Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

TẦM VÓC CỦA CUỘC CÁCH MẠNG

 (ĐCSVN) - Sau khi cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) thành công, việc xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới là rất cấp bách. Để xứng đáng với vị thế là Đảng cầm quyền thì công tác kiểm tra, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng là rất quan trọng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, V.I.Lênin cho rằng công tác kiểm tra là một nội dung, phương thức lãnh đạo quan trọng đối với các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước. Khi đã giành được chính quyền, một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết là phải tiến hành công tác kiểm tra và xây dựng được tổ chức bộ máy cũng như đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ về số lượng; có trình độ, có năng lực và phẩm chất cách mạng, biết vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Những tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra là những bài học có giá trị đối với Đảng Cộng sản (b) Nga và Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng nói riêng.

1. Về vị trí, vai trò của công tác kiểm tra

Theo V.I.Lênin, để chính quyền Xô - viết đứng vững trước sự chống phá của các thế lực phản cách mạng cả trong và ngoài nước thì những người lãnh đạo phải tiến hành kiểm tra, kiểm soát. Người chỉ ra rằng: “Hiện nay, thực tiễn là tất cả; rằng đã đến một thời kỳ lịch sử mà lý luận biến thành thực tiễn, trở nên sinh động bằng thực tiễn, được sửa chữa bằng thực tiễn, được kiểm tra lại trong thực tiễn” (1).

Ở đây, V.I.Lênin khẳng định kiểm tra như là nội dung, phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng vì có chủ trương đúng, có tổ chức thực hiện nhưng thiếu kiểm tra cũng rất khó có kết quả tốt được.

Người còn khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, kiểm soát và coi đây là công cụ chắc chắn nhất để bảo vệ những mầm mống của xã hội mới. Người yêu cầu Đảng, Nhà nước phải nắm chắc công tác kiểm tra, V.I.Lênin nhấn mạnh: "Theo ý tôi, điều chủ yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh (đấy là chúng ta u mê đến ngu xuẩn) sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện. Đó là vấn đề then chốt nhất" (2). "Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn" (3).

Kiểm tra con người và kiểm tra việc chấp hành trong thực tế có mục đích và ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình lãnh đạo. V.I.Lênin cho rằng: Kiểm tra như thế là cần thiết cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn. Về mặt lý luận là để căn cứ vào thực tế, vào kinh nghiệm mà biết chắc được rằng các nghị quyết đã được thông qua có đúng hay không và đúng đến mức nào, cần phải sửa đổi những gì. Về mặt thực tiễn là để học tập cho biết cách tuân theo các nghị quyết ấy một cách thật sự, học tập để biết coi các nghị quyết ấy là những chỉ thị cần được áp dụng trực tiếp và ngay lập tức vào thực tế.

Người viết: “nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của giai đoạn không phải là ra những sắc lệnh, tiến hành các cuộc cải tổ mà là lựa chọn người; thiết lập chế độ trách nhiệm cá nhân đối với công việc đang làm; kiểm tra công việc thực tế”

Như vậy, mục đích của công tác kiểm tra theo V.I.Lênin nhằm hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng (bao gồm các khâu: ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện); phát hiện người tốt, việc tốt; ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của Đảng; thực hiện có kết quả cao nhất các quyết định đã được đưa ra và xây dựng, củng cố tổ chức Đảng, bộ máy nhà nước, các đoàn thể xã hội ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Điều đó có nghĩa bất kỳ một chủ trương, quyết định, nghị quyết, chỉ thị, chính sách nào dù lớn hay nhỏ đều phải được kiểm tra với kế hoạch, chương trình kiểm tra cụ thể. Bởi vì, khi đã có chủ trương, nghị quyết, chính sách dù là đúng thì vẫn phải tiến hành công tác kiểm tra. Chỉ có kiểm tra và kiểm tra thường xuyên thì những chủ trương, chính sách đó mới hoàn thiện và trở thành hiện thực.

Điều chúng ta cần lưu ý là việc hiểu về quy trình lãnh đạo bao gồm các khâu cơ bản là: ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện chỉ có tính tương đối về mặt nhận thức. Nếu trên thực tế tuyệt đối hóa các khâu của quy trình lãnh đạo thành từng bước riêng rẽ như thực hiện quy trình kiểm tra hiện nay là: bước chuẩn bị, bước tiến hành và bước kết thúc sẽ dẫn đến sai lầm rất nghiêm trọng.

Trong quy trình lãnh đạo, khi tiến hành từng khâu thì luôn phải tiến hành công tác kiểm tra. Kiểm tra ngay từ khi chuẩn bị ra quyết định để xem quyết định đó có đúng hay không, kiểm tra lúc tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra ngay cả những cán bộ được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra. Nếu máy móc thực hiện tuần tự từng bước như để ra quyết định xong, tổ chức thực hiện quyết định rồi mới tiến hành kiểm tra thì chúng ta đã biến công tác kiểm tra thành việc đi “bới móc”, “vạch lá tìm sâu”, kiểm tra chỉ để thi hành kỷ luật bởi đã ra quyết định sai, tổ chức thực hiện sai thì tất yếu khi kiểm tra chỉ còn việc đánh giá xem có sai phạm nhiều hay ít, phải thi hành kỷ luật ở mức nào. Kiểm tra phải được lồng vào tất cả các khâu sẽ có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa sai phạm ngay từ khi mới manh nha từ lúc ra quyết định hoặc khi tổ chức thực hiện. Trong thực tế, do nhận thức sai dẫn đến khi thực hiện đã tách rời thành những khâu trong quy trình lãnh đạo thành độc lập, thậm chí biệt lập nên hậu quả để lại rất nghiêm trọng. Nhiều cán bộ cấp cao bị kỷ luật khi đứng trước Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng từng nói, giá mà các đồng chí kiểm tra phát hiện sớm thì hậu quả không nặng nề như vậy.

V.I.Lênin cho rằng, làm tốt công tác kiểm tra sẽ đẩy mạnh cuộc đấu tranh “chống chủ nghĩa quan liêu, nhằm mở rộng dân chủ, phát huy óc sáng kiến, nhằm phát hiện, lột mặt nạ và đuổi ra khỏi Đảng những kẻ lén lút chui vào đảng” (5).

V.I.Lênin khẳng định, kiểm tra tốt sẽ góp phần đấu tranh chống bệnh quan liêu, bệnh giấy tờ: “Trọng tâm công tác của các đồng chí chính là chấn chỉnh lại công việc đang quan liêu đến ghê tởm của chúng ta, là đấu tranh chống bệnh quan liêu giấy tờ, là kiểm tra việc thực hiện.

Kiểm tra việc thực hiện, kiểm tra xem cái gì diễn ra trong thực tế - đó là nhiệm vụ chủ yếu và nhiệm vụ chính của đồng chí” (6).

2. Về xây dựng cơ quan kiểm tra

Sau Cách mạng tháng Mười, khi trở thành Đảng cầm quyền, các cơ quan lãnh đạo quan trọng nhất của Đảng được thành lập, bao gồm: Bộ Chính trị, Bộ Tổ chức, Ban Bí thư (tất cả các cơ quan này đều được thành lập sau Đại hội VIII của Đảng Cộng sản (b) Nga vào năm 1919). Trong "Dự thảo nghị quyết về những nhiệm vụ trước mắt của công tác xây dựng Đảng", trình bày tại Hội nghị IX toàn Nga của Đảng Cộng sản (b) Nga, ngày 24-11-1920 có ghi: "thừa nhận sự cần thiết phải thành lập Ban kiểm tra song song với Ban Chấp hành Trung ương, thành phần ban này phải gồm những đồng chí có trình độ nhất định trong lĩnh vực công tác đảng, có kinh nghiệm nhất, không thiên vị và có khả năng thực hiện công tác kiểm tra hoàn toàn theo tinh thần của Đảng. Là một cơ quan do Đại hội bầu ra, Ban kiểm tra phải được quyền thu nhận mọi đơn thư khiếu tố và xem xét các đơn ấy, trao đổi ý kiến với Ban Chấp hành Trung ương, trong trường hợp cần thiết, thì tổ chức những phiên họp chung, liên tịch với Ban chấp hành trung ương hoặc chuyển vấn đề cho đại hội đảng giải quyết" (7).

 

Ý kiến của V.I.Lênin đã được Hội nghị IX toàn Nga của Đảng Cộng sản (b) Nga thông qua và cơ quan - Ban Kiểm tra Trung ương đã được Đại hội bầu ra. V.I.Lênin chuẩn bị viết: "Tôi đề nghị đại hội bào vào Ban kiểm tra trung ương từ 75 đến 100 (tất cả các con số, đương nhiên đều áng chừng) ủy viên mới, lựa chon trong công nhân và nông dân” (8).

Thực tế sau hơn một năm hoạt động, Ban Kiểm tra do Đại hội bầu ra đã làm việc rất có hiệu quả. Tại Đại hội XI Đảng Cộng sản (b) Nga, tháng 3-1922, V.I.Lênin đã đánh giá: "Ban Kiểm tra Trung ương là một cơ quan rất tốt, và bây giờ chúng ta sẽ giao cho nó nhiều quyền hành hơn" (9). V.I.Lênin cho rằng trong Đảng có ba cơ quan đảng, là những cơ quan bảo đảm đầy đủ nhất trong việc chống lại những ảnh hưởng của địa phương và cá nhân, “tức là: Bộ Tổ chức của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Ban Kiểm tra Trung ương. Nên nói thêm rằng cơ quan thứ ba này, tức là Ban Kiểm tra Trung ương, cơ quan chỉ chịu trách nhiệm trước đại hội đảng mà thôi, phải được cấu tạo như thế nào để cho các uỷ viên của mình tuyệt đối khỏi phải kiêm nhiệm thêm chức vụ của bất cứ bộ dân uỷ nào, cơ quan hành chính nào và cơ quan nào của Chính quyền xô-viết" (10). Đến tác phẩm "Chúng ta phải cải tổ Bộ Dân uỷ Thanh tra công nông như thế nào?" viết tháng Giêng năm 1923, V.I.Lênin lại một lần nữa khẳng định: Ban Kiểm tra Trung ương có quyền tham dự vào các kỳ Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương - Hội nghị tối cao của Đảng. Người đề nghị trao quyền hạn cụ thể cho các Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương: “có nhiệm vụ tham dự, với một số lượng nhất định, vào mỗi phiên họp của Bộ Chính trị, sẽ phải là một nhóm cố kết; nó, "không được vị nể cả nhân", phải giữ gìn sao cho không được một uy quyền nào của Tổng Bí thư hay một uỷ viên trong Ban Chấp hành Trung ương có thể ngăn cản mình chất vấn, kiểm tra các hồ sơ, và nói chung, nắm được tình hình hết sức rõ ràng và xử lý mọi việc hết sức đúng đắn” (11). Những uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương có nhiệm vụ (dưới sự lãnh đạo của Đoàn Chủ tịch của họ), xem xét đều đặn tất cả những hồ sơ và tài liệu và còn có quyền kiểm tra hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước.

Để đạt được như vậy, về cách thức tổ chức, theo V.I.Lênin, Ban Kiểm tra “là cơ quan do Đại hội bầu ra” và “chỉ chịu trách nhiệm trước Đại hội Đảng mà thôi, phải được cấu tạo như thế nào để cho các uỷ viên của mình tuyệt đối khỏi phải kiêm nhiệm thêm chức vụ của bất cứ Bộ dân uỷ nào, cơ quan hành chính nào của Chính quyền xô-viết" (12).

 

Tư tưởng này của V.I.Lênin là nhằm nâng tầm ảnh hưởng của cơ quan kiểm tra vì nếu cơ quan kiểm tra do đại hội bầu ra và chỉ chịu trách nhiệm trước đại hội sẽ làm cho hoạt động của cơ quan này độc lập, không bị chi phối bởi nếu là cơ quan tham mưa giúp việc cho cấp ủy sẽ rất khó đảm báo tính khách quan trong thực hiện nhiệm vụ.

Về nhiệm vụ và chế độ công tác, V.I.Lênin chỉ rõ: “Ban Kiểm tra phải được quyền thu nhận mọi đơn thư khiếu tố và xem xét các đơn thư ấy, trao đổi ý kiến với Ban Chấp hành Trung ương, trong trường hợp cần thiết thì tổ chức những phiên họp chung, liên tịch với Ban Chấp hành Trung ương hoặc chuyển cho Đại hội Đảng giải quyết” (13).

Đến năm 1923, một lần nữa V.I.Lênin lại yêu cầu: “Ban Kiểm tra có quyền tham dự vào các kỳ hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương - hội nghị tối cao của Đảng” và Người yêu cầu phải: “Biến Ban này thành cơ quan thật sự đại diện cho lương tri của Đảng và giai cấp vô sản” (14).

Vào năm 1923, tức là sau 5 năm hoạt động của các cơ quan đảng và bộ máy chính quyền Xô viết, V.I.Lênin đã phát hiện những hạn chế, bất cập, chồng chéo của chúng. Việc cải tổ bộ máy nhà nước Xô viết và các cơ quan đảng theo nguyên tắc "thà ít mà tốt" đã được V.I.Lênin chỉ ra. Ý tưởng hợp nhất hai cơ quan: Bộ Dân uỷ thanh tra công nông với Ban Kiểm tra Trung ương đã được hình thành. V.I.Lênin cho rằng, việc hợp nhất hai cơ quan đó sẽ có ích cho cả hai. Một mặt, Bộ Dân uỷ thanh tra công nông sẽ vì thế mà có được một uy tín rất cao; mặt khác, Ban Chấp hành Trung ương của Đảng cùng với Ban Kiểm tra Trung ương sẽ hoàn toàn trở thành một hội nghị tối cao của Đảng. Rất tiếc, quan điểm này của V.I.Lênin chưa được thực hiện trên thực tế vì Người đã qua đời.

3. Về xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra

Không chỉ quan tâm kiện toàn cơ chế tổ chức Ban kiểm tra, V.I.Lênin còn rất quan tâm đến đội ngũ những người làm công tác kiểm tra từ khâu lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến chế độ đãi ngộ. Người quan niệm, những cán bộ kiểm tra phải thật sự là những người mẫu mực nhất, "không thể chê trách được".

 

Để trở thành cán bộ kiểm tra, theo V.I.Lênin, người cán bộ đó phải qua lựa chọn cẩn thận, sát hạch, thanh tra kỹ, được đặc biệt tin cẩn và được huấn luyện rất công phu: “Những công nhân mà chúng ta chỉ định là Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương phải là những người cộng sản không thể chê trách được, và tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải nỗ lực lâu dài để huấn luyện cho họ hiểu biết những phương pháp và những mục tiêu công tác của họ” (15). Nội dung kiến thức mà những cán bộ kiểm tra phải tiếp nhận rất phong phú, toàn diện, bao gồm kiến thức lý luận, công tác tổ chức, quản lý nhà nước, pháp luật, nghiệp vụ chuyên môn v.v. V.I.Lênin viết: "Họ cũng có nhiệm vụ phải học lý luận, nghĩa là lý luận về tổ chức công tác mà họ có ý định chuyên làm; họ cũng sẽ phải thực tập dưới dự lãnh đạo của những đồng chí có kinh nghiệm, hoặc của những giáo sư các viện nghiên cứu cao cấp về tổ chức lao động" (16). Người cán bộ kiểm tra không chỉ được đào tạo trên sách vở - "hoạt động thuần tuý học viện", mà họ sẽ còn phải chuẩn bị để làm những công tác thực tiễn trong cuộc đấu tranh với những phần tử thoái hóa, biến chất trong bộ máy nhà nước như “...chuẩn bị đi săn, tôi không nói là săn bọn ăn cắp, mà là săn một hạng người cũng đại loại như vậy” (17).

Đối với thành viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, theo V.I.Lênin: “Những đồng chí được tuyển lựa sẽ phải trải qua, với tư cách là đảng viên, một cuộc thẩm tra giống như cuộc thẩm tra mà tất cả các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải trải qua, vì các đồng chí ấy sẽ có hết thảy mọi quyền hạn của chức vụ ấy” (18).

Ngoài công tác lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, V.I.Lênin còn đặc biệt quan tâm đến chế độ đãi ngộ đối với cán bộ kiểm tra nhằm tạo cho họ toàn tâm toàn ý làm việc. Thực tế cho thấy, nếu cán bộ kiểm tra có cuộc sống quá bần hàn và kham khổ thì rất khó yêu cầu họ đứng vững trước mọi cám dỗ đời thường. Người chỉ rõ: "họ sẽ phải có năng lực công tác cao, phải được thanh tra một cách cẩn thận, phải là người đặc biệt tin cẩn, và sẽ được hưởng lương cao giúp cho họ thoát khỏi hoàn cảnh thật sự là khốn khổ (nếu không phải là hơn thế) như hoàn cảnh hiện thời của những viên chức trong Bộ dân uỷ thanh tra công nông" (19). VI.Lênin yêu cầu cán bộ kiểm tra phải thật sự là những người mẫu mực: “Những công nhân mà chúng ta chỉ định là Uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương phải là những người cộng sản không thể chê trách được. Và tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải nỗ lực lâu dài để huấn luyện cho họ hiểu biết những phương pháp và những mục tiêu công tác của họ" (20).

4. Những suy nghĩ về việc vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin hiện nay

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật và xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cán bộ kiểm tra đảng nói chung phải bảo đảm các tiêu chuẩn cơ bản sau:

1. Phải tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Đây là nhiệm vụ của đảng viên nói chung, đồng thời cũng là yêu cầu nghiêm ngặt và quan trọng đầu tiên đối với người cán bộ kiểm tra. Nếu không trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, không thường xuyên nghiên cứu, nắm vững và trung thành với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chính sách và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng thì cán bộ kiểm tra không thể thực hiện được tốt nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng do Điều lệ Đảng quy định và nhiệm vụ cấp uỷ giao.

2. Phải có dũng khí cách mạng, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật cao.

Dũng khí cách mạng và tinh thần trách nhiệm cao của cán bộ kiểm tra thể hiện ở sự yên tâm công tác, yêu ngành, yêu nghề, ý chí phấn đấu để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác; kiên quyết khắc phục và không lùi bước trước mọi khó khăn, trở ngại trong công tác và đời sống; tập trung trí tuệ, năng lực, chủ động và sáng tạo thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Mọi suy nghĩ và hành động phải xuất phát từ động cơ trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống những hành động vô tổ chức, vô kỷ luật, vô trách nhiệm, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Tôn trọng sinh mệnh chính trị của cán bộ, đảng viên và uy tín của tổ chức đảng. Khi xem xét, kết luận, xử lý kỷ luật phải đảm bảo công minh, chính xác, kịp thời, có lý, có tình; dám bảo vệ cái đúng, đấu tranh với những sai lầm, khuyết điểm; chịu trách nhiệm đầy đủ với các kết luận, quyết định mà bản thân tham gia thảo luận và biểu quyết. Tác phong công tác phải khoa học, thận trọng, cụ thể, tỷ mỉ; không chủ quan, đơn giản, qua loa, tắc trách.

Cán bộ kiểm tra không những phải có dũng khí cách mạng và tinh thần trách nhiệm cao, mà còn phải có ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác và nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên và các nguyên tắc, chế độ công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện đúng quy trình, phương pháp công tác kiểm tra; giữ bí mật nội dung, tài liệu, thực hiện đúng quy định về kỷ luật báo cáo, kỷ luật phát ngôn.

3. Phải trung thực, khách quan, công tâm, trong sạch.

Cán bộ kiểm tra phải có đức tính trung thực, khách quan, công tâm, trong sạch, đó vừa là phẩm chất đạo đức vừa là cơ sở tạo nên sự tin cậy của tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên và quần chúng nhân dân đối với cán bộ kiểm tra.

Khi xem xét, đánh giá người và việc, cán bộ kiểm tra phải vì lợi ích của Đảng, của sự nghiệp cách mạng mà nói đúng sự thật, không thiên vị, định kiến, không chen động cơ cá nhân hoặc chạy theo tình cảm riêng tư; không bị chi phối trước bất cứ sức ép nào. Trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, những nhân tố tiêu cực đang hằng ngày, hằng giờ tác động vào đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng. Do đó, cán bộ kiểm tra phải biết giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh, không vì lợi ích cá nhân mà làm những điều sai trái, ảnh hưởng xấu đến uy tín của đội ngũ cán bộ kiểm tra, hạn chế kết quả thực hiện nhiệm vụ của ngành, làm tổn hại đến lợi ích và thanh danh của Đảng.

4. Phải có tinh thần đoàn kết đúng đắn và tình cảm cách mạng sâu sắc.

Đoàn kết là nguyên tắc của Đảng, là yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Đoàn kết trong Đảng phải trên cơ sở thống nhất về quan điểm chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, vì lợi ích chung; không để cho chủ nghĩa cá nhân chen vào làm suy yếu sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết gắn liền với tình cảm cách mạng và tình thương yêu đồng chí.

 

Khi tiến hành công tác kiểm tra, phải xem xét sự việc một các toàn diện, phải thấu hiểu hoàn cảnh và điều kiện công tác, mặt mạnh, mặt yếu của tổ chức đảng và đảng viên. Mạnh dạn đấu tranh và có phương pháp trong đấu tranh, phê bình; giúp đỡ đồng chí, phân định rõ đúng, sai. Kịp thời cổ vũ mặt tốt, nhân tố mới, bảo vệ những tổ chức và cá nhân làm đúng; có phương hướng khắc phục mặt xấu, tiêu cực; góp phần chủ động phòng ngừa vi phạm kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên. Biết thương yêu, quý trọng đồng chí nhưng không vì thế mà xuê xoa, bỏ qua một cách tuỳ tiện đối với khuyết điểm, sai lầm của đồng chí. Biết nghiêm khắc với khuyết điểm của bản thân, nhưng biết rộng lượng với khuyết điểm của đồng chí. Không xa lánh mà phải gần gũi giúp đỡ đồng chí khi có khuyết điểm, sai lầm.

Có tinh thần đoàn kết và tình cảm cách mạng, cán bộ kiểm tra mới có điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt việc phối hợp công tác trong nội bộ và với các ngành liên quan; góp phần giúp cấp uỷ có giải pháp đúng đắn trong việc giải quyết các hiện tượng mất đoàn kết, bè phái, cục bộ, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Những tiêu chuẩn cơ bản, chủ yếu nêu trên đối với đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng cũng chính là nội dung chủ yếu của văn hoá kiểm tra mà mỗi cán bộ kiểm tra  phải phấn đấu rèn luyện hiện nay./.

ĐẰNG SAU VIỆC “BÔI ĐEN BỨC TRANH KINH TẾ

 

Sau khi Tổng cục Thống kê công bố: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2022 của Việt Nam ước tăng 8,02% so với năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022 do nền kinh tế khôi phục trở lại thì các thế lực thù địch và một số phần tử chống đối lại hậm hực. Với âm mưu làm giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ, chúng ra sức “bôi đen bức tranh kinh tế” của đất nước.
Một số người do không hiểu tình hình Việt Nam hoặc cố tình xuyên tạc sự thật đã “phát biểu” trên mạng xã hội và báo chí nước ngoài rằng, “Việt Nam nhào nặn số liệu thống kê” là hoàn toàn sai trái, bởi chính họ đã “nhào nặn méo mó”, “bôi đen” bức tranh kinh tế Việt Nam.
Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê dã từng khẳng định: “Quan điểm làm thống kê của chúng tôi là trung thực, đổi mới, vì đất nước. Cơ quan thống kê hoàn toàn độc lập, khách quan, không chịu sức ép của ai. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã thừa nhận Tổng cục Thống kê Việt Nam áp dụng đúng chuẩn mực, thông lệ quốc tế và xin phép sử dụng các báo cáo của cơ quan thống kê để công bố công khai trên trang web của họ”.
Không chỉ có IMF, rất nhiều tổ chức quốc tế đã tin tưởng vào số liệu thống kê trung thực, minh bạch của Viêt Nam. Nhiều hãng tin quốc tế như Reuters của Anh, báo Hoàn Cầu, Sina, Giới tài chính của Trung Quốc ngày 29-12-2022 đã dẫn số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam cho biết, GDP của Việt Nam năm 2022 tăng 8,02%, tốc độ tăng trưởng năm nhanh nhất kể từ năm 1997, được hỗ trợ bởi doanh số bán lẻ và xuất khẩu mạnh mẽ. Con số này cao hơn mục tiêu tăng trưởng chính thức là 6,0 - 6,5% và mức tăng trưởng năm 2021 chỉ là 2,58% do ảnh hưởng bởi các đợt phong tỏa nhằm phòng, chống dịch Covid-19. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao như vậy, bất chấp những lo ngại về suy thoái kinh tế toàn cầu và tác động của nó đối với nhu cầu xuất khẩu của Việt Nam, nhà sản xuất chính các mặt hàng như dệt may, giày dép và điện tử cho các thương hiệu quốc tế lớn.
Trong khi đó, hãng tin Bloomberg của Mỹ cũng dẫn lại số liệu thống kê về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, cho rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất châu Á trong năm nay, cho thấy Việt Nam có động lực tăng trưởng mạnh ngay trong bối cảnh rủi ro suy thoái toàn cầu bắt đầu trở thành hiện thực.
Ông Timevans - Tổng giám đốc HSBC Việt Nam đánh giá: “Tôi cho rằng các động lực tiếp tục dẫn dắt đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam, bao gồm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khi Việt Nam vẫn tiếp tục là một nước rất hấp dẫn FDI. Xuất khẩu vẫn sẽ tiếp tục tăng trưởng tích cực trong 5, 6 tháng tới. Sự gia tăng tầng lớp trung lưu, làm tăng mức tiêu dùng nội địa. Và quan trọng là những chỉ đạo, điều hành rất sát của Chính phủ. Theo tôi 4 yếu tố này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bất chấp những thách thức mà nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt”.
Thực ra âm mưu đằng sau việc “bôi đen bức tranh kinh tế” Việt Nam của các thế lực thù địch không có gì mới. Nhiều năm trở lại đây, mỗi khi đất nước ta đạt được những thành tựu phát triển, họ lại càng hằn học, tìm mọi cách để chống phá. Họ cố tình “bôi đen bức tranh kinh tế” để qua đó làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào chế độ ưu việt mà nhân dân ta đã và đang xây dựng.
Nhưng năm nay, chúng lại đưa ra những thủ đoạn mới. Chúng đã tận dụng tối đa hệ thống báo chí, mạng xã hội ở nước ngoài, các kênh Facebook, YouTube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Mánh lới của họ là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chính vì vậy, mọi người phải hết sức cảnh giác trước các thông tin xấu, độc này.
Vào ngày làm việc đầu tiên của năm mới 2023, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với địa phương tổng kết công tác năm 2022 và triển khai kết luận của Trung ương, nghị quyết của Quốc hội khóa XV về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã dự Hội nghị quan trọng này.
Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Năm 2022 tình hình thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề chưa có tiền lệ. Nền kinh tế chịu tác động tiêu cực kép cả từ bên ngoài và bên trong đến cùng một thời điểm. Trong bối cảnh đó, chúng ta đã đoàn kết, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt, với quyết tâm và nỗ lực lớn, hành động quyết liệt để vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2022 trong bối cảnh đầy khó khăn, thách thức là niềm tin vững chắc cho chúng ta bước vào năm 2023, năm bản lề thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025.
Thế nhưng, có một thực tế là chúng ta càng thành công thì các thế lực thù địch càng tức tối, càng tăng cường chống phá. Vì vậy, cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, các cơ quan chức năng của Nhà nước, cán bộ và nhân dân cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng xã hội; hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm./.
vubao-st

Chủ động đối phó với "chiến tranh phi quy ước"

  

"Mùa xuân Arab" còn cho chúng ta thấy sự nguy hiểm của "chiến tranh phi quy ước". Năm 1962, Tổng thống Mỹ J.Kennendy đã nêu ra khái niệm “chiến tranh phi quy ước”, cho rằng “đây là một loại hình chiến tranh lợi dụng triệt để các cuộc bạo loạn; mới về cường độ nhưng cũ về nguồn gốc; một cuộc chiến tranh du kích, chống phá, nổi loạn...”. “Chiến tranh phi quy ước” đã được vận dụng triệt để ở Trung Đông-Bắc Phi, thậm chí ghi rõ trong “Điều lệnh Tác chiến phi quy ước” (ATP 3-05.1) xuất bản ngày 6-9-2013: “Chiến tranh phi quy ước” là các hoạt động được tiến hành để thúc đẩy một phong trào phản đối hay nổi dậy nhằm gây sức ép, làm tê liệt, lật đổ một chính phủ hoặc thế lực cầm quyền thông qua hoặc phối hợp với các hoạt động của lực lượng bí mật, lực lượng hỗ trợ và quân du kích. Loại hình chiến tranh này được cho là rất hiệu quả, gắn kết với chiến lược “diễn biến hòa bình”, tạo ra kết hợp “diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ.

Tháng 5-2019, trình bày trước Quốc hội, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết: Từ thực tiễn các cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới, những năm gần đây và dự báo chiến tranh trong tương lai, ngoài chiến tranh truyền thống còn xuất hiện chiến tranh phi quy ước, chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng... Tiến hành “chiến tranh phi quy ước”, thế lực thù địch sử dụng tổng hợp các biện pháp phi vũ trang và vũ trang, bằng các hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ, thúc đẩy phong trào phản đối hay nổi dậy của quần chúng bị lôi kéo, do lực lượng phản động bên trong tiến hành, được sự hỗ trợ, can dự quân sự của lực lượng bên ngoài, nhằm gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng... tạo sức ép, làm tê liệt, mất hiệu lực quản lý của Nhà nước, triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, cần phải tiếp tục có sự phát triển mới về tư duy lý luận quốc phòng, quân sự cũng như có các chính sách, giải pháp chiến lược để đối phó kịp thời, hiệu quả với “chiến tranh phi quy ước”. Cần tiếp tục triển khai tích cực, hiệu quả Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự Việt Nam với những tư duy mới về xác định các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, phương thức tác chiến chiến lược...

Những luận điệu kêu gọi "phi chính trị hóa" đối với Quân đội ta là không phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đó là chủ trương nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của quân đội. Ở Việt Nam, bất luận trong hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang cũng luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, phải là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhà nước và nhân dân. Phải thực hiện hiện đại hóa, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như ứng phó với các loại hình chiến tranh mới.

Một vấn đề hết sức quan trọng nữa là dù có xây dựng quân đội chính quy, hiện đại đến đâu cũng chưa đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc nếu không gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc; trong đó phải đặt lên hàng đầu xây dựng "thế trận lòng dân". Đó chính là một trong những “cẩm nang” giữ nước 

VAI TRÒ BAN CHỈ ĐẠO

 - Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, thường xuyên. Ngày 17/5, Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng), Ban Chỉ đạo 35, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức hội thảo khoa học "Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay". PGS.TS. Phạm Văn Linh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 khẳng định: Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận trực tiếp cho mọi hoạt động của quân đội, đảm bảo cho công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc luôn đi đúng hướng, sát yêu cầu nhiệm vụ. Hội thảo "Vai trò của quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay" tiếp tục chỉ ra những nội dung quan trọng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thực tiễn và giải pháp phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ đó, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, giải pháp; quán triệt, vận dụng và tích hợp nội dung đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội trên từng lĩnh vực công tác, nhất là trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các nhà trường quân đội. Tại hội thảo, đã có hơn 100 bài tham luận được gửi đến. Các tham luận đều khẳng định đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Đồng thời, hội thảo tập trung phân tích và khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ, phát triển và vận dụng đúng đắn những giá trị của Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Khẳng định quân đội luôn là lực lượng đi đầu đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các tham luận tại hội thảo khẳng định để phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần tập trung thực hiện tốt các vấn đề quan trọng. Đó là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng và của Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.

 

KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CHO TUỔI TRẺ

 (ĐCSVN) - Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thế hệ trẻ là việc làm cần thiết, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài tạo cho họ “sức đề kháng” để chống lại cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, chậm tiến, đồng thời biết bảo vệ lẽ phải, sự công bằng, hướng đến chân, thiện, mỹ.

Để góp phần hình thành những thế hệ học sinh, sinh viên có nhân cách, lối sống đẹp, với các phẩm chất yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, song song với việc trang bị, trao truyền tri thức, kinh nghiệm thì việc tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho họ được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng, hướng đến mục tiêu phát triển con người toàn diện để làm chủ vận mệnh, tương lai nước nhà.

Theo báo cáo của ngành giáo dục và Tổng cục Thống kê, năm 2020, tổng số sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học là 1.906 nghìn sinh viên; số học sinh năm học 2022 - 2023 của cả nước là gần 23 triệu học sinh. Dự báo con số này sẽ không ngừng gia tăng qua các năm.

Là lực lượng đông đảo chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số của cả nước, học sinh, sinh viên sẽ là chủ nhân tương lai của nước nhà, có vai trò, sứ mệnh quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặt trọn niềm tin và kỳ vọng vào thế hệ trẻ sẽ làm rạng danh non sông, đất nước, trong Thư gửi các học sinh (1945) nhân ngày khai trường đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em. Trong Thư gửi các bạn Thanh niên (ngày 17-8-1947), Người nhấn mạnh: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên.

Để góp phần giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ “vừa hồng, vừa chuyên”, kế tục xứng đáng truyền thống cha anh, đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn, các cấp, các ngành, nhất là ngành giáo dục và đào tạo đã không ngừng quan tâm, đầu tư, chăm lo phát triển sự nghiệp “trồng người”. Những thay đổi về nội dung chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá; đổi mới tư duy lãnh đạo, quản trị nền giáo dục theo hướng hiện đại, lấy người học làm trung tâm, nhà trường là nền tảng, thầy cô là động lực, là người truyền cảm hứng, đã tạo những chuyển biến quan trọng, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

 Tuy nhiên bên cạnh những điều kiện thuận lợi và kết quả đạt được thì việc giáo dục, đào tạo cũng như công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên những năm gần đây đứng trước những khó khăn, thách thức.

Học sinh, sinh viên là lứa tuổi đẹp nhất của đời người, lứa tuổi của những ước mơ, hoài bão, khát khao cống hiến. Tuy nhiên ở vào tuổi mới lớn, những suy nghĩ đầu đời còn non nớt, bồng bột, thiếu chín chắn, nhiều em hành động theo cảm tính, bản năng và đôi khi chạy theo tâm lí đám đông. Với nhiều sinh viên, việc thay đổi không gian, môi trường sống, từ làng quê, nông thôn ra thành thị; những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, giao lưu hội nhập toàn cầu, nhịp sống đô thị, nhiều sinh viên phải đối diện nhiều vấn đề mới, phức tạp, đứng trước những lựa chọn, quyết định khó khăn. Một số em thiếu vốn sống, kinh nghiệm và khả năng thích ứng chậm đã rơi vào trạng thái bất an, hoang mang, lo lắng.

Bên cạnh những khó khăn của cuộc sống thực tại thì hiện nay trong xu thế phát triển, bùng nổ của các phương tiện truyền thông, internet, mạng xã hội, thiết bị di động, những vấn đề đặt ra trên không gian mạng cũng đã và đang chi phối lớn đến nhận thức, hành động của không ít học sinh, sinh viên.

Học sinh, sinh viên là nhóm đối tượng được sử dụng và tham gia mạng xã hội chiếm tỷ lệ lớn. Trên không gian mạng, bên cạnh những thông tin, tri thức tích cực, tiến bộ, đáp ứng nhu cầu tìm kiếm thông tin, phục vụ việc học tập, nghiên cứu, giải trí, thư giãn, kết nối, là sự xuất hiện của những thông tin, hình ảnh xấu độc, tiêu cực đang hàng ngày hàng giờ tấn công, tiêm nhiễm và lôi kéo học sinh, sinh viên tham gia vào các trào lưu, hội nhóm lạ mang màu sắc mê tín dị đoan, tà đạo nhưng lại được che đậy, núp bóng dưới những tên gọi mỹ miều, hấp dẫn. Đó là những tư tưởng cổ vũ cho lối sống hưởng thụ, đề cao vật chất, chạy theo hư danh, thích thể hiện mình mà xem nhẹ những giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa dân tộc, cố tình tạo ra lối sống dị biệt. Một số học sinh, sinh viên vì những lí do cá nhân bị dụ dỗ bởi những lời đường mật, bị những kẻ xấu lôi kéo, sa vào tệ nạn xã hội...

Để khắc phục những “lỗ hổng” trong nhận thức chính trị, hình thành những con người mới xã hội chủ nghĩa, việc tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thế hệ trẻ là việc làm cần thiết, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, tạo cho họ “sức đề kháng” để chống lại cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, chậm tiến, đồng thời biết bảo vệ lẽ phải, sự công bằng, hướng đến chân, thiện, mỹ.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính trị trong học sinh, sinh viên là một nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục và hệ thống chính trị nhằm cung cấp, trang bị một cách đầy đủ, kịp thời những thông tin, tri thức mang tính nền tảng, cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối lãnh đạo của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước để thế hệ trẻ thấm nhuần sâu sắc lý tưởng cách mạng và con đường, mục tiêu mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân kiên trì lựa chọn và quyết tâm thực hiện.

Việc nâng cao ý thức chính trị phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân. Mỗi học sinh, sinh viên thấy được bổn phận, trách nhiệm cá nhân với cội nguồn lịch sử, với truyền thống lịch sử cha anh, gắn bó mật thiết với cộng đồng, xã hội; xác định đúng đắn động cơ, mục tiêu trong học tập, nghiên cứu, không ngừng phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng để trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.

Việc nâng cao ý thức chính trị cần được tiến hành thường xuyên, lâu dài qua những hình thức tuyên truyền, giáo dục đa dạng, sinh động, phù hợp với từng lứa tuổi, cấp học, tránh sự áp đặt, gượng ép. Nội dung tuyên truyền chính trị cần được lồng ghép một cách hài hòa, hợp lý trong nội dung chương trình đào tạo của một số môn học gần gũi như giáo dục công dân, lịch sử, ngữ văn ở cấp phổ thông, các chuyên ngành đào tạo chuyên sâu ở bậc đại học. Tổ chức tốt các đợt sinh hoạt, học tập chính trị tập trung, các phong trào văn hóa văn nghệ, các hội thi, các hoạt động xã hội thiện nguyện vì cộng đồng, từ đó khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, bồi đắp lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ.

Phát huy tinh thần nêu gương sáng và sứ mệnh truyền cảm hứng của đội ngũ thầy cô giáo; vai trò xung kích của các cơ quan, hội đoàn, nhất là Đoàn Thanh niên trong việc tập hợp lực lượng, tổ chức các phong trào có ý nghĩa, thiết thực. Phát hiện, trọng dụng và bồi dưỡng nhân tài; tôn vinh và lan tỏa những tấm gương sáng, điển hình trong học tập, lao động, nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội; những hành động đẹp, dũng cảm; những việc làm tử tế, ý nghĩa của các em học sinh, sinh viên để nhân lên những giá trị tốt đẹp trong cộng đồng, xã hội.

Để giới thiệu trên 2 triệu đoàn viên ưu tú cho Đảng, trong đó đến năm 2025 ít nhất 850 nghìn và đến năm 2030 ít nhất 1 triệu đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng như mục tiêu Chương trình “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2021 - 2030” mà Chính phủ đề ra, việc quan tâm, phát hiện và bồi dưỡng “mầm xanh” cho Đảng là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lớn. Được đứng trong hàng ngũ của Đảng khi còn là học sinh, sinh viên sẽ là động lực vô cùng lớn, tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để thế hệ trẻ không ngừng nỗ lực phấn đấu, tu dưỡng, cống hiến hết mình cho mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng, đem hết sức mình để phụng sự Tổ quốc, nhân dân. Việc kết nạp Đảng cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh hiện nay cần được đẩy mạnh, tăng cường hơn nữa về cả số lượng lẫn chất lượng trong các cơ sở giáo dục đào tạo. Các cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển Đảng trong học sinh, sinh viên, tạo niềm hứng khởi, lan tỏa những thông điệp tích cực trong đời sống văn hóa học đường.

Song song với nhiệm vụ xây dựng, kiến tạo môi trường văn hóa nhà trường thật sự trong sạch, lành mạnh, nhân văn, dân chủ, đề cao và tôn vinh truyền thống hiếu học, trọng hiền tài, tôn sư trọng đạo, các cơ sở giáo dục đào tạo cần trang bị cho học sinh, sinh viên những kỹ năng mềm trong việc xử lý các thông tin, tình huống phức tạp trên không gian mạng. Cung cấp cho họ những thông tin, tri thức pháp luật, các quy định của Nhà nước khi tham gia cung cấp, chia sẻ thông tin, hình ảnh trên các diễn đàn truyền thông, mạng xã hội; hình thành lối ứng xử văn hóa, văn minh khi tương tác, bình luận trước những vấn đề, sự kiện mang tính chính trị - lịch sử - xã hội. Chủ động, bình tĩnh, tỉnh táo và biết lựa chọn, phân loại thông tin; có tinh thần bảo vệ cái mới, cái tiến bộ, tích cực, đồng thời phê phán, đẩy lùi những thông tin xấu độc, tin giả, tin rác và những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch.

Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, quan trọng, đòi hỏi sự chung tay vào cuộc, sự quan tâm phối kết hợp của các cơ quan, bộ ngành; vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, các cơ quan truyền thông báo chí, xuất bản, các cơ quan, đơn vị chức năng cần tạo ra những sản phẩm, hoạt động văn hóa phong phú, đa dạng, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, thị hiếu thẩm mỹ của học sinh, sinh viên. Đồng thời có cơ chế kiểm soát, thẩm định tốt thông tin và những xuất bản phẩm văn hóa, nhất là những ấn phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm, đảm bảo môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn, góp phần hình thành những con người mới để hiện thực khát vọng xây dựng quốc gia phồn vinh, hạnh phúc./.

CHỦ TRƯƠNG NHÂN VĂN NHÂN ĐỌA CỦA ĐẢNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

 

(ĐCSVN) – Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho 2.434 phạm nhân đã cải tạo tốt, nhân dịp Quốc khánh 2/9/2022 một lần nữa khẳng định chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là minh chứng sống động bác bỏ luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động.

Nhân dịp kỷ niệm 77 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/2022); căn cứ Điều 88, Điều 91 Hiến pháp năm 2013 và Luật Đặc xá năm 2018, theo đề nghị của Chính phủ, ngày 30/8/2022, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 978 đặc xá cho 2.434 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù, 3 người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, 1 người đang được hoãn chấp hành án phạt tù, có đủ điều kiện được hưởng đặc xá năm 2022.

Quyết định đặc xá năm 2022 của Chủ tịch nước một lần nữa khẳng định chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, đây cũng là sự ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy, quy định của phạm nhân; là kết quả của quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa trại giam, gia đình, các cơ quan có liên quan và toàn xã hội trong việc thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Đặc biệt, quyết định đặc xá năm nay tiếp tục phản ánh rõ nhất ưu tiên bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, bác bỏ lại mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động.

Luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam

Thời gian qua, thực hiện âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động luôn triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền, coi đây là một trong những đòn “đột phá khẩu” để tấn công hòng phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Chúng triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; ra các “thông cáo”, “nghị quyết”, “báo cáo”, “bản điều trần” xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, đàn áp tôn giáo, đàn áp những người “bất đồng chính kiến”; gây sức ép về chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm thực hiện mục tiêu “chuyển hóa dân chủ” đối với Việt Nam.

Điển hình như, ngày 19/7/2022, kênh YouTube RFA tiếng Việt đã đăng tải 01 video clip dài 9 phú 55 giây với nội dung xuyên tạc, bóp méo, đưa tin sai sự thật về một số vấn đề ở Việt Nam. Đáng chú ý, video clip đã đề cập đến nội dung hai tổ chức “Liên đoàn quốc tế nhân quyền” (FIDH) và “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam” (VCHR) đã soạn thảo và gửi lên “Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc” cái gọi là “bản điều trần” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, trong đó xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đã “không những thất bại trong việc thực hiện các cam kết bảo vệ nhân quyền mà thậm chí đã tăng cường đàn áp người dân trong những năm qua”.

Bên cạnh đó, thời gian qua đã xuất hiện nhiều luận điệu vu cáo, xuyên tạc chính sách hình sự, chế độ giam giữ tù nhân của Việt Nam khi cho rằng chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử, bắt và giam giữ tùy tiện, vi phạm các đảm bảo về xét xử công bằng; Việt Nam đang giam giữ nhiều “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm”; Việt Nam đang duy trì chế độ nhà tù bất công, ngược đãi, tra tấn tù nhân và đàn áp bằng bạo lực…

Điển hình như báo cáo mới đây của Nghị viện châu Âu (EP) đã có những thông tin, nhận định thiếu khách quan, không có cơ sở, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam khi cho rằng, họ đã gặp nhiều giới hạn trong việc bảo vệ những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền bị kiểm soát ngặt nghèo, chính quyền Việt Nam sẵn sàng đàn áp những người hoạt động nhân quyền “một cách trắng trợn”.

Đặc xá 2022 - minh chứng bác bỏ các luận điệu vu cáo, xuyên tạc

Nhân quyền hay quyền con người là vấn đề phức tạp, chính bởi vậy quan niệm về vấn đề này không có sự thống nhất giữa các quốc gia. Tuỳ theo góc độ tiếp cận, quan điểm chính trị, lợi ích giai cấp, hoàn cảnh lịch sử, giá trị truyền thống, trình độ phát triển mà các quốc gia có những quan niệm, cách tiếp cận khác nhau về quyền con người.

Ở Việt Nam, nhân quyền được hiểu là những giá trị cơ bản mà con người giành được trong lịch sử đấu tranh cải tạo tự nhiên và xã hội nhằm khẳng định địa vị chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, pháp lý của mình. Đó là tổng thể các nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người với tư cách cá nhân và cộng đồng xã hội được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.

Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước và luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền cơ bản của con người ở Việt Nam được ghi nhận trong Hiến pháp và được bảo vệ, thúc đẩy trong các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trên thực tế.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”. Nghị quyết cũng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Có thể thấy rằng, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người công bằng, bình đẳng cho tất cả mọi công dân, kể cả những người đang chấp hành hình phạt tù. Điều này đã được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013, hệ thống các văn bản pháp lý như Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Luật thi hành tạm giam, tạm giữ năm 2015, Luật thi hành án hình sự năm 2019…

Công tác đặc xá năm nay được tiến hành trên cơ sở những quy định chặt chẽ, dựa trên những nguyên tắc nhất định, đó là: đặc xá phải được tiến hành nghiêm minh, chặt chẽ, công khai, dân chủ, bảo đảm công bằng, đúng đối tượng và đúng điều kiện đã được quy định để tất cả các phạm nhân có đủ điều kiện đều được xem xét và không để bất kỳ phạm nhân nào không đủ điều kiện theo quy định lại được xem xét đặc xá.

Ở Việt Nam, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Vì vậy, tất cả những phạm nhân được đặc xá năm nay đều là những người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam và đã bị Tòa án nhân dân các cấp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên phạt theo các chế tài được quy định tại Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những phạm nhân này có đủ điều kiện được xem xét, đặc xá. Vì vậy, đặc xá không có sự phân biệt đối xử hoặc hạn chế với bất kỳ phạm nhân nào cho dù phạm nhân đó là người Việt Nam hay là người có quốc tịch nước ngoài, nếu phạm nhân đó có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật đều được đặc xá.

Trước đó, năm 2021, Chủ tịch nước cũng đã ký quyết định đặc xá cho 3.035 người (trong đó có 3.026 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù và 3 người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, 6 người đang được hoãn chấp hành án phạt tù).

Việc Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc xá tha tù trước thời hạn cho những phạm nhân đang chấp hành án phạt tù và cho những phạm nhân đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện là chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước. Chính sách nhân đạo đó không chỉ dừng lại ở việc đặc xá tha tù trước thời hạn, mà còn thể hiện ở việc tạo điều kiện để những phạm nhân được đặc xá tha tù tái hòa nhập cộng đồng. Điều đó, một lần nữa được Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định trong buổi làm việc với Thường trực Hội đồng Tư vấn đặc xá năm 2022 khi Chủ tịch nước yêu cầu cấp ủy, chính quyền và cộng đồng các địa phương tạo mọi điều kiện để người được đặc xá tha tù trước thời hạn sớm hòa nhập cộng đồng.

Đây rõ ràng là minh chứng rõ nét nhất bác bỏ các luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động. Bên cạnh đó, chính sách đặc xá, tha tù trước thời hạn còn có ý nghĩa khuyến khích những người bị kết án phạt tù đang chấp hành án phạt tù tích cực học tập, lao động, chấp hành tốt các quy định, nội quy cơ sở giam giữ để có thể sớm trở về đoàn tụ với gia đình và cộng đồng; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

 

Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay


Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng một cách thường xuyên, thâm độc và quyết liệt. Trong đó, chúng chú trọng “mũi tiến công” vào lĩnh vực tư tưởng. Vì vậy, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng là thực sự cần thiết. Đó là cơ sở để nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh mới.
Nhận diện
Các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng thời gian qua chủ yếu là một bộ phận nhỏ người Việt Nam sống ở nước ngoài và một số đối tượng ở trong nước, thậm chí có trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Theo thống kê, hiện có khoảng 400 tổ chức, hội, nhóm hoạt động ở nước ngoài nhằm mục đích chống phá cách mạng Việt Nam như: “Đảng Việt Tân”, “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên”, “Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế cho Việt Nam”, “Hội chuyên gia Việt Nam”, “Phong trào yểm trợ tự do và dân chủ cho Việt Nam”, “Đảng Dân chủ Việt Nam thế kỷ XXI”...
Các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng khá phức tạp, có sự đan xen nhiều khía cạnh, song có thể khái quát thành một số vấn đề như:
- Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng về tư tưởng, chúng xuyên tạc cho rằng Đảng thiếu dân chủ, áp đặt tư tưởng, tước đoạt tự do. Chúng khuyến khích “xã hội dân sự”, hỗ trợ thành lập các hội, nhóm đòi “dân chủ”, “tự do” cực đoan, thân phương Tây.
- Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng chủ nghĩa xã hội, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phủ nhận thành tựu của cách mạng và sự nghiệp đổi mới.
- Thổi phồng một số khuyết điểm của Đảng, Nhà nước; bôi đen những mặt trái của nền kinh tế thị trường, những tệ nạn trong xã hội. Tuyên truyền những nhận thức sai lệch, phiến diện về chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, gây bi quan về tương lai xã hội chủ nghĩa…
- Xuyên tạc, “hạ bệ” lãnh tụ Hồ Chí Minh và các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thêu dệt sai sự thật các yếu tố đời tư, thế sự nhằm gây hoang mang dư luận. “Tô vẽ” sai phạm của các cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham nhũng… để hủy hoại niềm tin đối với Đảng và Nhà nước.
- Cổ súy lối sống vị kỷ, thực dụng, hưởng lạc, phản nhân văn; tô đen cái ác, cái xấu nhằm gieo rắc sự mất niềm tin, mất phương hướng và lý tưởng sống…
Nâng cao hiệu quả đấu tranh
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã và đang triển khai nhiều giải pháp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Để nâng cao hiệu quả đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, cần chú trọng một số giải pháp cơ bản:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về công tác đấu tranh. Chúng ta cần tuyên truyền, quán triệt để tất cả mọi công dân Việt Nam đều có hiểu biết, nhận thức được vấn đề này, mà trước hết là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy đảng, đặc biệt là người đứng đầu các cấp, các ngành, các địa phương phải quán triệt sâu sắc phương hướng, triển khai cụ thể nhiệm vụ, xây dựng lực lượng đấu tranh. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sĩ phải nhận nhiệm vụ kép: vừa đấu tranh phản bác, vừa tuyên truyền, thuyết phục nhân dân.
Thứ hai, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về công tác đấu tranh. Đảng và Nhà nước phải nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý để đáp ứng yêu cầu, phù hợp thực tiễn trên lĩnh vực tư tưởng. Hiện nay, nhìn chung pháp luật, cơ chế, chế tài cơ bản đã đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn, đã tương đối đầy đủ và toàn diện. Đó là cơ sở thuận lợi cho công tác đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, sự xâm nhập của các ấn phẩm độc hại, thù địch. Các “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “Tội phản bội Tổ quốc”, “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”… đã được Bộ Luật hình sự hiện hành quy định khá chi tiết. Các văn bản pháp quy liên quan như Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017), Luật Xuất bản (năm 2012), Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016), Luật An ninh mạng (năm 2018)… và các Nghị định, Thông tư, Quy định, Quy tắc… của các cơ quan chức năng quy định khá đầy đủ, cụ thể. Đó là những căn cứ pháp lý quan trọng, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, nhất là đối với các cán bộ, đảng viên hoạt động trong lĩnh vực báo chí và mạng xã hội.
Thứ ba, xây dựng, phối hợp, phát triển lực lượng thực thi nhiệm vụ. Đã có chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhưng lực lượng để thực thi nhiệm vụ đấu tranh, ngăn chặn là hết sức quan trọng, là yếu tố bảo đảm thành công. Vì vậy, cần có sự phối hợp một cách đồng bộ cả theo chiều ngang và chiều dọc. Tức là các bộ, ban, ngành ở cấp Trung ương cần có sự phối hợp đồng bộ, thống nhất và cùng chỉ đạo, phối hợp với các cấp ủy, chính quyền ở địa phương, và cả theo ngành dọc từ trên xuống. Có như vậy mới tạo được cơ chế thống nhất nhằm phát huy sức mạnh định hướng dư luận một cách đồng bộ. Trong đó, các cơ quan trực tiếp liên quan đến công tác chính trị, tư tưởng, văn hóa như Ban Tuyên giáo, hệ thống trường Đảng, Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật, ngành văn hóa, thông tin, cơ quan xuất bản, cơ sở nghiên cứu, cơ quan công an, quân đội, cơ quan báo chí… các cấp cần có sự phân công lực lượng thường trực để thực hiện công tác đấu tranh. Cần bảo đảm điều kiện làm việc, có chế độ đãi ngộ phù hợp, nhất là đối với những vị trí kiêm nhiệm vai trò thường trực trong công tác này.
Thứ tư, bảo đảm nhân lực, cơ sở vật chất, công nghệ trong công tác đấu tranh. Các cơ quan chức năng liên quan cần bảo đảm nhân lực, cơ sở vật chất, công nghệ để thực hiện công tác đấu tranh một cách hiệu quả. Đặc biệt, trong bối cảnh công nghệ thông tin, Internet, các trang mạng xã hội,… có tầm phổ rộng trong toàn xã hội đối với người dân, thì vấn đề quản lý trong lĩnh vực này là hết sức khó khăn và phức tạp. Cần thực thi nghiêm các căn cứ pháp lý nhằm đấu tranh, ngăn chặn quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, nhất là trên môi trường mạng hiện nay. Cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật, công nghệ đủ mạnh, bảo đảm cơ sở vật chất để có thể thực thi, tác chiến, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng./.
vubao-st
Có thể là hình ảnh về 10 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẢNG VIỆT TÂN TH ÀNH PHẦN LÃNH ĐẠO ) தg #TreePhi #EreePhi Đảng Việt Tân- Tổ chức phản động thực hiện nhiều hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng. Ảnh: Internet.'
Tất cả cảm xúc:
2

Vai trò của quân đội ở quốc gia ngăn chặn thành công "Mùa xuân Arab"


Israel là một trong số rất ít quốc gia ngăn chặn thành công "Mùa xuân Arab", tất nhiên không chỉ do xây dựng quân đội mà còn từ nhiều vấn đề ngoại giao và chính sách khác, song TS Lê Đình Tĩnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược ngoại giao (Học viện Ngoại giao) phân tích: Israel đã tư duy chiến lược theo hướng ngoại giao đi trước một bước, tạo thế trận “phòng thủ từ xa” và có năng lực quốc phòng dựa trên công nghệ cao với sức mạnh răn đe đáng kể từ bên trong

Từ năm 1948 đến nay, Israel đã học tập mô hình huy động lực lượng quốc phòng toàn dân với quân đội thường trực là xương sống và lực lượng dự bị làm chủ lực. Năm 1959, Israel ban hành luật nghĩa vụ quân sự, chính thức thực hiện thể chế quốc phòng "toàn dân làm lính, huy động nhanh chóng". Israel đã xây dựng hơn 20 bộ luật liên quan đến công tác “toàn dân làm lính, động viên toàn quốc”. Theo luật của Israel, 3 lần/năm, tất cả công dân, ngoại trừ vì lý do tôn giáo và sức khỏe, không phân biệt giới tính, phải thực hiện nghĩa vụ quân sự ở độ tuổi 18. Sau khi tốt nghiệp trung học, trước tiên họ phải phục vụ quân đội. Học thuyết an ninh quốc gia mới của Israel làm nổi bật 4 nguyên tắc cơ bản: Chiến bại ắt diệt vong, phòng thủ tích cực, coi trọng răn đe để tránh chiến tranh, đánh nhanh thắng nhanh...

Đó là những nền tảng hết sức quan trọng giúp nước này ngăn chặn thành công "Mùa xuân Arab" từ những ngày đầu tiên. Theo nghiên cứu “Israel và Mùa xuân Arab” của tác giả Benedetta Berti, Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) có quan điểm thống nhất với Chính phủ Israel đối với tiến trình “lây lan” của "Mùa xuân Arab" kể từ khi bùng phát tại Tunisia. Nhằm chuẩn bị phản ứng tốt nhất, quân đội Israel đã phân tích các cuộc biểu tình ở Tunisia và đặc biệt chú ý đến trường hợp của Ai Cập lúc đó để rút ra bài học cho riêng mình. Quân đội Israel cũng chuẩn bị kế hoạch đối phó với khả năng xảy ra như ở Lebanon và một số khu vực trên bán đảo Sinai khi một số nhóm lợi dụng tình hình rối ren, hỗn loạn và mất an ninh trong nước để lập các cơ sở chống đối hay xây dựng các đường dây buôn lậu vũ khí xuyên quốc gia, qua đó tiếp tay cho lực lượng chống chính phủ.

Ngoài ra, IDF cũng yêu cầu chính phủ tăng ngân sách cho quân đội, kéo dài tạm thời thời gian nghĩa vụ bắt buộc cũng như thành lập các đơn vị phản ứng nhanh mới nhằm giúp lực lượng này luôn có đủ nhân lực và nguồn lực để hỗ trợ chính phủ trong trường hợp xảy ra các vụ biểu tình thành bạo loạn. Hơn hết, quân đội Israel cũng bắt đầu chú ý đến lĩnh vực không gian mạng sau khi nhận thấy mạng xã hội hay internet có thể làm “điên đảo” tình hình chính trị cũng như lôi kéo dư luận theo hướng bất lợi cho thể chế các nước láng giềng.


NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN THÂM HIỂM MỚI

 Lợi dụng vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Đây là thủ đoạn chống phá nguy hiểm cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ.

Thời gian vừa qua, cán bộ lãnh đạo của một số địa phương đã bị cơ quan chức năng khởi tố, tạm giam do có hành vi vi phạm quy định của pháp luật. Điển hình như cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội, Chu Ngọc Anh; cựu chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, Trần Thanh Liêm và gần đây nhất là nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương, Phạm Xuân Thăng... Vi phạm của các cá nhân này đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước, người dân và xã hội; gây dư luận xấu, làm mất uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương.

Việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nêu trên đã thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của Đảng ta đối với tham nhũng, tiêu cực và đã nhận được sự đồng tình của dư luận. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra những luận điệu sai trái, gây “nhiễu” dư luận. Trên nhiều trang mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng vụ việc bị xử lý là do “đấu đá nội bộ”. Đặc biệt, một số ý kiến còn lợi dụng vụ việc để bôi nhọ Đảng theo kiểu “đến người đứng đầu tỉnh còn vi phạm”; từ đó “liên hệ” “gợi mở” nhiều vấn đề theo hướng đổ lỗi vi phạm của cán bộ, đảng viên là do thể chế, do “Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo”… nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; kêu gọi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trước hết cần khẳng định, việc khởi tố, bắt tạm giam những cá nhân nói trên là các vụ việc cụ thể được thực hiện sau quá trình điều tra, xác minh của cơ quan chức năng và phù hợp với các quy định hiện hành. Vi phạm của họ xuất phát từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Và việc họ bị xử lý theo các quy định của Đảng, của pháp luật là hệ quả tất yếu. Đây là vi phạm của cá nhân đảng viên; hoàn toàn không thể đồng nhất với bản chất của Đảng như các thế lực phản động, thù địch đang cố gắng tuyên truyền, xuyên tạc.

Thực tế cũng cho thấy, công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là quá trình lâu dài, gian khó, chưa có trong tiền lệ. Vì vậy, quá trình đó khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, vấp váp, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý. Trong đội ngũ đông đảo cán bộ, đảng viên cũng sẽ khó tránh khỏi việc có những người mắc phải những khuyết điểm, thiết sót, sai lầm. Để hạn chế điều đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những “hàng rào” quy định, luật pháp với những chế tài mạnh mẽ để quản lý, giáo dục, răn đe, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Mỗi cán bộ, đảng viên ai cũng đều phải trải qua quá trình phấn đấu rèn luyện để đạt được những tiêu chí, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực nhất định. Ngay cả khi cán bộ, đảng viên ở vị trí lãnh đạo có vi phạm thì vẫn bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, những biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về những điều đảng viên không được làm… Đó là những nỗ lực của Đảng, Nhà nước nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất.

Theo thống kê, chỉ trong 10 năm (giai đoạn 2012-2022), với sự nghiêm khắc trong xử lý kỷ luật đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng hoặc liên quan đến tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đã kỷ luật hơn 170 cán bộ thuộc diện T.Ư quản lý, trong đó có 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng. Đặc biệt, tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng tới nay, 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang (1). Song, đây chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”; không thể đánh đồng cá nhân với tập thể, không thể đồng nhất những hiện tượng vi phạm đó với bản chất của Đảng, của chế độ. Sự trong sạch, tinh thần làm việc hết mình vì dân, vì nước của đại bộ phận cán bộ, đảng viên, của lãnh đạo Đảng, Nhà nước là cơ sở quan trọng đưa đến những bước phát triển mạnh mẽ của đất nước ta trong hơn 35 năm qua, kể từ khi công cuộc Đổi mới được Đảng khởi xướng. Điều đó cũng đã được nhân dân ghi nhận, trân trọng.

Mặt khác, mưu đồ nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động không thể che đậy được khi lợi dụng vi phạm của một số cá nhân, đảng viên, chúng ra sức tuyên truyền các luận điệu nhằm hạ thấp uy tín nhằm phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; gây chia rẽ nội bộ Đảng và làm suy giảm lòng tin của nhân dân. Rõ ràng, mục đích sâu xa của các thế lực thù địch, phản động là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác trước các luận điệu phản động, sai trái nói trên./.

Tư nhân hóa, dân sự hóa quân đội - cái giá phải trả

  

Đối với trường hợp Libya, cơ cấu của các lực lượng vũ trang nước này khác hẳn với các quốc gia khác. Trong khi tiềm lực kinh tế rất mạnh nhưng quân đội Libya chỉ với 50.000 người lại không được hiện đại hóa, trang bị lạc hậu. Một trong những sai lầm của Tổng thống Gaddafi chính là chỉ ưu tiên đầu tư cho các lực lượng tinh nhuệ và bán quân sự là người thân tín, họ hàng của mình, thậm chí tuyển dụng lính đánh thuê ở nước ngoài. Quân đội đã thiếu sự gắn kết và có dấu hiệu chia rẽ ngay từ đầu thời kỳ "Mùa xuân Arab" xảy ra. Liên tiếp diễn ra các vụ đào tẩu của sĩ quan và binh lính. Chỉ khoảng một tuần sau cuộc can thiệp quân sự của NATO, đã có 6.000 binh sĩ Libya (chiếm 12% quân số) rời bỏ hàng ngũ, và con số này tăng lên 40.000 quân (80%) chỉ sau hai tháng. Vì vậy, quân đội mất sức chiến đấu, không đủ sức chống đỡ các đợt tấn công quân sự từ bên ngoài. Kết cục là Tổng thống Gaddafi bị sát hại, đất nước rơi vào nội chiến, chia rẽ kéo dài, đến nay vẫn chưa thành lập được chính phủ chuyển tiếp.

 Yemen, trên thực tế, quân đội bị phân chia thành nhiều đơn vị riêng biệt dưới quyền chỉ huy của những người thân tín trong dòng họ của cựu Tổng thống Ali Abdullah Saleh, những người cùng bộ lạc và thành phần thân tín với ông. Những đơn vị này sẵn sàng sử dụng bạo lực để đàn áp người biểu tình. Trong khi đó, một số sư đoàn và đơn vị quân đội thuộc các quân khu nắm quyền lại chủ trương ủng hộ “những người biểu tình ôn hòa”. Chính vì vậy, “Mùa xuân Arab” ở Yemen đã dẫn tới các hành động đổ máu. Trước sức ép dữ dội của các cuộc biểu tình, Tổng thống Saleh buộc phải tuyên bố từ chức.