“Diễn biến hòa bình” là một chiến lược phi quân sự của các thế lực thù địch tiến hành bằng các thủ đoạn tinh vi, phức tạp, nhằm chống phá Cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, văn hoá; tổ chức nhân sự; kinh tế; ngoại giao; tôn giáo, dân tộc, an ninh, quốc phòng. Nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với cách mạng Việt Nam tiến tới lật đổ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bài viết nêu một số thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch:
Một là, Tiếp tục phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm chuyển hóa ý thức hệ, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng, xa rời lập trường giai cấp.
Hai là, lợi dụng những thiếu sót từ nội bộ Đảng, làm cho Đảng mất uy tín, mất hiệu lực lãnh đạo, mất đoàn kết dẫn đến tan rã về tổ chức.
Ba là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội với công an.
Bốn là, thông qua giáo dục đào tạo để chuyển hóa ý thức hệ của học sinh, sinh viên.
Năm là, bằng chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền", các thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ cho bọn phản động trong nước hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Điển hình là tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã chủ trương:“Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tiến công trực diện Cộng sản nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”.
Thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược "diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, phức tạp, khó nhận biết. Vì vậy, nghiên cứu, phân tích làm rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng trước công luận để mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận biết. Từ đó nâng cao cảnh giác góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu của chúng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là vấn đề quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành trong giai đoạn hiện nay. Để đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, một biện pháp cấp bách, quan trọng là cần tận dụng triệt để không gian mạng tăng cường đấu tranh, chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài, biến không gian mạng thành vũ khí của tất cả mọi người đập tan âm mưu của các thế lực thù địch bảo vệ và nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì; tích cực tuyên truyền, định hướng thông tin cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Coi trọng công tác kiểm tra giám sát, có biện pháp ngăn chặn kịp thời biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng đạo đức lối sống.
Trong các phong trào hành động cách mạng của toàn dân tộc, công nhân là giai cấp đi đầu, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước ta “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” theo ước nguyện của Bác Hồ kính yêu. Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, giai cấp công nhân cần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong lao động, sản xuất, để giữ vững, ngày càng xứng đáng với vai trò tiên phong của mình.
Bác Hồ với công nhân xe lửa Gia Lâm_Tranh: Tư liệu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua của công nhân
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho phong trào thi đua yêu nước ở Việt Nam. Người cho rằng: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”(1). Thi đua là thể hiện tình yêu nước một cách thiết thực và tích cực. Thi đua không chỉ phát huy truyền thống yêu nước quý báu của dân tộc, mà còn tạo ra sức mạnh tinh thần vô song để mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân, cống hiến tinh thần và sức lực vì sự phát triển của đất nước.
Gắn kết phong trào thi đua với sự trưởng thành về mọi mặt của giai cấp công nhân
Thi đua là đua tài, đua sức giữa các cá nhân, các tập thể trong quá trình lao động, sản xuất, thôi thúc mỗi cá nhân phát huy hết tiềm năng sáng tạo để đạt kết quả cao hơn. Từ thực tiễn các phong trào thi đua đã xuất hiện những tấm gương “người mới”, “việc mới”, “người tốt”, “việc tốt”, những công nhân ưu tú làm rực rỡ thêm vườn hoa thi đua ái quốc của đất nước.
Thi đua lao động, sản xuất là một biểu hiện của tinh thần làm chủ của giai cấp công nhân; “thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ”(2), vì thi đua là môi trường để phát triển con người. Thực tiễn các phong trào thi đua sẽ tạo điều kiện, bồi dưỡng công nhân trở thành những người có lý tưởng, lao động, sản xuất giỏi, có tác phong làm việc chuyên nghiệp. Phong trào thi đua cũng giúp giai cấp công nhân thực hiện vai trò của mình trong việc lãnh đạo xã hội, xứng đáng là giai cấp tiên phong trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Như vậy, thi đua là một phương pháp hiệu quả để giáo dục và rèn luyện ý thức chính trị cho giai cấp công nhân.
Giai cấpcông nhân giữ vai trò tiên phong trong phong trào thi đua
Dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân đã chứng tỏ khả năng, bản lĩnh lãnh đạo tiến trình cách mạng Việt Nam; vì vậy, Người nhấn mạnh, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, giáo dục, động viên giai cấp công nhân phát huy tính tiên phong trong đấu tranh cách mạng, hăng hái vươn lên đi đầu trong phong trào thi đua lao động, sản xuất và thực hành tiết kiệm. Người chỉ rõ: “Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, muốn xứng đáng là giai cấp lãnh đạo thì phải gương mẫu trong công tác. Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn nước nhà mau chóng thống nhất, muốn được tự do sung sướng, mọi người phải khắc phục khó khăn, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”(3); đồng thời, Người đặt ra yêu cầu công nhân phải hăng hái thi đua chế tạo, nâng cao năng suất lao động, thi đua tiết kiệm nguyên, vật liệu, tiết kiệm điện... cho nước nhà.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, trong thời kỳ đất nước vừa dựng xây cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, vừa đấu tranh thống nhất nước nhà, thì nhiệm vụ trước mắt của công nhân là phải lấy xây dựng kinh tế làm mặt trận hàng đầu; muốn vậy, công nhân phải thi đua để phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, giúp cho nhà máy, xí nghiệp, đất nước đi lên. Biểu hiện rõ nét của thi đua là việc công nhân nỗ lực nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, tiết kiệm của công, chống lại chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức, có tinh thần lao động sáng tạo, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, có phương pháp, phong cách làm việc tiên tiến. Công nhân phải nhận thức rằng, để nêu gương và xứng đáng với sứ mệnh vẻ vang của giai cấp mình, họ phải thường xuyên tự rèn luyện, tự cải tạo mình để giữ vững vai trò tiên phong trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, “muốn lãnh đạo thì phải gương mẫu. Vì vậy cần phải khắc phục khuyết điểm, phát triển ưu điểm sẵn có, hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho để xứng đáng là ông chủ, bà chủ, xứng đáng là vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam”(4).
Để thực hiện được vai trò lãnh đạo trong phong trào thi đua, giai cấp công nhân cần đoàn kết với tất cả các đối tượng quần chúng nhân dân khác, như nông dân, trí thức... nhằm đưa thi đua yêu nước trở thành một phong trào rộng lớn trong toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “thi đua phải rộng rãi, phải phổ biến. Có thành tích đột xuất là tốt, nhưng phải kéo tất cả đều thi đua, nếu không thì không có ích lợi mấy”(5). Người định hướng: Giai cấp công nhân phải tổ chức, hướng dẫn các lực lượng xã hội khác thi đua lao động, sản xuất, đồng thời cũng phải học tập kinh nghiệm từ họ. Liên minh công - nông có vai trò quan trọng chiến lược, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi khối liên minh công nhân và nông dân tích cực thi đua trong lao động, sản xuất; công nhân làm ra máy móc, phân bón... cung cấp cho sản xuất nông nghiệp của nông dân, còn nông dân làm ra lương thực, thực phẩm, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt cho công nhân để công nhân yên tâm lao động, sản xuất.
Điều kiện tổ chức phong trào thi đua cho công nhân
Phong trào thi đua muốn đạt hiệu quả thì phải phù hợp với đối tượng và mục đích. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nhiều điều kiện tổ chức phong trào thi đua lao động, sản xuất cho công nhân, trong đó phải hướng tới mục tiêu nâng cao cả chất lượng và số lượng. Người cho rằng: “Bất cứ làm gì cũng phải làm mau, nhưng làm mau mà xấu thì không ăn thua gì, vậy phải làm tốt. Nhưng làm tốt mà ít thì không đủ cho nhân dân dùng, vậy phải làm nhiều. Làm nhiều mà đắt, nhân dân không có tiền mua, vậy phải làm rẻ”(6).
Thi đua là để vừa nâng cao năng suất lao động, sản xuất, vừa rèn luyện đức tính cần cù, chăm chỉ và tiết kiệm; vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt thi đua sản xuất gắn liền với tiết kiệm, vì “thi đua sản xuất tốt chưa đủ, tăng gia sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm. Nếu không cũng như gió vào nhà trống... Phải tiết kiệm thì giờ, nguyên vật liệu và tiền bạc”(7). Như vậy, tiết kiệm là một biểu hiện của thi đua và cũng là điều kiện cần để phong trào thi đua đi đến thành công. Để tiết kiệm thì công nhân phải hăng hái chống tham ô, lãng phí; do vậy, Người cảnh báo: “Công nhân thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, nhưng có bọn tham ô lãng phí, nên các cô, các chú tiết kiệm được chừng nào chúng tham ô lãng phí chừng ấy; phải chống tham ô lãng phí cũng như cảnh giác chống địch phá hoại”(8).
Thi đua phải được hiểu theo nghĩa tích cực, theo đó thi đua chính là việc cùng nhau phấn đấu, cố gắng chứ không phải là ganh đua, giấu nghề. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thi đua có nghĩa là mọi người phát triển tài năng, sáng kiến của mình, học hỏi điều hay lẫn nhau, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm để cùng nhau tiến bộ... Người này thi đua với người khác, tổ này thi đua với tổ khác, nhà máy này thi đua với nhà máy khác”(9). Để thực hiện thi đua tích cực, giúp nhau cùng tiến bộ, công nhân “phải đưa sáng kiến của mình phổ biến cho nhóm, cho xưởng, cho ngành mình cùng theo. Và phải học kinh nghiệm sáng kiến của người khác. Đây là điều kiện cần thiết trong thi đua”(10). Muốn vậy, mọi người phải có tinh thần cầu thị, ham học điều hay, tích cực học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè thì thi đua sẽ ngày càng phát huy tác dụng.
Vai trò của tổ chức công đoàn trong phong trào thi đua của công nhân
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của Tổng Liên đoàn Lao động là đi sát với toàn thể công nhân, tổ chức và huấn luyện toàn thể công nhân làm cho giai cấp công nhân thành lực lượng vô địch trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc”(11). Ngày 18-7-1969, gặp gỡ với đại biểu lãnh đạo Công đoàn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ lãnh đạo công đoàn phải “làm tốt công tác vận động, tổ chức, giáo dục quần chúng công nhân, viên chức làm tròn vai trò tiên phong cách mạng... tự nguyện tự giác giữ kỷ luật lao động..., giữ gìn của công và thực hành tiết kiệm”(12). Những yêu cầu của Người với tổ chức công đoàn cho thấy, Công đoàn Việt Nam phải là chủ thể trong tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát phong trào thi đua cho công nhân.
Bên cạnh vai trò tổ chức, hướng dẫn phong trào thi đua cho công nhân, Công đoàn Việt Nam còn thực hiện nhiệm vụ tổ chức khuyến khích, động viên, giúp đỡ để công nhân nhiệt tình tham gia phong trào. Tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là một vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta đều cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay... Nếu công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến, và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy, thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng”(13). Để tổ chức công đoàn thực hiện tốt vai trò của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công đoàn là phải tiên phong, gương mẫu thi đua để công nhân noi theo và muốn nêu gương tốt thì “phải thực hiện bốn cùng với công nhân: cùng ăn, cùng ở, cùng lao động, cùng bàn bạc”(14).
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi đời sống của công nhân lao động các khu công nghiệp tỉnh Bắc Giang_Ảnh: VGP
Thực trạng phong trào thi đua của công nhân Việt Nam hiện nay
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua của công nhân, Công đoàn Việt Nam đã rất quan tâm phát động, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, người lao động với nhiều phong trào hiệu quả, thiết thực, lôi cuốn đông đảo công nhân tham gia. Theo Báo cáo của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XI, “Các cấp công đoàn đã cụ thể hóa các phong trào thi đua “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”; phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; phong trào “Xanh - Sạch - Đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động”, phong trào “Văn hóa, thể thao”; động viên, cổ vũ đoàn viên, người lao động đăng ký hoàn thành 77.753 đề tài nghiên cứu khoa học với giá trị làm lợi là 336.777 tỷ đồng; phát huy 1.170.884 sáng kiến với giá trị làm lợi 203.579 tỷ đồng..., góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”(15).
Qua các phong trào thi đua “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”, đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng trong lao động, sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cũng như trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới. Có nhiều mô hình tốt, nhiều cách làm hay tại các địa phương, các ngành đã xuất hiện, bộc lộ và trở thành điển hình, lan tỏa tới các cấp, các ngành và mọi người lao động. Các phong trào thi đua đó đã góp phần nâng cao cả số lượng và chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh.
Để đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, các cấp, các ngành đã có nhiều hình thức tôn vinh, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất. Những sự ghi nhận đó đã góp phần không nhỏ vào việc nhân rộng các điển hình tiên tiến trong công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Thực tiễn phong trào thi đua trong lao động, sản xuất của công nhân đã chứng tỏ, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, thi đua vẫn rất cần thiết. Đó là động lực để thúc đẩy mỗi người dân nói chung, mỗi công nhân nói riêng biết vượt qua khó khăn, khắc phục những yếu kém, phát huy sở trường, thế mạnh của mình, nêu cao tinh thần trách nhiệm, sáng tạo, đổi mới để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
Ngoài những thành tích đã đạt được đáng ghi nhận thì vẫn còn những hạn chế cần khắc phục trong phong trào thi đua của công nhân, cụ thể là: Tại các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước, các phong trào thi đua chưa được triển khai mạnh mẽ, sâu rộng tới mọi đối tượng công nhân, người lao động; việc tìm kiếm, phát hiện các nhân tố mới, các mô hình hay trong lao động, sản xuất chưa được quan tâm thỏa đáng, nên còn để sót nhiều tấm gương lao động, sản xuất giỏi...
Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên được xác định là: Một bộ phận công nhân, người lao động chưa chủ động phát huy vai trò của mình trong phong trào thi đua yêu nước. Ngoài ra, hiện nay công nhân đang phải đối mặt với áp lực về thời gian, định mức lao động, trong khi nội dung, hình thức các phong trào thi đua ở nhiều nơi còn đơn điệu, thiếu sức hấp dẫn, chưa phù hợp với đặc thù nghề nghiệp. Vẫn còn có tình trạng cán bộ làm công tác thi đua chưa có kinh nghiệm, thiếu am hiểu về đặc điểm công việc, ngành, nghề... nên chất lượng công tác tham mưu còn hạn chế, dẫn đến kết quả không được như mong đợi.
Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả phong trào thi đua cho công nhân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Năm 2022, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã chuyển về trạng thái “bình thường mới” sau thời gian dài chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Để khắc phục những khó khăn sau đại dịch, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc nâng cao hiệu quả của phong trào thi đua cho công nhân, cấp ủy, chính quyền, tổ chức công đoàn các cấp và bản thân mỗi người công nhân cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
Một là, nâng cao nhận thức của công nhân về thi đua. Công nhân hiện nay cần được tuyên truyền sâu rộng để nhận thức rõ thi đua là sự đua tài, đua sức giữa các công nhân, giữa các doanh nghiệp trong quá trình lao động, sản xuất. Chính sự thi đua đó đã tạo ra bước đột phá, làm cho năng suất lao động tăng cao hơn so với khi các chủ thể chưa tham gia thi đua. Thi đua không phải là tranh đua, “đấu đá” để tranh giành phần thắng, mà thi đua phải dựa trên nền tảng của sự hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trên mọi mặt. Thi đua chính là sự tự khẳng định mình trước tập thể, thể hiện lòng tự trọng, ý chí vươn lên của mỗi người. Qua phong trào thi đua, mỗi công nhân sẽ có thêm kiến thức, kinh nghiệm để khắc phục những hạn chế và ngày càng hoàn thiện bản thân, đóng góp tốt hơn, nhiều hơn nữa vào kết quả lao động, sản xuất của đơn vị.
Người lao động dầu khí quyết tâm thi đua lao động, sản xuất hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ_Nguồn: PVN
Hai là, chú trọng đổi mới nội dung, hình thức thi đua trong công nhân. Nội dung cần thiết thực, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, như thi đua xây dựng đất nước giàu mạnh; thi đua phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; thi đua đi liền với tiết kiệm, chống lãng phí; thi đua trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại vào phát triển sản xuất... Trong phương pháp thi đua, các chủ thể cần quán triệt bài học của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “dựa vào lực lượng của dân”(16). Hình thức thi đua phải phong phú, đa dạng, khơi dậy được sức dân. Điểm cốt lõi là phải coi trọng việc phát huy sáng kiến, tổng kết kinh nghiệm. Một mặt, thi đua mà không có tổng kết thì không có hiệu quả, vì khi tổng kết sẽ vinh danh được những cá nhân, tập thể tiêu biểu để nhân rộng cho công nhân cả nước biết tới và học tập; mặt khác, qua tổng kết còn rút ra được những sáng kiến, bài học kinh nghiệm quý để lưu truyền, trao đổi và phổ biến rộng rãi.
Ba là, hoàn thiện công tác thi đua, khen thưởng. Thi đua luôn gắn liền với việc biểu dương, khen thưởng, vì hình thức động viên, khuyến khích này luôn tạo nguồn động lực tinh thần to lớn để công nhân ngày càng tích cực tham gia các phong trào thi đua. Trong công tác khen thưởng, cầnxác định rõ các tiêu chí đánh giá cho phù hợp với từng đối tượng công nhân; việc biểu dương, khen thưởng cần kịp thời, tránh hình thức hoặc tình trạng chậm trễ gây tâm lý ức chế cho người được khen thưởng. Hiện nay, tổ chức công đoàn có rất nhiều giải thưởng, như giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Đức Thuận... đã phát huy tốt tác dụng; thời gian tới, để tạo thêm động lực cho phong trào thi đua, cũng cần nâng cao giá trị vật chất cho các giải thưởng cao quý đó nhằm thiết thực động viên phong trào, cổ vũ tinh thần hăng hái thi đua của công nhân./.
-----------------------
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 407, 146 (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 86 (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 111 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 295 (6), (7), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 295, 295, 294 (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 204 (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 294 (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 67 (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 678 (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 53
Thời gian qua, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thực hiện chủ trương đánh giá, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ căn cứ vào kết quả thực hiện những nhiệm vụ khó, mang tính đột phá, đổi mới; bước đầu đạt được một số kết quả, tạo ra hiệu ứng tích cực trong xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, góp phần củng cố, giữ vững niềm tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, chủ trương này cần tiếp tục được thí điểm thực hiện, tổng kết và đánh giá toàn diện trong thời gian tới.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Lễ khởi công xây dựng Trường Trung học phổ thông chuyên Tuyên Quang_Ảnh: TTXVN
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1); “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2), “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(3); đồng thời, nhận thức rõ phẩm chất, năng lực của người cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, nên trong nhiều nhiệm kỳ qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các cấp ủy trong Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang luôn nhận thức sâu sắc, quyết tâm, quyết liệt, đổi mới, sáng tạo trong chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác cán bộ. Cấp ủy các cấp trong Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chú trọng đổi mới đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, nhất là công tác luân chuyển, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ; tích cực đổi mới tư duy và cách làm, qua đó từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có phẩm chất, trình độ, năng lực để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Chủ trương “đúng, trúng” và kết quả bước đầu
Đánh giá cán bộ là một khâu rất quan trọng, nhưng cũng là việc rất khó và nhạy cảm, bởi đây là công việc liên quan đến con người, mà mỗi con người đều là chủ thể với suy nghĩ và tình cảm đa dạng, phong phú; vì thế, để đánh giá đúng cán bộ thì cần phải dựa vào nhiều kênh, nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhất là bằng sản phẩm, tiêu chí rõ ràng và thông qua công việc cụ thể. Từ nhận thức đó, để đổi mới công tác cán bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã thực hiện chủ trương giao việc khó, việc đổi mới mang tính đột phá làm cơ sở để đánh giá, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ.Theo chủ trương này,chất lượng vàkết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ là cơ sở, căn cứ quan trọng để kiểm chứng, đánh giá phẩm chất, trình độ, năng lực thực sự của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị.
Thực hiện chủ trương này, từ năm 2019 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã thí điểm giao việc khó, việc đổi mới mang tính đột phácho một số đồng chí là bí thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, thủ trưởng, giám đốc các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giao 25 việc đột phá cho 25 cán bộ/21 chức danh cán bộ;“đặt hàng” công việc đối với 10 đồng chí (1 đồng chí giám đốc sở, 5 đồng chí bí thư huyện ủy và 4 đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân huyện). Năm 2020, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giao 51 việc đột phá, “đặt hàng” công việc đối với 22 đồng chí(14 đồng chí giám đốc sở, 4 đồng chí bí thư huyện ủy và 4 đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân huyện), tập trung vào những việc mới, việc khó. Kết quả cho thấy, việc thực hiện các công việc được đăng ký, được giao việc, “đặt hàng” có chuyển biến rất tích cực, nhiều việc đã hoàn thành hoặc đã có những kết quả, sản phẩm cụ thể (9/10 vụ việc đơn, thư tồn đọng kéo dài đã được giải quyết; những vướng mắc, bức xúc về đền bù, giải phóng mặt bằng các dự án, công trình... đã được đối thoại, giải quyết dứt điểm; từ đó, tạo sự thống nhất trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, ổn định tình hình trên địa bàn). Thực tế triển khai chủ trương trên đã đem lại hiệu quả thiết thực, tạo sự chuyển biến tích cực trong thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Từ thực tiễn đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã ban hành quy định để thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh.
Việc đánh giá, lựa chọn, giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm cán bộ có đức, tài, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ theo hướng liên tục, xuyên suốt, đa chiều, theo tiêu chí và bằng sản phẩm cụ thể đã góp phần ngăn chặn việc chạy chức, chạy quyền và các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ, gắn với mục tiêu để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trên cơ sở kết quả đạt được qua thực hiện thí điểm giao việc mang tính đột phá, đổi mới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã chỉ đạo xây dựng, sửa đổi, bổ sung Quy chế và bộ tiêu chí để đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; trong đó, quy định 21 chức danh cán bộ là người đứng đầu cấp ủy, ủy ban nhân dân huyện, thành phố, giám đốc các sở, ngành cấp tỉnh phải đăng ký và thực hiện việc mang tính đột phá, đổi mới (theo chức năng, nhiệm vụ, bám sát vào các nhiệm vụ trọng tâm, các khâu đột phá mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã xác định, hoặc giải quyết những việc cấp bách, bức xúc ở cơ sở).
Để việc giao nhiệm vụ mang tính đột phá, đổi mới đi vào nền nếp và tổ chức thực hiện có hiệu quả, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã xây dựng, ban hành Quy định số 30-QĐ/TU, ngày 20-5-2020, “Về giao việc đột phá, đổi mới đối với một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý”. Theo đó, cán bộ được giao việc là các đồng chí ủy viên ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, trưởng các cơ quan cấp tỉnh, bí thư cấp ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, thành phố. Sau hơn 1 năm thực hiện, qua sơ kết, đánh giá và từ tình hình thực tiễn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã sửa đổi, bổ sung và ban hành Quy định số 03-QĐ/TU, ngày 10-9-2021, “Về giao việc đột phá, đổi mới đối với một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý”, trong đó mở rộng đối tượng được giao việc đến các đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Giao các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh thực hiện giao việc mang tính đột phá, đổi mới cho cán bộ là cấp phó các cơ quan, đơn vị; ban thường vụ các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy thực hiện giao việc mang tính đột phá, đổi mới cho các chức danh cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đang công tác tại cơ quan, đơn vị, địa phương; các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị căn cứ Quy định, cụ thể hóa theo thẩm quyền để giao việc mang tính đột phá, đổi mới đối với cán bộ thuộc diện cấp mình quản lý(4).
Thực tế cho thấy, thực hiện việc đăng ký và giao việc mang tính đột phá, đổi mới đã tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên khẳng định được tính tiên phong, gương mẫu, phát huy năng lực trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, nhất là đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị; tạo môi trường và động lực để cán bộ phát huy tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tạo được lòng tin đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua hơn 3 năm thực hiện chủ trương này, đến nay, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đạt nhiều kết quả quan trọng: Nhiều đồng chí có cách làm sáng tạo, phù hợp với thực tiễn, có “sản phẩm” cụ thể, đặc biệt là có nhiều việc mới được triển khai; những việc còn tồn tại, gặp nhiều vướng mắc, khó khăn và thậm chí kéo dài nhiều năm đã được giải quyết hiệu quả, dứt điểm; qua đó, tạo chuyển biến tích cực trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị, địa phương. Kết quả thực hiện công việc mang tính đột phá, đổi mới của cán bộ là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm và cả nhiệm kỳ đối với cán bộ; là căn cứ để đánh giá năng lực, sở trường công tác của cán bộ trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, cũng như triển vọng phát triển của cán bộ. Đây cũng là một căn cứ quan trọng để tiến hành quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, bố trí cán bộ.
Cùng với việc thực hiện đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, công tác điều động, luân chuyển cán bộ của tỉnh Tuyên Quang được thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch đối với từng trường hợp cụ thể, gắn với công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ. Công tác điều động, luân chuyển được tiến hành thận trọng, kỹ lưỡng theo phương châm “làm đến đâu, chắc đến đó” nhằm đào tạo, rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, nhất là gắn giao việc, “đặt hàng” với cán bộ được điều động, luân chuyển; luôn thực hiện nhất quán quan điểm quy hoạch cán bộ phải gắn với đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển cán bộ; luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số.
Nhiệm kỳ 2015 - 2020, các cấp ủy, tổ chức đảng của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, chỉ định, giới thiệu ứng cử 1.372 lượt cán bộ, trong đó cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý là 268 lượt, cán bộ diện ban thường vụ huyện ủy, thành ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị quản lý là 1.104 lượt; điều động, luân chuyển người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các huyện, thành phố, giám đốc các sở, ngành cấp tỉnh phải gắn với việc đăng ký và giao việc mang tính đột phá, đổi mới; qua đó, đã góp phần tích cực thúc đẩy việc thực hiện có hiệu quả công việc, cũng như góp phần vào sự phát triển chung của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị.
Qua thực tế triển khai chủ trương trên, bước đầu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang rút ra một số kinh nghiệm để có thể đạt kết quả tốt; đó là: Cóchủ trương đúng đắn xuất phát từ tình hình thực tiễn; sự quyết tâm, quyết liệt, chung sức, đồng lòng trong triển khai tổ chức thực hiện. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống phải gắn liền với rèn luyện, thử thách qua thực tiễn nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ các cấp. Phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ; nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp. Việc đánh giá cán bộ phải công tâm, khách quan, dân chủ, minh bạch và bố trí đúng cán bộ, trong đó, bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp có vai trò quan trọng trong xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.
Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang Chẩu Văn Lâm kiểm tra dự án xây dựng tuyến đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ kết nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai_Nguồn: baotuyenquang.com.vn
Nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung thực hiện trong thời gian tới
Để tiếp tục thực hiện chủ trương giao việc khó, việc đổi mới mang tính đột phá làm cơ sở để đánh giá, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng công tác luân chuyển, bổ nhiệm và đánh giá cán bộ, thời gian tới Tỉnh ủy Tuyên Quang tiếp tục thực hiện tốt các nội dung chủ yếu sau:
Một là, lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận, các quy định, quy chế của Trung ương về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Cụ thể hóa và hoàn thiện hệ thống các quy định của tỉnh về công tác cán bộ, như quy định về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; quy chế về đánh giá cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; quy định về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp...
Hai là, tiếp tục nâng cao nhận thức, tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ tỉnh về chủ trương giao việc khó, việc mang tính đột phá, đổi mới cho cán bộ; coi đây là một trong những biện pháp giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh chính trị, khơi dậy khát vọng cống hiến, đổi mới, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Xác định thực hiện giao việc mang tính đột phá, đổi mới là việc làm thường xuyên, nền nếp, tạo sự lan tỏa, hiệu ứng tích cực trong thực hiện các việc khó, việc mang tính đột phá, đổi mới đến từng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Sự lựa chọn việc mang tính đột phá, đổi mới phải cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, gắn với thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong nghị quyết đại hội đảng bộ cấp trên và nghị quyết đại hội đảng bộ cấp mình. Tập thể lãnh đạo các cơ quan, đơn vị có cán bộ được giao việc cũng phải coi đây là nhiệm vụ, trách nhiệm chung; thống nhất mục tiêu, xác định phương hướng, nhiệm vụ cụ thể, đề ra các giải pháp để thực hiện; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức và cá nhân; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ. Cán bộ được giao việc phải xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết, đề ra giải pháp, lộ trình cụ thể để triển khai thực hiện có hiệu quả việc được giao, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, bảo đảm nói đi đôi với làm.
Ba là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Bám sát các nghị quyết, quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác cán bộ, các cấp ủy, tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cần lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số; trên cơ sở quy hoạch cán bộ, thực hiện điều động, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ một cách hợp lý, phù hợp với trình độ, năng lực, uy tín của cán bộ. Lấy kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ và những việc được cấp trên giao làm căn cứ, thước đo để đánh giá cán bộ; kịp thời, kiên quyết thay thế cán bộ có uy tín thấp, năng lực yếu, không đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ.
Bốn là, chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ các cấp; tăng cường luân chuyển, bố trí cán bộ ở địa bàn, lĩnh vực khó khăn, phức tạp để rèn luyện, thử thách cán bộ qua thực tiễn. Địa bàn, lĩnh vực khó khăn, phức tạp là môi trường thử thách, rèn luyện tốt nhất để giúp cán bộ trưởng thành, nâng cao bản lĩnh chính trị, khả năng xử lý các tình huống trong thực tế.
Năm là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, nhất là việc thực hiện các việc mang tính đột phá, đổi mới; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý sai phạm, khắc phục, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cán bộ.
Có thể khẳng định, công tác luân chuyển, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ căn cứ vào kết quả thực hiện những nhiệm vụ khó, mang tính đột phá, đổi mới là một giải pháp đúng đắn, góp phần quan trọng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác cán bộ. Chủ trương này cần tiếp tục thực hiện để đúc rút những kinh nghiệm hay; từ đó, phát huy, nhân rộng, nhằm đạt được kết quả trong hiện thực hóa các nhiệm vụ chính trị của mỗi cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị trên địa bàn; cũng như góp phần xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ tỉnh có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và trình độ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới./.
-------------------------------
(1), (2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr. 309, 313, 309 (4) Theo đó, giai đoạn 2020 - 2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giao 52 việc cho 22 đồng chí thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; năm 2021 và giai đoạn 2021 - 2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang giao 266 việc đột phá, đổi mới cho 78 đồng chí; năm 2022 và giai đoạn 2022 - 2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giao 219 việc cho 77 đồng chí. Các đảng đoàn, ban cán sự đảng; các cơ quan tham mưu giúp việc Tỉnh ủy; các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh (nơi không lập đảng đoàn, ban cán sự đảng), các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy năm 2022 và giai đoạn 2022 - 2025 đã giao 4.028 việc cho 1.860 cán bộ, công chức, viên chức diện cấp mình quản lý.
Người cao tuổi có vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục quan tâm, thực hiện tốt chính sách đối với người cao tuổi chính là góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, như ước nguyện sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của dân tộc Việt Nam.
Tổng Bí thư Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ đại biểu Hội Người cao tuổi Việt Nam_Ảnh: TTXVN
Người cao tuổi trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Đại đoàn kết toàn dân tộc là di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Tinh thần yêu nước, trọng nghĩa, khoan dung, đoàn kết, đùm bọc yêu thương nhau đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi người dân, trở thành lẽ sống, chất kết dính gắn bó các thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Đảng luôn xác định “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và luôn đề cao vai trò, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thành công. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công” đã trở thành phương châm hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, và thực sự, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đã được phát huy cao nhất để dân tộc ta đi đến thắng lợi trong các thời kỳ lịch sử.
Năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, diễn ra từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5, tại Khuổi Nậm, Pắc Bó, Cao Bằng. Theo đề nghị của Bác, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do. Một trong những lực lượng đầu tiên Bác nghĩ tới là các phụ lão, trong vai trò đầu tàu, dẫn dắt con cháu trong sự nghiệp cứu nước, xây dựng đất nước hưng thịnh. Người luôn coi người cao tuổi (NCT) là lực lượng quan trọng góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” viết năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại. Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Đất nước bị mất phụ lão cứu. Đất nước suy sụp phụ lão phủ trì”(1).
Nhất quán với tư tưởng đề cao vai trò của NCT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng ý nghĩa Hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần thành “Truyền thống Diên Hồng” của dân tộc Việt Nam; qua đó, khẳng định vị trí, vai trò của NCT trước những sự kiện liên quan đến vận mệnh của dân tộc. Trong bài viết “Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn”, đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 1-10-1960, Người chỉ rõ: “Truyền thống “Điện Diên Hồng” là truyền thống yêu nước vẻ vang chung của dân tộc ta và riêng của các cụ phụ lão ta. Mỗi khi có việc quan hệ lớn đến nước nhà nòi giống, thì các cụ không quản tuổi cao sức yếu, liền hăng hái đứng ra gánh vác phần mình và đôn đốc con em làm tròn nhiệm vụ”(2).
Người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Những đóng góp của người cao tuổi trên mọi lĩnh vực trong thời gian qua
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là chủ trương lớn của Đảng ta. Hiện thực hóa chủ trương đó, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đã chỉ rõ định hướng chính sách đối với NCT: “... xây dựng chính sách chăm sóc sức khỏe, quan tâm hơn đến người cao tuổi về y tế, hưởng thụ văn hóa, nhu cầu được thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội, nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với nước. Xây dựng Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi. Phát huy vai trò Hội Người cao tuổi Việt Nam”(3).
Qua 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, cả nước hiện có trên 12,5 triệu NCT, hơn 6,5 triệu NCT đang trực tiếp tham gia lao động, sản xuất, trong đó có 400.000 NCT đạt danh hiệu làm kinh tế giỏi; NCT đóng góp hơn 11 triệu ngày công, gần 3.500 tỷ đồng, hiến 25 triệu m2 đất để xây dựng đường giao thông, kênh mương, nhà văn hóa, trường học, cơ sở y tế... góp phần xây dựng nông thôn mới. 64% số hội viên khuyến học là NCT; 660.000 NCT tham gia công tác đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, tổ hòa giải ở cơ sở; trên 300.000 NCT tham gia các tổ an ninh nhân dân, phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự ở cơ sở, cung cấp cho lực lượng công an 200.000 nguồn tin có giá trị, giúp đỡ 90.000 người tái hòa nhập cộng đồng. Người cao tuổi phối hợp giải quyết có hiệu quả hàng chục nghìn vụ mâu thuẫn, khiếu kiện trong nội bộ nhân dân. Cả nước có trên 77.000 câu lạc bộ của NCT ở cơ sở với nhiều loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, thu hút trên 2,5 triệu NCT tham gia. Đặc biệt, Hội đã thành lập 5.500 câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, thu hút trên 275.000 NCT tham gia. Mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau được các tổ chức, cộng đồng trong nước, ngoài nước đánh giá cao và đã đoạt giải Nhất “Sáng kiến vì một châu Á già hóa khỏe mạnh”.
Hội Người cao tuổi Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hội đã không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, tập hợp và phát triển hội viên; tham gia, đề xuất xây dựng và hoàn thiện thể chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, nhất là ở cơ sở; tích cực hưởng ứng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc triển khai phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao - Gương sáng” đã động viên hàng vạn NCT ở cơ sở tham gia công tác đảng, chính quyền, các đoàn thể xã hội, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh. Trong đó, NCT luôn chủ động tham gia đóng góp ý kiến tâm huyết, trung thực, thẳng thắn với tinh thần trách nhiệm cao trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại cơ sở.
Hội NCT các cấp đã vận động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tài trợ hàng vạn suất quà, xây mới hàng nghìn ngôi nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, chăm sóc người có công với nước. Hằng năm, thông qua Tháng hành động vì NCT Việt Nam, Hội đã vận động được các nguồn lực xã hội chung tay chăm sóc NCT có hoàn cảnh khó khăn, NCT thuộc hộ nghèo, cận nghèo, NCT là đồng bào dân tộc thiểu số, ở vùng khó khăn, góp phần giảm chênh lệch giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội, tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, từ nhiều năm nay, NCT được chăm sóc ngày càng tốt hơn; hằng năm, có hơn 1,1 triệu NCT được chúc thọ, mừng thọ; trên 3 triệu NCT được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, 4 triệu NCT được khám sức khỏe định kỳ; trên 95% số NCT có thẻ bảo hiểm y tế (nhiều địa phương đã hỗ trợ 100% số NCT).
Từ “Truyền thống Diên Hồng” cho đến các phong trào, mô hình tiêu biểu “Người cao tuổi mẫu mực”, “Tuổi cao - Gương sáng”, “Người cao tuổi tham gia xây dựng nông thôn mới”, “Người cao tuổi tham gia xây dựng dòng họ không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội”, “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền”, “Người cao tuổi tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Người cao tuổi làm kinh tế giỏi” hiện nay, đã ngày càng khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của NCT trong các hoạt động tập hợp lực lượng, góp phần lan tỏa chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, NCT và tổ chức hội NCT Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đúng như Bác Hồ nói: “Tuổi cao chí khí càng cao”. Người cao tuổi nước ta thực sự là vốn quý của dân tộc, là lực lượng quan trọng của đất nước, là rường cột của gia đình và xã hội Việt Nam. Người cao tuổi của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam không chỉ là những người lao động cần cù, sáng tạo, góp phần xây dựng hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, mà còn là những nhân chứng của lịch sử và rất nhiều người đã trực tiếp góp phần làm nên lịch sử của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với 18 chữ vàng mà Trung ương Đảng tặng cho NCT Việt Nam: “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Một số hạn chế, bất cập trong công tác người cao tuổi hiện nay
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, giải pháp thực hiện những nội dung của Nghị quyết số 23-NQ/TW đối với NCT ở một số đơn vị còn hạn chế. Nhận thức, tư tưởng của NCT về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc còn chưa đồng đều, có lúc, có nơi chưa nhất quán. Có trường hợp NCT chưa thực sự nêu gương, một số cán bộ hội chưa sâu sát quần chúng nhân dân, chưa phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; do vậy, chưa xây dựng được niềm tin, uy tín trong nhân dân. Một số chính sách, chế độ đối với NCT còn dàn trải, cào bằng, chưa theo kịp thực tiễn; đời sống một bộ phận NCT còn khó khăn cả về vật chất và tinh thần, thậm chí có trường hợp NCT còn bị bạo hành, ngược đãi, cho nên chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, nguồn lực NCT theo phương châm“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Việt Nam là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Những người từ 60 tuổi trở lên chiếm gần 12% tổng dân số vào năm 2019 và dự báo đến năm 2050, sẽ tăng lên hơn 25%. Đến năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già”. Đặc biệt, quá trình quá độ từ già hóa dân số đến dân số già của Việt Nam diễn ra chỉ trong vòng 20 năm, trong khi ở các quốc gia phát triển thì quá trình này kéo dài hàng trăm năm.
Trước những khó khăn, hạn chế, thách thức đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần nâng cao nhận thức, tư tưởng trong các cấp, các ngành, các địa phương: Người cao tuổi là lực lượng chính trị quan trọng, là nguồn lực để phát triển đất nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, các cấp, các ngành, các địa phương cần có chủ trương, chính sách, pháp luật và chương trình ứng phó với vấn đề già hóa dân số và phải coi NCT là nguồn lực, trên cơ sở tôn trọng quyền, để tạo động lực trong quá trình phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Già làng A Lăng Đàn cùng các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Nông (tỉnh Quảng Nam) vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước_Nguồn: baodantoc.vn
Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu tiếp tục phát huy vai trò của người cao tuổi trong giai đoạn mới
Thứ nhất, các cấp hội chủ động xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình... Kính trọng, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi”(4); trên cơ sở đó, phát huy vai trò của NCT một cách phù hợp; khuyến khích NCT tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội. Các cấp hội bám sát các nhiệm vụ trọng tâm, chương trình công tác của Hội, đẩy mạnh thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ địa phương, Nghị quyết Đại hội VI Hội Người cao tuổi Việt Nam. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức, tư tưởng về công tác NCT, hoạt động của hội NCT. Nắm bắt kịp thời tư tưởng, đời sống, nguyện vọng của NCT, đặc biệt là NCT có hoàn cảnh khó khăn; phối hợp phòng ngừa, ngăn chặn, không để xảy ra các vụ, việc ngược đãi, bạo hành NCT.
Thứ hai, các cấp hội nâng cao chất lượng công tác tổ chức, cán bộ và phát triển hội viên. Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương trong kiện toàn tổ chức và đội ngũ cán bộ hội; nghiên cứu, đề xuất chính sách, chế độ đối với cán bộ hội ở các cấp. Củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức hội cơ sở; đổi mới nội dung sinh hoạt đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của hội viên và NCT; thu hút ngày càng đông NCT tham gia tổ chức hội và các phong trào do Hội tổ chức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, phát huy mạnh mẽ vai trò của NCT trong tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình phối hợp giữa hội NCT với các bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các địa phương, góp phần phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của NCT tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, đa dạng nội dung, phương thức, loại hình chăm sóc NCT; phát huy vai trò nòng cốt của Hội trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi”, phấn đấu để NCT được sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc trong gia đình và xã hội, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, góp phần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong bối cảnh, xu thế mới, để kịp thời ứng phó với quá trình già hóa dân số nhanh ở Việt Nam, tận dụng các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phấn đấu NCT được hưởng tuổi già trong sự tôn trọng và bảo đảm an sinh xã hội, cần quan tâm một số nội dung sau:
Một là, Trung ương sớm tổng kết Chỉ thị số 59/CT-TW, ngày 27-9-1995, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, “Về chăm sóc người cao tuổi”, và ban hành chỉ thị mới về bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của NCT trong tình hình mới.
Hai là, Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi; Chính phủ sớm ban hành chính sách về người cao tuổi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ba là, các cơ quan truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền về vai trò của NCT và hội NCT; các cấp ủy, chính quyền địa phương cần nâng cao nhận thức, tư tưởng về vị trí, vai trò và sự đóng góp của NCT và tổ chức hội NCT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 232 (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 691 (3) Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-ix/nghi-quyet-so-23-nqtw-ngay-1232003-hoi-nghi-lan-thu-bay-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-ve-phat-huy-suc-manh-dai-656 (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 170