Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023
CÁC TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG LỢI DỤNG QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN ĐỂ CỔ XÚY CHO SỐ CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC.
Vai trò lãnh đạo lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử.
Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi: Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.
Tuy nhiên, trong lãnh đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm nghiêm trọng. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Nhưng, một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế, họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm của Đảng và quy kết Đảng không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước. Rõ ràng đây là một sự xuyên tạc, vu cáo Đảng ta, nhằm kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.
Quan hệ Đảng - dân là mối quan hệ bản chất và máu thịt của Đảng ta. Ngay từ khi ra đời Đảng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở và xây dựng. Hơn 90 năm đi theo Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng, một tổ chức nào có thể đại diện chân chính cho lợi ích của mình. Vì thế, nhân dân tin tưởng ủy thác trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực tế cách mạng Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của nhân dân. Vì thế, các tầng lớp nhân dân mong muốn Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, không chia sẻ quyền lực với các lực lượng khác khác trong vai trò cầm quyền của mình. Bởi đó là nguyên tắc đã được được hiến định và là một kết quả tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam, không thể thay đổi
Tuyệt đại đa số nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm là đội tiên phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải pháp thư tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Như vậy, quan điểm cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước" là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán, thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh", xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân./.B1. Nhận diện âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta
VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “TỰ DO INTERNET Ở VIỆT NAM
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tế tiến hành cách mạng và được nhân dân thừa nhận.
Thực tiễn Việt Nam đã từng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại hai đảng đối lập là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh Hội. Hai đảng này không đại diện cho lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, mà bám gót ngoại bang, nên không được nhân dân chấp nhận.
Có thời kỳ, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 - 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 - 1988), nhưng các đảng ấy cũng không được đa số nhân dân giao cho sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Các đảng ấy, đều tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân giao phó, ủy thác. Sau đó hai đảng này tuyên bố tự giải thể và chỉ còn lại Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hiển nhiên, là sự lựa chọn và giao phó của lịch sử, của nhân dân và dân tộc Việt Nam, Đảng không tranh giành vai trò lãnh đạo với bất kỳ đảng phái nào.
Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, Đảng ta là đảng cầm quyền
chính là thông qua việc nắm quyền, Đảng thực hiện sứ mệnh lãnh đạo xã hội, lãnh
đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo nhân dân, để đạt được mục tiêu cách mạng mà Đảng
và dân tộc đều đồng thuận.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp.
Trên thế giới, việc quy định về đảng chính trị trong Hiến pháp mang tính phổ biến. Chẳng hạn: Hiến pháp của các nước: Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc có 01 điều; Hiến pháp của các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Ba Lan có 02 điều; Hiến pháp Udơbêkixtan có 03 điều,… quy định về đảng chính trị.
Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 01 điều quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", là phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay, không phải là cá biệt.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam". Điều lệ Đảng quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy".
Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội
được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng
thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Cương
lĩnh, Điều lệ Đảng "đơn phương" quy định. Đây là một yếu tố quan trọng
bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều
lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp về mối quan hệ
của Đảng với các tổ chức khác ở Việt Nam.
HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN
(ĐCSVN) – Việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 có ý nghĩa rất quan trọng, là lời khẳng định đanh thép, đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các đối tượng, các tổ chức phản động, thù địch ở trong và ngoài nước đang cố tình phủ nhận thành quả của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người.
Ngày 11/10 vừa qua, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ),
Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu 14 quốc gia làm thành viên Hội đồng nhân quyền
nhiệm kỳ 2023 – 2025, trong đó có Việt Nam. Việt Nam nhận được 145/189 phiếu
tán thành, chiếm gần 80% và thuộc nhóm nhận được sự ủng hộ cao nhất. Sự kiện
này đã ghi thêm một dấu ấn, một thắng lợi mới trên lĩnh vực ngoại giao, đồng thời
cũng khẳng định được uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy
nhiên, các đối tượng phản động, thù địch đã lợi dụng sự kiện này để liên tục
xuyên tạc, phản đối, tìm mọi cách hạ thấp uy tín của Việt Nam cả trước, trong
và sau khi diễn ra sự kiện này. Đây là thủ đoạn cần được nhận diện và đấu tranh
phản bác mạnh mẽ.
Việt Nam trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là kết
quả hoàn toàn khách quan
Thời gian qua, vào trước
thời điểm bỏ phiếu, các tổ chức phản động như Việt Tân và một số tổ chức nhân
quyền, liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ thuộc châu Âu, Canada, Hoa Kỳ
đã liên tục chống phá qua nhiều kênh thông tin, bằng nhiều cách thức tiếp cận
khác nhau. Ngày 3/10/2022, đại diện của tổ chức khủng bố Việt Tân (Hoàng Tứ
Duy) đã lên tiếng trong buổi họp báo do UN Watch tổ chức, phản đối mạnh mẽ việc
Việt Nam tham gia là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, cho rằng
Việt Nam không xứng đáng với vai trò này. Ngày 4/10/2022, 8 tổ chức nhân quyền
đã đề nghị Liên hợp quốc không cho Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền. Ngày
8/10/2022, một liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ từ châu Âu, Hoa Kỳ,
Canada đồng thanh kêu gọi các quốc gia là thành viên Liên hợp quốc bác tư cách ứng
cử vào Hội đồng nhân quyền của Việt Nam. Không chỉ vậy, nhiều trang cá nhân của
các đối tượng chống đối, phản động cũng đồng loạt lên tiếng với thái độ “chế giễu”,
xuyên tạc, bôi nhọ về vị thế của Việt Nam, cho rằng việc Việt Nam tham gia vào
Hội đồng nhân quyền là vô lý, cho rằng Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng về nhân
quyền, do đó không xứng đáng để tham gia vào Hội đồng nhân quyền của Liên hợp
quốc.
Với các luận điệu này, trước hết cần khẳng định việc Việt Nam
trúng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là kết quả hoàn toàn khách quan,
công tâm, phản ánh tính tất yếu của quá trình vận động, kiến tạo và nỗ lực đóng
góp của Việt Nam vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế
giới – một trong ba nhiệm vụ trụ cột của Liên hợp quốc. Việt Nam trúng cử vào Hội
đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu đồng thuận cao, sự đánh giá tích cực
của báo chí nước ngoài cũng như sự ủng hộ, ghi nhận và kỳ vọng của cộng đồng quốc
tế với những đóng góp quan trọng của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người trên
thế giới.
Có thể thấy, với vai trò là thành viên Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc nhiệm kỳ 2020-2021 và trở thành thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc
nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam ngày càng củng cố thêm uy tín và vị thế của mình
trên trường quốc tế, cho thấy sự nỗ lực, sáng tạo trong tư duy chiến lược cũng
như tính hiệu quả của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta những năm gần
đây. Điều này cũng lan toả và truyền tải thông điệp mạnh mẽ về hình ảnh con người,
đất nước Việt Nam yêu chuộng hoà bình, đề cao các giá trị nhân văn và nhân đạo,
đồng thời giúp truyền tải chính xác, đúng đắn hơn về chủ trương, chính sách và
thành tựu trong đảm bảo quyền con người ở nước ta.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán xác định con
người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự
phát triển. Việc bảo vệ quyền con người luôn được lồng ghép, cụ thể hoá trong
các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng được thể
chế hoá trong Hiến pháp và pháp luật. Theo đó các quyền con người, quyền công
dân về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và
bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Dư luận trong nước và quốc tế ủng hộ Việt Nam trong vai trò mới
Thực tế thời gian qua cho thấy, Việt Nam hoàn toàn xứng đáng
và có thể làm tốt bất cứ vai trò quốc tế quan trọng nào. Việt Nam đã từng trúng
cử và đã hoàn thành tốt vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc
nhiệm kỳ 2014-2016. Việt Nam đã hai lần trúng cử là Uỷ viên không thường trực
chính thức của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ
2020 – 2021). Kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng
9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây
dựng hoà bình, phát triển và bảo đảm quyền con người. Hiện nay, Việt Nam là điều
phối viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Hội đồng Nhân quyền.
Việt Nam cũng đã hoàn thành Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ
quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng nhân quyền và đang tiến hành những khuyến nghị
cho UPR chu kỳ 3. Việc Việt Nam quan tâm đến các công ước quốc tế về bảo vệ và
thúc đẩy quyền con người cũng đã tạo ấn tượng sâu đậm tới cộng đồng quốc tế về
nỗ lực đóng góp nâng cao đảm bảo quyền con người ở Việt Nam hiện nay.
Không chỉ dư luận nhân dân trong nước ủng hộ, tự hào mà các
cơ quan báo chí nước ngoài cũng đưa tin bài, thể hiện sự ủng hộ Việt Nam trong
vai trò thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc. Báo Washington Times
ngày 21/9/2022 đã đăng bài viết trong đó ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng
Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025. Bài viết cho thấy Việt Nam tiếp
tục được đánh giá cao tại Liên hợp quốc với việc cử cán bộ tham gia Phái bộ gìn
giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hoà Trung Phi, là thành viên
tích cực trong các cuộc đàm phán nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững
của Liên hợp quốc. Hơn nữa, cuộc chiến chống đại dịch COVID – 19 của Việt Nam
cũng ghi nhận nhiều kết quả. Việt Nam đã hỗ trợ hiệu quả cho một số quốc gia về
điều kiện, cơ sở vật chất để phòng chống dịch. Bài viết tổng kết rằng, kể từ
khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng 9/1977, Việt Nam đã
đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây dựng hòa bình, phát
triển và đảm bảo quyền con người.
Theo bà Caitlin Wiesen, Nguyên trưởng Đại diện thường trú
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, một trong những
thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người là công cuộc
xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Không phải ngẫu
nhiên Việt Nam được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện
cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.
Có thể thấy rằng, việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền
Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 có ý nghĩa rất quan trọng, là lời khẳng định
đanh thép, đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các đối tượng, các tổ
chức phản động, thù địch ở trong và ngoài nước đang cố tình phủ nhận thành quả
của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người.
Sự kiện này một lần nữa khẳng định cho ý chí, quan điểm đúng
đắn của Đảng và Nhà nước ta về coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người
trong phát triển đất nước, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối
ngoại của Đảng ta trong tình hình mới. Với sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ
trong cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,
cùng sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chắc chắn sẽ hoàn thành tốt nhiệm
vụ tại Hội đồng nhân quyền, chung tay với cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới
hoà bình, đảm bảo quyền con người trong xã hội./.
HÀNH TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Trong hơn 90 năm xây dựng và phát triển, nhất là trong hơn 34 năm đổi mới và hội nhập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chủ động đấu tranh với những tư tưởng và những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa được triển khai xuyên suốt trong Đảng, trong hệ thống chính trị đã góp phần tạo sự thống nhất nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận trong xã hội.
Trong hành trình xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và luôn
kiên quyết chống lại các quan điểm sai trái, thù địch với chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông qua cuộc đấu
tranh này gay go, phức tạp này, Đảng không chỉ khẳng định chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng mà còn góp phần loại bỏ được nhiều phần tử cơ hội, loại trừ những người
không đủ tiêu chuẩn, những kẻ phiêu lưu, khiêu khích ra khỏi Đảng. Thông qua
đó, làm cho Đảng được tôi luyện và trưởng thành, thực sự là đội ngũ đoàn kết,
thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự có sức mạnh, đủ năng lực
cầm quyền, lãnh đạo và sức chiến đấu trong mọi hoàn cảnh.
Tuy nhiên, thực tiễn công tác xây dựng Đảng cũng cho thấy, vì
cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy
lùi; có mặt, có một bộ phận còn diễn biến phức tạp. Ở không ít tổ chức Đảng vẫn
còn có một bộ phận những người cơ hội chủ nghĩa, không chỉ mơ hồ, hoang mang,
dao động, lập trường tư tưởng chính trị không vững vàng, thiếu sự tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng, bản lĩnh chính trị không vững vàng mà còn sa vào chủ
nghĩa cá nhân, tham ô, tham nhũng, lãng phí, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm,
v.v.. Sự suy thoái đó chính là nguy cơ thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” từ bên trong Đảng và chế độ.
Cùng với đó, trước mỗi kỳ đại hội Đảng nói riêng và trong
công tác cán bộ nói chung, ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị vẫn còn đó những kẻ
cơ hội "diễn gương", luôn tỏ ra có tác phong quần chúng, đi đâu cũng
chủ động thăm già, hỏi trẻ, khích lệ đồng chí, đồng nghiệp, nhưng thực chất là
“nhẫn nhịn” để chờ thời, lấy phiếu vào quy hoạch, để được bổ nhiệm. Rồi từ đó,
dùng vị thế "đạt được" của mình vi phạm, thậm chí bỏ qua nguyên tắc tập
trung dân chủ mà quyết định những vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân; tác động xấu đến tâm tư, tình cảm và
niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ… Dạng cán bộ, đảng viên này và những
biểu hiện cơ hội đó đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về Tăng cường xây
dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ chỉ
rõ. Đó là, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “phai nhạt lý tưởng cách
mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Nhận
thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính
trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường
lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…Cá nhân chủ nghĩa,
sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm
đến lợi ích tập thể…Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy
chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để
phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền
hạn của mình để trục lợi. Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân
chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.
Vì thế, để “kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái “lợi ích
nhóm”, nói không đi đôi với làm”[7] theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và chủ
động phòng và đấu tranh chống những kẻ cơ hội, những biểu hiện cơ hội trong bối cảnh toàn Đảng đang chuẩn bị và tiến
hành Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, cần tập trung thực hiện
những nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp về tầm quan trọng
của việc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.
Cùng với đó, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và luật
pháp của Nhà nước trên tinh thần giữ vững tính Đảng, tính chính trị, tính khoa
học, nguyên tắc thống nhất giữ lý luận và thực tiễn trong đấu tranh về tư tưởng,
lý luận của Đảng. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để
chủ động, sáng tạo, thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ, bám sát tình hình
thực tiễn trong cuộc đấu tranh này trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Quán triệt mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp luận khoa học,
cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để không chỉ thực
hiện tốt “nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với
tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương
lĩnh và sách lược của mình”[8], mà còn chủ động đấu tranh vạch trần tính chất
phản khoa học, phản động trong những quan điểm, tư tưởng sai trái của những phần
tử cơ hội. Đi liền cùng đó là đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực
tiễn, tổng kết thực tiễn để kết luận những vấn đề mới mà thực tiễn đặt ra, thiết
thực xây dựng Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Hai là, phát huy vai trò sức mạnh của cả hệ thống chính trị,
sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ của các lực lượng tạo thành thế trận vững chắc,
nhiều tầng nấc trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói
chung, chống chủ nghĩa cơ hội nói riêng. Cụ thể, nâng cao tính chủ động, thiết
thực, hiệu quả của các ban chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương trong công tác
tham mưu, hướng dẫn, tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội,
chống âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" trên trận địa tư tưởng.
Nâng cao tính chuyên sâu của các cơ quan nghiên cứu, của đội ngũ cán bộ nghiên
cứu lý luận, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành và tính kịp thời, đa dạng,
phong phú của các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thanh, truyền hình, coi đó
là nhiệm vụ, trách nhiệm chính trị cao cả của mọi tổ chức, mọi lực lượng dưới sự
lãnh đạo của Đảng để phòng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội.
Trong đó, cần sử dụng linh hoạt, đa dạng các hình thức,
phương pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; khơi dậy và phát huy cao độ khả
năng, thế mạnh của mỗi tổ chức, mỗi lực lượng tham gia; đồng thời, khắc phục sự
đấu tranh kiểu một chiều, khuôn sáo theo công thức định sẵn, thoát ly các vấn đề
mới nảy sinh từ thực tiễn. Chú trọng xây dựng và tổ chức các lực lượng, nhất là
lực lượng nòng cốt có trình độ chuyên sâu, có phương pháp khoa học, đáp ứng yêu
cầu của tình hình và nhiệm vụ trong cuộc đấu tranh gay go, phức tạp này gắn với
việc nâng cao hiệu quả việc giám sát hoạt động, ngăn chặn liên lạc, vô hiệu hóa
hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các đối tượng cơ hội, của các thế
lực thù địch trên mạng xã hội bằng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ hữu hiệu.
Ba là, gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về Tăng
cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về Đẩy mạnh học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để không chỉ phát huy vai
trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, nắm rõ tâm tư, nguyện vọng, tình hình
chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời uốn nắn những
nhận thức lệch lạc mà còn góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ.
Cụ thể, đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ gắn với
công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối
sống, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh chống tham ô, tham nhũng,
quan liêu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám
sát, thực hành dân chủ trong Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân…; đồng thời,
thường xuyên sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên, kiên quyết đưa những người
không đủ tiêu chuẩn, những đảng viên thoái hoá về chính trị, tư tưởng, về đạo đức
lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cố tình vi phạm kỷ luật Đảng và pháp
luật của Nhà nước ra khỏi Đảng gắn với coi trọng chất lượng công tác phát triển
Đảng.
Bốn là, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng
viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại mỗi địa
phương, cơ quan, đơn vị nói riêng trong việc nêu cao ý thức tự rèn luyện, tự bảo
vệ mình trong sạch về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; chủ động và tích
cực đấu tranh phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, âm mưu
"diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Mỗi người trong thực
nhiệm vụ chính trị, thực thi công vụ phải thống nhất giữa nói và làm, giữa dám
nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo theo
tinh thần Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về Trách nhiệm nêu gương của cán
bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, Quy định số 47-QĐ/TW của
Ban Chấp hành Trung ương về Những điều đảng viên không được làm và Quy định số
08-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng
viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương; nhất là trong phòng, chống và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội,
những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội như tư duy nhiệm kỳ, đầu cơ chính trị, chạy
phiếu bầu, chạy quy hoạch, luân chuyển, chạy chức, chạy quyền…
Năm là, tiếp tục thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ ở cơ sở;
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Quy chế giám sát và phản biện
xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây
dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Đồng thời, hướng về cơ sở, gắn bó mật thiết với
nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong bảo
vệ Đảng, Nhà nước và chế độ; trong giám sát việc thực hiện đạo đức và trách nhiệm
công vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước;
trong chuẩn bị nhân sự cấp ủy khóa mới các cấp đảm bảo tiêu chuản vừa hồng vừa
chuyên; nhất là, cần tạo nhiều kênh thông tin, nhiều diễn đàn để lắng nghe và
tiếp nhận ý kiến góp ý xây dựng của nhân dân, coi đó là một biện pháp hữu hiệu
để sớm phát hiện những kẻ cơ hội trong Đảng và những kẻ cơ hội đang tìm mọi
cách chui vào Đảng nhằm thăng quan, phát tài, "vinh thân, phì gia",
mưu cầu lợi ích cá nhân, nhóm lợi ích, dòng họ, địa phương./.
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là cần thiết, tất yếu, khách quan.
Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản. Nhưng muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có "đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong" để lãnh đạo. Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản, - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. Các ông đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph. Ăngghen cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu giai cấp.
Kết thừa tư tưởng trên đây của Mác - Ăngghen, V.I. Lênin khẳng định: "Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa". Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới. V.I. Lênin cũng chỉ rõ: "Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội". Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại".
Sự ra đời của một Đảng Cách mạng chân chính là hết sức cần
thiết. Giải đáp vấn đề "Cách mệnh trước hết phải có cái gì?",Hồ Chí
Minh chỉ rõ "trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ
chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi
nơi. Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền
mới chạy".Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930) là sản phẩm của sự kết
hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài
về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
"Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo
cách mạng".
QUAN ĐIỂM LẬP TRƯỜNG
Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề xung đột Nga - Ukraine là rất khách quan và rõ ràng, đó là: Việt Nam kêu gọi các bên chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình, bảo vệ an ninh, an toàn của người dân và các cơ sở hạ tầng thiết yếu.Ấy thế nhưng, lợi dụng việc Đại Hội đồng Liên Hợp quốc vừa thông qua Nghị quyết về tình hình Ukraine, trên một số diễn đàn, mạng xã hội, một số cá nhân lại đang cố tình tái diễn những luận điệu xuyên tạc, suy diễn quan điểm của Việt Nam về cuộc xung đột này.
Việt Nam kêu gọi chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình tại
Ukraine
Ngày 12/10, Đại Hội đồng
Liên hợp quốc đã bỏ phiếu thông qua nghị quyết kêu gọi các quốc gia trên thế giới
không công nhận việc Nga sáp nhập 4 vùng lãnh thổ ở Ukraine thông qua trưng cầu
dân ý. Nghị quyết nhận được 143/193 phiếu ủng hộ. Có 5 nước bỏ phiếu chống lại
nghị quyết, bao gồm Nga và 35 nước bỏ phiếu trắng.
Sau khi nghị quyết trên được thông qua, trên một số diễn đàn
Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước đã cố tình
đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc cho rằng quan điểm của Việt Nam là
“chung chung”, “không rõ ràng”, “tránh đối đầu”, Việt Nam đã không đi theo số
đông, một lần nữa cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc
xung đột Nga - Ukraine, quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga - Ukraine đã “thụt
lùi” thêm một lần nữa.
Luận điệu của họ là, lá phiếu của Việt Nam khiến nhiều người
cảm thấy “thất vọng”, Việt Nam “ngoài lề” trong khối ASEAN, lá phiếu này sẽ để
lại nhiều “hệ lụy” đối với Việt Nam. Một số người thì ngang nhiên xuyên tạc rằng:
Việt Nam phản đối chiến tranh, phản đối sử dụng vũ lực, nhưng không bỏ phiếu ủng
hộ; Việt Nam vì lợi ích mà bỏ qua “công lý và đạo lý”, lá phiếu trên khiến nhiều
người phải suy nghĩ lại về lập trường chọn chính nghĩa của Việt Nam. Cá biệt,
còn có luận điệu xuyên tạc rằng, Việt Nam đang thể hiện quan điểm theo kiểu
“chung chung”; “Nghị quyết trên là vấn đề thuộc về nhân quyền mà lương tri phải
lên tiếng bảo vệ lẽ phải thì Việt Nam lại làm ngược lại”; cái gọi là “đứng về lẽ
phải, công lý” mà Việt Nam đưa ra đối với cuộc xung đột này chỉ là ngụy tạo…
Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần
nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng Liên hợp
quốc tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ 11 thảo luận về tình hình Ukraine, Đại
sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã
nhấn mạnh rằng: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng,
nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải
pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật
pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho
hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.
Ngày 12/10, phát biểu tại cuộc họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang,
Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc tiếp tục khẳng định: Việt
Nam theo dõi sát và đặc biệt quan ngại trước các diễn biến gần đây tại Ukraine,
nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo đảm tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và
các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Trong đó, có việc không can thiệp
vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế theo luật pháp quốc tế,
đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các
quốc gia.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh, xuất phát từ lịch sử phải
trải qua nhiều cuộc chiến tranh để giành độc lập, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc,
Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình và phản đối mọi hành vi đe dọa hoặc sử
dụng vũ lực để xâm phạm độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc
gia. Do đó, Việt Nam tiếp tục kêu gọi chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình, bảo
vệ an ninh, an toàn của người dân và các cơ sở hạ tầng thiết yếu; đồng thời,
kiên trì thúc đẩy đối thoại, đàm phán để tìm giải pháp hòa bình lâu dài cho các
bất đồng trên cơ sở phù hợp và triệt để tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến
chương Liên hợp quốc, tính tới lợi ích, quan tâm chính đáng của các bên liên
quan, vì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.
Trước đó, tại họp báo thường kỳ chiều ngày 6/10, trả lời câu
hỏi của báo chí về vấn đề Nga sáp nhập 4 tỉnh của Ukraine, Người phát ngôn Bộ
Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: “Việt Nam kêu gọi các bên liên
quan nối lại đối thoại, giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở
tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc
tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia”.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng nhấn mạnh: “Là
thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế Việt Nam sẵn sàng
đóng góp vào quá trình thúc đẩy đối thoại tìm kiếm giải pháp để sớm ổn định
tình hình, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới”.
Như vậy, có thể thấy rằng, quan điểm nhất quán của Việt Nam
là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải
pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho
đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam
đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đột xung đột giữa
Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào
xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine.
Việt Nam luôn kiên định và nhất quán đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ
Việt Nam luôn kiên định và nhất quán đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương
hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở
các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình
đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối
tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Hiện nay, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối
ngoại. Trong chính sách đối ngoại đa phương đó, Việt Nam luôn khẳng định cả Nga
và Ukraine đều là đối tác quan trọng, là bạn bè truyền thống, lâu đời và Việt
Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng,
trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn
định.
Đây cũng chính là thông điệp mà Thủ tướng Chính phủ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm Minh Chính đã đưa ra trong chuyến thăm và
làm việc tại Mỹ và Liên hợp quốc tháng 5/2022, đó là: Trong một thế giới đầy biến
động, cạnh tranh chiến lược và nhiều lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn
chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật
pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả
cùng chiến thắng.
Việt Nam cũng luôn nhất quán và giữ vững nguyên tắc chính
sách quốc phòng “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với
nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng
lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là sự khẳng định, quốc phòng Việt Nam là nền
quốc phòng toàn dân, mang tính hòa bình, tự vệ; tích cực, chủ động, kiên quyết,
kiên trì ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh.
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ
nước, Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến, đấu tranh chống giặc
ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Là một đất nước phải chịu nhiều
nỗi đau, mất mát do chiến tranh, hơn ai hết dân tộc Việt Nam luôn thấu hiểu và
trân trọng giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Để có được nền hòa bình, độc
lập, tự do như ngày nay, dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu của
biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước nên Việt Nam luôn trân quý và mong muốn
duy trì một thế giới hòa bình, hợp tác, ổn định, phát triển. Cũng chính vì vậy,
như một lẽ tự nhiên, Việt Nam được quốc tế coi là biểu tượng của đất nước vì
hòa bình, một đối tác vì hòa bình bền vững. Hơn ai hết, nhân dân Việt Nam luôn
mong muốn xây dựng một môi trường hòa bình, hiểu biết, đoàn kết và yêu thương
nhau, cùng xây dựng thế giới ngày càng tốt đẹp. Việt Nam luôn thẳng thắn, chân
thành trong quan hệ quốc tế, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia -
dân tộc với trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế.
Như vậy, có thể thấy rằng, một lần nữa các cá nhân, tổ chức
thiếu thiện chí, thù địch với Đảng, Nhà nước Việt Nam lại tái diễn những luận
điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga - Ukraine. Đây
thực chất là một âm mưu rất thâm độc và hết sức nguy hiểm bởi những luận điệu
trên không nằm ngoài mục đích là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt
Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam;
kích động dư luận trong và ngoài nước chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam./.
Nhận diện rõ thủ đoạn của các thế lực thù địch
Chúng tung ra quan điểm "Đảng Công sản Việt Nam đã hết
vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước". Mục đích và thủ
đoạn của chúng là gì? Có thể xem xét trên các khía cạnh sau đây:
Về chính trị: chúng cho rằng "Ở Việt Nam, công nghiệp
chưa phát triển, số lượng, chất lượng công nhân giai cấp công nhân bị hạn chế.
Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, nó có
rất ít tính tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của
chủ nghĩa phong kiến". Vì thế, "giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản
không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam"
(!). "Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể
lãnh đạo tuyệt đối". Chúng phê phán Đảng ta đã sai lầm về chính trị khi
"vội vàng xóa bỏ" đảng Dân chủ và đảng Xã hội, "tạo điều kiện
cho Đảng Cộng sản độc đoán, chuyên quyền, bóp nghẹt tự do, dân chủ". Chúng
kêu gọi: "Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của
chế độ dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam cho mình cái quyền đứng trên dân tộc,
cái đó không ai chịu chấp nhận"; đòi "xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng".
Về tư tưởng: chúng cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam lấy
chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là sai lầm", vì rằng "chủ
nghĩa Mác - Lênin là ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây, nên không còn phù hợp
với Việt Nam"; rằng "Học thuyết Mác là sản phẩm của thế kỷ XIX, do vậy,
đem đặt nó trong bối cảnh thế kỷ XXI nếu không lạc hậu, thì cũng chẳng thể là
khoa học"(!); "chủ nghĩa Mác đã đóng góp khá nhiều cho lịch sử, đã
hoàn thành sứ mệnh lịch sử rồi, nó không còn phù hợp với thời đại ngày
nay"; v.v..
Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng cho rằng, Hồ Chí Minh là
nhà "dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mácxít"; "không thể
lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng" vì không phù hợp với điều kiện mới
của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam đề cao tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là để "an dân" chứ thực chất không
theo Hồ Chí Minh (!?).
Về phương diện tổ chức: chúng tập trung đánh vào các nguyên
tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. "Trong nội
bộ Đảng vẫn duy trì cái gọi là "chế độ tập trung dân chủ" mà hầu hết
các đảng cộng sản trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự quyền lực bao giờ
cũng đưa đến chỗ triệt tiêu dân chủ. Nhiều lắm dân chủ chỉ trở thành đồ rởm, chỉ
các tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực". Chúng cho rằng, nguyên
tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, nó chỉ thích hợp với hoạt động của Đảng khi
chưa giành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo trong chiến
tranh; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán,
chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo.
Chúng còn cho rằng, trong Đảng có nhiều phe phái: phe cải
cách và phe bảo thủ; trong Đảng còn có các nhóm lợi ích, v.v..
Về đạo đức: chúng bịa đặt, bôi nhọ, nói xấu cán bộ Đảng và
Nhà nước, đánh vào sinh hoạt, đạo đức, lối sống các đồng chí lãnh đạo; tung ra
nhiều những chuyện giật gân trong sinh hoạt của lãnh đạo. Chúng cho rằng, Đảng
Cộng sản Việt Nam ngày càng suy thoái, đảng viên của Đảng suy thoái, biến chất;
tham nhũng, tham ô, lãng phí là căn bệnh trầm kha không thể chữa trị được. Từ
đó chúng suy diễn thành "Đảng tham nhũng", "Nhà nước tham
nhũng"...
Thực chất, đây là những thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành
tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hòng vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chống
phá Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt của các thế lực
thù địch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, tiến hành tác động, phá hoại nội bộ
Đảng, làm giảm uy tín, đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, dù có sử dụng "trăm phương
nghìn kế", các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển
nhiên về niềm tin của toàn dân ta đồng lòng đi theo Đảng trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, với những thành tựu to lớn đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận
cả trên phương diện lý luận, thực tiễn và lịch sử.



