Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

Sự sai trái của luận điểm “chế độ một đảng không chống được tham nhũng”

 Để xuyên tạc, phủ nhận những tiến bộ trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cho luận điểm “chế độ một đảng cầm quyền không thể chống được tham nhũng”(!). Đây là luận điểm rất sai trái, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Những năm qua, với quan điểm “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh này. Với tinh thần kiên quyết, kiên trì, công khai, minh bạch, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiến hành một cách bài bản, đạt được những kết quả tích cực.

Tuy nhiên, thực hiện mưu đồ chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch đã lợi dụng các trang mạng xã hội và kênh truyền thông không thiện chí với Việt Nam để lan truyền những thông tin xuyên tạc, bóp méo tình hình chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta. Một mặt, họ cho rằng các hoạt động phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay “chỉ là để mị dân”, hay “Đảng Cộng sản Việt Nam không thật sự quyết tâm chống tham nhũng”(!). Mặt khác, trước kết quả phòng, chống tham nhũng thời gian qua, nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, hoặc xử lý hình sự do tham nhũng, họ lại cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ chính trị ở Việt Nam”(!) và “Việt Nam càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng nhiều, bởi đó là căn bệnh kinh niên của thể chế chính trị một đảng cầm quyền”(!). Từ đây, họ kêu gọi phải thay đổi thể chế chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có thể chống được tham nhũng. Cổ súy cho khuynh hướng này, ngày 24/6/2022, Đài Á châu tự do (RFA) đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế” xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta; trong đó, họ nêu câu hỏi mang tính kích động chính trị, rằng: “Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”(!). Từ đó đưa ra “lời khuyên”: Việt Nam nên từ bỏ chế độ chính trị hiện hành để chuyển sang chế độ tư bản chủ nghĩa mới chống được tham nhũng. Những luận điểm kiểu này thực sự nguy hiểm, dễ làm cho người dân lầm tưởng tham nhũng gắn liền với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa và do chế độ một đảng cầm quyền gây ra; qua đó, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và gây nên nguy cơ bất ổn về chính trị trong xã hội.

Cần khẳng định dứt khoát rằng, luận điểm coi tham nhũng là “căn bệnh kinh niên” của chế độ xã hội chủ nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, một mặt, tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra; có nhà nước là có tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Mặt khác, nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, thì quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng; người có quyền lực sẽ “không thể,” “không dám”, “không muốn” và “không cần” tham nhũng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Do đó, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng. Trên phương diện thực tiễn, ở các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa, duy trì chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn tồn tại; thậm chí một số nguyên thủ quốc gia (như ở: Tunisia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Indonesia, Pakixtan, Brazil,…) cũng dính vào tội tham nhũng. Mới đây, Phó Tổng thống Argentina, 01 Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu cũng bị cáo buộc dính vào tham nhũng. Chẳng thế mà Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) hằng năm đều công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) trong khu vực công, để cung cấp cái nhìn tổng quát về mức độ tham nhũng tương đối của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó, chủ yếu là các nước, vùng lãnh thổ đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ đa đảng. Nhìn vào bảng xếp hạng CPI năm 2021 (công bố đầu năm 2022) có thể thấy rất rõ quốc gia nào cũng có tham nhũng, khác nhau chỉ ở mức độ nghiêm trọng, bởi không có quốc gia nào đạt được điểm 100 (tức là không có tham nhũng). Những nước đứng đầu bảng xếp hạng CPI là Đan Mạch, Phần Lan và New Zealand, cũng chỉ đạt 88 điểm, nghĩa là vẫn có tham nhũng. Còn những nước đứng cuối bảng là Somalia, Syria và Nam Sudan chỉ đạt từ 11 đến 13 điểm, đều là các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Bảng xếp hạng còn cho biết trong 10 năm qua (kể từ năm 2012), 23 quốc gia và vùng lãnh thổ đã giảm đáng kể về chỉ số CPI, trong đó có các nước như Australia, Canada và Mỹ. Điều đó cho thấy tham nhũng ở những nước này trong 10 năm qua có xu hướng gia tăng.

Thực tiễn ở nước ta cũng cho thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết liệt lên án những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực nhà nước trong không ít cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Người coi tham ô, tham nhũng là thứ “giặc nội xâm”. Người viết: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”1. Người yêu cầu: “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”2, phải kiên quyết đấu tranh, quét sạch. Với cương vị là Đảng cầm quyền, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta chưa bao giờ buông lỏng nhiệm vụ chống tham nhũng, tiêu cực. Tại Đại hội VII, Đảng ta đã khẳng định tham nhũng, tiêu cực là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, cần phải quyết liệt xóa bỏ. Để công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng có bước đột phá, Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của Đảng đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Với cơ chế đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện bài bản, quyết liệt, đồng bộ, có bước đột phá, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong cuộc đấu tranh này với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Để khắc phục những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện bước đi rất bài bản bằng việc ban hành và đưa vào tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, quy định của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực3, nhằm “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện một cách quyết liệt, công khai, minh bạch. Theo tổng kết của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 6/2022, đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao gấp 04 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII); trong đó, có 08 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng. Hoạt động phòng, chống tham nhũng từng bước được mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước và sang cả lĩnh vực chống tiêu cực. Nhờ đó, tình trạng tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta.

Những kết quả cụ thể đó đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao; đồng thời, là bằng chứng thuyết phục bác bỏ mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch. Con số 93% người dân được hỏi trong cuộc điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành thời gian qua, bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã nói lên điều đó. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam còn nhận được sự ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, trong một thập kỷ qua, Việt Nam đã tăng hơn 30 bậc về chỉ số CPI, năm 2021 tăng 03 bậc trong bảng xếp hạng so với năm 2020. Cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch quốc tế tại Việt Nam là Hướng tới Minh bạch (TT) cũng khẳng định: “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong phòng, chống tham nhũng nhờ nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước”. Trước những kết quả mang tính đột phá trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam, đại diện nhiều doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam cũng có những đánh giá tích cực. Ông Thomas Bo Pedersen, Tổng Giám đốc Công ty Mascot Việt Nam và Lào nhận xét: “Điều này cho thấy Đảng và Chính phủ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và theo một cách có hệ thống. Tôi cho rằng, đây là động thái đúng đắn và cho tôi hy vọng rằng tham nhũng, tiêu cực sẽ không diễn ra khi thấy Đảng và Chính phủ xử lý tham nhũng, tiêu cực quyết liệt như thế cũng như nhìn thấy hậu quả nếu tham nhũng, tiêu cực”. Ông Kenneth Atkinson, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Anh quốc tại Việt Nam (BritCham Vietnam) nhấn mạnh: “Tôi cho rằng những hành động mạnh mẽ này của Việt Nam rất đáng hoan nghênh, đặc biệt lần này là với ngay cả những quan chức cấp cao. Đây là một động thái tích cực và hy vọng rằng sẽ được duy trì”.

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với quyền lực nhà nước, nên không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn. Đó là điều mà cả thế giới đều nhận thấy. Ở nước ta, mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với ý chí, quyết tâm và trách nhiệm cao; với tinh thần đấu tranh không “ngừng”, không “nghỉ” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; với sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta chắc chắn sẽ đạt được kết quả cao hơn nữa. Tham nhũng, tiêu cực nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi; những luận điệu sai trái cho rằng “Đảng ta không có quyết tâm chống tham nhũng”, hoặc “cơ chế một đảng lãnh đạo cầm quyền không chống được tham nhũng” nhất định sẽ không còn chỗ đứng.

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẤT NƯỚC

 

Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong  bối cảnh ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Mô hình này, về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển.

Ở nước ta, việc thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thực tế, chẳng những là nội dụng của công cuộc đổi mới mà còn là công cụ, là phương thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, nghiên cứu, xem xét những đặc điểm của nó là một vấn đề rất có ý nghĩa. Nhận thức được tính phức tạp của giai đoạn quá độ, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan nóng vội, duy ý chí hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao chép, chấp nhận nguyên bản kinh tế thị trường từ bên ngoài vào.

 Như chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức năng kinh tế - xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của nhà nước đối với các hoạt động của sản xuất, lưu thông, phân phối… khá nặng nề. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động sản xuất xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động.

 Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi mới, đất nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Qua gần 35 năm thực hiện, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng cho phép chúng ta điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan nịêm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể; đường lối chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp tác động đến việc năng động hoá nền kinh tế đất nước.

Nếu  như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương đối thuần nhất với hai thành phần quốc doanh và tập thể, thì nay, cùng với thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sở hữu đó, trong tổng thể nền kinh tế là những bộ phận khách quan, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh tế thị trường.

Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, phương thức đã đem lại những kết quả tích cực cả về phương diện thực tiễn và phương diện nhận thức.

Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta lại càng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội, có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng tăng trưởng kinh tế không phải lúc nào cũng đi liền với tiến bộ xã hội. Do vậy, để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thì nền kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của báo chí, xuất bản trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 Những năm tới, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường hoạt động; lợi dụng triệt để các thành tựu khoa học - kỹ thuật của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là internet, mạng xã hội để chống phá; cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ ngày càng cam go, quyết liệt. Vì vậy, để phát huy hơn nữa vai trò các cơ quan báo chí, xuất bản cùng với các cơ quan của Đảng, Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, cần thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp; trong đó, tập trung vào một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí, xuất bản. Trước hết, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý cần kịp thời, nhạy bén, bảo đảm tính khoa học, thuyết phục, có lý, có tình, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Tập trung chỉ đạo, định hướng cho các cơ quan báo chí, xuất bản từ Trung ương đến địa phương quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ và báo chí, xuất bản; nhận thức rõ ý nghĩa, vai trò của công tác báo chí, xuất bản đối với việc nâng cao đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Thực hiện tốt nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Các ban, bộ, ngành, cấp ủy, chính quyền địa phương cần xây dựng cơ chế cung cấp thông tin kịp thời cho báo chí, xuất bản để tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là về những vấn đề, vụ việc phức tạp, nhạy cảm được dư luận quan tâm; nắm bắt và giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh, không tạo ra “khoảng trống thông tin” để các thế lực thù địch lợi dụng, tán phát thông tin sai sự thật.

Hai là, nâng cao nhận thức, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của báo chí, xuất bản trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan báo chí, xuất bản cần thấu triệt tầm quan trọng đặc biệt, yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, tập trung nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nhất là trình độ lý luận và phương pháp đấu tranh tư tưởng, lý luận; ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ nhà báo, phóng viên, biên tập viên. Trước mắt, cần quán triệt, tổ chức triển khai có hiệu quả Kế hoạch số 154-KH/BTGTW, ngày 10/6/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương về triển khai phong trào thi đua “Xây dựng môi trường văn hóa trong các cơ quan báo chí” và Kế hoạch số 156-KH/BTGTW, ngày 14/6/2022 của Ban Tuyên giáo Trung ương về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, mạng xã hội trong giai đoạn hiện nay. Xây dựng cơ chế để khen thưởng kịp thời, nhằm động viên, cổ vũ, tôn vinh các nhà báo, người làm xuất bản có thành tích trong thông tin, tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực thôi thúc họ đi sâu tìm tòi, nghiên cứu, có những bài viết, xuất bản phẩm sâu sắc, chất lượng, đạt hiệu quả cao.

Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, ban biên tập các cơ quan báo chí, xuất bản. Để thực hiện tốt giải pháp này, người đứng đầu cơ quan báo chí, xuất bản cần nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, nhất là trách nhiệm trong việc quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tính Đảng, tính chiến đấu của báo chí cách mạng. Thực hiện “nói đi đôi với làm”, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tận tụy, tâm huyết với công việc. Có hiểu biết sâu sắc về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nhận diện rõ đối tượng đấu tranh, đối tượng tác động, âm mưu, nội dung chống phá, chiêu thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong từng giai đoạn, thời điểm, để lãnh đạo, chỉ đạo, có phương thức đấu tranh, chặt chẽ, hiệu quả, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Bốn là, coi trọng hơn nữa công tác xây dựng tổ chức bộ máy, cán bộ, nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục. Các cơ quan báo chí, xuất bản cần đặc biệt chú trọng xây dựng và phát triển tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, mở các chuyên trang, chuyên mục về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, để tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng, có tính chất sống còn này. Đồng thời, tập trung xây dựng lực lượng, đơn vị chuyên trách để xác định rõ trách nhiệm, chỉ tiêu cũng như tổ chức thực hiện nhiệm vụ một cách chuyên nghiệp, hiệu quả. Những phóng viên, biên tập viên chuyên trách phải là những người “vừa hồng, vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật cao, có nhiệt tình, quyết tâm và trách nhiệm cao trong công việc; có hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung của công tác này; có trình độ lý luận chính trị cao; nghiệp vụ công tác báo chí giỏi, có phương pháp đấu tranh khoa học. Chú trọng xây dựng mạng lưới cộng tác viên là các chuyên gia, nhà lý luận, nhà khoa học có uy tín; có chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý, linh hoạt theo hướng lâu dài, hiệu quả.

Tăng cường thời lượng, nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục (từ bình luận, chuyên luận tới phỏng vấn, ghi nhanh, phiếm chỉ,...); tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo khoa học để thu hút các nhà khoa học, nhà lý luận có uy tín đưa ra các luận cứ có sức thuyết phục để nâng cao hiệu quả công tác này. Qua đó, quyết liệt đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho báo chí cách mạng thực sự là “vũ khí sắc bén” trong sự nghiệp “phò chính, trừ tà”, bảo vệ chính nghĩa, đồng hành với lẽ phải, lên án cái xấu, cái ác, chống lại những nhận thức, hành động sai trái, phi nghĩa; một lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Năm là, đổi mới nội dung, phương pháp tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí, xuất bản phải quán triệt nguyên tắc gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền thông tin tích cực, chính thống theo tinh thần “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, tạo hiệu ứng truyền thông nâng cao nhận thức về những giá trị tốt đẹp của con người, cộng đồng, chế độ xã hội ở nước ta, bảo đảm mỗi tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm thực sự là một công cụ tăng cường nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đất nước và có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng đối với bạn đọc.

Đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền; huy động sự tham gia thống nhất, hiệp đồng tác chiến của các loại hình báo chí, xuất bản; các “binh chủng” khác, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Coi trọng xây dựng báo chí truyền thông - xuất bản hiện đại, đa phương tiện, bắt kịp xu hướng trong thời đại công nghệ số. Đây vừa là một thách thức, vừa là một yêu cầu, nhiệm vụ rất cao đối với ngành, từng cơ quan và đội ngũ người làm báo chí, xuất bản nước ta hiện nay.

Tranh thủ các kênh để đưa báo chí, xuất bản phục vụ kiều bào ta ở nước ngoài và người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam, nhất là đối với kênh thông tin đối ngoại lý luận nhằm đưa hệ tư tưởng tiến bộ, khoa học, cách mạng và lý luận về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đến với bạn bè trên thế giới, góp phần thu hẹp sự khác biệt, thiếu thiện chí; gia tăng sự hiểu biết, đồng thuận, tạo dựng sự ủng hộ đối với Đảng, đất nước ta. Đây là một phương cách đấu tranh chủ động với các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, từ sớm, từ xa, nhằm tạo nên một mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận rộng khắp, khoa học và cách mạng, đẩy lùi những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ những giá trị tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. CST

Vai trò của báo chí, xuất bản trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 Trước hết, báo chí, xuất bản đã tích cực thông tin, tuyên truyền, có nhiều xuất bản phẩm có chất lượng về mảng nội dung nghiên cứu lý luận, chính trị; khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng; tăng cường, củng cố niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Các cơ quan báo chí, trước hết là các báo chủ lực1; một số nhà xuất bản chuyên về sách lý luận, chính trị, pháp luật2,... đã đầu tư về nhân lực, điều kiện vật chất - kỹ thuật, xây dựng kế hoạch tuyên truyền về chủ đề xây dựng Đảng, góp phần đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Đặc biệt, một số ấn phẩm tiêu biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã được xuất bản, nhất là việc xuất bản cuốn sách: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (tháng 02/2022) đã nhận được nhiều ý kiến đánh giá cao của độc giả, học giả trong nước và bạn bè quốc tế; góp phần nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, các cơ quan báo chí, xuất bản đã tập trung thông tin, tuyên truyền về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ trương, kế hoạch phát triển đất nước của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành; phân tích, làm rõ tính đúng đắn của đường lối, chính sách để cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu, nắm vững và triển khai có hiệu quả. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát, phản biện, làm rõ những vấn đề còn băn khoăn liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; kịp thời biểu dương, cổ vũ những mô hình, điển hình, kinh nghiệm, cách làm tốt trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo sức lan tỏa, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước.

Báo chí, xuất bản cũng tích cực phản ánh, tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; gắn tuyên truyền nội dung này với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Qua đó, không chỉ cung cấp thông tin đến người dân, mà còn phản bác các thông tin xuyên tạc về quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước; tăng cường niềm tin của người dân vào công lý, vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Thứ ba, các cơ quan báo chí, xuất bản có nhiều chương trình, bài viết, xuất bản phẩm phân tích, làm rõ tầm quan trọng của việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, báo chí, xuất bản thông tin, tuyên truyền góp phần quan trọng xây dựng và phát triển, truyền bá hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, nhất là sau khi có các nghị quyết, chỉ thị, hội nghị của Đảng về văn hóa. Trong đó, khẳng định vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đạt nhiều thành quả quan trọng, phát triển toàn diện, hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; đóng góp vào việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.

Thứ năm, các cơ quan báo chí, xuất bản dành nhiều tác phẩm đấu tranh trực diện với luận điệu sai trái, xuyên tạc về vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” tại Việt Nam; tập trung phân tích, khẳng định, chứng minh cơ sở pháp luật đúng đắn của Việt Nam - quốc gia có chủ quyền, có các quy định, chính sách cụ thể, rõ ràng đối với vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Một số cơ quan báo chí chủ lực mở và duy trì chuyên mục; liên tục tăng cường, nâng cao chất lượng thông tin về nội dung này, không chỉ thực hiện bằng tiếng Việt, mà còn bằng các tiếng dân tộc thiểu số, ngoại ngữ để giúp thông tin lan tỏa tới đồng bào dân tộc và cộng đồng người Việt ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế.

Bên cạnh những kết quả đạt được, báo chí, xuất bản nước ta còn bộc lộ một số hạn chế về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, chấp hành định hướng tuyên truyền của cơ quan chức năng. Sức thuyết phục, tính lý luận, “bút chiến” trong nội dung thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác chưa cao. Phương thức thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác có lúc, có cơ quan báo chí, xuất bản còn khô cứng, thiếu hấp dẫn, chưa phù hợp với đối tượng bạn đọc và xu thế phát triển thông tin của truyền thông mạng xã hội, v.v. CST

Đẩy mạnh phản bác luận điệu xuyên tạc chính sách Quốc phòng Việt Nam

 Đến nay, Việt Nam đã bốn lần công bố Sách trắng Quốc phòng, trong đó thể hiện rõ mục tiêu: tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá chính sách quốc phòng Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Những năm qua, cùng với quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện nhất quán trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Việt Nam đã công bố Sách trắng Quốc phòng, trong đó nêu rõ chủ trương “Bốn không”1, thể hiện rõ sự công khai, minh bạch tính chất của nền quốc phòng Việt Nam là hòa bình và tự vệ; phương châm nhất quán là kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung; tăng cường sự hiểu biết và xây dựng lòng tin của các quốc gia khác với Việt Nam.

Tuy nhiên, bất chấp sự thật, các thế lực thù địch đã không từ thủ đoạn nào để công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ cho rằng, chính sách quốc phòng nói chung, chủ trương “bốn không” của Đảng, Nhà nước ta nói riêng đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình thực tiễn; “không liên minh quân sự”, “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ bạo lực cách mạng trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “tự cô lập mình”, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực Biển Đông, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc, v.v.

Cần khẳng định rõ, những luận điệu trên hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của Việt Nam. Bởi, quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta là: “Bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”2. Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 xác định: “Thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chống chiến tranh dưới mọi hình thức; chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, đối thoại quốc phòng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nêu rõ: “Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia”4. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”5.

Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng chính sách quốc phòng đã đề ra, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử hơn 510 lượt cán bộ, nhân viên với 03 lượt bệnh viện dã chiến và Đội Công binh số 1 đến thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và Trụ sở Liên hợp quốc, được Liên hợp quốc cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao, tạo uy tín, vị thế, đưa Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 với số phiếu bầu rất cao (192/193 phiếu tán thành). Đây là minh chứng thể hiện rõ mong muốn, thiện chí của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong thực thi chính sách quốc phòng mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận.

Tuy nhiên, để đẩy mạnh đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, sự xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam trong tình hình hiện nay, cần thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:

Một là,  đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và làm rõ tính đúng đắn của chính sách quốc phòng Việt Nam hiện nay. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, bằng nhiều nội dung, hình thức, biện pháp phong phú, sáng tạo; trong đó, chú trọng thông tin, tuyên truyền về quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Luật Quốc phòng, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Tập trung làm rõ cơ sở khoa học, khẳng định tính chính nghĩa, hòa bình và tự vệ của chính sách quốc phòng Việt Nam. Để đạt hiệu quả, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, kịp thời cung cấp thông tin khách quan, chính thống về hoạt động quân sự, quốc phòng; những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong nước, khu vực và quốc tế, nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, cách tiếp cận đúng cho nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế về chính sách quốc phòng Việt Nam. Thông qua đó, không ngừng củng cố lòng tin của các quốc gia về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 các cấp; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu ở các cơ quan, đơn vị để hình thành mạng lưới sâu rộng, hùng hậu tham gia đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đối với chính sách quốc phòng Việt Nam.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn cho thấy, một trong những mục tiêu của các thế lực thù địch là phá hoại đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động quân sự, quốc phòng, tiến tới “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, tạo tiền đề cho chuyển hóa thể chế chính trị ở Việt Nam. Để làm thất bại mưu đồ của chúng, vấn đề tiên quyết đối với nước ta hiện nay là phải: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”6. Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, phương thức lãnh đạo của Đảng và hệ thống luật pháp của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đảm bảo đồng bộ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh. Đồng thời, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đòi đa nguyên, đa đảng, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch.

Ba là, làm rõ chủ trương huy động mọi nguồn lực, tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mớiHiện nay, vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung công kích nhiều nhất là chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam và hô hào đòi chúng ta phải liên minh, liên kết với nước ngoài. Song, thực tiễn lịch sử đã minh chứng, chúng ta luôn giành thắng lợi trước mọi kẻ thù xâm lược và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì đã biết phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh nội lực của toàn thể dân tộc. Vì vậy, để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, cần làm cho mọi người hiểu rõ chủ trương tăng cường sức mạnh quốc phòng phải dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế. Đồng thời, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước. Đây là nhiệm vụ quan trọng và kế sách giữ nước từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình; đồng thời, phản bác luận điệu “tự cô lập mình” của các thế lực thù địch. Do đó, cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với chiến lược đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, có nguyên tắc, tăng đối tác, giảm đối tượng, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc. Tích cực củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ, hợp tác quốc phòng, tăng cường tiềm lực để xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; góp phần củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội ta trên trường quốc tế.

Chính sách quốc phòng Việt Nam thể hiện rõ truyền thống yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân đạo và thiện chí của Việt Nam, không chỉ góp phần xây dựng, củng cố niềm tin, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, mà còn làm phá sản mọi sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch.CST

Nhận thức đúng mục tiêu chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

 

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa. Về bản chất, so với các chiến lược và mục tiêu trong thời kỳ chiến tranh lạnh, chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống đến cùng chủ nghĩa xã hội và không thay đổi. Trong tình hình và thời cơ mới, chiến lược này chỉ thay đổi phương thức và thủ đoạn, đó là “chiến thắng không cần chiến tranh”, “không đánh mà thắng”, hoặc “cuộc cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, có nghĩa là, về bản chất sâu xa, họ vẫn tiến hành một cuộc chiến tranh, nhưng như họ đã từng tuyên bố, đó là một cuộc “chiến tranh không có khói súng”. Điều đó có nghĩa là mục đích cuối cùng của chiến lược  “diễn biến hòa bình” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Để đạt được điều đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định các mục tiêu cơ bản sau:

Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà lý luận của chiến lược “diễn biến hòa bình” cho rằng, tư tưởng là lĩnh vực có tầm quan trọng hàng đầu, vì vậy, mục tiêu phải đạt được là tước bỏ vũ khí tư tưởng của đối phương và coi đó là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Luận điệu được sử dụng thường xuyên là đảng cộng sản độc quyền là “độc tài”, là “bóp nghẹt dân chủ”, vì thế phải thay bằng chế độ chính trị đa đảng! Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Ba là, gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Các thế lực thù địch bỏ ra nhiều công sức và cả tiền bạc để lôi kéo, tập hợp “những người bất đồng chính kiến”, thực chất là những phần tử chống chủ nghĩa xã hội, phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dùng họ làm “cơ sở”, “nội ứng” cho việc thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Bốn là, làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.

Năm là, chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội.

Sáu là, “phi chính trị hóa” để vô hiệu hóa quân đội và công an.

Những mục tiêu cơ bản trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu để các thế lực thù địch thực hiện được thì điều không tránh khỏi là họ sẽ đạt đến mục đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

BỮA CƠM TRANH THỦ CỦA BỘ ĐỘI TA Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ

Có một câu chuyện cảm động,trong chiến dịch này, Bộ đội mình hy sinh nhiều quá, một lần buổi sáng anh nuôi nấu ăn cho gần một trăm người, đến bữa ăn tối anh nuôi nấu ăn như buổi sáng gánh lên trận địa, thì chỉ có một phần ba nhận phần của mình, còn hai phần ba đã hy sinh vì thế còn thừa rất nhiều cơm, thấy thế anh nuôi ôm mặt khóc.

- Chúng mày đâu hết rồi, chúng mày chê cơm Tao nấu à ! 

-  Cả đơn vị không ai cầm được nước mắt, chiến tranh khốc liệt quá, thương vong nhiều quá !

- - -

Năm sáu(56)ngày đêm khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt

Máu trộn bùn non gan không núng trí không mòn

Chín năm làm một Điện Biên, nên vành hoa đỏ lên thiên sử vàng. Thơ: Tố Hữu



P/S: Chiến dịch Điện Biên Phủ (07.5.1954 - 07.5.2017) là một chiến dịch điển hình trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đánh thắng quân viễn chinh Pháp có tiềm lực quân sự mạnh, vũ khí trang bị hiện đại. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về Nhân dân Việt Nam. Chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ không những ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son rực sáng nhất trong thế kỷ XX, mà ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại này không hề phai mờ, trái lại, những bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giải pháp đấu tranh làm thất bại thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta hiện nay

 Thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta là mối nguy hại thực sự, gây ra nhiều khó khăn và tạo lực cản lớn để Việt Nam tiếp cận và tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc và tiến hành đồng bộ các giải pháp đấu tranh kịp thời, hiệu quả; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của mọi tổ chức, lực lượng trong cuộc đấu tranh này. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ đưa lại cho mỗi người dân được hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của nhân loại với chi phí rẻ hơn, tiện nghi và phong phú hơn. Nó cũng làm cho con người rất dễ rơi vào tình trạng không phân biệt được cái đúng và cái sai; cái tốt và cái xấu; cái thực và cái hư; khó phân biệt quan điểm đúng đắn với quan điểm sai trái, xuyên tạc, v.v. Do vậy, công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng phải tạo ra được nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất trong mỗi tổ chức, cá nhân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta; tuyệt đối không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, xác định: tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Vì vậy, cần khắc phục triệt để các biểu hiện giản đơn khi cho rằng, Cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ thuần túy là vấn đề khoa học và công nghệ hiện đại, không liên quan đến vấn đề chính trị nên không tác động, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng Việt Nam.

Mặt khác, phải nhận thức rõ cuộc đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta hiện nay của các thế lực thù địch là vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Điều đó, trực tiếp liên quan đến sự mất còn của chế độ, vận mệnh của dân tộc nên cần phải được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ trên cơ sở nhận thức đầy đủ, sâu sắc của mọi tổ chức, lực lượng. Chỉ có nhận thức đúng mới có thái độ và trách nhiệm cao trong tham gia cuộc đấu tranh với những thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Từ đó, mới bảo đảm cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có hiệu quả và khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.

Thứ hai, tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho lực lượng chuyên trách đấu tranh chống địch lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta. Đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng Việt Nam là một bộ phận quan trọng hợp thành cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và là yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay. Tham gia cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, không phải là công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Trong khi đó, điều kiện, khả năng thu thập, xử lý thông tin và kỹ năng sử dụng, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta còn hạn chế. Vì vậy, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời, có chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, có năng lực chuyên môn, trình độ về mọi mặt để giữ vai trò nòng cốt, xung kích trong cuộc đấu tranh này. Thực tiễn đã chứng minh, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào cũng đều không thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái với một bản lĩnh chính trị hèn yếu, một nền tảng lý luận nghèo nàn, một hệ thống tri thức không đầy đủ, trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin yếu kém, ít am hiểu những vấn đề thực tiễn xã hội đang diễn ra, v.v. Vì vậy, vấn đề vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài là cần phải bồi dưỡng lực lượng chuyên trách trong đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách toàn diện để họ trở thành những người có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, trình độ, tư duy, lý luận cao, có phương pháp luận nhạy bén, sắc sảo, am hiểu thời cuộc; mục tiêu xa hơn là trở thành những “chuyên gia” giỏi về lý luận, những cây “bút chiến” sắc bén. Trong đó, chú trọng bồi dưỡng chuyên biệt cho lực lượng này, bảo đảm cho họ thành thạo về công nghệ thông tin, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng tốt ngoại ngữ để thu thập, tiếp nhận và xử lý nhanh chóng các thông tin, các tình huống đặt ra.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các chính sách và khung pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tích cực tham gia đấu tranh. Đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá Đảng và Nhà nước ta, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một cuộc chiến rất cam go, nhạy cảm và phức tạp; liên quan đến cả “sinh mệnh chính trị” của người tham gia đấu tranh. Điều đó đặt ra và đòi hỏi phải xây dựng và thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý, cách thức tổ chức, bảo đảm phát huy cao nhất ý thức, trách nhiệm chính trị của mỗi cá nhân, tổ chức để họ tham gia tích cực, hiệu quả vào cuộc đấu tranh đầy cam go này. Trong đó, cần quan tâm chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo điều kiện về mọi mặt, cả về bảo vệ chính trị, bảo vệ “sinh mệnh chính trị” của những người tham gia; chú trọng cung cấp thông tin đầy đủ, nhiều chiều và có định hướng đúng để phản bác quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và từng cá nhân trong sử dụng mạng xã hội; thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, triệt để Luật An ninh mạng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để nhận diện, ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản động do các thế lực thù địch tuyên truyền, tán phát trên không gian mạng. Cơ quan chức năng các cấp cần quản lý chặt chẽ, đúng quy định việc truy cập, khai thác thông tin trên mạng xã hội, internet và phòng, chống việc lộ lọt thông tin bí mật nhà nước, bí mật quân sự mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước. CST

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch

 Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ mang tính đột phá, như: trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu cực lớn và nhanh,... đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng. Dựa trên thế mạnh của không gian mạng, hoạt động truyền thông được các thế lực thù địch tận dụng triệt để, tạo nên sự hỗn loạn, nhiễu loạn thông tin trong xã hội với mưu toan làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta dao động về tư tưởng, mất phương hướng về chính trị để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, các phương tiện trực tuyến, các diễn đàn, hội nghị quốc tế, các sự kiện chính trị, xã hội trong nước,... để xuyên tạc và tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch.

Các thế lực thù địch lợi dụng hệ thống thông tin mạng toàn cầu với lượng thông tin lớn, có thể tán phát cả trong và ngoài nước, tốc độ truyền tin nhanh, truy cập dễ dàng, thỏa mãn nhu cầu nghe - nhìn,… để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, blog có nội dung lôi kéo, kích động, chống phá, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm và vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Các trang tin này được thiết kế sử dụng tiếng Việt với nhiều hình thức thông tin hấp dẫn, nhằm thu hút, lôi kéo người truy cập, lợi dụng vào đó để cài các thông tin có tính chất phản động, chống đối để gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề có tính nhạy cảm, làm cho mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ dễ có cái nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang “ưa chuộng” là làm giả các website, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lão thành cách mạng, v.v. Đáng chú ý là, để tạo lòng tin cho người đọc và thu hút nhiều người truy cập, quản trị các website này đã cung cấp nhanh và đúng những thông tin mà báo chí chính thống tại Việt Nam đã đăng, sau khi thu hút được số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Từ các trang mạng này, nhiều người truy cập sẽ mắc mưu và bị động, lúng túng khi tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Chúng thường triệt để sử dụng mạng xã hội, như: Facebook, Twitter, Yahoo,... để nhanh chóng kết nối các thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, tung tin bịa đặt, gây tâm lý hoang mang, dao động trong xã hội.

Trong lĩnh vực quân sự, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các loại vũ khí thế hệ mới được tạo ra, như: vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô bốt tác chiến,... với những tính năng vượt trội, có sự nhảy vọt về chất sẽ làm cho các hình thái, tính chất, quy mô, phương thức và thủ đoạn tác chiến của các cuộc chiến tranh trong tương lai trở nên tinh vi, nguy hiểm, mức độ sát thương lớn gấp nhiều lần so với các cuộc chiến tranh trước đây. Thực tế này, làm cho người dân, cũng như mỗi quân nhân có trạng thái tâm lý căng thẳng, bất an, lo lắng. Và nó trở thành một trong những “cái cớ” mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền cho quan điểm “vũ khí luận”, nhằm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hiện đại, khuếch trương sức mạnh khoa học và quân sự của chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa con người và vũ khí, v.v. Thực trạng trên, đặt ra nhiều vấn đề phức tạp và những khó khăn trong đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. CST

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG CÁC TỔ CHỨC THANH NIÊN

 Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, tổ chức thanh niên các cấp, nhất là Đoàn Thanh niên cần quan tâm hơn nữa đến những nội dung, giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho thanh niên về Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị; đa dạng hóa các hình thức học tập tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, quán triệt, khẳng định có tính thuyết phục trong thanh niên về con đường lên CNXH ở nước ta là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại.

Thứ hai, phát huy vai trò đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, các tổ chức thanh niên cần có nhiều hình thức tổ chức rộng rãi chương trình giáo dục sơ cấp, trung cấp lý luận chính trị phù hợp với các đối tượng khác nhau. Trang bị những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho thanh niên. Triển khaicó hiệu quảviệc học tập các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức diễn đàn đối thoại “Đảng với thanh niên, thanh niên với Đảng”; các hoạt động giáo dục truyền thống…

Thứ ba, tích cực đổi mới nội dung, chương trình giáo dục bằng nhiều hình thức sáng tạo, linh hoạt, như thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chương trình cập nhật kiến thức, thông tin chuyên đề, thông tin thời sự... để thanh niên hiểu đúng, hiểu đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, hiểu lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, từ đó có nhận thức đúng, nâng cao bản lĩnh chính trị và khả năng đề kháng, thanh lọc trước các thông tin xấu, độc. Chú trọng phổ biến, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác những nội dung liên quan đến an ninh truyền thông, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng...

Thứ tư, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, cung cấp thông tin, nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ đấu tranh trên không gian mạng cho cho thanh niên, chú trọng đến những cá nhân có năng lực, nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm cao. Kiên quyết xử lý, xoá bỏ thông tin sai, cực đoan trên internet, mạng xã hội, nhất là những thông tin chia sẻ, bình luận vì chủ quan, thiếu hiểu biết của thanh niên. Có biện pháp khích lệ thanh niên chủ động, thường xuyên viết tin bài, chia sẻ, lan tỏa những thông tin tốt; phê phán, đấu tranh, loại bỏ những thông tin sai, xấu, độc. Xây dựng Cổng thông tin điện tử học tập chính trị cho đoàn viên, thanh niên, xây dựng các sản phẩm truyền thông hiện đại, hình thức đa dạng, phù hợp với đặc điểm tâm lý của thanh niên như infographic, phim ngắn...

Thứ năm, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ các tổ chức thanh niên. Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TWĐ của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn về “Tăng cường rèn luyện tác phong, thực hiện lề lối công tác của cán bộ đoàn” nhằm xây dựng hình ảnh người cán bộ đoàn gương mẫu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Cán bộ Đoàn, Hội Thanh niên, Sinh viên các cấp không ngừng chủ động nắm, dự báo, báo cáo, cung cấp thông tin về hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; chủ động thông tin cho thanh niên những vấn đề chính trị, đối ngoại, các vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm. 

Thứ sáu, tích cực phát hiện, nhân rộng những điển hình tiên tiến trong thanh niên, lan tỏa các thông tin tích cực theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tiếp tục triển khai có hiệu quả cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp” trên mạng xã hội do Ban Bí thư Trung ương Đoàn phát động từ năm 2018.

Thứ bảy, mở rộng kết nối các lực lượng thanh niên công nhân, thanh niên nông thôn, miền núi, hải đảo, thanh niên học sinh, sinh viên, thanh niên công chức, viên chức, lực lượng vũ trang…, tạo thành một mặt trận rộng rãi, có tính tổ chức, kỷ luật của thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, tích cực xây dựng môi trường văn hóa, tham gia mạng xã hội lành mạnh để phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm cho đoàn viên, thanh niên; tăng cường khả năng “miễn dịch”, nâng cao “sức đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Kiên quyết xử lý các đối tượng chống đối, cơ hội, bất mãn chính trị đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, kích động trên intemet, mạng xã hội./. CST

ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG CÁC TỔ CHỨC THANH NIÊN

 Thời gian qua, các tổ chức thanh niên Việt Nam đã có nhiều hoạt động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ. Các cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên đã tăng cường quản lý và định hướng thông tin, quyết liệt chặn, lọc các thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội; ngăn chặn kịp thời các chiến dịch kích động biểu tình, bạo loạn, sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin gây mất ổn định an ninh quốc gia.

Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong thanh niên được quan tâm với nhiều hình thức đa dạng như: các cuộc thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chương trình cập nhật kiến thức, đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị; các chương trình thông tin, thời sự... cho thanh niên. Công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong các tổ chức thanh niên có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng trên những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

Nhìn chung, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các tổ chức thanh niên đã đạt được một số kết quả quan trọng, khẳng định vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng trong văn hóa dân tộc; góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới.

Tuy nhiên, trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đa số thanh niên vẫn còn những bất cập, hạn chế; nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chưa đầy đủ, sâu sắc. Việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các tổ chức thanh niên chưa thường xuyên, liên tục, còn bị động theo tình huống; việc cung cấp thông tin chính thống cho thanh niên chưa kịp thời, chưa đầy đủ; nhiều bài viết đấu tranh, phản bác chưa đủ sức thuyết phục về khoa học, lý luận, thiếu sức chiến đấu. Trình độ khai thác, sử dụng công nghệ thông tin của không ít tổ chức thanh niên còn bất cập, lúng túng, nhất là sử dụng công nghệ cao trong đấu tranh trên không gian mạng. Công tác giảng dạy, học tập lý luận chính trị, tổng kết thực tiễn đấu tranh, phản bác trong các tổ chức thanh niên chưa được chú trọng thường xuyên. Nội dung giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng về mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tổ chức thanh niên còn chậm đổi mới, thiếu sinh động, kém hiệu quả. Chưa có bộ phận chuyên sâu trong tổ chức thanh niên có trình độ lý luận chính trị, kỹ năng, kinh nghiệm sử dụng công nghệ cao trên mạng internet để chủ động đấu tranh, phản bác bằng những hình thức, phương pháp, nội dung phù hợp. Công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật phát ngôn của thanh niên còn bị xem nhẹ, nhiều sai phạm lớn chậm được phát hiện xử lý...

Ngoài nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan của hạn chếbất cập nêu trên xuất phát từ nhận thức lơ là, coi nhẹ của không ít cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Việc học tập lý luận chính trị ở nhiều tổ chức thanh niên thiếu nghiêm túc, chỉ nhằm hợp thức hóa, theo phong trào. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng chưa tập trung, thiếu thống nhất; thiếu tính chuyên nghiệp, kỹ năng, kinh nghiệm và trình độ sử dụng công nghệ...CST

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG THANH NIÊN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

 Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các thế lực thù địchphản động cho rằng chủ nghĩa Mác ra đời từ năm 1848, vì vậy, trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, những nguyên lý của học thuyết này không còn đúng nữa; chủ nghĩa Mác - Lênin chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn... Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lấy học thuyết Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là lỗi thời, giáo điều, máy móc. Đồng thời, chúng dùng mọi thủ đoạn để bôi nhọ, xuyên tạc về Hồ Chí Minh; phủ nhận và bác bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh hoặc tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin để phủ nhận cả hai, từ đó phủ nhận Cương lĩnh, đường lối của Đảng.

Xuyên tạc đường lối, chia rẽ tổ chức nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo, tiến tới xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Trước những biến động mau lẹ, phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, các thế lực thù địch, phản động càng ráo riết tấn công vào Cương lĩnh, đường lối của Đảng; phủ nhận Nhà nước pháp quyền XHCN, kinh tế thị trường định hướng XHCN; rêu rao rằng kinh tế nhiều thành phần thì phải có “đa nguyên”, “đa đảng”; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm, nhất là từ việc một số đảng viên có chức có quyền nhưng thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật và kỷ luật Đảng.

Cùng với chiêu trò gửi thư ngỏ, kêu gọi ký tên vào các thỉnh nguyện thư, tổ chức diễn đàn, tọa đàm trên internet, mạng xã hội, các thế lực xấu còn cho rằng, khi Đảng khuyến khích đảng viên làm giàu đồng nghĩa là Đảng đã đánh mất bản chất giai cấp của mình; cho rằng Điều 4 Hiến pháp năm 2013 khẳng định quyền lãnh đạo của Đảng là “mất dân chủ”, là “chuyên chế”... theo đó, chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ” trong xã hội.

Thủ đoạn chống phá nhằm vào thanh niên ngày càng tinh vi, quyết liệt hơn. Lợi dụng sự bùng nổ của công nghệ truyền thông và tâm lý dễ cả tin, chủ quan khi tham gia mạng xã hội của thanh niên, các thế lực xấu thường xuyên tung ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn; tăng cường bình luận, tuyên truyền kích động để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển lực lượng ở trong nước, dùng “cộng sản nói xấu cộng sản”, “cộng sản con nói xấu cộng sản bố” hòng tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ nội bộ Đảng và xã hội ta. Chúng xây dựng kế hoạch, đầu tư kinh phí, tổ chức, bộ máy, công nghệ, thiết bị máy móc để “khuyếch đại hiệu ứng” chống phá; dựa vào những thông tin trên báo chí chính thống của chúng ta để “thêm bớt”, xuyên tạc bản chất vấn đề; lợi dụng những phần tử cơ hội, bất mãn, suy thoái, biến chất trong nước, trong đó có cả trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, sinh viên làm “công cụ chống phá” từ bên trong; lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý kỷ luật, truy tố những cán bộ từng giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, để “lu loa”, quy chụp, cho đó là bản chất của chế độ một Đảng cầm quyền.

Nguy hiểm hơn, thời gian gần đây, chúng thông qua các hoạt động “diễn đàn”, “hỗ trợ nhân đạo”, “tham quan”, “du lịch”, “hội nghị”, “đào tạo”... cùng các “mồi nhử” kinh tế khác để tuyên truyền, lôi kéo, mê hoặc thanh niên; tán phát các tài liệu, luận điệu phản động. Nhằm gây hoang mang, tạo ra tình trạng bất ổn trong xã hội, chúng lấy việc các cơ quan chức năng của chúng ta truy tố những kẻ lợi dụng mạng xã hội để tung tin thất thiệt, gây nhiễu loạn thông tin; những đại gia lũng đoạn thị trường chứng khoán... để vu cáo Đảng, Nhà nước ta hình sự hóa các quan hệ dân sự

Cùng với các chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, chúng ra sức lợi dụng một số vấn đề bức xúc trong nhân dân chưa được giải quyết kịp thời để kích động thanh niên, lôi kéo tụ tập - khiếu kiện đông người, gây mất trật tự, an ninh. Cùng với đó là không ngừng cổ vũ lối sống thực dụng, hưởng lạc, tôn thờ đồng tiền, chủ nghĩa cá nhân, bất chấp đạo lý, pháp luật, kỷ cương... CST

Yêu cầu cần thiết phải phát huy vai trò của các tổ chức thanh niên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức thanh niên Việt Nam trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong tình hình hiện nay.

Các tổ chức thanh niên Việt Nam bao gồm Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Sinh viên và các tổ chức khác của thanh niên được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật. Trong tình hình mới, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các tổ chức thanh niên, xuất phát từ những lý do chủ yếu sau:

Một là, xuất phát từ vai trò nền tảng tư tưởng của Đảng.

Từ tuổi thanh niên đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đây con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Người luôn coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “cẩm nang thần kỳ”, là “kim chỉ nam” cho hoạt động của Đảng. Người nhấn mạnh: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của nước ta”.

Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong nhiều văn kiện Đại hội cho đến Điều lệ Đảng hiện hành đã luôn xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”.

Hai là, xuất phát từ đặc điểm của thanh niên và thực trạng các tổ chức thanh niên tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi chiếm khoảng 30% dân số, là lực lượng có sức khỏe, trí tuệ, có tinh thần hăng hái, nhiệt tình, có khát vọng vươn lên, ham học hỏi, dễ thích nghi với môi trường xã hội; là lực lượng xung kích, sáng tạo, đi đầu và có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế... Tuy nhiên, thanh niên còn những hạn chế về kiến thức xã hội, kiến thức lịch sử và lý luận chính trị, chưa có  nhiều kinh nghiệm nên rất dễ bị lôi kéo trước những cám dỗ; dễ bị kích động theo “tâm lý đám đông”; dễ chán nản, bi quan, tiêu cực khi gặp khó khăn, thất bại... Các thế lực thù địch luôn lợi dụng những đặc điểm đó để tuyên truyền, lôi kéo, kích động thanh niên.

Trong thời gian qua các tổ chức thanh niên đã có những thành tích nhất định trong việc tuyên truyền, giáo dục những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như chưa có nhiều hình thức giáo dục nhận thức, tổ chức dự báo, cung cấp thông tin về hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; chưa chủ động nâng cao năng lực và biện pháp kỹ thuật đấu tranh trên không gian mạng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, xuất phát từ yêu cầu của Đảng đối với thanh niên và các tổ chức thanh niên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thanh niên “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(1), trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của thanh niên và các tổ chức thanh niên. Theo đó, nhiều nghị quyết chuyên đề dành cho thanh niên đã được Đảng ban hành; khẳng định thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đại XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội; xây dựng môi trường, điều kiện học tập, lao động giải trí, rèn luyện để phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ”(2).CST

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

 Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này.

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.


Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh”. 


Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”(1). Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.


Tổ chức UNESCO khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”(2). Nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, các tổ chức tiến bộ trên thế giới đã thừa nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng. Thực tiễn những thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam đạt được nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn cách mạng đã củng cố vững chắc điều này.


 Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, tháng 3-1961. Ảnh tư liệu

 Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, tháng 3-1961. Ảnh tư liệu

Thứ hai, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng.


Một số người có nhận thức lệch lạc khi một mặt họ cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh khác và đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất; mặt khác, họ lại “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp giá trị, vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam.


Hai quan điểm này đều không đúng cả về lịch sử và logic. Về mặt lịch sử, Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nguồn gốc quan trọng dẫn tới hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Về mặt logic, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối lập như suy luận, xuyên tạc của một số người.


Về quan điểm thứ nhất, một số người đã hùa theo các luận điệu xuyên tạc, nhận thức lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh. Luận điệu này đã làm dư luận hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.


Về quan điểm thứ hai, một số người cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin từng có giá trị nhưng đã bị lịch sử vượt qua. Những người này còn ngụy biện rằng, cho dù chưa bị lịch sử vượt qua thì Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ phù hợp với các nước phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Do đó, họ ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua Chủ nghĩa Mác-Lênin”.


Từ đó họ cho rằng, nên đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là quan điểm nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất nhằm phủ nhận cả Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không còn những đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn như vốn có.


Bên cạnh đó, một số người đã cố tình vin vào cớ hiện nay “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra để thổi phồng những khuyết điểm của một số cán bộ thoái hóa, biến chất mà bỏ qua những ưu điểm mang tính bản chất của đa số cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.


Từ đó, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay cũng đã thoái hóa, biến chất, khác xa với lý tưởng, khát vọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ yêu cầu phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.


Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, mang bản chất cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(3).


Vậy mà, khi Đảng kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ nhằm làm trong sạch Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ thì một số người lại có nhận thức lệch lạc, cố tình vu khống, quy kết là Đảng ta “đấu đá nội bộ”, “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực”. Họ làm ra vẻ khách quan khi dùng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu” để đánh giá, phán xét Đảng.


Danh nghĩa là họ đề cao Hồ Chí Minh nhưng thực chất lại đang hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Điều này gây hoang mang, mất niềm tin, chia rẽ nội bộ, đặc biệt, nó có thể làm một bộ phận dân chúng, thậm chí ngay cả một số ít văn nghệ sĩ, trí thức từng tin tưởng và kính trọng Hồ Chí Minh cũng có thể trở nên lung lay tư tưởng, rệu rã niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. 


Thứ ba, phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.


Một số người đã có nhận thức rất lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít”, “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” vì tư tưởng Hồ Chí Minh không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Những người này ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lý do họ đưa ra là Hồ Chí Minh là bậc thánh nhân trong khi chúng ta là người bình thường; Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.


Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa khổ hạnh và cũng chưa bao giờ tỏ ra mình là bậc thánh nhân, mà Người luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi”(4).


Những người này đã cố tình không hiểu rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tinh thần tinh túy trong tư tưởng, phương pháp, phong cách của Người để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong thực tiễn như sinh thời Người đã học tập, vận dụng sáng tạo thành công Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, chứ không phải học rồi “làm theo” một cách máy móc để cho giống hoặc thành một “Hồ Chí Minh thứ hai”. Do đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là chủ trương đúng đắn của Đảng, hợp với lòng dân và có giá trị thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.


Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử đã trở thành một phần của huyền thoại ngay từ khi còn sống. Cho đến nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Giá trị đó không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại; không chỉ được khẳng định trong thế kỷ 20, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Đấu tranh chống các nhận thức lệch lạc, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhằm bảo vệ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.


Để việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự thuyết phục, chúng ta phải có cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử, không được chủ quan, áp đặt, thiên kiến hoặc máy móc trong việc nhận định, đánh giá, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng của Người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”.