Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

Thực hiện đánh giá, bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ ở tỉnh Tuyên Quang thông qua thí điểm giao nhiệm vụ khó, mang tính mới và đột phá.

 Thời gian qua, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thực hiện chủ trương đánh giá, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ căn cứ vào kết quả thực hiện những nhiệm vụ khó, mang tính đột phá, đổi mới; bước đầu đạt được một số kết quả, tạo ra hiệu ứng tích cực trong xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, góp phần củng cố, giữ vững niềm tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, chủ trương này cần tiếp tục được thí điểm thực hiện, tổng kết và đánh giá toàn diện trong thời gian tới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Lễ khởi công xây dựng Trường Trung học phổ thông chuyên Tuyên Quang_Ảnh: TTXVN

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1); “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2), “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(3); đồng thời, nhận thức rõ phẩm chất, năng lực của người cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, nên trong nhiều nhiệm kỳ qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các cấp ủy trong Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang luôn nhận thức sâu sắc, quyết tâm, quyết liệt, đổi mới, sáng tạo trong chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác cán bộ. Cấp ủy các cấp trong Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chú trọng đổi mới đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, nhất là công tác luân chuyển, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ; tích cực đổi mới tư duy và cách làm, qua đó từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có phẩm chất, trình độ, năng lực để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Chủ trương “đúng, trúng” và kết quả bước đầu

Đánh giá cán bộ là một khâu rất quan trọng, nhưng cũng là việc rất khó và nhạy cảm, bởi đây là công việc liên quan đến con người, mà mỗi con người đều là chủ thể với suy nghĩ và tình cảm đa dạng, phong phú; vì thế, để đánh giá đúng cán bộ thì cần phải dựa vào nhiều kênh, nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhất là bằng sản phẩm, tiêu chí rõ ràng và thông qua công việc cụ thể. Từ nhận thức đó, để đổi mới công tác cán bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã thực hiện chủ trương giao việc khó, việc đổi mới mang tính đột phá làm cơ sở để đánh giá, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Theo chủ trương này, chất lượng và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ là cơ sở, căn cứ quan trọng để kiểm chứng, đánh giá phẩm chất, trình độ, năng lực thực sự của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

Thực hiện chủ trương này, từ năm 2019 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã thí điểm giao việc khó, việc đổi mới mang tính đột phá cho một số đồng chí là bí thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, thủ trưởng, giám đốc các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giao 25 việc đột phá cho 25 cán bộ/21 chức danh cán bộ; “đặt hàng” công việc đối với 10 đồng chí (1 đồng chí giám đốc sở, 5 đồng chí bí thư huyện ủy và 4 đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân huyện)Năm 2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giao 51 việc đột phá, “đặt hàng” công việc đối với 22 đồng chí (14 đồng chí giám đốc sở, 4 đồng chí bí thư huyện ủy và 4 đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân huyện), tập trung vào những việc mới, việc khó. Kết quả cho thấy, việc thực hiện các công việc được đăng ký, được giao việc, “đặt hàng” có chuyển biến rất tích cực, nhiều việc đã hoàn thành hoặc đã có những kết quả, sản phẩm cụ thể (9/10 vụ việc đơn, thư tồn đọng kéo dài đã được giải quyết; những vướng mắc, bức xúc về đền bù, giải phóng mặt bằng các dự án, công trình... đã được đối thoại, giải quyết dứt điểm; từ đó, tạo sự thống nhất trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, ổn định tình hình trên địa bàn). Thực tế triển khai chủ trương trên đã đem lại hiệu quả thiết thực, tạo sự chuyển biến tích cực trong thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Từ thực tiễn đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã ban hành quy định để thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh.

Việc đánh giá, lựa chọn, giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm cán bộ có đức, tài, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ theo hướng liên tục, xuyên suốt, đa chiều, theo tiêu chí và bằng sản phẩm cụ thể đã góp phần ngăn chặn việc chạy chức, chạy quyền và các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ, gắn với mục tiêu để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trên cơ sở kết quả đạt được qua thực hiện thí điểm giao việc mang tính đột phá, đổi mới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã chỉ đạo xây dựng, sửa đổi, bổ sung Quy chế và bộ tiêu chí để đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; trong đó, quy định 21 chức danh cán bộ là người đứng đầu cấp ủy, ủy ban nhân dân huyện, thành phố, giám đốc các sở, ngành cấp tỉnh phải đăng ký và thực hiện việc mang tính đột phá, đổi mới (theo chức năng, nhiệm vụ, bám sát vào các nhiệm vụ trọng tâm, các khâu đột phá mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã xác định, hoặc giải quyết những việc cấp bách, bức xúc ở cơ sở).

Để việc giao nhiệm vụ mang tính đột phá, đổi mới đi vào nền nếp và tổ chức thực hiện có hiệu quả, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã xây dựng, ban hành Quy định số 30-QĐ/TU, ngày 20-5-2020, “Về giao việc đột phá, đổi mới đối với một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý”. Theo đó, cán bộ được giao việc là các đồng chí ủy viên ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, trưởng các cơ quan cấp tỉnh, bí thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, thành phố. Sau hơn 1 năm thực hiện, qua sơ kết, đánh giá và từ tình hình thực tiễn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã sửa đổi, bổ sung và ban hành Quy định số 03-QĐ/TU, ngày 10-9-2021, “Về giao việc đột phá, đổi mới đối với một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý”, trong đó mở rộng đối tượng được giao việc đến các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Giao các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh thực hiện giao việc mang tính đột phá, đổi mới cho cán bộ là cấp phó các cơ quan, đơn vị; ban thường vụ các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy thực hiện giao việc mang tính đột phá, đổi mới cho các chức danh cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đang công tác tại cơ quan, đơn vị, địa phương; các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị căn cứ Quy định, cụ thể hóa theo thẩm quyền để giao việc mang tính đột phá, đổi mới đối với cán bộ thuộc diện cấp mình quản lý(4).

Thực tế cho thấy, thực hiện việc đăng ký và giao việc mang tính đột phá, đổi mới đã tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên khẳng định được tính tiên phong, gương mẫu, phát huy năng lực trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, nhất là đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị; tạo môi trường và động lực để cán bộ phát huy tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tạo được lòng tin đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua hơn 3 năm thực hiện chủ trương này, đến nay, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đạt nhiều kết quả quan trọng: Nhiều đồng chí có cách làm sáng tạo, phù hợp với thực tiễn, có “sản phẩm” cụ thể, đặc biệt là có nhiều việc mới được triển khai; những việc còn tồn tại, gặp nhiều vướng mắc, khó khăn và thậm chí kéo dài nhiều năm đã được giải quyết hiệu quả, dứt điểm; qua đó, tạo chuyển biến tích cực trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị, địa phương. Kết quả thực hiện công việc mang tính đột phá, đổi mới của cán bộ là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm và cả nhiệm kỳ đối với cán bộ; là căn cứ để đánh giá năng lực, sở trường công tác của cán bộ trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, cũng như triển vọng phát triển của cán bộ. Đây cũng là một căn cứ quan trọng để tiến hành quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, bố trí cán bộ.

Cùng với việc thực hiện đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, công tác điều động, luân chuyển cán bộ của tỉnh Tuyên Quang được thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch đối với từng trường hợp cụ thể, gắn với công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ. Công tác điều động, luân chuyển được tiến hành thận trọng, kỹ lưỡng theo phương châm “làm đến đâu, chắc đến đó” nhằm đào tạo, rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, nhất là gắn giao việc, “đặt hàng” với cán bộ được điều động, luân chuyển; luôn thực hiện nhất quán quan điểm quy hoạch cán bộ phải gắn với đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển cán bộ; luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Nhiệm kỳ 2015 - 2020, các cấp ủy, tổ chức đảng của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, chỉ định, giới thiệu ứng cử 1.372 lượt cán bộ, trong đó cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý là 268 lượt, cán bộ diện ban thường vụ huyện ủy, thành ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị quản lý là 1.104 lượt; điều động, luân chuyển người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các huyện, thành phố, giám đốc các sở, ngành cấp tỉnh phải gắn với việc đăng ký và giao việc mang tính đột phá, đổi mới; qua đó, đã góp phần tích cực thúc đẩy việc thực hiện có hiệu quả công việc, cũng như góp phần vào sự phát triển chung của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị.

Qua thực tế triển khai chủ trương trên, bước đầu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang rút ra một số kinh nghiệm để có thể đạt kết quả tốt; đó là: Có chủ trương đúng đắn xuất phát từ tình hình thực tiễn; sự quyết tâm, quyết liệt, chung sức, đồng lòng trong triển khai tổ chức thực hiện. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống phải gắn liền với rèn luyện, thử thách qua thực tiễn nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ các cấp. Phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ; nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp. Việc đánh giá cán bộ phải công tâm, khách quan, dân chủ, minh bạch và bố trí đúng cán bộ, trong đó, bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp có vai trò quan trọng trong xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang Chẩu Văn Lâm kiểm tra dự án xây dựng tuyến đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ kết nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai_Nguồn: baotuyenquang.com.vn

Nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung thực hiện trong thời gian tới

Để tiếp tục thực hiện chủ trương giao việc khó, việc đổi mới mang tính đột phá làm cơ sở để đánh giá, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng công tác luân chuyển, bổ nhiệm và đánh giá cán bộ, thời gian tới Tỉnh ủy Tuyên Quang tiếp tục thực hiện tốt các nội dung chủ yếu sau:

Một là, lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận, các quy định, quy chế của Trung ương về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Cụ thể hóa và hoàn thiện hệ thống các quy định của tỉnh về công tác cán bộ, như quy định về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; quy chế về đánh giá cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; quy định về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp...

Hai là, tiếp tục nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ tỉnh về chủ trương giao việc khó, việc mang tính đột phá, đổi mới cho cán bộ; coi đây là một trong những biện pháp giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh chính trị, khơi dậy khát vọng cống hiến, đổi mới, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Xác định thực hiện giao việc mang tính đột phá, đổi mới là việc làm thường xuyên, nền nếp, tạo sự lan tỏa, hiệu ứng tích cực trong thực hiện các việc khó, việc mang tính đột phá, đổi mới đến từng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Sự lựa chọn việc mang tính đột phá, đổi mới phải cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, gắn với thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong nghị quyết đại hội đảng bộ cấp trên và nghị quyết đại hội đảng bộ cấp mình. Tập thể lãnh đạo các cơ quan, đơn vị có cán bộ được giao việc cũng phải coi đây là nhiệm vụ, trách nhiệm chung; thống nhất mục tiêu, xác định phương hướng, nhiệm vụ cụ thể, đề ra các giải pháp để thực hiện; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức và cá nhân; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ. Cán bộ được giao việc phải xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết, đề ra giải pháp, lộ trình cụ thể để triển khai thực hiện có hiệu quả việc được giao, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, bảo đảm nói đi đôi với làm.

Ba là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Bám sát các nghị quyết, quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác cán bộ, các cấp ủy, tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cần lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số; trên cơ sở quy hoạch cán bộ, thực hiện điều động, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ một cách hợp lý, phù hợp với trình độ, năng lực, uy tín của cán bộ. Lấy kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ và những việc được cấp trên giao làm căn cứ, thước đo để đánh giá cán bộ; kịp thời, kiên quyết thay thế cán bộ có uy tín thấp, năng lực yếu, không đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ.

Bốn là, chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ các cấp; tăng cường luân chuyển, bố trí cán bộ ở địa bàn, lĩnh vực khó khăn, phức tạp để rèn luyện, thử thách cán bộ qua thực tiễn. Địa bàn, lĩnh vực khó khăn, phức tạp là môi trường thử thách, rèn luyện tốt nhất để giúp cán bộ trưởng thành, nâng cao bản lĩnh chính trị, khả năng xử lý các tình huống trong thực tế.

Năm là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, nhất là việc thực hiện các việc mang tính đột phá, đổi mới; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý sai phạm, khắc phục, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cán bộ.

Có thể khẳng định, công tác luân chuyển, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ căn cứ vào kết quả thực hiện những nhiệm vụ khó, mang tính đột phá, đổi mới là một giải pháp đúng đắn, góp phần quan trọng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác cán bộ. Chủ trương này cần tiếp tục thực hiện để đúc rút những kinh nghiệm hay; từ đó, phát huy, nhân rộng, nhằm đạt được kết quả trong hiện thực hóa các nhiệm vụ chính trị của mỗi cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị trên địa bàn; cũng như góp phần xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ tỉnh có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và trình độ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới./.

-------------------------------

(1), (2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr. 309, 313, 309
(4) Theo đó, giai đoạn 2020 - 2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giao 52 việc cho 22 đồng chí thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; năm 2021 và giai đoạn 2021 - 2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang giao 266 việc đột phá, đổi mới cho 78 đồng chí; năm 2022 và giai đoạn 2022 - 2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giao 219 việc cho 77 đồng chí. Các đảng đoàn, ban cán sự đảng; các cơ quan tham mưu giúp việc Tỉnh ủy; các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh (nơi không lập đảng đoàn, ban cán sự đảng), các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy năm 2022 và giai đoạn 2022 - 2025 đã giao 4.028 việc cho 1.860 cán bộ, công chức, viên chức diện cấp mình quản lý.

Người cao tuổi - Lực lượng quan trọng góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Người cao tuổi có vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục quan tâm, thực hiện tốt chính sách đối với người cao tuổi chính là góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, như ước nguyện sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của dân tộc Việt Nam.

Tổng Bí thư Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ đại biểu Hội Người cao tuổi Việt Nam_Ảnh: TTXVN

Người cao tuổi trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Đại đoàn kết toàn dân tộc là di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Tinh thần yêu nước, trọng nghĩa, khoan dung, đoàn kết, đùm bọc yêu thương nhau đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi người dân, trở thành lẽ sống, chất kết dính gắn bó các thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Đảng luôn xác định “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và luôn đề cao vai trò, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thành công. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công” đã trở thành phương châm hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, và thực sự, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đã được phát huy cao nhất để dân tộc ta đi đến thắng lợi trong các thời kỳ lịch sử.

Năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, diễn ra từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5, tại Khuổi Nậm, Pắc Bó, Cao Bằng. Theo đề nghị của Bác, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do. Một trong những lực lượng đầu tiên Bác nghĩ tới là các phụ lão, trong vai trò đầu tàu, dẫn dắt con cháu trong sự nghiệp cứu nước, xây dựng đất nước hưng thịnh. Người luôn coi người cao tuổi (NCT) là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” viết năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại. Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Đất nước bị mất phụ lão cứu. Đất nước suy sụp phụ lão phủ trì”(1).

Nhất quán với tư tưởng đề cao vai trò của NCT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng ý nghĩa Hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần thành “Truyền thống Diên Hồng” của dân tộc Việt Nam; qua đó, khẳng định vị trí, vai trò của NCT trước những sự kiện liên quan đến vận mệnh của dân tộc. Trong bài viết “Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn”, đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 1-10-1960, Người chỉ rõ: “Truyền thống “Điện Diên Hồng” là truyền thống yêu nước vẻ vang chung của dân tộc ta và riêng của các cụ phụ lão ta. Mỗi khi có việc quan hệ lớn đến nước nhà nòi giống, thì các cụ không quản tuổi cao sức yếu, liền hăng hái đứng ra gánh vác phần mình và đôn đốc con em làm tròn nhiệm vụ”(2).

Người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Những đóng góp của người cao tuổi trên mọi lĩnh vực trong thời gian qua

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là chủ trương lớn của Đảng ta. Hiện thực hóa chủ trương đó, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đã chỉ rõ định hướng chính sách đối với NCT: “... xây dựng chính sách chăm sóc sức khỏe, quan tâm hơn đến người cao tuổi về y tế, hưởng thụ văn hóa, nhu cầu được thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội, nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với nước. Xây dựng Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi. Phát huy vai trò Hội Người cao tuổi Việt Nam”(3).

Qua 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, cả nước hiện có trên 12,5 triệu NCT, hơn 6,5 triệu NCT đang trực tiếp tham gia lao động, sản xuất, trong đó có 400.000 NCT đạt danh hiệu làm kinh tế giỏi; NCT đóng góp hơn 11 triệu ngày công, gần 3.500 tỷ đồng, hiến 25 triệu m2 đất để xây dựng đường giao thông, kênh mương, nhà văn hóa, trường học, cơ sở y tế... góp phần xây dựng nông thôn mới. 64% số hội viên khuyến học là NCT; 660.000 NCT tham gia công tác đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, tổ hòa giải ở cơ sở; trên 300.000 NCT tham gia các tổ an ninh nhân dân, phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự ở cơ sở, cung cấp cho lực lượng công an 200.000 nguồn tin có giá trị, giúp đỡ 90.000 người tái hòa nhập cộng đồng. Người cao tuổi phối hợp giải quyết có hiệu quả hàng chục nghìn vụ mâu thuẫn, khiếu kiện trong nội bộ nhân dân. Cả nước có trên 77.000 câu lạc bộ của NCT ở cơ sở với nhiều loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, thu hút trên 2,5 triệu NCT tham gia. Đặc biệt, Hội đã thành lập 5.500 câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, thu hút trên 275.000 NCT tham gia. Mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau được các tổ chức, cộng đồng trong nước, ngoài nước đánh giá cao và đã đoạt giải Nhất “Sáng kiến vì một châu Á già hóa khỏe mạnh”.

Hội Người cao tuổi Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội đã không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, tập hợp và phát triển hội viên; tham gia, đề xuất xây dựng và hoàn thiện thể chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là ở cơ sở; tích cực hưởng ứng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc triển khai phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao - Gương sáng” đã động viên hàng vạn NCT ở cơ sở tham gia công tác đảng, chính quyền, các đoàn thể xã hội, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Trong đó, NCT luôn chủ động tham gia đóng góp ý kiến tâm huyết, trung thực, thẳng thắn với tinh thần trách nhiệm cao trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại cơ sở.

Hội NCT các cấp đã vận động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tài trợ hàng vạn suất quà, xây mới hàng nghìn ngôi nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, chăm sóc người có công với nước. Hằng năm, thông qua Tháng hành động vì NCT Việt Nam, Hội đã vận động được các nguồn lực xã hội chung tay chăm sóc NCT có hoàn cảnh khó khăn, NCT thuộc hộ nghèo, cận nghèo, NCT là đồng bào dân tộc thiểu số, ở vùng khó khăn, góp phần giảm chênh lệch giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội, tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, từ nhiều năm nay, NCT được chăm sóc ngày càng tốt hơn; hằng năm, có hơn 1,1 triệu NCT được chúc thọ, mừng thọ; trên 3 triệu NCT được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, 4 triệu NCT được khám sức khỏe định kỳ; trên 95% số NCT có thẻ bảo hiểm y tế (nhiều địa phương đã hỗ trợ 100% số NCT).

Từ “Truyền thống Diên Hồng” cho đến các phong trào, mô hình tiêu biểu “Người cao tuổi mẫu mực”, “Tuổi cao - Gương sáng”, “Người cao tuổi tham gia xây dựng nông thôn mới”, “Người cao tuổi tham gia xây dựng dòng họ không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội”, “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền”, “Người cao tuổi tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Người cao tuổi làm kinh tế giỏi” hiện nay, đã ngày càng khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của NCT trong các hoạt động tập hợp lực lượng, góp phần lan tỏa chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, NCT và tổ chức hội NCT Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đúng như Bác Hồ nói: “Tuổi cao chí khí càng cao”. Người cao tuổi nước ta thực sự là vốn quý của dân tộc, là lực lượng quan trọng của đất nước, là rường cột của gia đình và xã hội Việt Nam. Người cao tuổi của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam không chỉ là những người lao động cần cù, sáng tạo, góp phần xây dựng hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, mà còn là những nhân chứng của lịch sử và rất nhiều người đã trực tiếp góp phần làm nên lịch sử của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với 18 chữ vàng mà Trung ương Đảng tặng cho NCT Việt Nam: “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Một số hạn chế, bất cập trong công tác người cao tuổi hiện nay

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, giải pháp thực hiện những nội dung của Nghị quyết số 23-NQ/TW đối với NCT ở một số đơn vị còn hạn chế. Nhận thức, tư tưởng của NCT về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc còn chưa đồng đều, có lúc, có nơi chưa nhất quán. Có trường hợp NCT chưa thực sự nêu gương, một số cán bộ hội chưa sâu sát quần chúng nhân dân, chưa phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; do vậy, chưa xây dựng được niềm tin, uy tín trong nhân dân. Một số chính sách, chế độ đối với NCT còn dàn trải, cào bằng, chưa theo kịp thực tiễn; đời sống một bộ phận NCT còn khó khăn cả về vật chất và tinh thần, thậm chí có trường hợp NCT còn bị bạo hành, ngược đãi, cho nên chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, nguồn lực NCT theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Những người từ 60 tuổi trở lên chiếm gần 12% tổng dân số vào năm 2019 và dự báo đến năm 2050, sẽ tăng lên hơn 25%. Đến năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Đặc biệt, quá trình quá độ từ già hóa dân số đến dân số già của Việt Nam diễn ra chỉ trong vòng 20 năm, trong khi ở các quốc gia phát triển thì quá trình này kéo dài hàng trăm năm.

Trước những khó khăn, hạn chế, thách thức đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần nâng cao nhận thức, tư tưởng trong các cấp, các ngành, các địa phương: Người cao tuổi là lực lượng chính trị quan trọng, là nguồn lực để phát triển đất nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, các cấp, các ngành, các địa phương cần có chủ trương, chính sách, pháp luật và chương trình ứng phó với vấn đề già hóa dân số và phải coi NCT là nguồn lực, trên cơ sở tôn trọng quyền, để tạo động lực trong quá trình phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Già làng A Lăng Đàn cùng các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Nông (tỉnh Quảng Nam) vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước_Nguồn: baodantoc.vn

Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tiếp tục phát huy vai trò của người cao tuổi trong giai đoạn mới 

Thứ nhất, các cấp hội chủ động xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình... Kính trọng, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi”(4); trên cơ sở đó, phát huy vai trò của NCT một cách phù hợp; khuyến khích NCT tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội. Các cấp hội bám sát các nhiệm vụ trọng tâm, chương trình công tác của Hội, đẩy mạnh thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ địa phương, Nghị quyết Đại hội VI Hội Người cao tuổi Việt Nam. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức, tư tưởng về công tác NCT, hoạt động của hội NCT. Nắm bắt kịp thời tư tưởng, đời sống, nguyện vọng của NCT, đặc biệt là NCT có hoàn cảnh khó khăn; phối hợp phòng ngừa, ngăn chặn, không để xảy ra các vụ, việc ngược đãi, bạo hành NCT.

Thứ hai, các cấp hội nâng cao chất lượng công tác tổ chức, cán bộ và phát triển hội viên. Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương trong kiện toàn tổ chức và đội ngũ cán bộ hội; nghiên cứu, đề xuất chính sách, chế độ đối với cán bộ hội ở các cấp. Củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức hội cơ sở; đổi mới nội dung sinh hoạt đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của hội viên và NCT; thu hút ngày càng đông NCT tham gia tổ chức hội và các phong trào do Hội tổ chức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ ba, phát huy mạnh mẽ vai trò của NCT trong tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình phối hợp giữa hội NCT với các bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các địa phương, góp phần phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của NCT tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, đa dạng nội dung, phương thức, loại hình chăm sóc NCT; phát huy vai trò nòng cốt của Hội trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi”, phấn đấu để NCT được sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc trong gia đình và xã hội, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, góp phần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong bối cảnh, xu thế mới, để kịp thời ứng phó với quá trình già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, tận dụng các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phấn đấu NCT được hưởng tuổi già trong sự tôn trọng và bảo đảm an sinh xã hội, cần quan tâm một số nội dung sau:

Một là, Trung ương sớm tổng kết Chỉ thị số 59/CT-TW, ngày 27-9-1995, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, “Về chăm sóc người cao tuổi”, và ban hành chỉ thị mới về bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của NCT trong tình hình mới.

Hai là, Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi; Chính phủ sớm ban hành chính sách về người cao tuổi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Ba là, các cơ quan truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền về vai trò của NCT và hội NCT; các cấp ủy, chính quyền địa phương cần nâng cao nhận thức, tư tưởng về vị trí, vai trò và sự đóng góp của NCT và tổ chức hội NCT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 232
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 12, tr. 691
(3) Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-ix/nghi-quyet-so-23-nqtw-ngay-1232003-hoi-nghi-lan-thu-bay-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-ve-phat-huy-suc-manh-dai-656
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 170

VIỆT NAM YÊU CẦU BỎ THÔNG TIN SAI SỰ THẬT TRONG PHIM TÀI LIỆU VỀ MÁY BAY MH370!

     Chiều 6/4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi liên quan đến thông tin bộ phim tài liệu “MH370: Chiếc máy bay biến mất” được chiếu trên Netflix có nội dung không chính xác, cho rằng Việt Nam không hợp tác trong việc hỗ trợ tìm kiếm MH370!
     Theo đó, Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ: Ngay sau khi xảy ra vụ việc máy bay MH370 của Hãng Hàng không Malaysia Airlines bị mất tích, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã khẩn trương, chủ động lên các phương án ứng phó, tích cực chia sẻ thông tin và phối hợp với phía Malaysia cũng như các quốc gia mong muốn triển khai tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên quy mô lớn, đồng thời hỗ trợ phóng viên nước ngoài tham gia đưa tin.

Những nỗ lực của Việt Nam vào thời điểm đó đã được cộng đồng quốc tế và dư luận báo chí trong và ngoài nước ghi nhận. Cho tới nay, các cơ quan chức năng chưa hề đưa ra bất cứ một kết luận nào về vụ việc mất tích của máy bay MH370.

Do đó, bộ phim tài liệu “MH370, chiếc máy bay biến mất” đưa ra những nhận định khi chưa có kết luận chính thức của các cơ quan chức năng là sai sự thật, không có cơ sở, không phản ánh đúng nỗ lực của các cơ quan chức năng của Việt Nam và khiến dư luận Việt Nam bất bình.

Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nhấn mạnh yêu cầu công ty sản xuất và nhà làm phim phản ánh chính xác những đóng góp của Việt Nam trong công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn máy bay MH370 của Malaysia và gỡ bỏ, sửa đổi những nội dung không phù hợp.
Nguồn: TTXVN./.
Yêu nước ST.

MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN CHIẾN ĐẤU NĂM 2023!

     Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh thực hiện khâu đột phá nâng cao chất lượng công tác huấn luyện. Trong đó, xác định những nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt trong thực hiện công tác này là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội!
Năm 2022, toàn quân quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, “năm triển khai kế hoạch điều chỉnh lực lượng”, xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, v.v. Mặc dù là năm triển khai nhiều nhiệm vụ lớn, xuyên suốt; chịu sự tác động sâu sắc của tình hình thế giới, khu vực cùng hậu quả của dịch Covid-19, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cùng sự nỗ lực cao của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, toàn quân đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ; trong đó, nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Các đơn vị đã đẩy mạnh đột phá vào đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu, đạt kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng nâng cao sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Năm 2023, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo tiềm ẩn nhiều nguy cơ; các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống diễn biến khó lường. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước, toàn quân triển khai thực hiện toàn diện các mặt công tác quân sự, quốc phòng theo yêu cầu, nhiệm vụ mới; đặc biệt, là năm đầu triển khai Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, toàn quân, trước hết là cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chủ động, sáng tạo, triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp, tạo bước đột phá quan trọng về nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu.

1. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành huấn luyện của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan các cấp. Trên cơ sở nắm chắc đường lối chính trị, quân sự của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tập trung quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, giải pháp về công tác huấn luyện mà Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW đã xác định. Đặc biệt là: tổ chức huấn luyện toàn diện, sát với yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn vị, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào lực lượng làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, lực lượng mới thành lập; lấy huấn luyện Lục quân làm trung tâm, tác chiến trên bộ làm nòng cốt; lấy nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân làm mục tiêu cao nhất để giáo dục, huấn luyện bộ đội, v.v. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp rà soát, xây dựng nghị quyết chuyên đề về công tác huấn luyện, cụ thể hóa bằng những mục tiêu, giải pháp theo tư duy mới về công tác quân sự, quốc phòng của Đảng và yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, sát với đặc điểm, nhiệm vụ đơn vị mình. Trong đó, chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới nội dung, phương pháp huấn luyện đáp ứng yêu cầu mới; lấy huấn luyện chiến đấu trong bối cảnh chiến tranh hiện đại làm điều kiện và môi trường để rèn luyện bộ đội một cách toàn diện.

Tiếp tục thực hiện cơ chế quản lý, điều hành huấn luyện “tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không chồng chéo” theo hướng phân rõ trách nhiệm từng ngành, từng cấp; phát huy cao độ vai trò của cơ quan chức năng trong việc tham mưu, hướng dẫn, tổ chức, phối hợp, hiệp đồng thực hiện, v.v. Quá trình triển khai phải đảm bảo khoa học, đúng tiến độ, sát yêu cầu, nhiệm vụ, địa bàn tác chiến. Trước mắt, các đơn vị trong toàn quân cần quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng của Tổng Tham mưu trưởng, hướng dẫn của cơ quan chức năng về huấn luyện chiến đấu năm 2023, bảo đảm phù hợp đặc điểm, nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của đơn vị và yêu cầu tác chiến mới. Trong đó, phải bám sát yêu cầu huấn luyện toàn diện, đồng bộ, nhưng cần xác định rõ nhiệm vụ, nội dung trọng tâm, trọng điểm để tập trung cả về lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đạt kết quả cao nhất. Đồng thời, tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng các hình thức tổ chức, phương pháp kiểm tra, phúc tra huấn luyện. Trong kiểm tra thường xuyên và đột xuất, phải bảo đảm tính toàn diện, song chú trọng vào những đơn vị còn yếu, nội dung hạn chế, đơn vị mới thành lập, đơn vị biên chế mới; phúc tra đơn vị huấn luyện giỏi, đơn vị huấn luyện thể lực giỏi, v.v. Quá trình thực hiện, cần tích cực vận dụng khoa học, công nghệ vào công tác quản lý, điều hành, kiểm tra; có biện pháp hiệu quả khắc phục dứt điểm những biểu hiện chủ quan, khoán trắng cho cấp dưới, bớt xén thời gian, nội dung, hoặc hạ thấp chỉ tiêu, yêu cầu huấn luyện; kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện phô trương, hình thức, chạy theo thành tích.

2. Quyết liệt, chủ động đổi mới nội dung và phương pháp huấn luyện theo hướng chặt chẽ, khoa học, đồng bộ, có trọng điểm, chuyên sâu, sát thực tiễn. Bám sát chương trình huấn luyện cơ bản của Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị chú trọng kết hợp giáo dục chính trị với huấn luyện quân sự; huấn luyện kỹ thuật với chiến thuật, lý luận với thực hành, truyền thống với hiện đại; rèn luyện bộ đội toàn diện cả kỹ năng chiến đấu, thể lực và kỷ luật, v.v. Những vấn đề này cần được lồng ghép một cách khoa học cả trong chương trình, nội dung, phương pháp tổ chức huấn luyện. Các đơn vị khung thường trực, ngoài nội dung quy định trong chương trình huấn luyện cơ bản, cần chú trọng bồi dưỡng về tổ chức, phương pháp huấn luyện, thông qua giáo án và xây dựng kế hoạch, tiến trình biểu huấn luyện cho đơn vị.

Nội dung huấn luyện, cần có sự đổi mới mạnh mẽ, phù hợp với từng đối tượng; trong đó, phải lấy huấn luyện cán bộ làm then chốt, bảo đảm nắm vững tổ chức biên chế, trang bị, đặc điểm tác chiến, âm mưu, thủ đoạn, cách đánh,... của đối tượng tác chiến; âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, khủng bố của các thế lực thù địch. Đồng thời, nắm chắc, vận dụng linh hoạt nghệ thuật quân sự Việt Nam; phải giỏi thực hành, quản lý, điều hành huấn luyện cấp mình và biết cấp trên; tham mưu đúng, trúng, phù hợp về công tác huấn luyện. Đối với các đơn vị binh chủng hợp thành, lấy tiêu chí giỏi cả kỹ thuật và chiến thuật, giỏi tác chiến độc lập, tác chiến trong đội hình cấp trên, hiệp đồng tác chiến với các quân chủng, binh chủng, lực lượng vũ trang trên địa bàn theo từng quy mô, hình thức tác chiến khác nhau làm mục tiêu huấn luyện. Đối với đơn vị quân chủng, Bộ đội Biên phòng, binh chủng, ngành, huấn luyện nắm chắc chiến thuật binh chủng hợp thành và giỏi chiến thuật, kỹ thuật quân chủng, binh chủng, ngành. Đặc biệt, các đơn vị cần chú trọng thực hiện đúng quy định về huấn luyện đêm, các nội dung phục vụ cho chiến đấu ban đêm đều phải được huấn luyện đêm, bảo đảm sát từng nội dung, đối tượng, tập trung vào luyện tập, hợp luyện để đưa bộ đội vào sát thực tế chiến đấu. Đồng thời, tập trung huấn luyện cơ động đường dài, trong môi trường khắc nghiệt, di chuyển, dịch chuyển trong thời gian ngắn, ngụy trang, nghi trang trên mọi địa hình,... nâng cao khả năng hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới. Từ đó, vận dụng sáng tạo vào tổ chức diễn tập; chú trọng tập trung cho diễn tập vòng tổng hợp, hiệp đồng quân, binh chủng trên địa bàn và trong khu vực phòng thủ, diễn tập đối kháng, thực binh có bắn đạn thật, diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập trong điều kiện thời gian tổ chức chuẩn bị ngắn.

Về phương pháp huấn luyện, các đơn vị phải tiến hành đúng quy trình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ phân đoạn đến tổng hợp, từ cơ bản đến nâng cao; trên cơ sở đó, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp từng đối tượng, lấy hiệu quả làm mục đích. Trong đó, phải tổ chức cho bộ đội xem phim huấn luyện hoặc huấn luyện trên thiết bị mô phỏng trước khi bước vào huấn luyện cơ bản để bộ đội nắm được khái quát, có cái nhìn tổng thể, làm cơ sở thực hiện hiệu quả các bước huấn luyện cơ bản.

3. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hội thi, hội thao, bảo đảm huấn luyện. Các cơ quan, đơn vị tiếp tục đẩy mạnh tổ chức hội thi, hội thao huấn luyện ở từng cấp với nội dung, hình thức phù hợp. Quá trình thực hiện phải chú trọng yếu tố thiết thực, hiệu quả; tập trung vào các nội dung quan trọng, yếu, thiếu và các vấn đề cần thống nhất; bảo đảm thực sự khách quan, phản ánh đúng thực tế; rút kinh nghiệm kịp thời; triển khai nhân rộng phương pháp hay, mô hình huấn luyện tốt vào thực tiễn; khắc phục triệt để hiện tượng chạy theo thành tích, đầu tư cho hội thi, hội thao nhưng lại sao nhãng huấn luyện đơn vị. Cơ quan chức năng các cấp cần có kế hoạch cụ thể, khoa học trong phối hợp với từng đơn vị về công tác chuẩn bị, thực hành huấn luyện, tổ chức hội thi, hội thao toàn quân, quốc gia và quốc tế, bảo đảm chặt chẽ, chất lượng, an toàn. Đặc biệt chú trọng Hội thi bắn súng Lục quân Australia - AASAM 2023; SEA GAMES - 32; Giải Bắn súng quân dụng Lục quân quân đội các nước ASEAN (AARM - 31); Giải Bóng chuyền các nước ASEAN; Giải Vật, Judo, Teakwondo, Bắn súng, Marathon do CIMS tổ chức; Giải Võ chiến đấu tay không, bóng đá, bóng chuyền toàn quân; Giải Vô địch điền kinh quốc gia năm 2023.

Trong bảo đảm huấn luyện, các đơn vị phải chuẩn bị đầy đủ, chu đáo, toàn diện, chất lượng các mặt bảo đảm, như: kế hoạch, giáo án, vật chất, mô hình học cụ, trường bắn, thao trường, v.v. Để đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài, các đơn vị, cơ quan chức năng cần có kế hoạch, quy trình chặt chẽ nhưng phải khẩn trương trong việc thẩm định quy hoạch hệ thống trường bắn và các công trình, trung tâm huấn luyện giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 báo cáo Bộ Quốc phòng phê duyệt. Tiếp tục nghiên cứu biên soạn, chỉnh lý, bổ sung hệ thống tài liệu; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng vào huấn luyện cơ bản, diễn tập đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Đặc biệt, toàn quân cần thống nhất quan điểm: thực hiện nghiêm các quy định an toàn về thao trường, trường bắn, nếu chưa an toàn thì kiên quyết không tổ chức huấn luyện, diễn tập. Đồng thời, có nhiều biện pháp tổ chức huấn luyện, kiểm tra, diễn tập xoay vòng, khai thác hết công năng, cũng như phối hợp với các đơn vị bạn, địa phương,... để khắc phục điều kiện hạn chế về thao trường.

Huấn luyện chiến đấu luôn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm; các đơn vị trong toàn quân cần tiến hành toàn diện, đồng bộ, đúng quy định, linh hoạt, sáng tạo, có trọng tâm, trọng điểm, lấy tiêu chí không ngừng nâng cao chất lượng làm mục tiêu quan trọng nhất trong tổ chức thực hiện.
Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân./.




Yêu nước ST.

“BUÔNG LỎNG LÃNH ĐẠO”, “ĐÁNH TRỐNG BỎ DÙI” TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN!

     Nghị quyết dù hay đến mấy, nhưng nếu công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện bị xem nhẹ, hoặc thiếu tính kế hoạch, thiếu quyết tâm, thì cái “hay” ấy cũng chẳng để làm gì. Trong khi đó, thời gian qua, nhiều tổ chức đảng vẫn chưa thật coi trọng công việc hệ trọng này.

Nặng việc ban hành,
nhẹ việc triển khai
Trong không ít chuyến công tác về cơ sở, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ ý đặt câu hỏi với đồng chí bí thư cấp ủy ở một số địa phương: "Kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ ở đảng bộ ta đạt đến đâu rồi? Có hoàn thành chỉ tiêu nghị quyết theo đúng lộ trình, tiến độ không?". Trả lời những câu hỏi ấy, nhiều đồng chí bí thư cấp ủy hồn nhiên: “Đảng bộ địa phương chưa tiến hành công tác tổng kết nên cũng chưa nắm được cụ thể!”.

Nghe vậy, Tổng Bí thư nghiêm túc phê bình và nhắc nhở, việc ban hành nghị quyết là quan trọng, nhưng lãnh đạo triển khai còn quan trọng hơn. Nghị quyết chỉ có giá trị khi và chỉ khi các chủ trương, giải pháp được xác định trong nghị quyết trở thành hành động cách mạng của cán bộ, đảng viên, nhân dân và đi vào thực tiễn đời sống xã hội.

Câu chuyện xem nhẹ, buông lỏng việc lãnh đạo thực hiện nghị quyết xem ra đang là vấn đề rất nghiêm trọng. Đó là việc người đứng đầu tổ chức đảng không biết rõ nghị quyết đã triển khai thực hiện đạt kết quả đến mức nào. Có nghĩa, các tổ chức cơ sở đảng cứ mặc nhiên triển khai nghị quyết mà chưa thật quan tâm đến công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện nghị quyết. Nhiều nơi có lối nghĩ rằng, nghị quyết lãnh đạo năm thì đến cuối năm tổng kết, nghị quyết nhiệm kỳ thì đến cuối nhiệm kỳ mới soi lại, đánh giá tổng quan; có hướng dẫn thì mới sơ kết nửa nhiệm kỳ hoặc làm theo yêu cầu của cấp trên.

Nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã thực hiện điều tra xã hội học ở 23 đảng bộ cấp xã, phường, thị trấn của 3 tỉnh khu vực Tây Bắc. Kết quả khảo sát mang đến những băn khoăn, lo ngại. Theo đó, người đứng đầu và cấp ủy khẳng định là có triển khai nghị quyết, nhưng phần đa đảng viên chỉ biết và nắm mơ hồ về nội dung; thậm chí không rõ tên nghị quyết. Hơn 92% số lượng đảng viên được khảo sát cho rằng, vì cấp trên yêu cầu học quá nhiều nghị quyết nên chỉ để tâm tới những nghị quyết liên quan đến thực tế địa phương và cương vị, chức trách công tác. 96% cho rằng, không nên để tình trạng nghị quyết lãnh đạo về phát triển kinh tế biển lại yêu cầu cán bộ ở khu vực miền núi tổ chức học tập... Như vậy, nguyên nhân của việc “thả trôi” nghị quyết có tác động từ nhiều yếu tố, chứ không đơn thuần thuộc trách nhiệm của tổ chức đảng ở cơ sở.

Việc không quan tâm đến công tác lãnh đạo triển khai nghị quyết là một thực tế rất đáng báo động. Đó chẳng khác nào tổ chức đảng “vứt” hàng loạt chủ trương, giải pháp, chỉ tiêu vào thực tiễn, rồi để nó tự vận động, tự trôi dạt, mà thiếu theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung. Thành thử, qua năm tháng, các chỉ tiêu nghị quyết đạt được đến đâu, chỉ tiêu nào đã hoàn thành sớm, kinh nghiệm lãnh đạo hoàn thành; chỉ tiêu nào khó đạt được, cần tập trung sức lãnh đạo; hay những vấn đề cần điều chỉnh, bổ sung, thay đổi trong quá trình thực hiện nghị quyết... thì chính tổ chức đảng triển khai lại không nắm bắt được. Cũng vì thế mà sinh ra tắc trách, mất thời cơ lãnh đạo hoàn thành các chỉ tiêu nghị quyết; tạo sự ngắt quãng trong công tác vận hành lãnh đạo của hệ thống tổ chức đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “... Mệnh lệnh và nghị quyết cũng như mạch máu. Mạch máu chạy đều khắp thân thể thì người mạnh khỏe. Mạch máu dừng lại đâu, không chạy thì chỗ đó sẽ tê liệt, sinh bệnh. Mệnh lệnh và nghị quyết đi mau, đi suốt từ trên đến dưới, công tác mau chóng, việc gì cũng xong xuôi. Nó ngừng lại cấp nào, từ cấp đó trở xuống là tê liệt”.

Thực trạng trên khiến không ít nghị quyết với nhiều chỉ tiêu “đẹp” và mỹ từ, có cả những nghị quyết rất đúng và hay nhưng chậm đi vào cuộc sống, ít trở thành hiện thực sinh động, chưa tạo ra được nhiều của cải vật chất và văn hóa, mang lại hạnh phúc và giàu có cho nhân dân... PGS, TS Đỗ Duy Môn, Học viện Chính trị nêu nhận định: “Đây chính là một nguyên nhân quan trọng khiến nghị quyết của Đảng khó đi vào cuộc sống, khó dẫn dắt, soi đường cho thực tiễn. Và đây cũng chính là lý do dẫn đến thực tế, dù rằng nghị quyết rất hay, nhưng triển khai thực hiện lại gay trăm bề”.

Một cách làm có thể tham khảo ở Đảng bộ tỉnh Yên Bái là Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc phải luôn làm tốt công tác đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được nghị quyết xác định qua từng giai đoạn. Theo đó, dù nghị quyết nhiệm kỳ, nghị quyết chuyên đề hay nghị quyết hằng năm thì vào bất kỳ thời điểm nào, những người có trách nhiệm buộc phải nắm chắc thực trạng, kết quả thực hiện cả định tính và định lượng. Đồng chí Đỗ Đức Duy, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khẳng định: “Nếu không chủ động chỉ đạo, yêu cầu các cơ quan chức năng báo cáo tiến độ, kết quả hoàn thành qua từng tháng, quý, thì việc đánh giá kết quả triển khai nghị quyết rất khó lượng hóa. Vì có nhiều nghị quyết, mà cứ để nó trôi đi, thì không tài nào hình dung được chủ trương đang ở đâu, đạt đến mức nào, kết quả ra sao”.

Như vậy, triển khai nghị quyết phải đi liền với lãnh đạo tổ chức thực hiện một cách tích cực, khẩn trương, thường xuyên, liên tục trên thực tế. Cũng qua đó mà có thêm điều kiện phát hiện hạn chế, yếu kém, kịp thời điều chỉnh, bổ sung phương thức, phương pháp lãnh đạo. Còn nếu “bỏ ngỏ”, thiếu quan tâm đến công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện nghị quyết thì dễ dẫn đến tình trạng “sai một ly, đi một dặm”, thậm chí bị mất phương hướng lãnh đạo, xa rời chủ trương và giải pháp căn bản; sinh ra sự tự phát, thiếu tính khoa học, thiếu bài bản ở tổ chức đảng cấp dưới, rồi manh nha tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên trải thảm, dưới rải đinh”, hoặc biểu hiện “đánh trống bỏ dùi”...

Băn khoăn những
“nghị quyết 0 đồng”
“Nghị quyết 0 đồng” là cách nói vui của nhiều cán bộ địa phương để phản ánh tình trạng: Có nghị quyết nhưng không có nguồn lực, nhân lực triển khai, nên dù nội dung nghị quyết có hay, có đúng thì việc triển khai rất ì ạch, thậm chí kết quả thu về chỉ là con số không. Đây cũng là thực trạng chung đối với hệ thống nghị quyết các cấp, kể cả ở cấp Trung ương; cả nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và mặt trận đoàn thể. Bởi thế, trong tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết thì phần nguyên nhân của hạn chế bao giờ cũng đưa ra một nhận định quen thuộc: Còn thiếu nguồn lực tổ chức thực hiện nghị quyết; do đó, giải pháp kế tiếp luôn vạch rõ: Tập trung mọi nguồn lực để triển khai kịp thời, hiệu quả các chủ trương của nghị quyết trong thời gian tới. Vì thế mới đây, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới” chỉ rõ: Khắc phục tình trạng ban hành văn bản không sát với thực tiễn, thiếu nguồn lực tổ chức thực hiện.

Rõ ràng, Trung ương và các cấp đã nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của nguồn lực trong tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết. Thế nhưng, đến thời điểm hiện tại, lời giải cho bài toán: Bố trí, cân đối, phát huy nguồn lực triển khai thực hiện nghị quyết vẫn là “một ẩn số” và chưa có định khuôn về chế tài, pháp lý để hiện thực hóa. Thành thử, ở nhiều tổ chức đảng, cơ quan, ban, ngành, địa phương khác nhau thì việc bố trí nguồn lực khác nhau đối với việc triển khai thực hiện một nghị quyết cụ thể.

Kết quả khảo sát 23 đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn 3 tỉnh khu vực Tây Nguyên cho thấy: Các tổ chức đảng chưa xác định rõ nguồn lực thực hiện nghị quyết bao gồm những nhân tố, yếu tố, thành tố nào? Chưa phân biệt đầy đủ sự khác nhau giữa nghị quyết của Đảng với nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Chính phủ...; giữa nghị quyết lãnh đạo với các kết luận, chỉ thị, văn bản khác của Đảng. Nhiều nơi chỉ mường tượng nhân lực thực hiện nghị quyết là sự lãnh đạo của cấp ủy, phân công cấp ủy viên phụ trách, rồi kêu gọi toàn thể đảng viên nêu cao trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Đây là tư duy, cách nghĩ hoàn toàn sai lệch. Nguồn nhân lực để nghị quyết lãnh đạo không chỉ đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, tập thể cấp ủy, người được phân công phụ trách, mà đó còn là việc gắn trách nhiệm đối với từng cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Triển khai thực hiện nghị quyết hoàn toàn không phải là nhiệm vụ của riêng tổ chức đảng, mà cần sự tham gia, phát huy đầy đủ vai trò, chức năng của từng tổ chức trong hệ thống chính trị.

Một nguồn lực quan trọng nữa là kinh phí phục vụ việc xây dựng, lãnh đạo thực hiện nghị quyết. Thực tế cho thấy, ở nhiều nơi, cơ quan chức năng chưa thật quan tâm đến vấn đề này, cứ triển khai nghị quyết, dồn mọi chủ trương đổ về cơ sở, “khoán” cho cơ sở thực hiện mà chưa tính toán kỹ các nguồn lực tài chính bảo đảm cho cơ sở hoàn thành nhiệm vụ. Thế mới có chuyện, cơ sở rất ngại, rất lo phải lãnh đạo thực hiện các “nghị quyết 0 đồng”, vì không có, không đủ nguồn lực để hiện thực hóa các chủ trương, mục tiêu của nghị quyết. Đồng chí Lê Anh Tân, Phó chủ tịch UBND TP Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) thẳng thắn: “Không có kinh phí thì không thể làm được gì cả, chứ nói gì đến việc triển khai nghị quyết bằng “hai bàn tay trắng” và sự kêu gọi, hô hào chung chung”.

Thực tế này được các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước thẳng thắn nhận diện, đề cập ở nhiều diễn đàn chính trị. Có ý kiến cho rằng, việc phân bổ nguồn lực cho lĩnh vực xây dựng Đảng còn quá khiêm tốn so với lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực khác. Một khi thiếu nguồn lực, không bảo đảm nguồn lực thì không thể hô hào suông, rằng: Công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, là việc gốc của Đảng được.

Tương tự, nguồn lực cho việc thực hiện nghị quyết của một số tổ chức đảng hiện nay vẫn chỉ mới vận hành theo lối “cầu may”. Có nơi đề cao trách nhiệm thì chủ động phân bổ, cân đối nguồn lực; có nơi lại “cấu véo” kinh phí từ những lĩnh vực khác để “nhường” cho phần việc hệ trọng của Đảng; có nơi lại “lực bất tòng tâm”, vì không thể hoặc không biết huy động nguồn lực từ đâu, ở đâu và bằng cách nào.

Để không còn những “nghị quyết 0 đồng”, cùng với việc làm tốt công tác tổ chức học tập, quán triệt, thì mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải chủ động làm tốt việc xác định nguồn lực trong thực hiện nghị quyết. Một cách làm khá sáng tạo, nhằm góp phần “đong, đo, đếm” được nguồn lực để nghị quyết đi vào cuộc sống tại Đảng bộ TP Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) là chủ động, kiên quyết vận hành tròn khâu trong quy trình ban hành nghị quyết. Ví như, trước khi ban hành nghị quyết lãnh đạo xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, Ban Thường vụ Thành ủy giao UBND thành phố xây dựng dự thảo đề án, trong đó xác định rõ nguồn lực lãnh đạo tổ chức thực hiện. Khi dự thảo đề án hoàn thành, Ban Thường vụ Thành ủy nghe UBND thành phố báo cáo, trên cơ sở đó chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục bổ sung, hoàn thiện; tiếp đó mới tiến hành họp, quyết nghị ban hành nghị quyết. Làm như vậy sẽ giúp nghị quyết khi được xây dựng có tính khả thi rất cao, vừa xác định đúng vấn đề lãnh đạo, vừa có nguồn lực thực hiện. Mặt khác, khi nghị quyết ra đời, UBND thành phố lại đảm nhiệm trọng trách là cơ quan trung tâm tổ chức thực hiện. Trên cơ sở dự thảo đề án đã có, UBND thành phố tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, ban hành đề án. Đây là căn cứ, cơ sở vững chắc để cụ thể hóa, hiện thực hóa nghị quyết lãnh đạo của tổ chức đảng.

Đồng chí Nguyễn Hoài Nam, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Vĩnh Yên, khẳng định: “Cách vận hành giao nhiệm vụ cụ thể như vậy bảo đảm nghị quyết được xây dựng tròn khâu, bài bản, sát thực tế. Đó cũng là cách tạo nguồn lực cho nghị quyết; bảo đảm mọi chủ trương khi được ban hành tất yếu sẽ đi vào cuộc sống”.

“Muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo, về sau khuyết điểm nhất định bớt đi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh).

“Tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nghiên cứu, học tập quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị, địa phương; tập trung nghiên cứu, thể chế thành luật và các văn bản dưới luật; xây dựng các quy định, quy chế của Đảng; tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thực hiện” (Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”).
Theo Báo QDND./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NƯỚC CÓ QUỐC PHÁP, NHÀ CÓ GIA QUY! CHỚ CÓ NGÔNG CUỒNG!

     Ngày 07/04, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Khanh Hòa có văn bản số 1130 gửi Công ty cổ phần sự kiện Peak (địa chỉ tại Quận 3, TP. Hồ Chí Minh) về việc dừng tổ chức sự kiện bơi lội -quốc tế tại Khánh Hòa (KÈM) Thể hiện rõ ràng quan điểm và thái độ dứt khoát đối với những ai đang có ý định ngông cuồng tại Việt Nam.
      'Giải bơi biển Quốc tế The Arena Oceanman Cam Ranh Việt Nam 2023' dự kiến diễn ra từ ngày 14-16/4, tại bãi biển The Arena Cam Ranh, Khu du lịch Bãi Dài, TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là giải thi đấu lần đầu được tổ chức tại Việt Nam, thu hút hơn 850 vận động viên trong và ngoài nước tham dự...

Tuy nhiên, mọi chuyện đang êm đẹp thì xuất hiện cái gọi là “Bản cam kết dành riêng cho các vận động viên Nga, Belarus” mà ban tổ chức gửi cho các vận động viên của hai quốc gia này. Nội dung cam kết: "các vận động viên của Nga và Belarus phải lên án chính phủ của họ đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine( ?) nếu không thì sẽ bị tước quyền thi đấu hoặc phải thi đấu với tư cách một cá nhân." 
    Tất nhiên là ai cũng phải chọn Tổ quốc của mình và phải bỏ thi đấu! Không hiểu từ khi nào mà một giải thi đấu thể thao lại bị yếu tố chính trị chi phối như vậy? Điều đó không được xảy ra ở bất cứ đâu! Nhất là với tình hình của thế giới hiện rất cần sự đoàn kết hơn bao giờ hết. Quan điểm của Việt Nam là không cho phép điều đó xảy ra; bởi chưa bao giờ Việt Nam ngừng kêu gọi đối thoại hòa bình và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Việc lùm xùm về chính trị chưa được giải quyết thì ban tổ chức lại thêm việc đăng tải bản đồ Việt Nam không có chú thích quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.??
Thật ngông cuồng! UBND tỉnh chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao cho dừng tổ chức sự kiện “Giải bơi biển quốc tế The Arena Oceanman Cam Ranh- Việt Nam năm 2023”. Lý do là vi phạm Luật Thể dục, thể thao, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao năm 2018 và các quy định khác có liên quan.
Công an Khánh Hòa cũng đã ra quyết định xử phạt Công ty CP sự kiện Peak 25 triệu đồng vì hành vi đăng, phát, sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam không thể hiện đầy đủ hoặc thể hiện sai chủ quyền quốc gia quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 99 Nghị định 14/2022 của Chính phủ. Bên cạnh đó, Công an tỉnh Khánh Hòa cũng buộc Công ty CP sự kiện Peak phải đăng tải thông tin về việc vi phạm hành chính, đính chính, xin lỗi các hành vi đã vi phạm trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận quyết định.
Đây là hành động rất rõ ràng và dứt khoát thể hiện quan điểm và lập trường của Việt Nam về chính trị và chủ quyền lãnh thổ. 
Việt Nam rất hiếu khách nhưng đừng ỷ lại như vậy mà ngông cuồng!!




Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 10 THÁNG 4 NĂM 1954!

     “…Chi bộ là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chứ không phải là một tổ chức hành chính”!
     Đó là lời được trích trong bài viết 8 “Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Nhân Dân số 176 ra từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 4 năm 1954, nêu lên nhiệm vụ phát huy vai trò “chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan” để đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất thắng lợi.
     Nhận rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chi bộ theo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm cụ thể hóa và không ngừng bổ sung, phát triển chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng phù hợp với từng loại hình, qua các kỳ Đại hội. Điều 27, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII xác định: “Chi bộ là nơi trực tiếp nối liền Đảng với quần chúng, được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên. Chi bộ có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công và kiểm tra công tác của đảng viên, kết nạp đảng viên mới và thi hành kỷ luật đảng viên, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi đơn vị”.
     Với chức năng là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chi bộ phải có trách nhiệm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị; tiến hành tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông qua thực tiễn lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, chi bộ lắng nghe những kiến nghị, góp ý, phản ánh và tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng về đường lối, chính sách đã ban hành để Đảng nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách cho đúng đắn, phù hợp. Chi bộ tuyệt đối không làm thay, lấn sang các công việc điều hành, quản lý của chính quyền, của đoàn thể.
     Học tập và làm theo lời Bác dạy về phát huy đúng chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chi bộ trong Quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trọng tâm là chất lượng sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo; thực hiện quy chế dân chủ, công khai; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát... thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong cơ quan, đơn vị./.
Môi trường (Yn) ST.

VIỆT NAM-NHỮNG THÀNH TỰU TỰ HÀO!

     Trong thế giới đầy rẫy thông tin ngày nay, bất kỳ ai dù muốn hay không cũng phải công nhận Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế đứng thứ 40 thế giới và đang tăng trưởng với tốc độ nhanh hàng đầu thế giới, nhiều con đường, nhà cao tầng và những công trình được xây dựng khắp nơi, đời sống người dân ngày càng khấm khá.
     Thế nhưng bất chất những điều tốt đẹp đang có trên đất nước này, vẫn có một bộ phận thiểu số đang ngày ngày “bịt mắt, bịt tai” nói những điều khó nghe và tiêu cực. Đó là kẻ mắt chỉ thích nhìn màu đen nhưng muốn ai cũng phải nhìn thấy màu đen lệch lạc như mình. Những kẻ tư tưởng xấu xa, bẩn thỉu như vậy, luôn ẩn náu trong bóng tối, moi tìm những sai sót, những góc tối nào đó, để nuôi dưỡng cái tầm nhìn thiển cận, ác ý và hung hăng chống phá đất nước./.


Yêu nước ST.

Hậu quả của tự do dân chủ kiểu Mỹ

 

Xả súng tại thành phố Mỹ

Một kẻ xả súng tại trung tâm thành phố Louisville thuộc bang Kentucky, khiến nhiều người thương vong.

"Chúng tôi xác nhận có kẻ xả súng đang hiện diện ở phố East Main tại trung tâm thành phố. Có nhiều người thương vong tại hiện trường. Xin hãy tránh xa khu vực này", cảnh sát thành phố Louisville thuộc bang Kentucky của Mỹ thông báo trên Twitter sáng 10/4 (tối 10/4 theo giờ Hà Nội).

Chưa rõ tình trạng và danh tính nghi phạm, cũng như động cơ dẫn tới vụ xả súng.

Kênh CNN dẫn nguồn tin nói rằng ít nhất 6 người đã bị thương, trong đó có sĩ quan cảnh sát. Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) thông báo các đặc vụ đang ứng phó với tình Thống đốc Kentucky Andy Beshear thông báo đang di chuyển tới hiện trường, kêu gọi người dân cầu nguyện cho những gia đình bị ảnh hưởng. Hàng loạt xe cảnh sát, cứu thương và cứu hỏa đang tập trung gần khu phố xảy ra xả súng.

Louisville là thành phố lớn nhất tại bang Kentucky, có dân số hơn 625.000 người.

Son PB

“Buông lỏng lãnh đạo”, “đánh trống bỏ dùi” trong triển khai thực hiện

 

Nghị quyết dù hay đến mấy, nhưng nếu công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện bị xem nhẹ, hoặc thiếu tính kế hoạch, thiếu quyết tâm, thì cái “hay” ấy cũng chẳng để làm gì. Trong khi đó, thời gian qua, nhiều tổ chức đảng vẫn chưa thật coi trọng công việc hệ trọng này.

Sính hoành tráng nhưng thiếu trách nhiệm

 

Quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, những hạn chế trong triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng đã được Trung ương Đảng nhận thức đầy đủ.

Nghị quyết hay bị “đắp chiếu”

 

Với tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, sau 15 thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 30-7-2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, mới đây, Đảng ta đã chỉ rõ hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đó là: “Chậm khắc phục tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế”.

Lại một kiểu tự do Mỹ

 Los Angeles hứng chỉ trích vì bật nhạc âm lượng lớn để khiến người vô gia cư không thể nán lại lâu ở ga tàu, bị cho là động thái "tra tấn tâm lý".

KIÊN TRÌ ĐỔI MỚI, TIẾP TỤC ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 



Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và tiến lên thực hiện cách mạng xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho mọi hành động và luôn xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, liên quan đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

GIÁO SƯ TRẦN ĐẠI NGHĨA

Giáo sư, Viện sỹ Trần Đại Nghĩa, người có hồ sơ trai anime, đủ gọi Tony Stark là con ngan con (Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, kỹ sư quân giới, kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện, kỹ sư hàng không, cử nhân khoa học tại 5 trường đại học Pháp, Cục trưởng Quân giới...), lại có tính tình khá là ngốc nghêk làm cả vợ con lẫn đồng nghiệp bất lực:


- "Cụ Nghĩa nhà ta" khi làm Cục trưởng Quân giới bị cô quân y Nguyễn Thị Khánh miêu tả là "quần áo lôi thôi, úi xùi, tóc chẳng bao giờ chải, cặp kính dày cộp trên mặt...". Sau này về làm vợ chồng thị lại bị vợ tả là "đầu có lúc nào cũng s.ú.n.g với đ.ạ.n, chẳng quan tâm gì xung quanh, cả tuần không tắm, giày thì để cóc ở, quần áo thì tơi tả". 


Bác Hồ từng phải bất lực kêu: "Thím Nghĩa đâu mà để chú Nghĩa ra nông nỗi này?"


- Cụ Nghĩa lơ đễnh đề xuất cắm cọc nhọn quanh cơ quan để chống lính Pháp nhảy dù. Chưa chọc được thằng lính Pháp nào thì cụ tự va trúng cọc ngã...


- Vì lớn tuổi rồi mà chưa vợ con gì, "cụ Nghĩa nhà ta" được tổ chức mai mối cho cô Khánh. Cụ Nghĩa bèn vác sách vở đến chỗ cô Khánh làm việc 2 hôm giời mà chẳng dám nói gì. Cô Khánh tức quá đành chủ động hỏi trước, thế là cụ Nghĩa nhà ta mới có vợ.


- Ở chiến khu ai cũng sợ đi qua phòng cụ Nghĩa, tại vì phòng chứa đầy thuốc nổ đủ loại, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang bao tải thuốc nổ, trên mặt bàn làm việc la liệt các loại đạn Bazooka. Đã thế ông này lại có thói quen... hút thuốc mỗi lúc tư duy, các cụ độ còng lưng mới còn nguyên vẹn như vậy.


- Có lần cụ Nghĩa nhà ta đi tắm suối nửa ngày chưa về, làm cả cơ quan phải đi tìm. Ra đến suối thấy cụ đang ngồi trên tảng đá viết đầy công thức ngoằn ngoèo. 


- Cụ Nghĩa được vợ nhờ trông con hộ. Vợ cụ về đến nơi thấy đứa nào cũng mặt mũi lem nhem còn ba thì đang ngồi đọc sách. Cụ gọi đó là "trông con kiểu tự do sáng tạo".

YÊU NƯỚC TỪ NHỮNG THÔNG TIN TÍCH CỰC

 "Nếu mỗi một cán bộ, Đảng viên dùng smartphone, Facebook mỗi ngày chủ động chia sẻ cho nhau một bài báo hay, một clip tốt, viết một bình luận tích cực, tìm kiếm một thông tin tốt đẹp, gửi đi thông điệp hay thì đã góp phần làm cho công tác tư tưởng tốt hơn. Chúng ta cứ ngồi than thở là thông tin trên mạng xấu, độc, cái đó đúng, nhưng cũng phản ánh thực trạng là toàn đi tìm thông tin xấu, độc để đọc. Bởi Facebook, YouTube có thuật toán cung cấp thông tin theo gợi ý thói quen tìm kiếm thông tin của người sử dụng”. Trích phát biểu chỉ đạo của Tân CTN Võ Văn Thưởng từ khi Ông còn làm Trưởng Ban Tuyên giáo Trung Ương. 


Khi tham gia MXH chúng ta hãy tích cực chia sẻ những thông tin đáng tin cậy từ những tờ báo chính thống, những câu chuyện đẹp với phương châm “Lấy cái đẹp đè bẹp cái xấu”, nhằm tạo ra xu hướng tích cực trên mạng xã hội. Cá nhân mỗi người khi được  tiếp nhận nhiều thông tin tốt, hình ảnh và câu chuyện đẹp sẽ giúp con người ghi sâu vào tâm trí, qua đó định hướng được nhận thức và thay đổi hành vi của mình theo hướng tích cực như những gì đã được tiếp nhận. 


MXH có sức Lan tỏa khủng khiếp, nên mỗi hành động mỗi hình ảnh, mỗi bài viết đều ảnh hưởng đến xã hội, chúng ta  cần phải thận trọng hơn cả cuộc sống ngoài đời, phải là người có trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng. Biết tôn trọng nhân phẩm, danh dự, quyền lợi của người khác, ứng xử nhân văn, phù hợp để không làm tổn thương đến mình và những người sử dụng khác. 


Tham gia MXH không những cần kỹ năng, kiến thức mà còn cần đạo đức và trách nhiệm xã hội. Muốn xã hội văn minh thì dùng mạng phải văn hoá, đấu tranh phải đúng cách, đừng nặng đầu óc bè phái, định kiến Trước thông tin ồ ạt, nhiễu loan đa dạng phức tạp trên KGM đòi hỏi người dùng phải tỉnh táo để suy xét, nhìn nhận và lý giải thấu đáo trước khi quyết định like, chia sẻ, bình luận hay đăng tải Video .

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: CHẾ TẠO TÀU PHÁ THỦY LÔI


Đầu năm 1967, đế quốc Mỹ cho không quân, hải quân thả thủy lôi phong tỏa hầu hết các cửa sông, hải cảng trên miền Bắc nhằm ngăn chặn quân ta vận chuyển vũ khí, hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam.


Thủy lôi địch thả ngày càng nhiều làm cho tàu, thuyền của ta bị tổn thất nghiêm trọng. Trong khi đó, các phương tiện phá thủy lôi của ta hầu như chưa có gì ngoài mấy chiếc tàu vỏ sắt trọng tải 50 tấn (chỉ rà quét được thủy lôi chạm nổ).


Trước tình hình trên, Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân yêu cầu phải tìm cách khắc phục tình trạng này. Đồng chí Trương Thế Hùng, Đội phó Đội 8 Công binh thuộc Phòng Tác chiến, Bộ Tham mưu Quân chủng Hải quân, được giao nhiệm vụ nghiên cứu, rà phá thủy lôi. Với vốn kiến thức cơ bản do chuyên gia Liên Xô hướng dẫn, Đội phó Hùng và đồng đội đã "mổ bụng" 2 quả thủy lôi MK-52 và MK-50 để nghiên cứu.


Hiểu rõ cấu tạo, tính năng, nguyên lý hoạt động của thủy lôi, Đội phó Hùng đề xuất chế tạo tàu phóng từ để phá. Đề xuất được Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân nhất trí và giao Xưởng 46 phối hợp chế tạo, sản xuất tàu phóng từ. Trong thời gian này, giặc Mỹ đánh phá ác liệt khu vực Hải Phòng, Xưởng 46 phải đi sơ tán, Đội phó Hùng liên hệ với Hợp tác xã cơ khí Thăng Long (chuyên sản xuất khung xe đạp) đặt làm vỏ tàu. Các chi tiết khác, một số đồng chí trong Đội 8 Công binh phối hợp với công nhân Xưởng 46 chế tạo. Sau 3 tháng miệt mài nghiên cứu, chiếc tàu phóng từ đầu tiên đã hoàn thành mang ký hiệu "H.DL.9".


Tháng 1-1968, tàu phóng từ được thử nghiệm. Đề phòng quân Mỹ đánh phá, Đội 8 Công binh tiến hành rà phá vào ban đêm. Hai đồng chí Trịnh Thanh Tơ và Ngô Tấn Khoa xung phong thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm này và đã thành công. Tháng 4-1968, Đội 8 Công binh đã rà phá được 18 quả thủy lôi, bom từ trường, khoảng cách nổ cách xa từ 50 đến 100m, bảo đảm an toàn cho người và tàu.


Kết quả chế tạo tàu phóng từ giúp việc rà phá thủy lôi đạt hiệu quả, từ đó hình thành ý tưởng chế tạo thiết bị phóng từ hiệu quả cao hơn như ống phóng từ, thiết bị HT.5...