Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

Nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ - Kết quả bước đầu và một số kinh nghiệm.

 Với sự đồng hành của hội liên hiệp phụ nữ các cấp, bằng nhiều hình thức, nội dung đa dạng, phong phú, như hỗ trợ phát triển kinh tế, khởi nghiệp, tạo mô hình sinh kế, học nghề..., phụ nữ Việt Nam ngày càng phát huy được năng lực, có nhiều đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Theo đó, quyền năng kinh tế và vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện để phụ nữ Việt Nam phấn đấu, vươn lên, xứng đáng với truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Hà Thị Nga thăm mô hình Câu lạc bộ Phụ nữ dệt thổ cẩm tỉnh Gia Lai_Nguồn: baogialai.com.vn

Khó khăn, thách thức đối với việc phát huy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế

Trong lĩnh vực kinh tế, phụ nữ tham gia lực lượng lao động chiếm tỷ lệ cao. Với việc chiếm 47,7% trong lực lượng lao động thành thị và 47,2% trong lực lượng lao động nông thôn(1),  phụ nữ có mặt ở khắp các lĩnh vực và chiếm số đông trong một số ngành, nghề, như nông nghiệp, giáo dục, y tế. Chiếm 45,5% lực lượng lao động ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và phải đối diện với nhiều khó khăn, thử thách, nhưng phụ nữ nông thôn vẫn nỗ lực vươn lên, thực sự làm chủ trong sản xuất; đa số phụ nữ đã tiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của đất nước, phụ nữ tham gia ngày càng đông đảo vào các ngành công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, điện tử, thương mại, tài chính, ngân hàng. Quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã hình thành và phát triển đội ngũ nữ doanh nhân, kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành, nghề, với những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Khi nền kinh tế đất nước chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, đội ngũ nữ doanh nhân đã phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, vượt qua thách thức để giúp cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển. Cùng với đội ngũ doanh nhân Việt Nam, với tỷ lệ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ lên tới 24% vào năm 2019(2), nữ doanh nhân Việt Nam có đóng góp không thể phủ nhận trong các ngành thương mại, dịch vụ, phong trào “Quốc gia khởi nghiệp”, thực hiện trách nhiệm xã hội. Đặc biệt, khi cả nước căng mình ứng phó với đại dịch COVID-19 và suy thoái kinh tế, các nữ doanh nhân chính là những chiến sĩ trên mặt trận kinh tế, kiên cường đồng hành cùng người lao động và nhân dân vượt qua giai đoạn đầy khó khăn, thử thách.

Dù đã nỗ lực và có những đóng góp to lớn cho đất nước, nhưng phụ nữ vẫn gặp không ít khó khăn, thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới: Lực lượng lao động nữ tuy đông về số lượng, nhưng tỷ lệ qua đào tạo thấp nên chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Số lao động nữ không có trình độ chuyên môn chiếm tới 49,4%(3), tập trung vào lao động nữ ở nông thôn, trong độ tuổi trung niên, phụ nữ dân tộc thiểu số; tỷ lệ lao động nữ làm thuê các công việc trong hộ gia đình chiếm đến 94,7% tổng lao động làm thuê.

Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, tỷ lệ lao động nữ bị thất nghiệp cao hơn so với lao động nam. Số doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ làm chủ phải tạm ngừng một phần hoặc dừng toàn bộ hoạt động kinh doanh cao hơn so với doanh nghiệp vừa và nhỏ do nam giới làm chủ. Điều này đã phần nào làm tăng khoảng cách giới trong một số lĩnh vực, như lao động, việc làm, trong gia đình, gia tăng bạo lực giới,... Thực trạng đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực hiện công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ cũng như chất lượng triển khai thực hiện các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới.

Bên cạnh vấn đề lao động, việc làm, các chính sách an sinh xã hội cho phụ nữ cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm. Nhìn tổng thể, lao động nữ tập trung nhiều ở khu vực việc làm phi chính thức, là khu vực nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động, nên ít được hưởng lợi từ các chế độ lương hưu, thai sản, thất nghiệp và bảo hiểm y tế. Có nhiều vấn đề đặt ra đối với phụ nữ di cư (chiếm 55,5% trong số lao động di cư)(4), nữ công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất, như tiền lương thấp, việc làm bấp bênh, điều kiện sống khó khăn, an sinh xã hội không bảo đảm, nguy cơ thất nghiệp sau 35 tuổi rất cao. Hiện nay, còn tồn tại vấn đề nữ nông dân thiếu việc làm, khó chuyển đổi nghề khi đất canh tác phải chuyển đổi mục đích sử dụng, phụ nữ ít có điều kiện nghỉ ngơi, chăm sóc bản thân, kể cả khi sinh con; một tỷ lệ nhất định phụ nữ dân tộc thiểu số, vùng sâu và các nhóm phụ nữ yếu thế (nghèo, khuyết tật, đơn thân...) trong đời sống còn gặp nhiều khó khăn, ít cơ hội tiếp cận thông tin, giáo dục - đào tạo và hệ thống an sinh xã hội.

Những khó khăn khác ở tầm vĩ mô, như trình độ phát triển kinh tế - xã hội chưa đồng đều giữa các vùng, miền, mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động trực tiếp đến đời sống, việc làm của một bộ phận phụ nữ, ảnh hưởng đến sự phát triển của phụ nữ, đặc biệt là trong nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đồng hành, hỗ trợ nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ

Với vai trò là tổ chức nòng cốt trong công tác phụ nữ dưới sự lãnh đạo của Đảng, 93 năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động nhằm đoàn kết, tập hợp, vận động, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của các tầng lớp phụ nữ trong cả nước. Bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, các cấp hội đã triển khai phong trào thi đua, các cuộc vận động, các nhiệm vụ trọng tâm, góp phần nâng cao năng lực và chất lượng đời sống mọi mặt cho hội viên, phụ nữ; trong đó, có các hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, với 5 kết quả nổi bật trong giai đoạn 2017 - 2022(5), cụ thể là:

1- Hoạt động hỗ trợ hội viên, phụ nữ giảm nghèo được đẩy mạnh ở các cấp. Thông qua các mô hình sinh kế tạo việc làm tại chỗ, hoạt động có địa chỉ giúp phụ nữ nghèo, giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ vốn tín dụng cho phụ nữ nghèo được thực hiện có hiệu quả, gắn kết với Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình quốc gia “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP), Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, Chương trình Đồng hành cùng phụ nữ biên cương. Các cấp hội đã giúp hơn 2 triệu hộ nghèo, trong đó có gần 270 nghìn hộ đã thoát nghèo theo tiêu chí đa chiều. Việc thực hiện thành công các mô hình giảm nghèo trên cơ sở xây dựng cơ chế quản lý xoay vòng vốn phù hợp với thực tế của từng mô hình được các ban, ngành đánh giá cao và là cơ sở để tiếp tục xây dựng, phát triển mô hình giảm nghèo của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025.

2- Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017 - 2025” (Đề án 939) được triển khai đã góp phần nâng cao nhận thức, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp đến các tầng lớp phụ nữ, quan tâm đến các thành phần phụ nữ yếu thế, như phụ nữ khuyết tật, phụ nữ hoàn lương, phụ nữ chịu ảnh hưởng của HIV/AIDS, phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm thực hiện mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Hoạt động hỗ trợ của Hội phù hợp nhu cầu của từng đối tượng; cách thức tổ chức linh hoạt, bắt kịp với yêu cầu, xu hướng phát triển xã hội (trực tuyến kết hợp trực tiếp).

Hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp được đẩy mạnh với nhiều hình thức sáng tạo. Chủ đề Ngày Phụ nữ khởi nghiệp hằng năm đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, sự chuyển động của nền kinh tế; theo đó, đã có 63/63 tỉnh, thành phố tổ chức Ngày Phụ nữ khởi nghiệp cấp tỉnh, 31/63 tỉnh, thành phố tổ chức Ngày Phụ nữ khởi nghiệp đến cấp huyện, thu hút trên 24.640 phụ nữ có ý tưởng, dự án dự thi. Các cấp hội đã có được 479 tỷ đồng (trong đó từ ngân sách Trung ương, địa phương là 254 tỷ đồng và 225 tỷ đồng từ nguồn xã hội hóa) cho hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp; vận động, hỗ trợ cho gần 73 nghìn phụ nữ khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh, thông qua các hình thức tập huấn nâng cao năng lực, kết nối tiếp cận tín dụng, kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm, kết nối xúc tiến thương mại, đầu tư... Trong khuôn khổ Đề án 939, sau 5 năm, đã có 100% số cán bộ hội phụ nữ chuyên trách các cấp tham gia triển khai Đề án được nâng cao nhận thức, phương pháp hỗ trợ phụ nữ về khởi nghiệp, phát triển kinh doanh; 70% số hội viên phụ nữ được tuyên truyền, nâng cao nhận thức về việc làm, khởi nghiệp thông qua 197.140 cuộc tuyên truyền cho hơn 13,6 triệu hội viên phụ nữ về việc làm, khởi nghiệp; hỗ trợ 63.864 phụ nữ khởi sự kinh doanh và khởi nghiệp; phối hợp, hỗ trợ thành lập 4.747 tổ hợp tác/hợp tác xã (HTX) do phụ nữ quản lý; 50.665 doanh nghiệp của phụ nữ mới thành lập được tư vấn, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

Hoạt động hỗ trợ phát triển doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ được đổi mới theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ dựa trên nhu cầu phát triển và thích ứng với bối cảnh tình hình; các cấp hội tổ chức nhiều chương trình đa dạng hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ nâng cao năng lực; hỗ trợ tiếp cận tín dụng, thị trường, thông tin, công nghệ, tác động chính sách. Bên cạnh các nội dung tập huấn nâng cao năng lực kinh doanh mang tính truyền thống, các cấp hội đã phát huy tính chủ động, sáng tạo, tổ chức nhiều hoạt động liên kết, hợp tác, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, như quản trị kinh doanh, năng lực ứng phó khủng hoảng do COVID-19, ứng dụng thương mại điện tử, kết nối tiêu thụ sản phẩm, tổ chức hội thi và quảng bá sản phẩm của phụ nữ khởi nghiệp; đẩy mạnh kết nối liên tỉnh và nội tỉnh, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là nông sản trong giai đoạn ảnh hưởng của dịch COVID-19; kết nối tiêu thụ sản phẩm thông qua phối hợp với Bưu điện Việt Nam, sàn thương mại điện tử Postmart, Tiki, Shoppee...

Việc kết nối với mạng lưới các hội/hiệp hội/câu lạc bộ nữ doanh nhân, tăng cường hợp tác, phát huy thế mạnh của từng tổ chức (Hội Liên hiệp Phụ nữ và hội/hiệp hội nữ doanh nhân) được chú trọng hơn; thúc đẩy phát triển mạng lưới hội, hiệp hội, câu lạc bộ doanh nghiệp nữ. Đến nay, cả nước có 31 hội/hiệp hội doanh nhân nữ ở cấp quốc gia và tỉnh/thành được chính thức thành lập, với gần 10.000 hội viên; có 896 câu lạc bộ nữ doanh nhân, trong đó gồm 42 câu lạc bộ cấp tỉnh.

3- Trong bối cảnh sắp xếp lại các trung tâm đào tạo nghề của Hội, các cấp hội đã kịp thời điều chỉnh phương thức đào tạo, tăng cường phối hợp, liên kết, giới thiệu đào tạo, tổ chức các tổ/nhóm phụ nữ giúp nhau học nghề sát với nhu cầu thị trường, góp phần thực hiện chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII đề ra và tăng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo nghề.

Các cấp hội và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Hội đã đào tạo nghề, phối hợp, giới thiệu đào tạo nghề cho trên 206.765 lao động nữ, chủ yếu đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng với các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực nông nghiệp sản xuất sạch, an toàn (kỹ thuật trồng rau an toàn, kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm...) hoặc tiểu thủ công nghiệp (đan lục bình, mây tre đan, thêu, dệt thổ cẩm...). Hoạt động dạy nghề của các cấp hội gắn với tạo việc làm sau học nghề thông qua hỗ trợ thành lập các mô hình kinh tế tập thể, như HTX, tổ hợp tác, tổ/nhóm phụ nữ liên kết sản xuất, kinh doanh và hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp... được đẩy mạnh; từ đó, góp phần tạo việc làm bền vững và thu nhập ổn định cho phụ nữ, thu hút phụ nữ tích cực tham gia học nghề. Qua 5 năm triển khai, đã có 206.765 lao động nữ được đào tạo nghề.

4- Hội Liên hiệp Phụ nữ tiếp tục là đoàn thể dẫn đầu với 6 điểm “nhất”(6) trong hoạt động ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội, là kênh dẫn vốn hiệu quả cho các chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước. Hoạt động tài chính vi mô của các cấp hội ngày càng chuyên nghiệp. Các chương trình tài chính vi mô của các cấp hội tiếp tục phát triển, không chỉ về số lượng, mà còn tăng lên về chất lượng, hiệu quả; không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống của phụ nữ, đặc biệt là tại các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, mà còn hướng tới đáp ứng các quy định của pháp luật chuyên ngành(7). Điểm nổi bật của nhiệm kỳ vừa qua là đã có 30 chương trình/dự án tài chính vi mô của các tỉnh, thành phố đăng ký theo Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg, ngày 12-6-2017, của Thủ tướng Chính phủ, “Quy định về hoạt động của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ”.

Theo đó, Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tình thương tập trung ứng dụng công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm tài chính và phi tài chính, đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm phụ nữ khác nhau, trong đó có nhóm phụ nữ khởi nghiệp với hơn 2 nghìn tỷ đồng cho 173 nghìn phụ nữ vay. Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục thí điểm hoạt động Quỹ Bảo hiểm vi mô góp phần đa dạng hóa sản phẩm tài chính vi mô, đồng thời tạo thêm kênh an sinh xã hội cho phụ nữ nghèo.

Kế hoạch triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được ban hành và triển khai trong toàn hệ thống hội hướng tới nâng cao hiểu biết, năng lực tài chính và khả năng của phụ nữ trong tiếp cận và sử dụng an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu. Bước đầu, các cấp hội đã triển khai một số hoạt động xây dựng tài liệu, tổ chức nhiều hoạt động truyền thông, tập huấn, nâng cao hiểu biết, năng lực tài chính cho phụ nữ. Việc mở rộng phối hợp với nhiều đơn vị cung ứng dịch vụ tài chính (Ngân hàng Chính sách xã hội và 3 ngân hàng thương mại khác) giúp gia tăng cơ hội cho phụ nữ, thuận tiện trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu (bảo hiểm vi mô, tín dụng cho khởi nghiệp, tín dụng cho phát triển kinh doanh...).

Hoạt động tín dụng, tiết kiệm tại chi hội, tổ phụ nữ tiếp tục được duy trì, đáp ứng nhu cầu thiết thân của hội viên, phụ nữ. Tính đến ngày 31-12-2021, số dư tiết kiệm tại 63/63 tỉnh hội, thành hội phụ nữ đạt 11,4 nghìn tỷ đồng (tăng 5,3 nghìn tỷ so với giai đoạn 2012 - 2017) với trên 10,7 triệu hội viên tham gia thông qua 267.277 tổ, nhóm tiết kiệm. Một số tỉnh hội, thành hội phụ nữ đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động tiết kiệm.

5- Các cấp hội đã đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ phụ nữ tham gia và phát triển mô hình kinh tế tập thể, HTX dưới nhiều hình thức: Tuyên truyền, vận động hội viên, phụ nữ, người dân tham gia mô hình kinh tế tập thể; 90% số cán bộ hội các cấp và hơn 80% số hội viên đã được tuyên truyền về chính sách, chủ trương phát triển kinh tế tập thể; xây dựng các mô hình HTX phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở địa phương, vùng, miền theo hướng khôi phục và phát huy các nghề truyền thống, phát huy tài nguyên sẵn có góp phần tạo dựng thương hiệu các sản phẩm của địa phương; sản xuất sản phẩm bảo vệ sức khỏe cho người sử dụng, thân thiện với môi trường; xây dựng mô hình HTX gắn với tạo việc làm cho lao động nữ. Các cấp hội đã hỗ trợ thành lập mới hơn 800 HTX do phụ nữ tham gia quản lý với trên 14.000 thành viên và 11 nghìn tổ hợp tác với trên 30.000 thành viên, trong đó có trên 70% là các HTX nông nghiệp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm an toàn; thu nhập bình quân của thành viên đạt trung bình trên 5 triệu đồng/người/tháng. Gần 400 mô hình sinh kế hỗ trợ phụ nữ vùng biên giới, biên cương phát triển kinh tế bền vững thuộc Chương trình Đồng hành cùng phụ nữ biên cương đã được thành lập. Đề án “Hỗ trợ hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý, tạo việc làm cho lao động nữ đến năm 2030”(8) được Chính phủ phê duyệt năm 2023 với các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, là cơ sở quan trọng để Hội cùng các ngành, các cấp thúc đẩy hơn nữa hoạt động hỗ trợ phụ nữ tham gia phát triển kinh tế tập thể, góp phần nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ.

Tuy nhiên, hoạt động hỗ trợ nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ còn gặp những hạn chế, khó khăn sau:

- Hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, đặc biệt qua Đề án 939 ở địa phương, còn một số hạn chế do công tác phối hợp giữa các bên tham gia thực hiện Đề án còn chưa thực sự chặt chẽ; công tác tăng cường hợp tác quốc tế, huy động nguồn lực, công tác phối hợp lồng ghép hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp chưa thực sự được quan tâm thỏa đáng; công tác kết nối, xây dựng mạng lưới hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp chưa được chặt chẽ, sâu rộng.

- Hoạt động hỗ trợ phát triển doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ chưa có chiến lược dài hạn, chưa bắt kịp nhu cầu phát triển của doanh nghiệp; nguồn lực hỗ trợ (nhân lực và kinh phí tổ chức các hoạt động) còn hạn chế.

- Nhận thức về vai trò, cách thức hỗ trợ phát triển HTX của một số cán bộ hội chưa sâu sắc; công tác tuyên truyền chưa có nhiều đổi mới, việc hướng dẫn, tư vấn còn lúng túng; một số HTX được Hội hỗ trợ, nhưng phát triển chưa thực chất.

- Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số đã đem lại các tiến bộ về năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh và sự thay đổi nhu cầu sử dụng lao động. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng có những tác động khó lường đến tính chất của việc làm truyền thống, gây ra nguy cơ phá vỡ thị trường lao động, lao động bị dư thừa do máy móc thay thế con người và gia tăng áp lực do sự chuyển dịch của nguồn lực lao động. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Việc tham gia các tổ chức khu vực và thế giới, như Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)..., đòi hỏi phải có chiến lược nâng cao chất lượng hàng hóa và an toàn, vệ sinh thực phẩm theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP...

Chế biến long nhãn ở  Hưng Yên_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp hỗ trợ nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ

Từ những kết quả bước đầu trong việc hỗ trợ nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm như sau:

Một là, bám sát và cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến phát triển kinh tế trong từng năm, từng giai đoạn, từng thời kỳ; lựa chọn những hoạt động hỗ trợ phù hợp với nhu cầu thiết thân của phụ nữ, khả năng của các cấp hội; đồng thời, kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, phù hợp với tình hình thực tiễn.

Hai là, phát huy, khơi dậy ý chí tự lập, tự cường, khát vọng vươn lên, tinh thần chủ động, sáng tạo để hội viên, phụ nữ nâng cao thu nhập, tham gia tích cực trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Ba là, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ hội làm công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, cập nhật kịp thời các chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển kinh tế, có kiến thức, kỹ năng cơ bản trong tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế.

Bốn là, nắm bắt tình hình tư tưởng, đời sống, việc làm của hội viên, phụ nữ; nâng cao hiệu quả thực chất công tác tham mưu, đề xuất chính sách, giám sát và phản biện xã hội đối với các chính sách liên quan đến hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững.

Năm là, huy động nguồn lực tổng hợp từ các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để tạo nguồn lực cho hoạt động, lồng ghép vào các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội của Trung ương và địa phương, các chương trình phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức.

Để tiếp tục nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ trong thời gian tới, cần thực hiện tốt một số giải pháp đồng bộ sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, kênh truyền thông của Hội về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về khởi nghiệp, phát triển kinh doanh, HTX; về vai trò, vị trí của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội; phát huy nội lực, ý chí vươn lên của phụ nữ và cộng đồng; chú trọng phát hiện, tuyên truyền, tôn vinh, nêu gương các điển hình tiên tiến; nhân rộng những mô hình hiệu quả, cách làm hay trong phát triển kinh tế, khởi nghiệp, phát triển HTX, doanh nghiệp.

Thứ hai, tiếp tục giám sát, đề xuất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, tập trung cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ; nghiên cứu, đánh giá, nhân rộng mô hình HTX, tổ hợp tác hoạt động có hiệu quả.

Thứ ba, nâng cao năng lực tổ chức của đội ngũ cán bộ hội. Các cấp hội tổ chức các lớp tập huấn nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ trong hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, phát triển kinh tế, giảm nghèo; đưa nội dung giáo dục tài chính toàn diện; kỹ năng hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế hợp tác, HTX vào các tài liệu tập huấn của các cấp hội.

Thứ tư, phối hợp, vận động nguồn lực cho hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế. Các cấp hội đẩy mạnh hoạt động thành lập mạng lưới chuyên gia tư vấn, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, phát triển kinh tế; tổ chức các hội nghị, diễn đàn kết nối, liên kết giữa doanh nghiệp nữ, HTX do phụ nữ tham gia quản lý với các doanh nghiệp và nhà phân phối; phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các tổ chức tín dụng hỗ trợ phụ nữ tiếp cận các dịch vụ tài chính đa dạng; tăng cường vận động nguồn lực từ ngân sách nhà nước bằng cách chủ động nghiên cứu, xây dựng, đề xuất các hoạt động, đề án và tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia; mở rộng quan hệ phối hợp với các tổ chức trong nước, quốc tế để tập trung nguồn lực cho hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững./.

---------------------------

(1) Xem: Tổng cục Thống kê: “Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2020”, https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2022/02/sach_laodong_2020_b6.pdf
(2) Xem: Bộ Kế hoạch và Đầu tư: “Báo cáo quốc gia năm 2020 - Tiến độ 5 năm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững”, tr. 71
(3) Xem: Tổng cục Thống kê: “Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2020”, https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2022/02/sach_laodong_2020_b6.pdf
(4) Xem: Tổng cục Thống kê: “Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019”, https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2019/12/Ket-qua-toan-bo-Tong-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-2019.pdf
(5) Xem: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: “Tài liệu học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII”, http://hoilhpn.org.vn/documents/1809139/3700021/baigiang+NQDH+13+full.pdf/1a534372-bd08-4cc5-912f-c3ac991bd154
(6) 6 “nhất”: Dư nợ cao nhất; tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhất; số tổ tiết kiệm và vay vốn nhiều nhất; tỷ lệ thành viên tham gia tiết kiệm cao nhất; số lượng thành viên nhiều nhất; tổ vay vốn và tiết kiệm có chất lượng tốt nhất
(7) Tính đến tháng 12-2021, toàn hệ thống hội có 52/63 tỉnh, thành phố có chương trình tài chính vi mô đang được thực hiện, trong đó có 1 tổ chức tài chính vi mô được cấp phép (cấp trung ương), 170 chương trình/dự án tài chính vi mô do hội liên hiệp phụ nữ các cấp trực tiếp quản lý. Tổng dư nợ vốn đạt gần 2.000 tỷ đồng, số dư tiết kiệm đạt gần 400 tỷ đồng, với tổng số gần 300 nghìn khách hàng
(8) Theo Quyết định số 01/QĐ-TTg, ngày 3-1-2023, của Thủ tướng Chính phủ

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu, một số người có quan điểm đối lập với Đảng Cộng sản đã “đổ thêm dầu vào lửa”, cho rằng, phương Tây “đã khôn khéo sử dụng “diễn biến hòa bình” để chiến thắng CNXH mà không cần chiến tranh”; “kết thúc vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Liên Xô - Thành trì phe XHCN”; mở ra giai đoạn “tính sổ và kết liễu chủ nghĩa Mác - Lênin”. Đồng thời, tuyên bố “sẽ chiến thắng CNXH trên phạm vi toàn cầu” sau khi đánh sập các nước CNXH còn lại, trong đó xác định Việt Nam là một trọng điểm chống phá.

Đúng là sự ảo tưởng và hoang đường! Không phải đến ngày nay, mọi kẻ thù lớn nhỏ của chủ nghĩa Mác - Lênin mới tuyên bố như vậy. Họ đã nói đi nói lại nhiều lần “điệp khúc ấy”; đã hằng trăm lần tuyên bố “khai tử” chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ đã và đang rất muốn như thế, luôn luôn nuôi ảo vọng ấy. Thế nhưng, hơn một thế kỷ rưỡi đã trôi qua, chủ nghĩa Mác - Lênin không bị “khai tử” bởi những lần kết án “tử hình” của các thế lực thù địch. Nó vẫn “bất tử”, phong trào cách mạng vẫn phát triển. Ngọn lửa của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn cháy, nó sẽ bùng lên, thiêu cháy mọi sự đè nén, áp bức, bất công của các thế lực thù địch. Chúng ta tin tưởng vào lẽ phải và chiến đấu vì chính nghĩa. Bởi lẽ, từ khi còn là “một bóng ma ám ảnh châu Âu”, chủ nghĩa Mác đã phải đối chọi với chủ nghĩa cơ hội, xét lại và chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản... Cuộc đọ sức đầu tiên của chủ nghĩa Mác là ngăn chặn ảnh hưởng của “phong trào xã hội - dân chủ” với chủ nghĩa xét lại của Becsxtanh và Cauxki để giữ vững lập trường, quan điểm mác xít - những tư tưởng cơ bản về CNXH đã được trình bày trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”.
Kể từ đó đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã phải chiến đấu với nhiều loại kẻ thù lớn, nhỏ, đáng kể là “chủ nghĩa xã hội - dân chủ”, “chủ nghĩa xã hội chân chính”, “chủ nghĩa cơ hội hữu huynh” và “chủ nghĩa cơ hội tả huynh”, “chủ nghĩa xét lại”... ngăn chặn sự truyền bá, ảnh hưởng của tư tưởng cải lương, thỏa hiệp giai cấp, sự sùng bái nền đại nghị tư sản vào phong trào công nhân quốc tế. Để đánh bại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, bảo vệ các giá trị của chủ nghĩa Mác đặt ra yêu cầu cấp bách, V.I. Lênin đã gánh vác trọng trách ấy và ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ đó, chủ nghĩa Mác đã trở thành chủ nghĩa Mác - Lênin, Nhờ đó, thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin đã dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, thắng lợi của CNXH hiện thực cùng với sự ra đời của hệ thống các nước XHCN thế giới, năm 1945.
Sau khi V.I. Lênin qua đời, bản chất khoa học, cách mạng và sức sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin có mặt suy giảm. Sự phát triển của chủ nghĩa giáo điều, sự sơ cứng của tư duy lý luận đã làm hại chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH hiện thực. Tư duy giáo điều đã tỏ ra thiếu sức sống trong việc tổ chức thực tiễn, phát huy đầy đủ, mạnh mẽ những tiềm năng vốn có của chế độ xã hội mới, bế tắc trong giải quyết các vấn đề về chiến tranh và hòa bình. Điều đó đã để âm ỉ lâu ngày, đã không có biện pháp khắc phục, làm cho vũ khí lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin bị han gỉ. Đó là “mảnh đất màu mỡ” tạo môi trường thuận lợi cho chủ nghĩa cơ hội, xét lại giành “thế thượng phong”, chiếm trận địa tư tưởng, lý luận; đòi “thay máu cho hệ tư tưởng” mà thực chất là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay vào đấy là hệ tư tưởng tư sản, văn hóa phương Tây. Cùng với đó, tư duy lý luận bị chủ nghĩa giáo điều tồn tại nhiều năm làm cho cùn, mòn đi và xa rời thực tiễn cuộc sống. Đây là cơ hội “ngàn năm có một” để chủ nghĩa cơ hội, xét lại trồi lên, nhanh chóng, công khai toàn bộ hệ quan điểm sai lầm và phản động, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin. Điều đó đặt ra vấn đề cấp thiết buộc chúng ta phải tiếp tục bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin; phải đẩy mạnh đấu tranh vạch trần “sự giả nhân giả nghĩa” của CNXH - dân chủ, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin đứng trước những thử thách mới, rất nghiêm trọng; buộc những người cộng sản phải tự đổi mới, bổ sung, phát triển toàn diện hệ tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên con đường đấu tranh xây dựng một chế độ xã hội văn minh tiến bộ - xã hội XHCN.
Đối với Đảng ta, một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra cho chúng ta là phải đập tan âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ do các thế lực thù địch chủ mưu. Bởi vì, khác với cuộc chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh, sự nguy hại của “diễn biến hòa bình” là chĩa thẳng nòng súng vào nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài học xương máu có thể rút ra trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là tuyệt đối không mắc mưu “diễn biến hòa bình”; phải đánh bại các hướng tiến công của địch vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “từ sớm, từ xa”.
Muốn vậy, trước hết phải bảo vệ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giá trị và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn của những nguyên lý đó; chống lại sự xuyên tạc cả về Triết học Mác - Lênin, Kinh tế Chính trị học Mác - Lênin, CNXH khoa học và các bộ môn khoa học lý luận chính trị khác. Đó là việc làm cần thiết nhưng không chỉ có vậy, không chỉ dừng lại ở các nhiệm vụ ấy.
Vì vậy, chúng ta phải cập nhật thông tin mới, bổ sung, phát triển và đổi mới toàn diện, đồng bộ cả ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài việc tái khẳng định những chân lý khoa học, cách mạng mà các nhà kinh điển đã đưa ra; chúng ta còn phải còn phải đúc kết, khái quát lý luận mới; những điều không có sẵn trong các tác phẩm kinh điển. Theo đó, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới vừa phải tự phê phán và đánh giá lại các giá trị của chính những người cộng sản đối với các di sản lý luận của các nhà kinh điển; phải chỉ ra cái gì đến nay vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo thực tiễn; cái gì đúng vào thời các ông nhưng ngày nay không còn phù hợp; cái gì không đúng hoặc chưa đầy đủ, còn thiếu, rất cần phải bổ sung.
Đây là sự phê phán “kép”: vừa phê phán bản thân mình và phê phán những kẻ phê phán chúng ta, nhất thiết phải tiến hành đồng thời, bởi nó đan cài vào nhau, tác động và phụ thuộc lẫn nhau; dẫu biết điều này là vô cùng khó khăn, phức tạp nhưng buộc chúng ta phải tiến hành song song để bổ sung, hoàn thiện và phát triển cả ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin. Khác những người theo chủ nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại; chúng ta phê phán để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng nó lên tầm cao mới, không phải phê phán để đánh đổ nó. Cho nên chúng ta phải đứng vững trên lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, càng không phải trên lập trường của giai cấp tư sản để phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Điều đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu lại đầy đủ, chính xác, thận trọng tất cả các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống, khách quan, trung thực. Qua đó, phát hiện những khiếm khuyết và bất cập để tiếp tục bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Vì vậy, tái khẳng định vị trí, vai trò vô cùng to lớn và ý nghĩa lý luận, thực tiễn đặc biệt quan trọng của việc tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù dịch trong tình hình mới. Đó là trách nhiệm vẻ vang của “Bộ đội Cụ Hồ” hiện nay./.
ST




Phát hiện vụ phá rừng nghiêm trọng tại Bắc Kạn.

 Tại xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) vừa xảy ra một vụ phá rừng nghiêm trọng. Lực lượng chức năng đang điều tra, làm rõ vụ việc.

Một khối lượng gỗ tròn tập kết trên rừng.
Một khối lượng gỗ tròn tập kết trên rừng.

Trong ngày 5/4, nhận được tin báo của quần chúng, lực lượng chức năng huyện Chợ Đồn đã tiến hành kiểm tra tại khu vực rừng nằm sát với nhà máy chế biến khoáng sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn và thương mại Hoàng Nam.

Kết quả cho thấy, tại các lô rừng số 160, 172, 173 thuộc khoảnh 11, tiểu khu 289 nằm tại địa phận xã Ngọc Phái có nhiều cây gỗ tự nhiên bị chặt hạ trái pháp luật. Đây là rừng đã được giao cho một số hộ dân các thôn Cốc Thử, Nà Tùm quản lý.

Cây sau chặt đã bị cưa thành khúc, một phần nằm rải rác trên rừng, một phần đã được lăn xuống dưới chân lô rừng.

Phát hiện vụ phá rừng nghiêm trọng tại Bắc Kạn ảnh 1

Nhiều gỗ tròn tập kết dưới chân lô sát với khu vực nhà máy của Công ty Trách nhiệm hữu hạn và thương mại Hoàng Nam.

Tại khu vực giáp với nhà máy luyện chì của Công ty Trách nhiệm hữu hạn và thương mại Hoàng Nam có một nền đổ bê-tông. Trên nền xây dựng một mái nhà lợp tôn kim loại, không có tường bao.

Trong nhà tôn có một máy cưa CD đã được lắp đặt để xẻ gỗ. Trong nền nhà tôn và chung quanh có tàng trữ một số khối lượng gỗ tròn và gỗ xẻ.

Phát hiện vụ phá rừng nghiêm trọng tại Bắc Kạn ảnh 2

Nhiều gỗ xẻ dạng thanh trong nhà tôn.

Lực lượng chức năng huyện Chợ Đồn đã tạm giữ 1 máy kéo nông nghiệp (còn gọi là xe tắc tơ) và 3 xe máy.

Theo xác định sơ bộ, rừng bị phá là rừng tự nhiên. Lực lượng chức năng đang tiếp tục làm rõ vụ việc.

CHỐNG THÓI XEM NHẸ LÝ LUẬN VÀ HỌC TẬP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 Việc xem thường, lười học tập nghị quyết của Đảng nói riêng, lý luận chính trị nói chung là một trong những biểu hiện suy thoái rất nguy hiểm.

Trong cuốn sách Làm gì?, Lênin khẳng định “không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động...”. Bác Hồ cũng đã chỉ ra rằng “không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm”, "Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam".
Chính vì vậy, Bác yêu cầu: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra trong cán bộ, đảng viên có biểu hiện: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Do đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác, thực hiện không đúng chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, dẫn đến vi phạm nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Bởi vậy, Đảng ta khẳng định học tập lý luận là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, đảng viên. Kết quả học tập lý luận chính trị là một trong những tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ, đánh giá tư cách đảng viên. Đồng thời yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành chế độ. Lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, những hiểu biết mới, cũng là biểu hiện của sự suy thoái.
Như vậy, việc xem thường, lười học tập nghị quyết của Đảng nói riêng, lý luận chính trị nói chung là một trong những biểu hiện suy thoái rất nguy hiểm. Nó làm cho cán bộ, đảng viên không nắm được đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, biện pháp lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghị quyết của Đảng dù rất đúng đắn nhưng chậm được triển khai, cụ thể hóa trong đời sống xã hội. Thậm chí có những trường hợp, cán bộ, đảng viên làm trái với đường lối, nghị quyết của Đảng, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật. Cũng do lười học tập lý luận chính trị, không nắm chắc, hiểu sâu chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng nên cán bộ, đảng viên không thể tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện. Có những cán bộ, đảng viên thiếu kiến thức lý luận chính trị, khi tiếp xúc với quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch và phần tử bất mãn, tỏ ra lúng túng, thiếu lý lẽ để nhận thức, đấu tranh cho đúng.
Cho nên, giáo dục lý luận chính trị là một nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng của Đảng, nhằm bồi dưỡng về lý luận chính trị, truyền đạt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, xây dựng và quản lý Nhà nước cho cán bộ, đảng viên. Trong mọi giai đoạn cách mạng, việc coi trọng lý luận và học tập lý luận chính trị giúp cán bộ, đảng viên giữ vững bản lĩnh chính trị; củng cố, tăng cường niềm tin vào tương lai của cách mạng, lý tưởng cộng sản; làm cho cán bộ, đảng viên tự tin hơn trong công tác; là cơ sở để cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./.
ST


Phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào.

 Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng Ðoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Lào, từ ngày 10 đến 11/4. Ðây là hoạt động đối ngoại quan trọng của cả hai nước, là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Lào là quốc gia đầu tiên Chủ tịch nước thăm chính thức trên cương vị mới.

Một tiết mục văn nghệ tại Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào. Ảnh: Đăng Khoa
Một tiết mục văn nghệ tại Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào. Ảnh: Đăng Khoa

Chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tới Lào diễn ra trong bối cảnh quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào tiếp tục phát triển tốt đẹp, ngày càng sâu sắc và hiệu quả. Các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai Ðảng, hai nước và các hiệp định, thỏa thuận hợp tác được triển khai tích cực và đạt kết quả tốt đẹp trong tất cả các lĩnh vực. Năm 2022, hai nước vừa kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 45 năm Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào.

Quan hệ chính trị Việt Nam-Lào tiếp tục bền chặt và ổn định, được triển khai với nhiều hình thức, lòng tin chính trị cao và giữ vững vai trò nòng cốt, định hướng trong quan hệ tổng thể giữa hai nước. Hai bên duy trì hoạt động tiếp xúc, trao đổi cấp cao và các cấp thường xuyên, trên tất cả các kênh, nhất là đã phối hợp tổ chức thành công Năm Ðoàn kết Hữu nghị Việt Nam-Lào 2022.

Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư được thúc đẩy. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Lào năm 2022 đạt hơn 1,703 tỷ USD, tăng khoảng 25% so mức năm 2021 và vượt chỉ tiêu đề ra. Việt Nam là nước có đầu tư lớn thứ ba tại Lào, với 239 dự án và tổng vốn 5,36 tỷ USD. Các dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực viễn thông, ngân hàng, nông nghiệp hoạt động hiệu quả, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế-xã hội của Lào.

Việt Nam là nước có đầu tư lớn thứ ba tại Lào, với 239 dự án và tổng vốn 5,36 tỷ USD.

Hợp tác quốc phòng an ninh tiếp tục là một trụ cột trong quan hệ hai nước, góp phần duy trì ổn định chính trị, an ninh, trật tự xã hội của mỗi nước và khu vực biên giới giữa hai nước.

Hợp tác giáo dục, phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nghề được hai bên đặc biệt quan tâm, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hợp tác về văn hóa, du lịch được thúc đẩy, đặc biệt sau khi hai nước kiểm soát tốt dịch bệnh và mở cửa trở lại.

Hợp tác giữa các địa phương hai nước, nhất là các địa phương có chung biên giới, tiếp tục được tăng cường.

Hai nước phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm; ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc, ASEAN và các cơ chế hợp tác tiểu vùng.

Trong chuyến thăm chính thức Lào, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith cùng các nhà lãnh đạo Lào sẽ tiến hành kiểm điểm, đánh giá kết quả hợp tác giữa hai Ðảng, hai nước và trao đổi, thống nhất những định hướng, chủ trương lớn cũng như các biện pháp cụ thể nhằm đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào tiếp tục đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững. Hai bên trao đổi về phối hợp hai nước tại các diễn đàn đa phương, cùng đóng góp giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế.

Tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại của Ðại hội Ðảng lần thứ XIII, chuyến thăm chính thức Lào của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng Ðoàn đại biểu cấp cao Việt Nam khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Việt Nam coi trọng và ưu tiên vun đắp quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào.

Chuyến thăm chính thức Lào của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng Ðoàn đại biểu cấp cao Việt Nam khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Việt Nam coi trọng và ưu tiên vun đắp quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào.

Việc Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chọn nước bạn Lào anh em là quốc gia đầu tiên thăm chính thức trên cương vị mới khẳng định tính chất đặc biệt trong quan hệ Việt Nam-Lào, thể hiện sự tin cậy, gắn bó giữa lãnh đạo cấp cao, cũng như tình cảm tốt đẹp giữa nhân dân hai nước.

Chuyến thăm khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Việt Nam đối với công cuộc đổi mới, phát triển và bảo vệ đất nước Lào, góp phần hỗ trợ Lào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng Nhân dân Cách mạng Lào và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần thứ IX của nước bạn.

Trong chuyến thăm, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Lào, thể hiện sự quan tâm, chia sẻ của Ðảng, Nhà nước đối với cộng đồng, phát huy khối đại đoàn kết và sức mạnh toàn dân tộc. Chuyến thăm góp phần tăng cường hiểu biết về quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào đối với nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ.

Chúc chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cùng Ðoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thành công tốt đẹp, góp phần củng cố và phát huy truyền thống, đưa quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào tiếp tục phát triển sâu sắc, thiết thực và bền vững.

CẢNH BÁO MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC, THỦ ĐOẠN CỦA TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO

 

ST

Sáng nay khai mạc phiên họp 22 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

     Tại phiên họp này, Ủy ban TVQH cho ý kiến về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023.

    Sáng nay 10/4, tại Nhà Quốc hội, Khai mạc phiên họp 22 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Diễn ra trong 2 ngày rưỡi, tại phiên họp này, Ủy ban TVQH xem xét, cho ý kiến về 11 nội dung, trong đó có xem xét báo cáo kết quả giám sát chuyên đề của Đoàn giám sát của Quốc hội về "Việc huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19. 

    Tại phiên họp này, Ủy ban TVQH cho ý kiến về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023; Cho ý kiến về việc chuẩn bị Kỳ họp thứ 5 và tổng kết Kỳ họp bất thường lần thứ 4, Quốc hội khóa XV; Cho ý kiến về báo cáo quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2021; báo cáo tài chính Nhà nước năm 2021.

    Ngoài ra, Uỷ ban TVQH cũng cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm việc sử dụng kinh phí chi thường xuyên ngân sách Nhà nước để cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới các hạng mục trong các cơ sở, công trình đã có; lập, phân bổ dự toán, quản lý, thanh toán, quyết toán dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên ngân sách Nhà nước; Cho ý kiến về việc cho phép sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản; Cho ý kiến về dự kiến Chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban TVQH năm 2024; Cho ý kiến về phương án phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và chủ trì thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

    Bên cạnh việc xem xét báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 3/2023, Uỷ ban TVQH còn xem xét báo cáo kết quả giám sát chuyên đề của Đoàn giám sát của Quốc hội về “Việc huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19; việc thực hiện chính sách, pháp luật về y tế cơ sở, y tế dự phòng” và xem xét báo cáo tổng hợp kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ trách của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội./.

NGUỒN GỐC CỦA CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” VÀ THỰC TRẠNG DIỄN RA Ở VIỆT NAM

 Nếu những ai từng nghiên cứu về “Binh pháp Tôn Tử” sẽ không lạ gì kế sách “không đánh mà thắng” và đó chính là cái nôi sản sinh ra cái gọi là chiến lược “Diễn biến hòa bình” của Mỹ và đồng minh thực hiện nhằm lật đổ chế độ mà họ coi là thù địch hoặc thiếu thiện chí theo dạng “tự diễn biến, tự sụp đổ”.

Dưới góc độ khoa học an ninh, chiến lược “diễn biến hòa bình” là chiến lược tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu để chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thực ra, các biện pháp “diễn biến hòa bình” bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, bóp nghẹt về kinh tế... làm suy yếu, tan rã đối phương nhằm mục tiêu “không đánh mà thắng” (kế sách của Tôn Tử), đã được các nhà chính trị, quân sự nhiều nước thực hiện từ lâu. Nhưng đó thường là những biện pháp hỗ trợ, bổ sung cho các hành động tiến công quân sự.
Để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động nhằm làm gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Để thực hiện kịch bản giống ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn cũ nhằm vào nội bộ ta nhưng theo phương thức “bình cũ rượu mới”, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.
Những thủ đoạn nêu trên mặc dù không mới nhưng trong giai đoạn hiện nay nó không ngừng thay đổi để phù hợp với tình hình mới, hoàn cảnh mới. Do đó, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này./.
ST