Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2023

Không thể phủ nhận những thành tựu về công tác cán bộ của Đảng

 

          Thực tế đã không có không ít những cán bộ tha hóa biến chất cần phải được xử lý, cộng với ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ

          Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, trong nhiệm kỳ đã đẩy mạnh thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng, có chuyển biến; công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn…

          Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định cần thiết phải triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể như sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trực tiếp, hoàn thiện công tác cán bộ đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ; tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ đặc biệt là đối với người đứng đầu cấp ủy, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì những lợi ích chung; xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật Nhà nước cũng như xử lý bằng pháp luật đối với những cán bộ vi phạm kể cả khi cán bộ đó đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc được giao; thực sự coi trọng và thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ đồng thời kiên quyết phòng, chống các biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và việc lợi dụng các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng để xuyên tạc sự thật về công tác cán bộ nhằm mục đích kích động, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ…

          Mặc dù Đảng ta rất đúng đắn trong công tác cán bộ, tuy nhiên, có một thực tế là các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá là công tác cán bộ. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./.

Phản bác các luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ

 

          Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, công tác cán bộ cũng luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chỉ rõ: Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng. Trải qua 10 năm đổi mới, đến Đại hội VIII, trong Văn kiện Đại hội Đảng xác định chủ trương phải: “Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới”. Đến Đại hội X, từ thực tiễn xây dựng Đảng qua 20 năm đổi mới, một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng rút ra là: “Đảng phải chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Phải tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ chủ chốt”.

          Tại Đại hội XIII, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ có những bước phát triển lớn khi một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng xác định cần phải thực hiện để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới là: “Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ-nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ các cấp nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhằm tạo bước đột phá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ thay thế cho Quy định số 260-QĐ/TW, ngày 2/10/2009 về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ, một mặt nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp của Quy định số 260-QĐ/TW nhưng mặt khác cũng thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong việc xử lý các cán bộ theo hình thức miễn nhiệm, từ chức, từ đó góp phần bổ sung, hoàn thiện hơn nữa các khâu, các quy trình trong công tác cán bộ.

          Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ.

Không để kẻ xấu xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam

 

          Xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam là một chiêu bài cố hữu của các thế lực phản động là thường xuyên xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ngay cả khi những thành tựu về bảo vệ quyền con người ở Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận thì các đối tượng này vẫn tỏ ra bất mãn và chống phá mạnh hơn.

          Ngay tại thời điểm Việt Nam đại diện cho ASEAN ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, các thế lực phản động, các cá nhân, tổ chức bất đồng chính kiến đã gia tăng tần suất chống phá Việt Nam trong vấn đề dân chủ nhân quyền bằng những giọng điệu đại loại như: Việt Nam vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, Việt Nam không đủ tư cách trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền. “Công cuộc chống phá” ấy gần đây vẫn dựa trên những chiêu trò cũ nhằm lôi kéo thêm nhiều đối tượng cực đoan, đồng thời cổ xúy cho các hành vi bôi nhọ tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chẳng hạn như tháng 11 vừa qua, tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”(VHRN) đã công bố kết quả bầu chọn “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2022”, trong đó, những cái tên đoạt giải đều là các đối tượng cộm cán trong hoạt động chống phá Nhà nước ta và đã bị pháp luật xử lý.

          Có một chân lý luôn được khẳng định ở Việt Nam, đó là nhân quyền ở Việt Nam vẫn luôn được bảo đảm. Việt Nam vẫn tiếp tục bước trên lối đi chung, cùng nhân loại bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Với việc trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia chủ động, tích cực hơn vào việc thúc đẩy những sáng kiến, giải pháp nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của con người. Dĩ nhiên, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vẫn để lại di chứng trong từng hơi thở và hoạt động hằng ngày của con người, những biến động trên thế giới khiến giá lương thực và nhiên liệu tăng cao, thiên tai, biến đổi khí hậu luôn rình rập, cuộc sống của nhiều người dân Việt Nam cũng như tại các quốc gia khác vẫn chưa hết bấp bênh. Thực tế đó là lời nhắc nhở rằng, Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung cần nỗ lực gấp đôi, gấp ba và thậm chí hơn thế để bảo vệ những quyền cơ bản của con người, trong đó phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, cộng đồng dân tộc thiểu số và sinh sống ở vùng sâu, vùng xa... là những đối tượng cần được quan tâm nhiều nhất.

          Như vậy, dù những kẻ chống đối, thù địch có giở những thủ đoạn nào thì những thành tựu về bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam vẫn hiện hữu trong mọi mặt đời sống; kiên định cùng thế giới thúc đẩy và bảo vệ quyền con người vẫn luôn là lựa chọn và hướng đi đúng đắn của Việt Nam./.

Sở hữu toàn dân về đất đai không phải là nguyên nhân của tham nhũng

 

          Sở hữu toàn dân về đất đai không phải là nguồn gốc của nạn tham nhũng, tiêu cực và thực tế phức tạp hiện nay về đất đai. Thực trạng quản lý, sử dụng đất đai đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết bắt nguồn không phải từ bản chất vốn có của sở hữu toàn dân về đất đai, mà bắt nguồn từ sự yếu kém kéo dài trong việc không hiện thực hóa thiết chế thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; bắt nguồn từ hệ lụy yếu kém trong quản lý đất đai.

          Luật Đất đai năm 2013 và phương thức Nhà nước thực hiện luật nói trên có nhiều điểm chưa hợp lý cần phải khắc phục. Vấn đề gây bức xúc nhất hiện nay ở nước ta là ở chất lượng, thái độ thực thi Luật Đất đai của cơ quan và công chức nhà nước chưa tốt, tồn tại quá nhiều trường hợp lạm dụng quyền lực công phục vụ cho mục tiêu riêng của cá nhân, của gia đình, của nhóm lợi ích.

          Một số trường hợp cơ quan nhà nước thu hồi đất của dân không đúng quy định của pháp luật. Sự giàu có bất thường của không ít đại gia kinh doanh bất động sản ở nước ta thời gian qua có tác động từ mức chênh lệch giá quá lớn trong các dự án chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất đô thị và giá đất đền bù cho người có quyền sử dụng đất hợp pháp. Tình trạng quy hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, tình trạng đất thu hồi bị bỏ hoang còn người mất đất lâm vào tình trạng thất nghiệp, khó khăn... cho thấy quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu cần phải có trong chế độ sở hữu toàn dân.

          Những vấn đề này không thể giải quyết bằng cách chuyển toàn bộ quyền quản lý đó cho khu vực tư nhân thông qua tư hữu hóa hoặc đa dạng hóa sở hữu đất đai. Vì làm như vậy thì chỉ khiến tình hình thêm phức tạp, những rủi ro khó lường hết hậu quả. Ngược lại, chỉ có thể giải quyết tốt các vấn đề này bằng việc đẩy mạnh cải cách trong các cơ quan nhà nước, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; siết chặt kỷ luật và trách nhiệm giải trình của công chức và chuyển giao cho người dân những quyền mà người sử dụng đất thực thi có lợi hơn cơ quan nhà nước.

          Để hạn chế tình trạng thu hồi đất một cách tùy tiện ảnh hưởng tới lợi ích của người sử dụng đất, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã định hướng quy định cụ thể hơn về thẩm quyền, mục đích, phạm vi thu hồi đất, điều kiện, tiêu chí cụ thể việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT-XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Đồng thời, có lẽ cần nghiên cứu phân chia địa tô chênh lệch giữa xã hội, người có đất bị thu hồi và người nhận đất sử dụng cho mục đích mới trong giá đất thu hồi. Thực hiện được tốt những định hướng trên sẽ hạn chế được tác động tiêu cực của các nhóm lợi ích vào lĩnh vực đất đai.

          Những sai lầm và thiếu sót của cơ quan nhà nước thời gian qua trong lĩnh vực đất đai không phải là bản chất của Nhà nước XHCN và có thể sửa chữa được. Vì thế, cần tỉnh táo nhận thức rõ mưu đồ của kẻ xấu xuyên tạc chính sách đất đai của Đảng, Nhà nước ta hòng kích động, gây bất ổn môi trường CT-XH của nước ta. Từ đó, các cơ quan, bộ, ngành, đơn vị, địa phương cần vận động nhân dân tích cực đóng góp ý kiến chất lượng, hiệu quả cho dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), kịp thời nhận diện, đấu tranh với các luồng ý kiến sai trái. 

Minh chứng thuyết phục về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

 

          Những thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.

          Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội” đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.

          Từ thực tiễn thành tựu về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua.

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc về đổi mới chính trị - xã hội ở Việt Nam

          Việt Nam ta sau hơn 35 năm, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

          Chúng tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

          Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận, ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

          Nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta phải có thái độ và hành động cương quyết với những hoạt động của các đối tượng này.


Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

Miếng mồi của hacker

 Cuối tháng ba, giới bảo mật quốc tế phát hiện một chiến dịch tấn công nhắm vào 3CX Desktop App - ứng dụng gọi điện và chăm sóc khách hàng của doanh nghiệp, trên các hệ điều hành Windows, macOS và Linux.

Hacker đã chèn mã độc gián điệp vào bản cập nhật phần mềm này, khi khách hàng nâng cấp và sử dụng 3CX Destop App, họ có thể trở thành nạn nhân của một cuộc tấn công chuỗi cung ứng.

Thống kê của Bkav cho biết, Việt Nam có ít nhất 318 doanh nghiệp và tổ chức đang sử dụng 3CX Desktop App, đều có thể trở thành miếng mồi của hacker.

Tin tức mới nhất trong lĩnh vực an ninh mạng này khiến tôi nhớ đến báo cáo vào tháng 3 của Kaspersky: Năm 2022 có tổng cộng 304.904 cuộc tấn công ransomware (đòi tiền chuộc) nhắm vào các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á. Việt Nam xếp thứ ba với 57.389 vụ, sau Indonesia (131.779 vụ) và Thái Lan (82.438 vụ). Đại diện của Fortinet, một hãng chuyên phát triển và cung cấp các giải pháp an ninh mạng, cũng cho biết, trong quý 4/2022, trung bình mỗi ngày tại Việt Nam có tới 44 triệu mối đe dọa về an ninh mạng, liên quan đến virus, botnets, Exploits...

An ninh mạng vốn là mối họa khó nhìn thấy, và càng ít được để ý hơn khi các doanh nghiệp đang đối đầu với nhiều khó khăn hiện hữu khác trong bối cảnh suy thoái kinh tế. Nhưng nó hoàn toàn có thể trở thành vấn đề sống còn của mỗi một tổ chức, đặc biệt là khi các hoạt động gắn với công cuộc chuyển đổi số hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay.

Cũng theo nghiên cứu của Kaspersky, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang bị thiếu hụt 2,1 triệu nhân sự về bảo mật mạng. Chỉ 5% lãnh đạo doanh nghiệp tin rằng có khả năng xử lý sự cố nội bộ liên quan đến ransomware và chỉ số ít doanh nghiệp có đội ngũ công nghệ thông tin hoặc nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ họ. 94% còn lại cần sự can thiệp từ bên ngoài khi gặp sự cố.

Theo một khảo sát của Cisco, cũng công bố vào tháng 3 năm nay, chỉ 17% tổ chức ở Việt Nam có chỉ số ở mức "Trưởng thành", tức có khả năng chống lại các rủi ro an ninh mạng hiện đại ngày nay.

Để ngăn chặn mối họa trên không gian mạng, doanh nghiệp cần ý thức hơn về các nguy cơ thường trực và không được phép lơ là những hoạt động bảo mật cơ bản như: Thiết lập và xác định cấu hình bảo mật thích hợp (bao gồm thiết lập tường lửa, phần mềm chống virus, ngăn chặn và phát hiện xâm nhập); Giám sát hoạt động mạng (chủ động tìm kiếm các hành vi đáng ngờ, chẳng hạn như cố gắng đăng nhập nhiều lần hoặc cố gắng truy cập thông tin nhạy cảm); Thực hiện kiểm soát truy cập (hạn chế quyền truy cập vào dữ liệu, sử dụng mật khẩu mạnh, xác thực hai yếu tố...); Tiến hành kiểm tra bảo mật thường xuyên đồng thời luôn cập nhật các mối đe dọa mới nhất.

Những vấn đề nêu trên là các biện pháp liên quan đến phần cứng và hệ thống, chính sách. Điều quan trọng và là "mắt xích yếu nhất" (the weakest link) trong các hệ thống phòng thủ bảo mật vẫn là con người. Đó là lý do mà social engineering (tấn công phi kỹ thuật) - một phương pháp tấn công bằng cách tương tác với con người và lợi dụng các yếu điểm tâm lý để chiếm quyền truy cập hoặc ăn cắp thông tin nhạy cảm - vẫn là một kỹ thuật phổ biến trong lĩnh vực an ninh mạng. Ví dụ dễ hiểu của thủ đoạn này là hacker giả danh kỹ thuật viên công ty, gọi điện cho một nhân viên thực sự, yêu cầu cung cấp dữ liệu bảo mật để hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng. Tất nhiên, hacker đã chuẩn bị mọi dữ liệu và thông tin cần thiết để cuộc gọi diễn ra một cách tự nhiên, khiến người nghe không mảy may nghi ngờ, coi đây là một trao đổi công việc bình thường.

Bằng những cách thức social engineering như vậy, Kevin Mitnick - một trong những hacker nổi tiếng nhất thế giới - đã tấn công vào hệ thống máy tính của chính phủ, ngân hàng cũng như các công ty như Motorola, Sun Microsystems và Fujitsu ở Mỹ vào những năm 1990.

Đến nay, các cuộc tấn công phi kỹ thuật này, theo quan sát của tôi, vẫn diễn ra hàng ngày bằng những thủ đoạn ngày càng tinh vi và khó ngờ hơn.

Vì vậy, các tổ chức cần đào tạo nhân viên về cách xác định và báo cáo hoạt động đáng ngờ, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân theo các quy cách bảo mật (best practice) như đặt mật mã phức tạp, xác thực đa yếu tố, tránh tải và cài đặt các phầm mềm không rõ nguồn gốc, không truy cập vào những trang web xấu, độc hại, tránh bấm vào link có nguồn gốc không rõ ràng.

Thực ra, không có một hệ thống nào an toàn 100% với tình trạng phát triển công nghệ như hiện nay. Các hệ thống ngày càng phức tạp và lỗ hổng luôn tồn tại đâu đó trong hàng triệu dòng code. Câu nói nổi tiếng của nhà khoa học máy tính Bruce Schneier mà giới công nghệ luôn thuộc nằm lòng là "Bảo mật là một tiến trình, không phải là một sản phẩm (Security is a process, not a product).

Bảo mật, thực hành các quy tắc và sẵn sàng đối phó với những rủi ro khó lường là một trận chiến không có hồi kết. Nhưng với những vấn đề, giải pháp nêu ở trên, tổ chức, doanh nghiệp có thể khắc phục phần lớn rủi ro cho mình.

Son PB

THÁNG 4 VÀ NHỮNG LỜI NÓI DỐI "NGỌT NGÀO" ĐẾN TỪ NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN!

     Ngày 14/3/1975, "Trung tướng" ngụy quân Phạm Văn Phú, Tư lệnh quân đoàn 2, quân khu 2 tuyên bố: "Tôi sẽ sống ch.ết với cao nguyên. Tôi sẽ lấy m.áu mình để thu hồi Ban Mê Thuột". Đến ngày 15/3/1975, Phú lên máy bay dông một mạch về Nha Trang.
     Ngày 23/3/1975, "Trung tướng" ngụy quân Ngô Quang Trưởng, tư lệnh quân đoàn 1, quân khu 1 tuyên bố: "Tôi sẽ sống chết với cố đô, Cộng quân muốn vào Huế phải bước qua xác tôi". Ngày 26/3/1975, hàng vạn quân ngụy VNCH tan rã ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền, Quân Giải phóng tiến vào Huế nhưng không phải bước qua x.ác tướng Ngô Quang Trưởng vì hắn đã cao chạy xa bay vào Đà Nẵng từ ngày 25/3/1975.
     Ngày 27/3/1975, tại Đà Nẵng, Ngô Quang Trưởng lại hô hào: "Anh em hãy t.ử thủ tại Đà Nẵng. Tôi sẽ cùng anh em chiến đấu đến viên đạn cuối cùng". Nhưng ngay ngày hôm sau, chưa kịp bắn viên đạn nào thì tướng Trưởng đã cưỡi trực thăng đáp xuống tàu HQ-05, phi thẳng vào Sài Gòn bỏ mặc anh em.
     Ngày 12/4/1975, "chuẩn tướng" ngụy quân Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư đoàn 18 mắm môi mắm lợi hùng hổ tuyên bố tại Xuân Lộc: "Chúng tôi sẽ đánh một trận dập đầu cộng quân để thế giới biết sức mạnh của Quân lực VNCH".
     Đến ngày 24/4/1975, "sức mạnh của Quân lực VNCH" luồn rừng chạy vòng qua Bà Rịa về Sài Gòn với chưa đầy 1/10 quân số.
     "Tôi sẽ biến Sài Gòn trở thành một Leningrad thứ hai" - "Thiếu tướng" ngụy quân Nguyễn Cao Kỳ bỏ lại lời hứa sau lưng, lên trực thăng di tản khỏi Sài Gòn vào sáng 29/4/1975.
     Đặc biệt "ca sỹ" Nguyễn Văn Thiệu hùng hổ tuyên bố "tử thủ Sài Gòn": "Dù mất một Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn "Trung tướng" Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ...".Nhưng chỉ 4 ngày sau, Thiệu đã bí mật lên máy bay thoát khỏi Sài Gòn vào đêm ngày 25/4/1975. Một pha tốc biến quá nhanh và gọn.
Có lẽ "Ngày cá Tháng tư" ra đời đây...!!!

Ps: Cũng chẳng vui vẻ gì, nhắc nhớ lại để chúng ta thấy được tội ác dai dẳng, âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ. Chúng can thiệp, đưa quân đội ném bom, rải thảm chất độc, dùng các thủ đoạn để chia cắt các quốc gia, nuôi dưỡng bọn ngụy quân ngụy quyền, tạo ra cảnh nồi da nấu thịt, kích động hận thù, chia rẽ, bất ổn.

Nhìn vào quá khứ đau thương của dân tộc và thực tại hoang tàn của U-crai-na để chúng ta luôn đề cao cảnh giác - Đừng bị rủ ngủ, bị mê hoặc, bị cám dỗ, bị kích động bởi bè lũ quỷ dữ Mỹ và phương Tây! Cần tỉnh táo chống lại mọi âm mưu "diễn biến hòa bình", giữ vững độc lập, tự chủ. Tuyệt đối đừng đi vào vết xe đổ, không để đất nước trở thành tiền đồn chống nước này, nước kia của Mỹ, không để đất nước trở thành chiến trường cho Mỹ chống kẻ thù đến người Việt Nam cuối cùng!
Nguồn: Sưu tầm (có chỉnh sửa chút ít)./.

Yêu nước ST.

THỂ THAO VÀ CHÍNH TRỊ!

         Đầu tiên cần khẳng định: Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Mục tiêu của đường lối đối ngoại luôn luôn "đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc". Việt Nam không để bất cứ thế lực nào o ép, ra lệnh để thay đổi đường lối đối ngoại của mình.

Phương Tây luôn giở thói đạo đức giả, trịch thượng khi mồm thì luôn hô hào "Thể thao phi chính trị" nhưng lại thường xuyên để chính trị chi phối thô bạo, trơ trẽn đến thể thao. Điển hình là việc phân biệt đối xử với vận động viên Nga tại khắp các giải đấu to nhỏ! Chưa dừng lại, bọn chúng còn dùng mọi thủ đoạn từ mua chuộc dụ dỗ, cài cắm, đến đe dọa để các nước khác phải làm theo sự thô bỉ của chúng.

Nếu thực sự có sự việc Ban Tổ chức giải bơi biển quốc tế The Arena Oceanman Cam Ranh Việt Nam năm 2023 (Sở Văn hóa và Thể thao Khánh Hòa là đơn vị đồng chủ trì) yêu cầu vận động viên Nga và Belarus ký vào văn bản lên án chính quyền Nga, Belarus là một hành động phi thể thao; gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đường lối đối ngoại của Việt Nam; ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh và ngành du lịch của tỉnh Khánh Hòa cũng như của cả nước (Du khách Nga chiếm số lượng rất lớn trong thị phần của ngành du lịch Khánh Hòa). Trước đó, giải bơi này đã bị dư luận, cơ quan chức năng phát hiện dùng bản đồ vi phạm chủ quyền của Việt Nam - Thật là quá nhiều vấn đề nguy hại!

Câu hỏi đặt ra nếu sự việc nêu trên có thật:  

1. Sở Văn hóa và Thể thao Khánh Hòa trong quá trình triển khai với các đơn vị đối tác có nắm được nội dung này (văn bản yêu cầu vận động viên Nga, Belarus lên án chính phủ của mình). Nếu nắm được mà vẫn thực hiện thì rõ ràng là sai phạm rất nghiêm trọng. Nếu không nắm được thì rõ ràng là tắc trách hoặc năng lực yếu kém, thiếu kiểm tra, giám sát, lơ là mất cảnh giác, để bị gài, bị xỏ mũi...

2. Lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa, Sở Văn hóa và Thể thao Khánh Hòa sẽ xử lý vụ việc này như thế nào? Giải bơi này có tiếp tục được tổ chức không (dự kiến từ 13 đến 16/4/2023)? Các vận động viên Nga, Belarus không đồng ý ký vào văn bản lên án chính phủ của họ có được thi đấu nữa không? Trả lời sự bức xúc của dư luận ra sao? 

3. Nếu Khánh Hòa không xử lý vụ việc lùm xùm này thỏa đáng thì Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lich, Bộ Ngoại giao có ý kiến gì trước dư luận nhân dân không?

Ps: Bài học được rút ra: Công tác đảm bảo an ninh chính trị, rà soát, kiểm tra, giám sát trong các hoạt động hợp tác, giao lưu, trao đổi, giáo dục đào tạo... với các tổ chức, cá nhân mang yếu tố nước ngoài hiện nay đang có nhiều kẽ hở, lỏng lẻo... tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai hại. Ví dụ điển hình là vụ việc nêu trên. Cũng thật là dễ hiểu khi vụ việc này lại xảy ra đúng vào dịp Phó Thủ tướng Nga sang thăm Việt Nam! Ô hay, liệu có bàn tay lông lá của phương Tây và bọn cơ hội chính trị nào đó đã nhúng tay vào đây? Chúng muốn chia rẽ quan hệ Việt - Nga? Nếu như thế thì to chuyện lắm!


Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN THAM NHŨNG, TIÊU CỰC!

         Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Một việc làm cần thiết, tất yếu; một xu thế không thể đảo ngược!
     Vì sao chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực?
     Câu hỏi này được đặt ra trong bối cảnh có một số ý kiến cho rằng nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm "nhụt chí", "chùn bước" những người dám nghĩ, dám làm và làm "chậm" sự phát triển của đất nước. Trong khi thực tiễn cho thấy hoàn toàn ngược lại. Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đặc biệt là đã từng bước lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân.
     Chúng ta cần thống nhất quan điểm: Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống "giặc nội xâm", không phải là cuộc đấu giữa các "phe cánh" hay "đấu đá nội bộ", như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu.
     Qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng đã khẳng định: "Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
     Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta vẫn còn không ít những khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có những hạn chế, thách thức đã được chỉ ra từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội trước nhưng đến nay vẫn tồn tại và có mặt còn diễn biến phức tạp hơn, trong đó có tệ tham nhũng, tiêu cực.
     Để làm rõ thêm một số vấn đề đúc kết có tính lý luận và thực tiễn về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay, trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ tập trung phân tích đánh giá một số nội dung, đó là: Tham nhũng, tiêu cực là gì? Tác hại ra sao? Nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực? Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn? Đặc biệt là phải làm như thế nào để tiếp tục ngăn chặn, đẩy lùi nạn tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới?

Nhận diện đúng
về tham nhũng, tiêu cực
     Chúng ta đều biết, tham nhũng (tham ô, nhũng nhiễu) là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực. Các quốc gia tồn tại và phát triển vững mạnh đều quan tâm và tiến hành đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.
     Theo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003: "Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực của nhà nước để trục lợi riêng". Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 của Việt Nam đã xác định: "Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi". Như vậy, về bản chất, nói một cách nôm na, dễ hiểu như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy thì tham nhũng là hành vi "ăn cắp của công làm của tư".
     So với "tham nhũng" thì "tiêu cực" có nghĩa rộng hơn, do đó, phải xác định phạm vi của tiêu cực mà chúng ta cần tập trung phòng, chống là những hành vi có liên quan đến tham nhũng; đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, là loại biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng và tiêu cực, nhất là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có mối quan hệ gắn bó mật thiết, chặt chẽ với nhau; nguyên nhân cơ bản, trực tiếp của tham nhũng là do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tiêu cực là môi trường làm nảy sinh tham nhũng; tham nhũng tác động trở lại làm trầm trọng hơn tình trạng tiêu cực.
     Nếu chỉ phòng, chống tham nhũng về tiền bạc, tài sản thôi thì chưa đủ, mà nguy hại hơn là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc của tham nhũng; không suy thoái, hư hỏng thì làm gì dẫn đến tham nhũng? Tiền bạc, tài sản có thể còn thu hồi được, nhưng nếu suy thoái về đạo đức, tư tưởng là mất tất cả. Vì vậy, phòng, chống tiêu cực, mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng.
     Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã sớm nhận thức và ngày càng xác định rõ hơn về nguy cơ, tác hại của tệ tham nhũng, tiêu cực đối với Đảng, chế độ và sự nghiệp xây dựng đất nước. Ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân và Chính phủ là "giặc ở trong lòng", "giặc nội xâm".
     Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, dù phải tập trung cao độ cho việc thực hiện các nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, cấp bách của cách mạng nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn không sao nhãng công tác đấu tranh phòng, chống tệ tham nhũng, tiêu cực.
     Bước vào thời kỳ đổi mới, trước tình trạng tham nhũng, tiêu cực ngày càng bộc lộ rõ nét, diễn biến phức tạp, Đảng ta đã nhiều lần chỉ rõ: Tham nhũng "làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ quan nhà nước" (Đại hội 6); "đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước" (Đại hội 11); "là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước" (Đại hội 12).
     Đặc biệt, từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội 7 (tháng 1/1994), tham nhũng được Đảng ta nhận diện là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, đến Đại hội 9 đã trở thành "một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta" và đến nay "vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ" (Đại hội 13).
      Điều đó cho thấy chúng ta chưa bao giờ chủ quan; trái lại, luôn luôn đặt cảnh báo về nguy cơ và sự tác hại của tệ tham nhũng ở mức độ cao nhất.
               Tổng bí thư
        Nguyễn Phú Trọng./.
Yêu nước ST.

LỆNH CẤM VẬN DÀI NHẤT LỊCH SỬ HIỆN ĐẠI..!!!

     Đây là hệ thống trừng phạt đơn phương bất hợp pháp và kéo dài nhất được áp dụng đối với một quốc gia trong lịch sử thế giới hiện đại.

Cách đây hơn 60 năm, vào tháng 10/1960, Mỹ đã tiến hành phong tỏa và áp đặt các biện pháp trừng phạt toàn diện đối với Cuba. Lệnh cấm vận lâu dài nhất trong lịch sử thế giới này đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và người dân của hòn đảo Tự do... 

Các ngành sản xuất trong nước bị suy thoái nghiêm trọng, không đáp ứng được các mặt hàng thiết yếu, bao gồm lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và thiết bị y tế. Đối với Mỹ, những lệnh trừng phạt này cũng gây thiệt hại cho chính các doanh nghiệp Mỹ hàng tỷ đô la do không thể giao dịch được với một thị trường đầy hứa hẹn ngay bên cạnh nước Mỹ.

Nguồn cơn của hơn 60 năm phong tỏa, thù địch
Cuba được mệnh danh là hòn đảo thiên đường ở vùng biển Caribe, vốn là thuộc địa của Tây Ban Nha, nằm trong khu vực lợi ích của Mỹ. Năm 1820, Tổng thống thứ ba của nước Mỹ, Thomas Jefferson viết, Cuba sẽ là "một sự bổ sung tuyệt vời nhất vào hệ thống các bang của đất nước chúng ta." Vào giữa thế kỷ này, nước Mỹ đã tìm cách mua lại hòn đảo này từ Tây Ban Nha, nhưng thỏa thuận không thành.

Bản thân Cuba lúc đó không muốn tiếp tục tồn tại như một thuộc địa. Cuba lúc đó đã tìm đến quan hệ với Mỹ để thực hiện khát vọng tự do của mình. Các cuộc chiến tranh giành độc lập đã tàn phá đất nước, các nhà đầu tư Mỹ đã tận dụng cơ hội này để mua lại các vùng lãnh thổ của Cuba.

Năm 1898, cuộc đấu tranh giải phóng một lần nữa lại bùng nổ trên hòn đảo này và lúc đó người Mỹ không thể không can thiệp, bởi vì nó không chỉ liên quan đến lợi ích của họ, mà còn đe dọa nhiều công dân Mỹ sống và làm việc ở đó. Sự can thiệp của Mỹ đóng một vai trò quyết định trong cuộc chiến với Tây Ban Nha. Giành được độc lập, nhưng chỉ về mặt hình thức, trên thực tế, Cuba thoát khỏi ách đo hộ của của Tây Ban Nha, nhưng lại rơi vào vòng kiểm soát của Mỹ.

Mỹ dần dần củng cố vị thế của mình. Đến năm 1926, người Mỹ đã chiếm quyền sở hữu 60% ngành công nghiệp mía đường và nhập khẩu 95% sản lượng đường của Cuba. Quốc gia nửa thuộc địa này trở thành "vựa đường của Mỹ".

Mỹ đã ủng hộ và đứng về phía các chính phủ Cuba được thành lập sau các cuộc đảo chính. Fulgencio Batista trở thành người trung thành và gần gũi nhất với Washington. Trong thời kỳ F. Batista cầm quyền, Cuba đã biến thành ốc đảo du lịch của giới thượng lưu Mỹ giàu có. Các giới mafia của Mỹ kiểm soát nhiều sòng bạc và nhà thổ ở Havana. Nạn tham nhũng phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế Cuba trở nên phụ thuộc vào Mỹ.

Trong thế kỷ 20, nhiều cuộc cách mạng XHCN đã bùng nổ ở các nước trên thế giới. Cuối những năm 1950, những nhà cách mạng nổi tiếng như Ernesto Che Guevara và Fidel Castro đã đứng lên phát động phong trào đấu tranh lật đổ chế độ Batista.

Năm 1958, khi cuộc chiến tranh bước vào giai đoạn quyết định, biết tình thế không thể đảo ngược được, những người cách mạng sẽ thắng, Mỹ đã chấm dứt cung cấp vũ khí cho chính quyền Batista. Không thể chống đỡ được các lực lượng cách mạng, năm 1959, Batista chạy khỏi đất nước và F. Castro giành chính quyền trở thành người đứng đầu của nhà nước Cuba mới.

Người Mỹ nhanh chóng hiểu rằng, các nhà lãnh đạo mới hoàn toàn không còn là bạn nữa. Chính quyền F. Castro đi theo đường lối của Liên Xô. Ngay sau khi nắm chính quyền, ban lãnh đạo Cuba đã tiến hành xóa bỏ quyền sở hữu tư nhân và quốc hữu hoá các nhà máy, xí nghiệp của Mỹ mà không trả bất kỳ khoản bồi thường nào.

Mỹ đã trả đũa mạnh mẽ, ngừng mua đường và không bán nhiên liệu cho Cuba. Tiếp theo là các biện pháp trừng phạt khác. Mỹ quyết định chấm dứt viện trợ cho bất kỳ nước nào hợp tác với chính phủ mới của Cuba, đồng thời cấm bán bất kỳ hàng hóa nào cho Cuba có thể được sử dụng vào mục đích chiến tranh. Chính phủ F. Casstro đã phải tìm đến sự giúp đỡ của Liên Xô.

Liên Xô đã ủng hộ mạnh mẽ chính quyền của F. Castro, đồng ý mua đường và bán dầu cho Cuba. Mỹ không thể để Cuba đưa Liên Xô, đối thủ số một đến sát biên giới của mình. Năm 1960, Tổng thống Dwight Eisenhower đã ban hành sắc lệnh cấm vận toàn diện chống chính quyền Cuba non trẻ.

Cùng với cấm vận kinh tế, Mỹ cũng đã chuẩn bị lực lượng tấn công Cuba. Ngay sau khi cách mạng Cuba thắng lợi, Cơ quan tình báo Mỹ (CIA) bắt đầu tìm cách loại bỏ chế độ của Fidel Castro. Họ dựa vào một bộ phận không hài lòng với chính quyền mới và sẵn sàng hợp tác với Mỹ lật đổ F. Castro.

Vào thời điểm đó, tại Cuba có một số nhóm vũ trang ngầm hoạt động chống lại chính quyền mới. Những người Cuba di tản sang Mỹ cũng đang chờ thời trả thù để trở về hòn đảo này. Washington đã nuôi dưỡng những phần tử này để chuẩn bị kế hoạch tấn công quân sự Cuba.

Đầu năm 1961, Mỹ đã chuẩn bị đưa 1.500 người Cuba lưu vong có vũ trang đổ bộ vào nước này. Các nhóm chống F. Castro ở các thành phố lớn bên trong Cuba cũng chuẩn bị đồng loạt nổi dậy. Theo kế hoạch, sau khi giành được quyền kiểm soát, các lực lượng này sẽ yêu cầu Mỹ can thiệp và CIA hứa Mỹ sẽ đáp ứng tích cực.

Tuy nhiên, biết được âm mưu này, chính quyền cách mạng đã chuẩn bị các phương án và chủ động hành động. Họ bắt giữ các thủ lĩnh của "đội quân thứ năm", tiến hành nguỵ trang, thay thế máy bay tại các sân bay bằng hình nộm để tránh thiệt hại do không quân Mỹ không kích. Đồng thời, chính quyền Havana đã mở một chiến dịch tuyên truyền toàn diện trong dân chúng sau khi biết kế hoạch đổ bộ của Mỹ.

Quân đội Cuba đã đánh bại nhóm đổ bộ tại bãi biển Playa Giron (Vịnh Con Lợn), bắt hầu hết binh lính của nhóm này làm tù binh và bắn rơi 12 máy bay Mỹ. Mỹ đã không giấu giếm được sự tham gia của mình vào chiến dịch này. Cộng đồng thế giới đã lên án hành động xâm lược của Mỹ. Tổng thống J. Kennedy lúc đó đã tỏ ra thất vọng đối với thất bại của CIA.

Chiến thắng Vịnh Playa Giron trở thành mốc quan trọng nhất của cách mạng Cuba. Cuối năm đó, Cuba đã trao trả số tù binh cho Mỹ mà người Cuba gọi là "gusanos" ("những con sâu") để đổi lấy một lô hàng thực phẩm và thuốc men trị giá 53 triệu USD.

Quan hệ Cuba - Liên Xô
Sau thất bại, Mỹ tìm cách trả thù, gia tăng các biện pháp trừng phạt Cuba. Cuba đã phải đề nghị Liên Xô giúp đỡ.

Người em trai của F. Castro là Raul Castro đã bay sang Moscow gặp Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushev. Liên Xô đã đáp ứng tích cực, cung cấp vũ khí và cử chuyên gia sang giúp Cuba. Do chính sách thân Liên Xô như vậy, CIA đã nhiều lần tìm cách ám sát F. Castro, nhưng không thành.

Mối quan hệ hữu nghị này đã đẩy Mỹ và Liên Xô lúc đó đến bờ vực của một cuộc chiến tranh hạt nhân. Mỹ đã đưa tên lửa mang đầu đạn hạt nhân đến Thổ Nhĩ Kỳ và Italia có thể bắn tới Moscow. Đáp lại, Liên Xô đã triển khai các đơn vị tên lửa của mình ở Cuba.

Nhận biết được khả năng xảy ra chiến tranh, Mỹ đã chuẩn bị cho một cuộc chiến toàn diện. Cuối tháng 10/1962, các tàu của hải quân Mỹ tiến hành một cuộc phong tỏa trên biển, lập một vành đai cách bở biển Cuba 500 hải lý, ngăn chặn các tàu Liên Xô mang đầu đạn hạt nhân cập bến Cuba.

F. Castro không tin vấn đề sẽ được giải quyết bằng biện pháp hoà bình đã kêu gọi Liên Xô không nên chờ cuộc xâm lược xảy ra rồi mới đánh trả mà tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu vào lãnh thổ nước Mỹ bằng vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, N. Khrushchev đã đi đến một thỏa thuận với J. Kennedy, theo đó Mỹ đảm bảo sẽ không tấn công Cuba, rút tên lửa khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, Italia và Liên Xô sẽ rút tên lửa khỏi Cuba.

Sau sự kiện này, quan hệ Cuba-Liên Xô trở nên có phần nguội lạnh. Tuy nhiên, Havana vẫn giữ quan hệ hữu nghị thân thiết với Moscow cho đến khi phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ đầu những năm 1990.

Sau cuộc khủng hoảng tên lửa năm 1962, các tàu chiến Mỹ rời bờ biển Cuba. Cuộc phong tỏa hải quân kết thúc, nhưng phong tỏa kinh tế không những vẫn được duy trì mà còn tăng cường trong nhiều thập kỷ.

Lệnh cấm vận
khắc nghiệt nhất
lịch sử hiện đại
Các lệnh trừng phạt của Mỹ chống Cuba mang tính chất hệ thống. Đây là lệnh cấm vận lâu dài, khắc nghiệt và toàn diện nhất trong lịch sử hiện đại.

Lần đầu tiên Mỹ áp đặt lệnh cấm vận bán vũ khí cho Cuba là vào ngày 14/3/1958, dưới chế độ Fulgencio Batista. Hai năm sau khi cách mạng Cuba thắng lợi, ngày 19/10/1960, Mỹ đã áp đặt lệnh cấm vận xuất khẩu hàng hoá sang Cuba, ngoại trừ thực phẩm và thuốc men. Ngày 7/2/1962, Tổng thống J. Kennedy đã ký sắc lệnh mở rộng phạm vi cấm vận, bao gồm hầu như tất cả các mặt hàng xuất khẩu của Cuba.

Ngoài ra, Mỹ còn ban hành nhiều đạo luật khác chống Cuba, trong đó có Đạo luật viện trợ nước ngoài (1961), Quy chế kiểm soát tài sản Cuba (1963), Đạo luật dân chủ Cuba (1992) nhằm duy trì các biện pháp trừng phạt Cuba chừng nào chính phủ Cuba không chịu tiến tới "dân chủ hóa và tôn trọng quyền con người", Đạo luật Helms – Burton (1996) nghiêm cấm các công dân Mỹ tham gia buôn bán với Cuba và không được giúp đỡ cho bất kỳ chính phủ kế nhiệm nào ở Havana, Đạo luật Cải cách trừng phạt thương mại và xuất khẩu (2000).

Năm 1999, Tổng thống Bill Clinton đã mở rộng lệnh cấm vận thương mại bằng cách không cho phép các công ty chi nhánh của các công ty Mỹ ở nước ngoài buôn bán với Cuba. Năm 2002, cựu Tổng thống J. Carter đã kêu gọi nới lỏng các biện pháp trừng phạt Cuba, nhưng Tổng thống G.W. Bush không những đã bác bỏ mà còn siết chặt hơn trong lĩnh vực thương mai.

Dưới thời Tổng thống B. Obama, quan hệ Mỹ-Cuba đã có nhiều dấu hiệu tan băng.

Ngày 21/1/2015, hai nước bắt đầu đàm phán bình thường hoá quan hệ. Ngày 11/4/2015, Tổng thống B. Obama và Chủ tịch R. Castro đã gặp nhau tại Hội nghị thượng đỉnh châu Mỹ ở Panama. Ngày 20/7/2015, Mỹ và Cuba đã mở lại Đại sứ quán tại Thủ đô của nhau bị đóng cửa từ năm 1961. Nhiều lệnh cấm vận Cuba được dỡ bỏ. Ngày 20/3/2016, B. Obama trở thành Tổng thống Mỹ đầu tiên thăm Cuba kể từ chuyến thăm của Calvin Coolidge năm 1928, mở ra triển vọng kết thúc 55 năm thù địch giữa hai nước.

Tuy nhiên, tất cả đều bị lật lại nhanh chóng khi Tổng thống D. Trump thuộc đảng Cộng hoà lên nắm quyền.

Ngày 16/6/2017, D. Trump đã ban hành Bản ghi nhớ về An ninh quốc gia (NSPM) tăng cường chính sách cấm vận của Mỹ đối với Cuba. Ngày 8/11/2017, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại và Kho bạc nhà nước đã siết chặt các biện pháp cấm vận chống Cuba theo NSPM. Từ năm 2018, lệnh cấm vận được thực hiện theo đạo luật chống lại kẻ thù của nước Mỹ (CAATSA) năm 2017.

Ngoài ra, Tổng thống D. Trump đã áp dụng thêm 243 biện pháp phong tỏa mới, cấm du khách Mỹ đến Cuba lưu trú trong các khách sạn thuộc sở hữu của chính phủ, không được mang về nước xì gà và rượu rum của Cuba, cấm người Mỹ tham dự hoặc tổ chức các cuộc họp, hội thảo, hội nghị chuyên đề, các buổi biểu diễn công cộng cũng như các cuộc thi và triển lãm ở Cuba.

Sau khi nhậm chức tháng 1/2021, Tổng thống J. Biden cam kết sẽ đảo ngược các chính sách của người tiền nhiệm D. Trump đối với Cuba.

Nhiều nghị sĩ đảng Dân chủ cho rằng, Washington nên xem xét giảm bớt các hạn chế, giúp cải thiện cuộc khủng hoảng nhân đạo tại Cuba. Tuy nhiên, đến nay vẫn không có gì thay đổi. Nhà Trắng tuyên bố, việc định hướng lại chính sách của Mỹ đối với Cuba không phải là một trong những ưu tiên cao nhất của ông Biden.

Thiệt hại "nghìn tỷ đô"
Các biện pháp cấm vận kéo dài của Mỹ đã dẫn đến tình trạng thiếu lương thực, nước sạch và thuốc men, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân thường Cuba, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Đây là hệ thống trừng phạt đơn phương bất hợp pháp và kéo dài nhất được áp dụng đối với một quốc gia trong lịch sử thế giới hiện đại. Lệnh cấm vận đã gây ra những thiệt hại to lớn đối với Cuba, khiến cho nhiều thế hệ người dân Cuba gặp muôn vàn khó khăn.

Đến nay, chưa thể đánh giá hết được những thiệt hại do cấm vận của Mỹ gây ra cho nến kinh tế Cuba. Tuy nhiên, theo tính toán của Cuba và một số tổ chức quốc tế, thiệt hại này là hết sức to lớn.

Đầu những năm 1990, khi Liên Xô và phe Xã hội chủ nghĩa tan rã, Cuba đã rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng chưa từng có. Tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Cuba giảm 34%. Từ năm 1989-1992, do Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA) giải thể, việc chấm dứt quan hệ đối tác thương mại truyền thống với các nước thuộc khối Liên Xô đã khiến kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Cuba giảm 61% và nhập khẩu giảm khoảng 72%. Năm 1992, Viện Nghiên cứu Kinh tế thuộc Uỷ ban Kế hoạch Trung ương Cuba công bố báo cáo cho biết, thời gian này riêng về thương mại Cuba ước tính đã mất hơn 28,6 tỷ USD.

Năm 2005, Bộ trưởng Ngoại giao Cuba Felipe Perez Roque tuyên bố, trong 44 năm bị phong tỏa, nền kinh tế Cuba thiệt hại 82 tỷ USD. Năm 2006 con số này đã lên tới 86 tỷ USD. Theo số liệu chính thức của Chính phủ Cuba, tính đến đầu tháng 12/ 2010, thiệt hại trực tiếp từ việc phong tỏa của Mỹ đã lên tới 104 tỷ USD.

Trong khi đó, Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Cuba ước tính lệnh cấm vận từ 1962-2017 đã gây thiệt hại 130 tỷ USD và nếu tính đến sự sụt giá của đồng USD so với vàng trong giai đoạn sau năm 1961 thì tổng số thiệt hại của nền kinh tế Cuba lên tới 975 tỷ USD.

Năm 2009, theo ước tính của chính phủ Cuba, kể từ khi Mỹ áp đặt lệnh cấm vận, thiệt hại của hòn đảo này lên tới 753,69 tỷ USD. Trong khi đó, một báo cáo của hãng truyền thông Al-Jazeera năm 2015 cho biết, lệnh cấm vận của Mỹ đã khiến nền kinh tế Cuba thiệt hại 1,1 nghìn tỷ USD trong 55 năm kể từ 1960.

Các lệnh trừng phạt, cùng với đại dịch lây lan và thiên tai bão lụt đang làm trầm trọng thêm các khó khăn tại Cuba. Cuba phải tiêu tốn thêm khoảng 2 tỷ USD mỗi năm để nhập khẩu lương thực với giá cao hơn gấp đôi so với giá thực tế.

Thông điệp từ thế giới
Từ năm 1992 đến nay, hàng năm với đa số phiếu áp đảo, Đại hội đồng LHQ đều thông qua nghị quyết kêu gọi Mỹ dỡ bỏ các lệnh trừng phạt chống Cuba. LHQ cho rằng, các biện pháp trừng phạt Cuba là trái với luật pháp quốc tế, vi phạm các nguyên tắc, mục đích và tinh thần của Hiến chương LHQ, đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia.

Mới đây nhất, ngày 3/11/2022, Chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden đã bỏ phiếu chống lại một nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trong đó kêu gọi Mỹ chấm dứt cấm vận kinh tế với Cuba. Nghị quyết nhận được sự ủng hộ của 185 nước và chỉ có hai nước chống. Mỹ và Israel chống, Brazil và Ukraine bỏ phiếu trắng.

Đây là lần thứ 30 bỏ phiếu kêu gọi Mỹ chấm dứt các lệnh cấm vận kinh tế Cuba. Khác với Hội đồng Bảo an, Đại hội đồng gồm tất cả các thành viên Liên Hiệp Quốc và lá phiếu của mỗi nước có sức nặng ngang nhau.

Nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), các nước Mỹ Latinh và Canada đã chỉ trích gay gắt lệnh cấm vận của Mỹ chống Cuba. Ngay Ủy ban nhân quyền của Mỹ, trong báo cáo năm 2008, cũng đã kêu gọi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba.

Năm 2002, cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã đến thăm Havana. Năm 2016, Tổng thống Mỹ Obama, người được giải Nobel Hòa bình Nobel, cũng đã thăm Cuba. Cả hai ông đã kêu gọi chấm dứt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Cuba. Năm 2015, Giáo hoàng Francis đã đến thăm Cuba. Đây là chuyến thăm thứ ba của một Giáo hoàng đến Cuba trong vòng chưa đầy 2 thập kỷ. Toà thánh Vatican luôn luôn kêu gọi dỡ bỏ các lệnh trừng phạt của Mỹ chống Cuba.

Năm 2008, trong báo cáo của mình, Tổ chức ân xá quốc tế (Amnesty International) cho rằng, lệnh cấm vận "có tác động hết sức tiêu cực đến quyền của người dân Cuba được hưởng về kinh tế, xã hội và văn hóa, quyền được sống, được bảo vệ sức khỏe, quyền tự do đi lại giữa Cuba và Mỹ để đoàn tụ gia đình...cần phải được bãi bỏ. Năm 2009, tổ chức này cũng đưa ra một báo cáo đặc biệt về lệnh cấm của Mỹ vận đối với Cuba và kêu gọi dỡ bỏ lệnh cấm vận này.

Ban lãnh đạo cũng như người dân Cuba rất mong muốn thiết lập quan hệ láng giềng tốt đẹp với Mỹ. Nhân dân Mỹ và nhiều thế hệ lãnh đạo của nước Mỹ cũng muốn bình thường hoá quan hệ với Cuba vì lợi ích của nhân dân hai nước.

Người Cuba đấu tranh cho tự do và độc lập xứng đáng được sống một cuộc sống tốt hơn. Cả thế giới kêu gọi Mỹ dỡ bỏ ngay các lệnh cấm vận chống Cuba. Không có bất cứ lý do nào để tiếp tục duy trì các lệnh cấm vận chống lại hòn đảo tự do này..!!
Yêu nước ST.

VÔ TỘI SAO PHẢI CẦU CỨU MỸ ???

     Trong video của mình, Vy Oanh đưa 3 con nhỏ lên video để cầu cứu chính phủ Mỹ, mong được trở về nước Mỹ (có thể để tránh vụ kiện cáo với bà Nguyễn Phương Hằng):

"Tôi là Nguyễn Thị Mỹ Oanh, tôi là thường trú nhân Mỹ. Tôi có 3 đứa con, 2 đứa con lớn của tôi cũng là quốc tịch Mỹ. 

Tôi làm video này. Tôi khẩn khoản yêu cầu luật sư của mình can thiệp với chính quyền Mỹ để 4 mẹ con của tôi có thể về Mỹ, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tôi!

Tôi vô tội, và hiện tại tôi đang bị cấm xuất cảnh ở Việt Nam. Tôi cảm ơn ạ!".

Ps: Xin lỗi các nghệ sĩ chân chính, thành phần này đúng là xướng ca vô loài, vô tổ quốc, vô pháp vô thiên, loại này hoạt động trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật thật nguy hiểm./.
Yêu nước ST.

Quân khu 9 nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả qua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Sáng 7-4, Đảng ủy Quân khu 9 tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Kết luận số 01 của Bộ Chính trị, 2 năm thực hiện Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương và 5 năm thực hiện Chỉ thị 23 của Ban Bí thư. Thiếu tướng Hồ Văn Thái, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 9 dự và chủ trì hội nghị.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng những năm qua, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9 và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Kết luận số 01 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương và Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư một cách toàn diện, đồng bộ, với nhiều cách làm sáng tạo, thiết thực và đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân khu trong sạch vững mạnh tiêu biểu, LLVT Quân khu 9 vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”.

Cụ thể là, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo gắn kết chặt việc triển khai thực hiện Kết luận số 01, Nghị quyết số 847 và Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư với nhiệm vụ chính trị. Nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả như mô hình “Đơn vị huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao” của Sư đoàn 330; nhiều gương điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt được nhân rộng; chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị không ngừng được nâng lên.

Bộ CHQS tỉnh Bến Tre cụ thể hóa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành 8 nội dung đăng ký phấn đấu trong sổ tay rèn luyện, tu dưỡng của cán bộ, đảng viên và phát động phong trào “5 xây, 5 chống”; Bộ CHQS tỉnh Sóc Trăng với “36 câu hỏi theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”, phong trào“Nuôi heo đất”, “Hũ gạo tình thương”, “Tiết kiệm 10% chi tiêu”; Bộ CHQS tỉnh An Giang với phong trào “Giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học”, “Hòm tiết kiệm tình nghĩa”...

Bệnh viện Quân y 120, Bệnh viện Quân y 121 (Cục Hậu cần Quân khu 9) có nhiều phong trào thi đua gắn với y đức của người chiến sĩ quân y như: Đến đón tiếp niềm nở, ở chăm sóc tận tình, về dặn dò chu đáo”, “Giọt máu nghĩa tình”; Bệnh viện Quân dân y Bộ CHQS tỉnh Sóc Trăng với mô hình “Bếp ăn từ thiện”. Các công ty, doanh nghiệp, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng có phong trào “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh”, “4 cùng”.

Hưởng ứng phong trào thi đua “LLVT Quân khu 9 chung sức xây dựng nông thôn mới, chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 9, nhất là lực lượng Dân quân tự vệ và dự bị động viên đã gương mẫu tham gia hàng vạn ngày công, xây dựng các công trình phúc lợi góp phần phát triển kinh tế-xã hội ở các địa phương; tích cực tham gia tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, ô nhiễm môi trường, hạn hán, xâm nhập mặn, phòng chống dịch bệnh Covid-19, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của nhân dân.

Cùng với đó, phong trào thi đua “Ngành hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”,“Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý Quân nhu tốt”, “Đơn vị quân y 5 tốt”, “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật” và “Cuộc vận động 50” được các đơn vị trong toàn Quân khu 9 tiếp tục đẩy mạnh thực hiện ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng yêu cầu bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ, góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của LLVT Quân khu 9...

Chia sẻ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, Thượng tá Trần Minh Hân, Chính ủy Trung đoàn 152 nói: “Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn đã tích cực nghiên cứu, học tập, tổ chức giáo dục, quán triệt sâu rộng tinh thần Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhất là giáo dục về giá trị cốt lõi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, cùng những biểu hiện, tác hại của chủ nghĩa cá nhân. Công tác giáo dục, quán triệt Nghị quyết được thực hiện thường xuyên thông qua học tập tập trung, sinh hoạt, công tác hằng ngày; từng cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị phát huy tốt vai trò của tổ chức Đoàn trong tuyên truyền; cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức trách nhiệm, thống nhất hành động trong thực hiện Nghị quyết... Đến nay, nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng toàn đơn vị về bản chất cách mạng, giá trị cốt lõi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, cùng những biểu hiện, tác hại của chủ nghĩa cá nhân không ngừng được nâng cao”.

Để tiếp tục thực hiện tốt Kết luận số 01 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương và Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư, Đảng ủy, thời gian tới, Bộ tư lệnh Quân khu 9 và cấp ủy, chỉ huy các cấp sẽ tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm như: Tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt.

Tích cực đổi mới, đa dạng hóa nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức thực hiện theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả; đổi mới nội dung, phương pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng phù hợp với từng đối tượng.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục dứt điểm những khâu yếu, mặt yếu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và điều chỉnh, bổ sung các biện pháp lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện. Thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội; kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...

TL

HỌ ĐÃ NGHĨ GÌ VỀ VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM?

Việt Nam có vị thế như thế nào trong dòng chảy lịch sử thế giới? Giới sử học phương Tây nhìn nhận như thế nào về đất nước Việt Nam?

1. Việt Nam là quốc gia đã từng có 4 lần tác động lớn đến dòng chảy của lịch sử thế giới.

1.1. Lần tác động đầu tiên đó là công cuộc kháng chiến chống Mông nguyên của nhà Trần. Nó đã chặn đứng sự phát triển của vương triều Mông Cổ về hướng Nam. Từ đó góp phần làm Mông Cổ hay vương triều Nguyên suy yếu dần đi.

1.2. Chiến tranh Đông Dương lần 1: 1945-1954. Việt Nam đã làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ. Từ đó tạo nên 1 cơn bão đấu tranh giải phóng thuộc địa ở các nước Á Phi.

1.3. Chiến tranh Đông Dương lần 2: 1954-1975. Việt Nam trở thành tâm điểm của cả nhân loại trong thập niên 50 đến 70 của thế kỷ 20.

Khi mà trong cuộc chiến tranh này Việt Nam là tâm điểm của 3 luồng mâu thuẫn lớn nhất của thời đại: Mâu thuẫn dân tộc. Mâu thuẫn ý thức hệ. Mâu thuẫn giữa khối phản động thế giới với các lực lượng dân chủ thế giới.

1.4. Quá trình cải cách mở cửa kinh tế, nhưng kiên định với con đường XHCN. Điều này đã làm cho các nhà học giả của ý thức hệ TBCN đau đầu. Vì sau khi LX-Đông Âu sụp đổ, các nhà lý luận của TBCN đã cho rằng, TBCN đã thắng lợi hoàn toàn đối với XHCN và họ cho rằng Việt Nam cũng sẽ sớm sụp đổ theo vì lúc này kinh tế Việt Nam sẽ sụp đổ vì sự lệ thuộc quá lớn vào LX. Và Việt Nam lúc này đã chứng minh điều ngược lại. Nhiều người hỏi tại sao lại là Việt Nam chứ không phải TQ, giới sử học phương Tây cho rằng TQ lúc này trên bản đồ Chính trị, Trung Quốc không tồn tại, vì những ảnh hưởng của Thiên An Môn.

Một sự kiện đang nóng hiện nay là phòng chống dịch bệnh, thế giới một lần nữa được chứng kiến và khâm phục một Việt Nam chủ động đoàn kết, ý Đảng, lòng dân được thể hiện lên tầm cao mới, thử hỏi ở đâu trên trái đất này có được truyền thống đó.

Đó là 4 sự kiện lớn của Việt Nam làm thay đổi dòng chảy lịch sử nhân loại.

2. Việt Nam - Trung Quốc.

Gần đây rất nhiều chú rận cứ hô hào thoát Trung. Vậy điều này có làm được không? 

VIỆC ĐÓ SAI!

Thứ nhất, trong 4000 năm dựng và giữ nước của người Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã sống chung với TQ và vẫn giữ được bản sắc dân tộc của mình, vẫn giữ mình là dân tộc Việt độc lập tự cường tự chủ. Việt Nam đã trải qua 4 thời kì Bắc thuộc. Nhưng trong suốt 4 lần đó. Dân tộc Việt Nam vẫn giữ được bản sắc của mình mà không bị đồng hóa như các dân tộc khác trong Tộc Bách Việt.

Thứ hai, cũng trải qua quá trình sống chung đó, ông cha ta đã có những hướng đi của riêng mình để xác lập vị thế dân tộc. Đó là Bắc Hòa - Nam đánh, tiến hành quá trình Nam tiến về phía Nam, trải qua các triều đại Phong kiến, từ Nhà Đinh đến thời các Chúa Nguyễn, cương vực lãnh thổ Việt Nam đã mở rộng và hình thành nên 1 lãnh thổ Việt Nam trải dài từ Bắc chí Nam, từ địa đầu Lũng Cú đến Cực Nam Mũi Cà Mau. Và ngày nay ta tiếp tục hướng về Biển, vươn ra Biển.

Thứ ba, về địa lý, cái này Việt Nam chả chạy đi đâu được... không như mấy bạn rận có nguyên cái bang cali để tự trị.

Thứ tư, trong dòng chảy của quá trình Toàn cầu hóa, khi mà các quốc gia khác đang tìm cách hợp tác để phát triển, vừa hợp tác vừa đấu tranh, thì quan hệ VN-TQ cũng đang làm điều đó, điều này Mỹ cũng đang làm. Vậy hô hào thế chả khác gì các bạn kêu Việt Nam tự đứng ra ngoài cuộc chơi.

Thứ năm, năm 2014 tại Hội nghị quốc tế về quan hệ VN-TQ tổ chức tại TPHCM, giới học giả quốc tế đã nhận định rằng, nếu hiểu TQ thì chỉ có Việt Nam, nếu hiểu TQ mạnh hay yếu chỉ có Việt Nam. Vì Việt Nam đã chơi với TQ 4000 năm và vẫn tồn tại.

Tóm lại:

1. Thời cha ông đã sống chung với nó thì nay việc gì ta phải đi.

2. Ta đã xác định được hướng đi của mình thì việc gì phải làm thế.

3. Vị trí địa lý như thế thì chạy đi đâu.

4. Quan hệ đó đang nằm trong xu hướng toàn cầu. Ta đứng ra chả khác gì tự nhảy ra khỏi cuộc chơi.

Lữ đoàn Công binh 293 đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì

Sáng 7-4, Lữ đoàn 293, Binh chủng Công binh tổ chức Lễ kỷ niệm 30 năm truyền thống đơn vị (8-4-1993 / 8-4-2023) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì. Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư chúc mừng.

Tham dự lễ kỷ niệm có Thiếu tướng Bùi Hải Sơn, Tư lệnh Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Trung tướng Phạm Quang Xuân, nguyên Tư lệnh Binh chủng Công binh; Đại tá Khổng Mạnh Hưng, Phó chính ủy Binh chủng Công binh; cùng đại biểu các cơ quan, đơn vị Quân đội, địa phương, cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã công tác qua các thời kỳ của lữ đoàn.

Diễn văn tại lễ kỷ niệm do Đại tá Nguyễn Thế Lương, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 293 trình bày đã khái quát quá trình xây dựng và phát triển của đơn vị. Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng công trình phòng thủ trong giai đoạn mới, ngày 8-4-1993, Bộ Quốc phòng ban hành quyết định thành lập Trung đoàn Công trình 293 (Đoàn Công binh Thăng Long) với nhiệm vụ chính trị trọng tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng công trình quốc phòng. 

Sau ngày thành lập, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn nhanh chóng củng cố, ổn định nơi ăn, ở và ra quân xây dựng những công trình đầu tiên, đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Do tính chất nhiệm vụ bảo đảm công binh, tháng 8-2011, Bộ Quốc phòng ra quyết định tổ chức Trung đoàn 293 thành Lữ đoàn Công binh công trình 293. Từ đây, đơn vị có bước phát triển mới, với nhiệm vụ bổ sung là phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên.

Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, Lữ đoàn 293 luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng công trình, lập nhiều thành tích xuất sắc, xây đắp nên truyền thống “Chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, trưởng thành, vững mạnh”. Lữ đoàn 293 và Tiểu đoàn 27 thuộc Lữ đoàn được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Lữ đoàn được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì; 2 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; 3 Cờ thi đua của Chính phủ, cùng hàng trăm lượt tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng. Năm 2022, Lữ đoàn được Bộ Quốc phòng tặng cờ “Đơn vị huấn luyện giỏi”.

Phát biểu chúc mừng Đại tá Khổng Mạnh Hưng, Phó chính ủy Binh chủng Công binh ghi nhận và biểu dương những cố gắng, nỗ lực vượt khó của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 293, đặc biệt là với nhiệm vụ xây dựng công trình quốc phòng, đồng thời đề nghị trong thời gian tới, đơn vị tổ chức tốt việc quán triệt, học tập triển khai đầy đủ và thực hiện thắng lợi các chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy Đảng; nâng cao trình độ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng công trình bảo đảm chất lượng, an toàn; thường xuyên chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội; bảo đảm tốt về hậu cần, kỹ thuật cho mọi nhiệm vụ; giữ vững phát huy tốt mối quan hệ với cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn kết quân dân; chủ động đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”…

 

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống (8-4-1993 / 8-4-2023), Lữ đoàn 293 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì.

 TL

Thượng tướng Lê Huy Vịnh: Học viện Kỹ thuật quân sự cần tiếp tục phát huy thế mạnh trong chuyển đổi số

 

Sáng 7-4, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng Ban chỉ đạo cải cách hành chính và chính phủ điện tử Bộ Quốc phòng đến kiểm tra công tác nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số tại Học viện Kỹ thuật quân sự.

Báo cáo tại buổi làm việc, Thiếu tướng Lê Minh Thái, Phó giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự cho biết: Năm 2022 và quý I năm 2023, hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số tại Học viện Kỹ thuật quân sự đã được triển khai toàn diện, đồng bộ, đi vào chiều sâu, phù hợp với công tác quân sự quốc phòng trong tình hình mới. Nhận thức của cán bộ, giảng viên, nhân viên học viện về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số được nâng lên một cách rõ rệt, tại sự chuyển biến vững chắc, làm tiền đề cho việc đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số trong những năm tiếp theo.

Kết quả công tác chuyển đổi số và phát triển chính phủ điện tử, năm 2022, các cơ quan, đơn vị trong học viện đã tiếp tục sử dụng hiệu quả các phần mềm đã được xây dựng như: Phần mềm quản lý đào tạo, khảo thí; phần mềm nhập điểm thi, chấm thi trắc nghiệm; phần mềm lớp học trực tuyến... Hạ tầng mạng, trang thiết bị công nghệ thông tin được trang bị đồng bộ cho các giảng đường, phòng học chuyên dùng. Hệ thống camera giám sát lớp học được triển khai, hỗ trợ hiệu quả quá trình giám sát, kiểm tra huấn luyện và đào tạo.

Học viện cũng tích cực nâng cấp, khai thác các phần mềm phục vụ chỉ huy, quản, lý, điều hành do chính đơn vị tự xây dựng. Hiện tại, đang sử dụng 37 phần mềm, bao gồm cả phần mềm quản lý đào tạo. Năm 2022, học viện tích cực triển khai, sử dụng các phần mềm dùng chung của Bộ Quốc phòng, khai thác, sử dụng hiệu quả phần mềm các ngành như: Tài chính, doanh trại, cán bộ...

Năm 2022, học viện đã hướng dẫn các cơ quan, đơn vị bảo đảm an toàn thông tin; kiểm tra hơn 2.300 thiết bị công nghệ thông tin, cảnh báo kịp thời các dấu hiệu, nguy cơ mất an toàn. Thực hiện cài đặt phần mềm cảnh báo mã độc MiAV cho gần 950 máy tính quân sự; kịp thời gỡ bỏ các mã độc cho máy tính bị nhiễm. Học viện cũng đã tổ chức tập huấn về công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho gần 400 lượt cán bộ, giảng viên, nhân viên.

Công tác nghiên cứu khoa học tại học viện đạt nhiều kết quả tích cực. Trong năm 2022, học viện đã quản lý và tổ chức thực hiện 381 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp với gần 80 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và tương đương trở lên. Riêng trong năm 2022, toàn học viện có hơn 880 công bố khoa học, trong đó có hơn 390 công bố trên tạp chí quốc tế; được cấp 2 bằng sở hữu trí tuệ và giải pháp hữu ích.

Phát biểu kết luận buổi làm việc, Thượng tướng Lê Huy Vịnh đánh giá cao, biểu dương các kết quả trong công tác nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số mà Học viện Kỹ thuật quân sự đã đạt được trong năm qua và nhấn mạnh: Học viện Kỹ thuật quân sự là một trong những trường trọng điểm của quốc gia. Đối tượng đào tạo ra là các chuyên gia, kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước. Đây cũng sẽ là đơn vị làm điểm khối nhà trường Quân đội trong chuyển đổi số. Bộ Quốc phòng kỳ vọng Học viện Kỹ thuật quân sự sẽ đặt ra và hoàn thành các mục tiêu ngày càng cao hơn.

Đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu: Ngoài tập trung nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Học viện Kỹ thuật quân sự cần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển đổi số. Đây là nhu cầu thiết yếu và cấp thiết đối với học viện; từ đó góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị của học viện. Nhà trường cần tiếp tục nghiên cứu, phối hợp với các đơn vị xây dựng chương trình chuyển đổi số một cách tổng thể trên nền tảng hiện có; rà soát lại tất cả các phần mềm ở mọi lĩnh vực để tích hợp, liên thông và chuẩn hóa dữ liệu dùng chung; hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chỉ huy, điều hành của học viện... Học viện phải tiên phong trong chuyển đổi số và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số cho Quân đội.

Học viện Kỹ thuật quân sự cần chủ động bám nắm các chủ trương, định hướng, kế hoạch về công tác nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số trong học viện; tích cực triển khai các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ các cấp, các dự án bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả. Chú trọng nghiên cứu khoa học cơ bản song hành cùng nghiên cứu khoa học ứng dụng...

Thượng tướng Lê Huy Vịnh bày tỏ tin tưởng, Học viện Kỹ thuật quân sự sẽ tiếp tục phát huy các thế mạnh, đi tiên phong trong chuyển đổi số, nghiên cứu khoa học và giáo dục, đào tạo; hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

TL