằm gia tăng các hoạt động chống phá. Họ tìm mọi cách che chở cho một nhúm người đội lốt “đấu tranh cho tự do, nhân quyền” để phục vụ cho tham vọng cá nhân và lợi ích của nước ngoài. Trong nhiều trường hợp họ đánh lộn sòng biến những kẻ vi phạm pháp luật, thành các “chiến sĩ bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyền”. Những luận điệu, mô hình của những kẻ mệnh danh là “chiến sĩ đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền” muốn áp đặt ở VN chẳng qua cũng chỉ là những bản sao tồi mô hình xa lạ của những nước có hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, kinh tế hoàn toàn khác.
Nếu thực sự “yêu nước” thì họ đã chẳng núp bóng ngoại bang để gây khó dễ cho đất nước. Tương tự, việc chăm lo tới quyền “tự do tôn giáo” của những kẻ đội lốt tôn giáo đi làm chính trị thực chất là phục vụ cho bên ngoài chứ đâu có chăm lo tới đời sống của giáo dân và các tín đồ.
Sự thật bảo vệ và phát triển quyền con người ở VN là hết sức rõ ràng. Tất cả những gì mà Đảng, Nhà nước và nhân dân VN đạt được đã bác bỏ hoàn toàn các luận điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Tình hình hiện nay đã khác trước. Nước VN đã trở thành một quốc gia thống nhất, có chủ quyền, một chủ thể bình đẳng trong cộng đồng quốc tế, muốn là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước. Cơ sở cho mối quan hệ ổn định giữa các quốc gia chỉ có thể là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, thông qua đối thoại để giải quyết mọi bất đồng, khác biệt. Mọi hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác đều là trái với nguyên tắc quốc tế.
Theo tinh thần đó, VN hoan nghênh cam kết của các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của VN thể hiện tại các văn kiện ký kết giữa VN với các nước và Tuyên bố chung giữa CHXHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, trong đó nêu rõ nguyên tắc quan hệ đối tác là “bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi”. Chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ “đối với an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của VN ”, “tiếp tục đối thoại thẳng thắn và cởi mở về những vấn đề cùng quan tâm, kể cả việc thực hiện các quyền con người, điều kiện cho các tín đồ và dân tộc thiểu số”. Việc thực hiện nghiêm chỉnh những cam kết trên đây sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hẹp bất đồng, thúc đẩy việc hợp tác cùng có lợi, đặc biệt là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người./.
vubao-st
Có thể là hình ảnh về 2 người và văn bản cho biết '32 BBC News Tiếng Việt ngày. ic giả Song Shi suy tư: VIỆT NAM Martin Ennals Foundation: 'Việt Nam vừa bỏ tù người "heo đánh giá của toi, qoài Myanmar, khô... Xem thêr bảo vệ nhân quyền vừa vận động vào Hái đồng Nhân quyền 0C NEWS| 9/08/2022 VOA Tiếng Việt .com N cần thay đổi hãn quyến Trng muốn là thành viên Hội đáng BBC News Tiếng Việt 279 4 bình luận 18 lượt chỉa'
Tất cả cảm xúc:
2

MỤC TIÊU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

(ĐCSVN) - Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt, chủ trương nhất quán, đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều đối tượng phản động đã tìm mọi cách xuyên tạc mục tiêu nói trên, nhằm làm chệch hướng cách mạng Việt Nam…

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Song với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị luôn tìm cách xuyên tạc mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); phá bỏ mục tiêu xây dựng CNXH tại Việt Nam. Chúng rêu rao luận điệu cho rằng: Mô hình CNXH là không tưởng; mô hình CNXH đã sụp đổ ở Liên Xô nên không phù hợp với Việt Nam; trong điều kiện hiện nay, Việt Nam chỉ cần độc lập dân tộc, không cần CNXH…

Đặc biệt, lợi dụng những mặt trái của xã hội, những hạn chế, khuyết điểm trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền, nhiều đối tượng cơ hội chính trị đã ra sức xuyên tạc bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó, đòi xóa bỏ CNXH, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam…

Trước hết cần khẳng định, độc lập dân tộc và CNXH có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau. Độc lập dân tộc là sự không lệ thuộc, không phụ thuộc, không chịu sự chi phối, hướng lái từ bên ngoài; là việc bất khả xâm phạm của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực; là quyền tự quyết định tương lai, vận mệnh của chính dân tộc mình. Mô hình CNXH mà chúng ta đang xây dựng là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển… Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng CNXH; CNXH là cơ sở để bảo đảm độc lập dân tộc trên thực tiễn. Do đó, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là điều kiện bảo đảm thắng lợi của cách mạng nước ta.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, quá trình xây dựng CNXH là quá trình lâu dài, chưa từng có trong tiền lệ; đòi hỏi các đảng Cộng sản phải vừa thực hiện, vừa nghiên cứu, điều chỉnh, rút kinh nghiệm. Đã có thời điểm, các đảng Cộng sản phải trả giá cho những sai lầm, khuyết điểm trong xây dựng CNXH mà sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu là ví dụ rõ nét nhất. Song, cần nhận thấy, đây là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể của CNXH đã lạc hậu. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta tiếp tục kiên định lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển.

Sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực. (Ảnh minh họa).

Trên thực tế, những thành tựu trong hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định rõ tính đúng đắn của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Việt Nam đã đạt được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng. Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được củng cố; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam cũng được thế giới đánh giá cao về hiệu quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Điển hình nhất là công tác phòng, chống dịch COVID-19, bảo vệ sức khỏe của nhân dân trong hơn 2 năm qua.

Trước xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, nước ta cũng phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Bên cạnh đó là hiện tượng tham nhũng, tiêu cực ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Với tinh thần thẳng thắn, Đảng ta xác định, tham nhũng, tiêu cực là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Song, tham nhũng là “căn bệnh chung” của hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phải là “sản phẩm riêng” của chế độ XHCN, không phải là hệ quả của chế độ CNXH như các thế lực đang tìm mọi cách tuyên truyền. Mặt khác, thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã nêu cao quyết tâm chính trị, kiên quyết xử lý nghiêm đối với các trường hợp sai phạm với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân, vì lợi ích của quần chúng nhân dân. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là chủ trương nhất quán, đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH, đòi xóa bỏ CNXH… đều đi ngược lại quyền lợi, lợi ích của nhân dân, dân tộc. Các luận điệu này cần phải bị vạch trần và đấu tranh, loại bỏ./.

ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO ĐỂ BẢO VỆ XÂY DỰNG TỔ QUỐC

 Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chiêu bài của họ là đối lập tôn giáo với chế độ xã hội chủ nghĩa, tách các tôn giáo khỏi khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, họ sử dụng các thủ đoạn xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, bịa đặt, vu cáo cấp chính quyền phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo để kích động, chia rẽ trong nước và hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Họ coi các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo là lực lượng nòng cốt để lôi kéo tập hợp quần chúng làm đối trọng với Đảng, Nhà nước và thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Cùng với việc hậu thuẫn cho các lực lượng này hoạt động chống phá đất nước, họ còn phối hợp chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức quốc tế thiếu thiện chí để bịa đặt, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, thường bắt giữ những người biểu tình ôn hòa đòi hỏi "tự do" tín ngưỡng và "tự do" thờ phụng. Nhiều tổ chức tôn giáo không được Chính phủ công nhận và không cấp giấy phép sinh hoạt… Đây là những luận điệu bịa đặt cũ rích được lặp đi, lặp lại với ý đồ chính trị xấu xa.

Điều đó không chỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ, gây mất đoàn kết dân tộc và đe dọa ổn định chính trị - xã hội; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội.

Nhà nước ta bên cạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng nghiêm cấm mọi hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Bất kỳ ai, nếu vi phạm pháp luật dù với bất cứ lý do gì đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Có thể khẳng định, những luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện của một số người thiếu thiện chí với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này không thể làm khó Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh, mở rộng hợp tác, giao lưu trên trường quốc tế./.

 VẠCH TRẦN BẢN CHẤT PHẢN ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC “TIN LÀNH ĐẤNG CHRIST”

Tổ chức “Tin Lành Đấng Christ” (viết tắt là UMCC) được thành lập vào năm 2001, tại Mỹ. Tại Việt Nam, UMCC thực chất không phải là một hệ phái Tin Lành thuần túy mà là một tổ chức “phản động” núp bóng đạo Tin Lành, tập hợp tín đồ là người dân tộc thiểu số (DTTS) ở trong nước liên kết với các nhóm Tin Lành khác và số đối tượng phản động người Việt lưu vong lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo để chống phá Việt Nam, đòi thành lập “nhà nước riêng, tôn giáo riêng” cho người DTTS, phương thức hoạt động của UMCC tương tự như “Tin Lành Đêga”.
Cầm đầu tổ chức UMCC là Y Hin Niê (Ama Jôl, sinh 1952; quê tại tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Ê Đê; đối tượng FULRO ở Mỹ). Y nguyên là đại tá FULRO 3, từng đứng đầu tổ chức FULRO lưu vong “Hội người Thượng Đêga – MDA” (tổ chức được cơ quan Di trú Mỹ chọn làm đại diện giải quyết các vấn đề liên quan người DTTS Tây Nguyên tại Mỹ). Y Hin nhiều lần được các thế lực cực đoan tạo điều kiện tham gia điều trần trước Quốc hội Mỹ về tình hình tôn giáo, dân chủ của người DTTS Tây Nguyên (Việt Nam) và ở Mỹ; vu cáo Việt Nam “đàn áp, xâm chiếm” đất đai của người DTTS; kêu gọi chính quyền Mỹ can thiệp, gây sức ép trước khi trao “Quy chế tối huệ quốc” cho Việt Nam.
Ngoài Y Hin, hoạt động tích cực cho UMCC còn có số cốt cán, như: A Ga ở Mỹ; Y Quynh Bđăp, Y Phic Hđoh ở Thái Lan; Y Nuen Ayun, Y Krếch Byă ở Đắk Lắk …). Trong đó, A Ga là đối tượng đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”; Y Quynh Bđăp, có bố từng bị đi tù vì hoạt động FULRO, nên y mang nặng tư tưởng hận thù. Từ khi còn học trên ghế nhà trường, y đã thể hiện tư tưởng ủng hộ FULRO, tìm cách móc nối FULRO lưu vong để hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước, do sợ bị bắt nên năm 2018 đã bỏ trốn sang Thái Lan. Y câu kết với số đối tượng phản động lập nhiều tài khoản Facebook, Youtube đăng bài xuyên tạc, bôi nhọ, xúc phạm, bóp méo, thổi phồng tình hình trong và ngoài nước, đặc biệt là các vụ việc tranh chấp mâu thuẫn trong vùng đồng bào DTTS.
Thực hiện âm mưu chia tách Tây Nguyên, thành lập cái gọi “Nhà nước Đêga”, trong những năm qua, tổ chức UMCC được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch tìm cách móc nối, liên kết với các tổ chức phản động lưu vong (các tổ chức FULRO lưu vong, tổ chức “Ủy ban cứu trợ người vượt biển – BPSOS” do Nguyễn Đình Thắng cầm đầu,…) và tranh thủ các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam (như: Tổ chức nhân quyền quốc tế – HRW, Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn – UNHCR, Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ – USCIRF, Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc – HRC …) để xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, cướp đất đai của người DTTS, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc… Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, lợi dụng kích động chống phá từ bên trong, trong đó nổi lên một số hoạt động vi phạm pháp luật đáng chú ý:
Hoạt động tuyên truyền phát triển tổ chức UMCC: Từ khi thành lập đến nay, UMCC đã lén lút móc nối với một số đối tượng trong nước (như: Điểu Khen ở Bình Phước; Mang Đây ở Khánh Hòa; Đinh Thành Ủy ở Quảng Ngãi; Y Chiến, Nay Y Ní, Nay Y Blang, Nay Y Phê ở Phú Yên; Kơ Sa Ha Bộ, K’Điệp ở Lâm Đồng; A Ga, A Đảo ở Kon Tum; Y Jôl Bkrông (con ruột Y Hin), Y Nuen Ayun, Y Krếch Byă ở Đắk Lắk… ) triệt để lợi dụng việc một bộ phận người đồng bào DTTS trình độ dân trí còn chưa cao, phong tục tập quán lạc hậu, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn và thông qua không gian mạng (Facebook, Zalo, Messenger, WhatsApp…) tăng cường hoạt động tuyên truyền, lôi kéo, phát triển lực lượng vào đồng bào DTTS, nhất là với số FULRO tù tha, số còn tin theo “Tin Lành Đêga” để thành lập “Tin Lành Đấng Christ Việt Nam” (viết tắt là ECCV). Chúng tìm cách lừa mị với giọng điệu tuyên truyền sặc mùi phản động rằng: “Những hệ phái được Nhà nước cho phép hoạt động là đạo của người Kinh, đạo của Nhà nước, UMCC mới là đạo của người DTTS”, “UMCC có cùng chung mục đích với các tổ chức FULRO, đó là đấu tranh đòi quyền lợi, thành lập “Nhà nước riêng” cho người DTTS”, “theo UMCC sẽ được bảo vệ, quan tâm giúp đỡ”, “nếu sau này “Nhà nước Đêga” thành công, những người tham gia sẽ được chia đất đai, nhà cửa, tài sản, phong chức tước”… Chúng chỉ đạo số bên trong củng cố tổ chức, bầu “ban chấp sự UMCC”, tập trung phát triển tín đồ là người DTTS. Ở Phú Yên cũng đã có hơn 30 người bị tuyên truyền, lôi kéo tham gia UMCC.
Hoạt động tuyên truyền vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, nhân quyền: Chúng lợi dụng các vấn đề về lịch sử, đất đai và cuộc sống khó khăn của một bộ phận đồng bào DTTS để vu cáo Nhà nước phân biệt đối xử, đàn áp người DTTS, ép người DTTS phải bỏ đạo, bỏ văn hóa dân tộc hòa nhập với cuộc sống văn minh của người Kinh; lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, giải quyết khiếu nại tố cáo ở vùng DTTS để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới nhằm làm cho Nhân dân mất niềm tin vào chính quyền. Chúng chỉ đạo cho số bên trong thu thập, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về tình hình tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở trong nước để tập hợp báo cáo các tổ chức quốc tế và Liên hợp quốc, gây sức ép, làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế thời gian qua cho thấy, số đối tượng UMCC ở huyện Sông Hinh đã trả lời phỏng vấn với Đài Á châu tự do – RFA, cung cấp hình ảnh, tài liệu, thông tin về việc lực lượng chức năng xử lý vì có hoạt động liên quan UMCC cho A Ga (ở Mỹ) nhằm xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo, nhân quyền ở trong nước; đối tượng A Ga sử dụng Facebook, phần mềm GoToMeeting, WhatsApp tổ chức các buổi rao giảng trực tuyến với số đối tượng ở trong nước tuyên truyền rằng: Ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo, yêu cầu số theo UMCC cầu nguyện cho người DTTS Tây Nguyên có nhân quyền, tự do tôn giáo; đối tượng Y Quynh Bđăp lập nhiều tài khoản Facebook (“Y QUYNH BUÔN DĂP”, “Người Thượng Vì Công Lý”), YouTube (kênh “MSFJ NEWS”) chia sẻ nhiều bài viết của tổ chức phản động “Việt Tân”, BPSOS, đăng nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Hoạt động hỗ trợ tài chính, đào tạo “kỹ năng đối phó” với chính quyền: Số cầm đầu, cốt cán bên ngoài đã tìm cách gửi tiền, phương tiện và đào tạo kỹ năng hoạt động để tạo niềm tin và lên dây cót tinh thần cho số bên trong. Y Hin đã gửi tiền, máy tính xách tay cho A Đảo, Đinh Ủy, Y Nuen Ayun, Y Jôl Bkrông ở trong nước; A Ga hứa hẹn sẽ hỗ trợ tài chính, phương tiện (máy tính, điện thoại di động, máy quay phim, chụp hình…) cho số ở Đắk Lắk và huyện Sông Hinh để hoạt động. Đầu tháng 11/2019, UMCC móc nối với “Ủy ban cứu trợ người vượt biển – BPSOS” tổ chức “Hội nghị Tự do tôn giáo hay niềm tin” tại Thái Lan, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam và tổ chức huấn luyện, đào tạo cho số tham gia hội nghị (chủ yếu là số có tư tưởng thù địch, chống đối với Việt Nam, trong đó có một số đối tượng UMCC, như: Y Quynh Bđăp, Y Phic Hđoh ở Thái Lan; Nay Y Ní ở huyện Sông Hinh, Phú Yên…). Ngoài ra, chúng còn triệt để lợi dụng Internet để viết bài, tán phát tài liệu, đào tạo trực tuyến cách thức hoạt động cũng như cách đối phó với cơ quan chức năng.
Đến nay, UMCC chưa được Nhà nước Việt Nam công nhận và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, nên mọi hoạt động liên quan đến tổ chức UMCC đều là hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm mà cơ quan chức năng sẽ có biện pháp xử lý phù hợp, đúng theo quy định pháp luật. Cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, nhưng bên cạnh đó cũng nghiêm cấm việc lợi dụng tôn giáo để xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây mất ANTT. Mỗi tín đồ tôn giáo đồng thời là công dân của Việt Nam khi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân trên cơ sở pháp luật, không một tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy, mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, kịp thời tố giác, ngăn chặn hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đó dũng là cách để bảo vệ mình, bảo vệ xã hội, và các tôn giáo chân chính./.
vubao-st
Tất cả cảm xúc:
4

KHÁI NIỆM CHỦ NGHĨA CƠ HỘI

 Theo V.I.Lênin, chủ nghĩa cơ hội là chủ nghĩa của những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc; luôn hy sinh cái cơ bản để đạt tới lợi ích cục bộ, trước mắt và sẵn sàng thỏa hiệp chính trị. Và những người cơ hội chủ nghĩa là những người không kiên quyết, vô nguyên tắc, không rõ ràng, lờ mờ, quanh co, do dự, thiếu kiên định, dao động, lừng chừng về chính trị. Với những người này, thì họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”. Vốn bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa cơ hội, những người sa vào chủ nghĩa cơ hội, những người cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng, dứt khoát, tìm cách thoả hiệp quan điểm này với quan điểm kia, để đứng trung dung giữa những quan điểm đối chọi nhau, do đó, đối với họ, chỉ luôn là những lời nói bóng gió và giả thiết trống rỗng; là lời nói không đi đôi với việc làm, “cái thói nói cách mạng suông mà không ngượng miệng”.

Thực tế là, trong Đảng vẫn còn đó không ít những thủ đoạn, biểu hiện của những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những người mang danh mácxít song lại sẵn sàng hy sinh lợi ích lâu dài, bền vững của giai cấp vô sản để mưu lợi cho sự “hào nhoáng bề ngoài và chốc lát của mình”, sẵn sàng thoả hiệp với mọi cái xấu để đạt được lợi ích cá nhân, tìm cách thích nghi với mọi phía và mong được các phái chấp nhận, dung nạp, tạo thành bè phái và cánh hẩu. Thực tế cũng cho thấy là, nơi nào có quyền lực, có nhiều lợi ích thì chủ nghĩa cơ hội càng dễ phát sinh; đồng thời ở nơi đó, cũng không thể thiếu những kẻ cơ hội chủ nghĩa - những kẻ “lập lờ”, “ẩn mình” dưới những lời nói hay nhưng trong việc làm thì vô nguyên tắc, chỉ chăm chăm lo lợi ích của chính mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Vì thế, để bảo vệ Đảng, V.I.Lênin kiên quyết đấu tranh với những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái đó và phê phán kịch liệt sách lược cơ hội chủ nghĩa của những người kém tính Đảng, kém ý thức tổ chức, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, những người làm chia rẽ sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại sức mạnh khối đoàn kết của Đảng.

Chủ nghĩa cơ hội gồm khuynh hướng cơ hội tả khuynh, hữu khuynh, chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa biệt phái. Nhìn bề ngoài, chúng có vẻ đối lập nhau, song đều giống nhau là những trào lưu tư tưởng, chính trị đối lập, thù địch với chủ nghĩa Mác, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bởi rằng, về mặt lý luận và thực tiễn, những người theo chủ nghĩa cơ hội luôn bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và chống lại giai cấp vô sản, bằng cách và tìm cách sửa chữa chủ nghĩa Mác, lấy từ chủ nghĩa Mác những điều mà giai cấp tư sản có thể chấp nhận được, nhưng vứt bỏ nguyên lý cách mạng, linh hồn của chủ nghĩa Mác. Do vậy, V.I.Lênin khẳng định, Đảng phải đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và coi đó là quy luật phát triển của Đảng; đồng thời, nhấn mạnh rằng: “Khi nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không bao giờ được quên đặc điểm của tất cả chủ nghĩa cơ hội hiện đại trong mọi lĩnh vực là: nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể nào hiểu nổi được. Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát; bao giờ cũng tìm con đường trung dung, quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau và "tìm cách “thoả thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những sự bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại, v.v. và v.v..”[1].

V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã tiến hành đấu tranh triệt để trong nội bộ phong trào công nhân và ngay trong hàng ngũ của Đảng để chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, chủ nghĩa giáo điều tả khuynh và chủ nghĩa bè phái, vì “bọn này dĩ nhiên là kẻ thù chính của chủ nghĩa bônsêvích trong nội bộ phong trào công nhân. Nó lại còn là kẻ thù chính trên phạm vi quốc tế nữa”[2]. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với bọn Tờrốtkit trên tinh thần: “Cuộc đấu tranh ấy phải được tiến hành thẳng tay, và nhất định phải đẩy, như chúng ta đã đẩy, cuộc đấu tranh ấy tới chỗ làm cho tất cả các thủ lĩnh bất trị của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xã hội - sôvanh phải hoàn toàn bị nhục nhã và bị tống cổ ra khỏi các công đoàn”[3]. Có một thực tế không thể phủ nhận là, chủ nghĩa cơ hội hiện luôn song hành cùng với phong trào cộng sản, vì thế, V.I.Lênin nhấn mạnh không chỉ Đảng Bônsêvích Nga mà nếu các Đảng Cộng sản khác mà lơ là, mất cảnh giác và không chủ động, thường xuyên tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không chỉ nguy hiểm, cực kỳ nguy hiểm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của phong trào cộng sản, đến vai trò lãnh đạo của mỗi Đảng Cộng sản và vận mệnh của mỗi quốc gia, dân tộc.

Một trong những nghĩa vụ thiêng liêng của những người mácxít chính là bảo vệ lý luận của chủ nghĩa Mác. Vì thế, theo V.I.Lênin, mỗi Đảng cộng sản, mỗi người cộng sản phải chủ động đấu tranh quyết liệt chống chủ nghĩa cơ hội để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, mỗi Đảng phải có phương pháp đấu tranh phù hợp, đúng mức trên cơ sở đi sâu nghiên cứu thực tiễn, hiểu rõ sự tình với điều kiện, hoàn cảnh của nước mình.

Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và phát triển, theo V.I.Lênin, phải thường xuyên liên tục, không được lơi là cuộc đấu tranh chống những kẻ cơ hội chính trị - những kẻ cái gì cũng cho là đúng, cũng tán thưởng, không có quan điểm chính trị rõ ràng, luôn ngả nghiêng, dao động, không kiên định nguyên tắc dẫn đến gây bè cánh trong Đảng; những kẻ sẵn sàng quỳ gối, uốn lưỡi cho vừa lòng và phù hợp với quan điểm của cấp trên và quần chúng, hòng tăng phiếu ủng hộ trong các dịp bầu cử, nhất là luôn “hy sinh lợi ích căn bản của quần chúng cho lợi ích tạm thời của một số hết sức ít công nhân, nói cách khác tức là sự liên minh giữa một bộ phận công nhân với giai cấp tư sản để chống lại quần chúng vô sản”[4]. Đồng thời, phải chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống những phần tử cơ hội chính trị - những kẻ luôn biểu hiện, thể hiện bản thân rất vững vàng về lập trường chính trị, luôn phát biểu và tỏ ra thông suốt lý luận chủ nghĩa Mác, nhưng thực tế thì không phải vậy: chúng không vì lý tưởng cách mạng mà vì động cơ quyền lực, không vì Đảng, vì dân mà hy sinh phấn đấu mà vì lợi ích cá nhân mình; những kẻ “tìm mọi cách” chui vào Đảng, xâm nhập vào bộ máy quyền lực, tìm mọi cách để giành được vị thế/quyền lực, để từ vị trí đó và dùng quyền lực đó thực hiện mục đích của cá nhân, rồi kết bè, kéo cánh cùng những phần tử cơ hội cũ, tạo thành một thế lực đáng kể trong Đảng, làm giảm sức mạnh, uy tín và thanh danh của Đảng; những kẻ không nhận thức đúng con đường đi lên của sự nghiệp cách mạng vô sản, sợ khó khăn trong việc kiến thiết xã hội chủ nghĩa, để những khó khăn đó làm cho khiếp đảm và tỏ ra tuyệt vọng hay hoang mang hèn nhát, người đó không phải là một người xã hội chủ nghĩa[5]. Hơn nữa, phải kiên quyết đưa ra khỏi Đảng “những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược, và những người mensêvích, tuy “bề ngoài” đã được phủ một lớp sơn mới, nhưng trong tâm hồn thì vẫn là mensêvích”[6], làm cho Đảng thực sự là đội ngũ đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ năng lực và sức mạnh lãnh đạo tương xứng với nhiệm vụ chính trị được giao.

ĐÀO ĐẠO BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 Chiều 16/11, tại Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng cùng đoàn công tác đã có buổi làm việc với Tỉnh ủy Lào Cai.

Báo cáo với đoàn công tác tại buổi làm việc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Đặng Xuân Phong nêu rõ, trong những năm qua, Tỉnh ủy Lào Cai đã chỉ đạo quán triệt, tổ chức triển khai nghiêm túc Quy định số 09-QĐ/TW ngày 13/11/2018 của Ban Bí thư quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; chỉ đạo quán triệt, tổ chức triển khai nghiêm túc Quy định số 208-QĐ/TW ngày 08/11/2019 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm chính trị cấp huyện; đầu tư hoàn thiện về cơ sở vật chất đối với trung tâm chính trị 9 huyện, thị xã, thành phố.

Tỉnh ủy Lào Cai đã chỉ đạo quán triệt, triệt khai toàn bộ nội dung của Quy định số 11-QĐ/TU của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn; rà soát thực trạng và so sánh các tiêu chí của trường chính trị chuẩn; ban hành Kế hoạch số 57-KH/TU  ngày 27/8/2021 về việc xây dựng trường chính trị đạt chuẩn (mức 1) theo Quy định số 11-QĐ/TW của Ban Bí thư. Theo đó, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai phấn đấu đạt chuẩn mức độ 1 vào năm 2023. So với các tiêu chí, tiêu chuẩn tại Quy định số 11-QĐ/TW của Ban Bí thư, trường có 42/55 tiêu chí đạt và 13/55 tiêu chí đang triển khai thực hiện.

Trong những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trên địa bàn tỉnh Lào Cai có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần củng cố, nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất cao trong Đảng. Lào Cai đã chủ động phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức các lớp đào tạo trình độ cao cấp lý luận chính trị, đào tạo trình độ thạc sỹ.

Từ năm 2015 đến 10/2021, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã đào tạo cao cấp lý luận chính trị, thạc sỹ, tiến sỹ, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức theo chức danh cho 1.082 cán bộ của tỉnh Lào Cai. Trường Chính trị và các trung tâm chính trị các huyện, thị, thành phố Lào Cai đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho 5.652 học viên/83 lớp học viên. Sau mỗi khóa đào tạo, bồi dưỡng, kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ, các cán bộ, công chức, viên chức đã đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc, hoạt động có hiệu quả cao hơn đáp ứng nhu cầu đẩy mạnh cải cách nền hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh vững vàng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.

Tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, thời gian tới, Trường Chính trị Lào Cai cần tập trung xây dựng đề án thực hiện Quy định số 11-QĐ/TW của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn. Bên cạnh đó, Trường cần đổi mới toàn diện nội dung chương trình đào tạo giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tham mưu tư vấn chính sách cho địa phương để thực sự là nơi đào tạo bồi dưỡng cán bộ - khâu  rất quan trọng của công tác cán bộ trong thời kỳ hiện nay. Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh lưu ý, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ, trách nhiệm của cán bộ đảng viên nói chung và trước hết là của đội ngũ cán bộ, giáo viên trường chính trị - lực lượng tuyến đầu trên mặt trận đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

KHÁI NIỆM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG

 Gần đây, khái niệm "nền tảng tư tưởng" còn được hiểu rộng hơn, bao hàm cả các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về các vấn đề chiến lược của đất nước (như về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về đường lối phát triển kinh tế-xã hội, về an ninh-quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc).

Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay

Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay

Xuyên suốt hơn 90 năm hình thành và phát triển, quá trình xây dựng nền tảng tư tưởng luôn song hành với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Theo nghĩa thông thường, bảo vệ là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được sự nguyên vẹn. Như vậy có thể hiểu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, có kế hoạch của các cấp ủy Đảng cùng các tổ chức, các lực lượng và toàn xã hội tham gia đấu tranh chống lại mọi sự phủ nhận, xuyên tạc, bảo vệ sự đúng đắn, tầm vóc, bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng thấm sâu vào đời sống chính trị, tinh thần của xã hội.

Theo nghĩa rộng hơn, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (22/10/2018) "về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới" xác định "bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là bảo vệ chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân; bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển".

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có quan hệ biện chứng với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bảo vệ đã bao hàm đấu tranh và trong đấu tranh phản bác đã hàm chứa yếu tố bảo vệ. Mục đích đấu tranh phản bác cũng chính là để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ là cơ bản, đấu tranh là quan trọng, cấp bách, thường xuyên; đấu tranh càng mạnh mẽ thì bảo vệ càng hiệu quả.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ hàng đầu, vừa cấp bách, trước mắt, vừa cơ bản, thường xuyên, lâu dài. Đây là nội dung cơ bản của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, là nhiệm vụ sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng nước ta, là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, trong đó các cơ quan tuyên giáo các cấp là nòng cốt.

QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG

 Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam được ví như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới. Điều đó đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Hiện nay, ở Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo.

Việt Nam có chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Điều đó đã quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật của nước ta.

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện, chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”.

Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

 

Các Hiến pháp của nước ta năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều thể hiện rõ quan điểm nhất quán và xuyên suốt là tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Chính phủ có Nghị định hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng phù hợp với yêu cầu của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ mới của đất nước, đồng thời thể hiện sự tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm hơn nữa quyền tự do tôn giáo của nhân dân.

Hiện 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (năm 2017), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak (năm 2019), Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019)… Những nỗ lực này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.