Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

Củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

 Mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn là nguồn sức mạnh to lớn, làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đáng ghi nhận, thời gian qua việc tăng cường mối quan hệ này vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Chính vì vậy, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.

Ý nghĩa và tầm quan trọng của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân

Thứ nhất, là nhân tố quyết định sức mạnh của Đảng và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(1); “có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(2).

Trong mọi giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đều gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn lấy lợi ích của nhân dân làm nền tảng cho những quyết sách, đường lối của mình; đồng hành, chia sẻ cùng nhân dân và vận động, động viên nhân dân trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng. Hầu hết cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu, gần dân, hiểu dân và sẵn sàng phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của nhân dân; do vậy, nhân dân luôn tin vào Đảng, ủng hộ Đảng, hết lòng vì cách mạng, sẵn sàng đóng góp sức người, sức của, thậm chí cả xương máu, tính mạng của mình cho cách mạng. Đây chính là nguyên nhân tạo thành sức mạnh của Đảng ta, là yếu tố làm nên thắng lợi của cách mạng nước ta trong 93 năm qua. Chính thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân mà Đảng phát huy được vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đặc biệt là trong việc kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, tập hợp, phát huy được sức mạnh, trí tuệ và lực lượng to lớn của nhân dân, tiếp thu những đột phá, sáng tạo trong nhân dân để tiếp tục quá trình đổi mới có hiệu quả hơn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc xã Toàn Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình_Ảnh: TTXVN

Thứ hai, là nhân tố bảo đảm cho các phong trào cách mạng của nhân dân phát triển mạnh mẽ, phát huy tốt nhất sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân.

Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là để Đảng lãnh đạo, định hướng các phong trào cách mạng của nhân dân một cách hiệu quả. Các phong trào cách mạng của nhân dân chỉ phát triển đúng hướng khi đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với tầm nhìn sâu rộng, lý luận sắc bén, kinh nghiệm thực tế dày dặn và đội ngũ cán bộ, đảng viên được tôi luyện qua nhiều thử thách, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, định hướng và đưa ra những quyết sách quan trọng cho đất nước và dân tộc. Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất, cần cù, chịu khó, đoàn kết, đồng cam cộng khổ. Đây là những nhân tố quan trọng để cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi đến thắng lợi trong các cuộc chiến tranh đầy hy sinh, gian khổ. Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nhân dân được tập hợp, được tổ chức trong những tổ chức cách mạng, nhờ đó mà sức mạnh của nhân dân lại được phát huy, nhân lên gấp bội.

Thứ ba, góp phần quyết định tính đúng đắn của chủ trương, đường lối của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội trước hết bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách và lãnh đạo, tổ chức thực hiện thông qua các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Một mặt, chủ trương, đường lối của Đảng muốn “đi vào” cuộc sống một cách thuận lợi thì phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở và phải bám sát với thực tế cuộc sống; quá trình thực hiện phải vận động được sự tham gia tích cực và ủng hộ nhiệt tình của nhân dân; mặt khác, thông qua cương lĩnh, đường lối của Đảng để thu hút, tập hợp lực lượng nhân dân đi theo Đảng. Một trong những nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn tới nguy cơ chệch hướng là bệnh quan liêu, xa dân của đảng cộng sản cầm quyền và một khi mắc phải căn bệnh quan liêu, xa dân thì cương lĩnh, đường lối của Đảng sẽ không phản ánh được nguyện vọng và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân mà nhân dân phản ánh, góp ý, phản biện đường lối, chủ trương, chính sách cho Đảng, Nhà nước; thông qua ý kiến của nhân dân mà Đảng chắt lọc, chọn lọc thông tin để đề ra, hoàn thiện, điều chỉnh chủ trương, đường lối cho phù hợp. Đó là con đường và quá trình hoàn thiện cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của một đảng cộng sản cầm quyền chân chính.

Thứ tư, là điều kiện bảo đảm cho công tác tuyên truyền, thuyết phục của Đảng đạt hiệu quả cao nhất.

Hiệu quả công tác tuyên truyền phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ gắn bó, sự hiểu biết, tin tưởng giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền. Đối tượng tuyên truyền là nhân dân khi đã tin vào Đảng, gắn bó mật thiết với Đảng, thì mọi thông tin tuyên truyền sẽ đến với nhân dân một cách nhanh chóng, đầy đủ hơn. Ngược lại, nếu mối quan hệ giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền không gắn bó chặt chẽ, thiếu sự tin cậy, nếu cán bộ, đảng viên chỉ tuyên truyền lý thuyết suông, giáo điều, tuyên truyền một chiều, nói không đi đôi với làm, không tiên phong, gương mẫu... thì dù có cố gắng bao nhiêu, nhân dân cũng không tin theo.

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng và bùng nổ thông tin, công nghệ hiện nay, xuất hiện nhiều luồng thông tin rất nhanh và phức tạp, thì lòng tin của nhân dân là một “bộ lọc” tốt nhất để họ chắt lọc, chọn lọc thông tin; qua đó, sẽ làm gia tăng hiệu quả của công tác tuyên truyền trong cuộc đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ năm, góp phần nâng cao vai trò, uy tín và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, đội ngũ cán bộ, đảng viên thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm trước nhân dân, sẵn sàng để nhân dân đánh giá, kiểm tra, giám sát, góp ý; từ đó, tiến hành sàng lọc đảng viên, để nhân dân giới thiệu cho Đảng những nhân tố mới, tiêu biểu. Bên cạnh đó, thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân để Đảng phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ sáu, tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Thông qua mối quan hệ mật thiết với nhân dân để Đảng nắm thông tin về đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nắm rõ phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, để có thể phát hiện những tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền. Trong thực tế hiện nay, hơn 70% các vụ việc tiêu cực, tham nhũng được phát hiện là do báo chí và người dân cung cấp thông tin. Điều đó cho thấy, nếu Đảng, chính quyền thực sự dựa vào nhân dân, tin nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân thì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ đạt được kết quả cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Với Đảng, “Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết”(3). Bởi vậy, “một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”(4).

Thứ bảy, là cơ sở để phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân để nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, để các tổ chức này thể hiện được vai trò, trách nhiệm và sự tín nhiệm của mình trước nhân dân; đồng thời, để nhân dân thể hiện được ý chí, chính kiến của mình, thể hiện được quyền làm chủ và vai trò giám sát, phản biện chính sách của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Thực trạng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân hiện nay

Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường”(5). Đánh giá trên dựa trên những căn cứ cụ thể sau:

Một là, thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức về trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị đối với công tác dân vận. Đảng lãnh đạo cả hệ thống chính trị “coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân”(6); chăm lo thực sự đến mọi mặt đời sống của các tầng lớp nhân dân. Công tác an sinh xã hội ngày càng được chăm lo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao... Nước ta từ một nước nghèo đã trở thành một nước có thu nhập trung bình thấp và xác định khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta có điều kiện để thực hiện việc chăm lo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân - yếu tố hết sức quan trọng góp phần củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Hai là, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết, văn bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã thể chế hóa thành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đã xây dựng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được kiện toàn, củng cố, đổi mới phương thức hoạt động; giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở; đã có nhiều hình thức vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thúc đẩy các hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài.

Ba là, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực rất quyết liệt, với quyết tâm chính trị rất cao; đồng thời, tập trung chỉ đạo tổ chức tốt việc tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là tại những địa bàn, lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, những nơi xảy ra điểm nóng, khiếu kiện kéo dài; giải quyết kịp thời những bức xúc, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Nhận thức sâu sắc tính chất phức tạp và sự nguy hiểm của vấn nạn tham nhũng, lãng phí, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, kiên quyết chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng và suy thoái tư tưởng chính trị. Trung ương đã kiện toàn, tăng cường các cơ quan chức năng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án... Việc lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết nhiều vụ án tham nhũng đã có kết quả tích cực, đáng ghi nhận, góp phần răn đe, ngăn chặn tình trạng tham nhũng, lãng phí trong thời gian vừa qua. Các cơ quan hành chính, chính quyền các cấp đã tập trung giải quyết kịp thời, đúng pháp luật nhiều đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Người đứng đầu các ngành, địa phương, đơn vị đã tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân theo định kỳ có kết quả. 

Tổ chức đảng, cấp ủy các cấp quan tâm lãnh đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phát huy vai trò của các cơ quan dân cử. Các phương tiện truyền thông đại chúng đã dựa vào nhân dân, đồng hành với nhân dân trong công cuộc đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, góp phần tích cực củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Bốn là, phương thức tiến hành công tác dân vận của Đảng, việc thực hiện của các cấp ủy đã có nhiều đổi mới, bám sát nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Nội dung công tác dân vận đã tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể, như xóa đói, giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là tập trung đầu tư, ưu tiên cho đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn...; gắn tuyên truyền, vận động nhân dân với giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; gắn việc tập hợp, thu hút các tầng lớp nhân dân với thực hiện các dự án kinh tế - xã hội, củng cố các tổ chức và hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Hình thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân khá đa dạng, phong phú, gắn với đặc điểm đối tượng và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Những kết quả của công tác dân vận thời gian qua đã góp phần quyết định vào việc tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân có nơi, có lúc còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót; cụ thể là:

Thứ nhất, việc theo dõi, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp còn chưa kịp thời, sâu sát; việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu thiết thân của nhân dân vẫn chưa thực sự chắc chắn, chưa sâu sát; từ đó, dẫn đến việc đề ra một số chủ trương, chính sách đối với các tầng lớp nhân dân chưa kịp thời, chưa bám sát những biến đổi trong thực tiễn và điều kiện, hoàn cảnh của đất nước. Bên cạnh đó, việc quán triệt, nâng cao nhận thức, tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận chưa sâu sắc; chưa dự báo, nắm bắt đầy đủ những diễn biến, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để có biện pháp xử lý phù hợp, vẫn còn có lúc việc xử lý tình huống bức xúc, “điểm nóng” chưa kịp thời.

Thứ hai, công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn một số bất cập. Việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận ở một số cấp ủy còn kém hiệu quả. Công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân có lúc, có nơi còn giáo điều, xa rời thực tế, lý thuyết suông, chưa sát hợp với trình độ, phong tục, tập quán của người dân.

Thứ ba, việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; công tác tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Phương pháp vận động, tập hợp nhân dân có lúc, có nơi còn chưa phù hợp với từng đối tượng, nhất là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, đồng bào theo tôn giáo.

Thứ tư, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt hiệu quả như mong đợi.

Thứ năm, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, chưa thúc đẩy công tác phối hợp của hệ thống chính trị trong thực hiện công tác dân vận; một số nơi còn chưa coi trọng việc lấy ý kiến nhân dân nên có chính sách chưa đáp ứng được nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân... Thậm chí, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, còn thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân. Một số cán bộ có chức, có quyền chẳng những không gương mẫu, mà còn nêu gương xấu trước quần chúng, nói không đi đôi với làm, bố trí thần tốc, đề bạt con cháu, người thân vào các chức vụ quan trọng, nhưng không tương xứng với năng lực, trình độ, uy tín, để xảy ra những vụ việc sai phạm, tham nhũng trong phạm vi lãnh đạo, quản lý... Những biểu hiện, tình trạng này làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Thứ sáu, công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết có lúc, có nơi còn chưa được quan tâm đúng mức. Một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, một số bức xúc kéo dài chưa được giải quyết kịp thời; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi còn mang tính hình thức hoặc bị vi phạm,... gây tâm lý dồn nén, tích tụ bức xúc trong nhân dân; một bộ phận nhân dân bị các thế lực thù địch, đối tượng cực đoan lợi dụng kích động, gây ra nhiều vụ việc phức tạp, tạo “điểm nóng” về an ninh, trật tự.

Cán bộ, công nhân ngành điện hướng dẫn đồng bào sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hiệu quả_Nguồn: evn.com.vn

Giải pháp củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay

Để củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới trong giai đoạn hiện nay, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy, các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác dân vận trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng đề ra giải pháp trước tiên là: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận”(7). Trong điều kiện mới, trước yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn đổi mới đất nước, đòi hỏi phải tiếp tục có sự chuyển biến mạnh mẽ, quyết liệt hơn nữa trong nhận thức, hành động của các cấp ủy và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; từ đó, đề cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và từng người dân để công tác dân vận đạt được mục tiêu và hiệu quả đã đề ra. Trong thời gian qua, nhận thức về công tác dân vận của một số cấp ủy, tổ chức trong hệ thống chính trị chưa đầy đủ; chưa nêu cao trách nhiệm, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện công tác dân vận; vẫn còn không ít cán bộ, công chức xem nhẹ vai trò, ý nghĩa của công tác dân vận, dẫn đến tình trạng chưa quan tâm, chú ý đúng mức tới việc vận động, tuyên truyền, thuyết phục, tạo sự đồng tình, ủng hộ của người dân trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước.

Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo công tác dân vận của cấp ủy, sự vào cuộc của hệ thống chính trị trong thực hiện công tác dân vận, các cấp ủy cần tập trung thực hiện tổ chức quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận một cách hiệu quả. Trung ương cần có những quy định cụ thể đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, đưa nội dung công tác dân vận vào trong sinh hoạt đảng hằng tháng.

Hai là, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận. Đại hội XIII của Đảng đề ra giải pháp: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”(8); “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; đồng thời, “Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận”(9).

Để tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, nhất thiết phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận của Đảng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược. Muốn vậy, cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng nhằm thu hút người có năng lực, có uy tín, kỹ năng, phương pháp và kinh nghiệm làm công tác dân vận; chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là cán bộ trẻ, có năng lực và được đào tạo bài bản; khắc phục tình trạng đưa cán bộ sắp đến tuổi nghỉ hưu hay phẩm chất, năng lực yếu kém và không có uy tín về làm công tác dân vận. Kiện toàn tổ chức, bộ máy và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu về trình độ lý luận, năng lực hoạt động thực tiễn và kỹ năng công tác vận động nhân dân. Các cơ quan tham mưu của Đảng phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong công tác tham mưu, tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân vận; duy trì chế độ thường xuyên báo cáo, thông tin kịp thời, đầy đủ về tình hình các tầng lớp nhân dân và những hạn chế, khuyết điểm trong công tác dân vận của cấp ủy các cấp.

Cùng với việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, cũng phải chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo (già làng, trưởng bản, các chức sắc tôn giáo) làm công tác dân vận ở cơ sở. Họ chính là những “cánh tay nối dài” giữa Đảng, chính quyền với nhân dân.

Ba là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp. Thời gian qua, hiệu quả của một số nghị quyết, chương trình lãnh đạo công tác dân vận còn chưa cao, không ít nội dung chưa đi vào thực tiễn cuộc sống, chưa đáp ứng được nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của một bộ phận nhân dân nên đã gây ra những bức xúc, khiếu kiện phức tạp đông người. Bên cạnh đó, việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng liên quan đến công tác dân vận còn chưa phù hợp, kịp thời, chưa sát với tình hình thực tiễn và bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân. Do đó, đổi mới việc ra nghị quyết, chương trình lãnh đạo công tác dân vận, xây dựng quy chế làm việc, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện, thường xuyên của Đảng đối với công tác dân vận là một yêu cầu cần thiết; đồng thời, là một trong những giải pháp quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác dân vận trong tình hình mới.

Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh:Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp”(10). Cụ thể là, đổi mới việc ban hành nghị quyết, chương trình lãnh đạo công tác dân vận của Đảng, xây dựng quy chế làm việc, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện, thường xuyên của Đảng đối với công tác dân vận; đồng thời, tăng cường và đổi mới công tác dân vận của cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp; tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những kiến nghị, bức xúc và nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân.

Bốn là, nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

Sở dĩ Đại hội XIII của Đảng đề ra giải pháp: “Nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân”(11) là bởi vì, ở không ít địa phương, những năm qua chưa phát huy thật tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở một số cơ sở giảm sút vai trò, phối hợp thiếu chặt chẽ, không sát dân, không làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.

Để nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các cấp ủy, tổ chức đảng, một mặt, phải tôn trọng tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân; mặt khác, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân phát huy tính chủ động hơn nữa trong hoạt động, để gần dân, sát dân hơn.

Năm là, tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận”(12); bởi thời gian qua, không ít nơi chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản của Đảng về công tác dân vận. Một số nơi chưa coi trọng việc lấy ý kiến nhân dân khi ban hành chính sách, pháp luật; hiệu quả công tác tiếp dân, đối thoại, giải quyết đơn, thư khiếu nại còn hạn chế...

Do đó, các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện để nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận sớm đi vào cuộc sống, có hiệu quả thiết thực. Xây dựng kế hoạch hằng quý, hằng năm về tìm hiểu, nắm bắt tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời. Các cấp ủy lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần phối hợp chặt chẽ trong giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của công dân. Các cơ quan đảng ở Trung ương thường xuyên phối hợp, kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình triển khai thực hiện; đồng thời, theo dõi, kiểm tra việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân vận. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề mới mà thực tiễn đang đặt ra đối với công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới../.

------------------------

(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 333, 335
(3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 5, tr. 278, 325
(5), (6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 201 - 202, 202
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. II, tr. 248
(8), (9), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. II, tr. 248, 249, 248


Nguy hại của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

 

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”.

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

HAIVAN

“Dù có lâu dài, gian khổ, cuộc đấu tranh chính nghĩa đó nhất định sẽ thắng lợi”

 

Lời khẳng định thể hiện sâu sắc ý chí mạnh mẽ và quyết tâm sắt đá của Bác trước nhân dân ta, quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được, thể hiện lập trường kiên định về độc lập, tự do của dân tộc, phản ánh niềm tin vững chắc vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, dù phải hy sinh gian khổ, song quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập. 

Lời của Bác vang vọng núi sông, có sức cổ vũ mạnh mẽ nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc, tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Người nhấn mạnh, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là trường kỳ gian khổ nhưng lại phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức rõ chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, đoàn kết, thống nhất, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường trong thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân, đơn vị, từng địa phương và nhiệm vụ chung của cách mạng. Tinh thần tự lực, tự cường của cả dân tộc là nhân tố quan trọng để làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. 

HAIVAN

Một số nhận thức lý luận về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

  Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là quan điểm lý luận lớn của Đảng ta. Trong những tác phẩm công bố gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bổ sung, phát triển lý luận về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc với nhân dân thôn Tháp Thượng, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội_Ảnh: TTXVN

Dân chủ là bản chất, mục tiêu và động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

“Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ(1). Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng là điều kiện tiên quyết để bảo đảm nhân dân làm chủ đất nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nhân dân làm chủ đất nước là đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phương thức, phương tiện quan trọng hàng đầu để Đảng lãnh đạo đất nước và nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thực sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(2). Quyền làm chủ đất nước của nhân dân là bản chất và cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh ý chí của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân được pháp luật thừa nhận, khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân, sử dụng hệ thống thể chế để bảo đảm giữ vững lòng dân với tư cách là chủ nhân của đất nước. Đồng chí khẳng định: “bản chất cốt lõi nhất của dân chủ là bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(3). Đây là một luận điểm phản ánh đặc trưng bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đó là: vì nhân dân, lấy nhân dân làm gốc, làm chủ, làm lực lượng quyết định toàn bộ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Luận điểm này được kế thừa từ truyền thống “lấy dân làm gốc”, coi trọng sức dân trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; là sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong thời đại mới; phản ánh quan điểm xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta với tư cách là lực lượng tiên phong, tiên tiến, lãnh đạo đất nước và xã hội trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Tổng Bí thư chỉ rõ: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”(4).

Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở chỗ, nhân dân có quyền làm chủ, tham gia giải quyết công việc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội,... Chẳng hạn, trong quản lý phát triển xã hội, dân chủ thể hiện rõ nhất ở việc người dân cùng với Nhà nước tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, như việc làm, xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, phúc lợi công cộng... Người dân chẳng những là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà còn là đồng chủ thể với Nhà nước trong xây dựng, hoạch định chính sách và đánh giá việc thực hiện chính sách. Quy chế Dân chủ ở cơ sở khẳng định vai trò của người dân ở cơ sở: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; đến Đại hội XIII của Đảng bổ sung nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” lợi ích. Người dân được bảo đảm các điều kiện, như bảo đảm dân sinh, dân quyền; nâng cao dân trí; thực hiện dân chủ... Tổng Bí thư thường xuyên nhắc nhở: “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, các cấp ủy đảng, các cơ quan nhà nước cần động viên, tổ chức nhân dân tham gia rộng rãi và thường xuyên vào các công việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội... Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân, cấp ủy đảng cần lắng nghe ý kiến nhân dân trước khi quyết định. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” phải trở thành khẩu hiệu hành động, thành phương châm công tác vận động quần chúng. Phải thực hiện đúng nguyên tắc: Chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và trình độ của nhân dân... nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, có ý thức và thái độ đúng đắn với nhân dân, yêu thương, gần gũi, tôn trọng, lắng nghe nhân dân”(5).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”(6); “tạo mọi điều kiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia có hiệu quả vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội”(7). Điều này có nghĩa là, ở phương diện cá nhân, mỗi con người trong tư cách công dân là một con người chính trị, có quyền tham gia vào đời sống chính trị, có quan điểm, chính kiến rõ ràng, có quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin, quyền bảo lưu ý kiến theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phù hợp với pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Đảng, quy định, quy chế của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội mà mình tham gia với tư cách là thành viên. Ở phương diện xã hội, đó là quyền tham gia xây dựng, đánh giá đường lối, chính sách, trong xây dựng thể chế và kiểm soát quyền lực. Bên cạnh đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, dân chủ xã hội chủ nghĩa phải gắn với công bằng và bình đẳng xã hội; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội không chỉ là công bằng, bình đẳng trong phân phối lợi ích, mà còn là công bằng, bình đẳng về cơ hội phát triển dành cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt. Đây là những đặc trưng làm nên sự khác biệt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam so với các nền “dân chủ tự do” khác. Tổng Bí thư phân tích và chỉ rõ: “Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”(8).

Với những đặc trưng ưu việt đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một chế độ dân chủ thực sự; phản ánh đầy đủ tính pháp lý, tính chính trị và mang tính nhân dân, tính nhân văn sâu sắc. Đó là nền dân chủ “lấy con người làm trung tâm”, “thực sự vì con người”. Chính vì lẽ đó, Tổng Bí thư khẳng định: “xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”(9).

Dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ thực sự được bảo đảm trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Lịch sử phát triển của các thể chế chính trị trên thế giới đã cho thấy, dân chủ là một hình thái tổ chức quyền lực của nhà nước trong lịch sử; do đó, dân chủ có quan hệ mật thiết, không thể tách rời với nhà nước - xét về mặt thiết chế, bộ máy.

Trong lịch sử, một khi đã có nhà nước thì dân chủ tất yếu phải thông qua nhà nước mà bộc lộ ra và được thực hiện. Dân chủ phải được thấm nhuần, thẩm thấu trong mọi tổ chức cơ cấu quyền lực và hệ thống thể chế nhà nước cũng như trong môi trường kinh tế - xã hội và các quan hệ xã hội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra vấn đề mấu chốt của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đó là dân chủ phải được xây dựng trên nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tổng Bí thư đã phân tích về mối quan hệ giữa dân chủ và nhà nước pháp quyền: “Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân... Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(10)Chính vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, hiệu lực, hiệu quả hơn. Xây dựng Nhà nước về cả lập pháp, hành pháp và tư pháp, gắn với đổi mới hoàn thiện chính quyền các địa phương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện nghiêm pháp luật theo các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp năm 2013”(11). Kế thừa quan điểm mang tính nguyên tắc đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã đề ra mục tiêu: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả...”(12).

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tăng cường pháp chế, siết chặt kỷ luật, kỷ cương xã hội. Tăng cường pháp chế và quản lý xã hội bằng pháp luật là nguyên tắc hiến định ở nước ta(13). Thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội là sự cần thiết tất yếu để làm cho xã hội trở nên lành mạnh, có trật tự và kỷ cương, không rơi vào hỗn loạn, tự do, vô chính phủ, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Vì vậy, Tổng Bí thư nhiều lần nhấn mạnh, “phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương (14), “dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Một đất nước không có kỷ cương thì xã hội rối loạn, mất ổn định, như vậy thì đất nước ấy không xây dựng, phát triển được. Cho nên, dân chủ và kỷ cương phải đi liền với nhau. Dân chủ nhưng phải kỷ cương và kỷ cương trên cơ sở phát huy dân chủ” (15), “cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn..., đặc biệt là mối quan hệ mới được bổ sung lần này là mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội(16), “chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức”(17). Quan điểm này được Nghị quyết số 27-NQ/TW nhấn mạnh: “Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế,... giữ vững kỷ luật, kỷ cương, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức”(18).

Cán bộ Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tuyên truyền pháp luật cho đồng bào ở xã Húc Động, huyện Bình Liêu _Nguồn: baovephapluat.vn

Có thể thấy, các bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ quan điểm nhìn nhận dân chủ về chính trị trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chế độ ủy quyền thông qua bầu cử và các phương thức thực hiện dân chủ, từ dân chủ đại diện đến dân chủ trực tiếp. Nhân dân là chủ thể rộng lớn nhất của Nhà nước và xã hội. Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước với tư cách người chủ, là chủ thể gốc của mọi quyền lực, là chủ thể ủy quyền. Nhà nước là chủ thể tiếp nhận và thực thi sự ủy quyền, dùng quyền lực được nhân dân ủy thác để thực hiện quyền lực của nhân dân. Nhân dân làm chủ bằng Nhà nước là cốt lõi của chế độ dân chủ đại diện. Tổng Bí thư nêu rõ, Nhà nước phải thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, là “cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những công việc hệ trọng của đất nước” (19) và nhấn mạnh: “làm tốt công tác nhân sự, bảo đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ, cơ bản giới thiệu được những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân”(20)Bên cạnh cơ chế dân chủ đại diện, người dân còn thực hiện quyền làm chủ trực tiếp thông qua bầu cử những người đại diện cho mình. Tổng Bí thư tin tưởng, việc bầu cử “là cơ hội để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, có đức, có tài, xứng đáng đại diện cho nhân dân tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đây cũng là dịp để tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(21).

Có thể nói, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra những mắt xích xung yếu để bảo đảm cho một nhà nước dân chủ thực sự phục vụ nhân dân, đó là: tổ chức của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước cũng như việc đào tạo, lựa chọn, bố trí cán bộ, công chức vào các lĩnh vực chuyên môn của quản lý nhà nước... Tất cả mắt xích này cần phải được luật hóa, thể chế hóa, chế định hóa chặt chẽ, để phòng tránh sự biến dạng và tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực đối với các cơ quan nhà nước và những người làm việc trong các tổ chức, bộ máy công quyền.

Dân chủ phải gắn liền với thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Dân chủ thực chất sẽ thúc đẩy đoàn kết thực chất. Dân chủ và đoàn kết để đi tới đồng thuận xã hội là nhân tố động lực thúc đẩy phát triển. Nguyên lý này trong thực tiễn đổi mới và phát triển ở nước ta thường được biểu đạt bởi mệnh đề “Ý Đảng - lòng dân - phép nước”. Sự hòa hợp này tạo nên sức mạnh của dân chủ, trở thành động lực của đổi mới, của phát triển, đồng thời dân chủ là mục tiêu của đổi mới, của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đại đoàn kết toàn dân tộc là “sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, Đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh”(22), là “nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam”(23). Để xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, Tổng Bí thư chỉ rõ: “cần phải thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân. Phải thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở; làm tốt, có hiệu quả phương châm: “dân biết, dân bàn, dân giám sát, dân thụ hưởng””(24). Đảng phải tạo ra môi trường lành mạnh, công bằng, bình đẳng; qua đó, giúp cho tất cả đối tượng có điều kiện, cơ hội phát triển, “không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo”(25). Theo đó, thực hành dân chủ trong Đảng và trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở là nền tảng vững chắc để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, để phát huy và thực hành dân chủ một cách mạnh mẽ, thực chất, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần được xây dựng, củng cố trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng chí khẳng định: “Sức mạnh vô địch của Đảng, Nhà nước và chế độ ta là ở nhân dân. Mọi công việc lớn hay nhỏ có làm được hay không đều là do nhân dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị... Sự ủng hộ, giám sát, giúp đỡ của nhân dân là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(26). Điều đó có nghĩa là mọi tầng lớp nhân dân có quyền tham gia, giám sát, phản biện tất cả công việc của Đảng và Nhà nước. Muốn vậy, Tổng Bí thư cho rằng, phải “thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, tích cực tham gia các hoạt động giám sát chính quyền, bảo đảm chính quyền thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(27). Thực tiễn đã chứng minh, ở bất cứ quốc gia - dân tộc nào, nếu đảng cầm quyền biết tôn trọng và phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, hay nói cách khác là dân chủ được thực thi, thì ở đó, có sự đồng thuận xã hội cao. Đây chính là biểu hiện đầy đủ nhất của sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết xã hội.

Chiến sĩ Tiểu đoàn huấn luyện - cơ động, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu xuống đồng giúp đồng bào thu hoạch lúa_Ảnh: TTXVN

Mặt khác, để phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng rất coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên là nơi phản ánh tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân; có vị trí, vai trò quan trọng trong hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là trong mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Chính vì thế, trên một tầm nhìn vĩ mô về quá trình hoàn thiện và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tổng Bí thư nhấn mạnh yêu cầu: “Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy, làm tốt vai trò nòng cốt để nhân dân làm chủ”(28); “phát huy dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thật tốt các chính sách thuận lòng dân; chăm lo xây dựng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, đổi mới mạnh mẽ phương thức tập hợp các tầng lớp nhân dân, xây dựng lực lượng nòng cốt ở các lĩnh vực, địa bàn trọng yếu. Thực hiện tốt quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị và quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước; làm tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; khơi dậy lòng yêu nước, động viên mọi nguồn lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị...”(29).

Có thể nói, quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là sự kế thừa những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại về dân chủ, đoàn kết dân tộc, đoàn kết xã hội cũng như vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển xã hội; đồng thời, là sự vận dụng và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề này trong điều kiện xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực hiện mục tiêu đưa nước ta đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, theo tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta./.

---------------------------

(1), (2) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 28, 48
(3) Nguyễn Phú Trọng: Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng khó khăn nào cũng vượt qua, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 751
(4) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 28
(5) Nguyễn Phú Trọng: Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng khó khăn nào cũng vượt qua, Sđd, tr. 354 - 355
(6), (7), (8), (9) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 62, 117, 20 - 21, 28
(10) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 28 -29
(11) Nguyễn Phú Trọng: Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng khó khăn nào cũng vượt qua, Sđd, tr. 88
(12) Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 40 – 41
(13) Xem: Vũ Trọng Lâm: “Nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở Việt Nam hiện nay” (Kỳ 1), Tạp chí Cộng sản, số 986, tháng 3-2022, tr. 69 - 72
(14) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 48
(15) Nguyễn Phú Trọng: Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng khó khăn nào cũng vượt qua, Sđd, tr. 221
(16), (17) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 55, 62
(18) Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIIISđd, tr. 47
(19), (20) Nguyễn Phú Trọng: Vững bước trên con đường đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, t.2, tr. 284, 396
(21) Nguyễn Phú Trọng: Vững bước trên con đường đổi mới, Sđd, t.2, tr. 330
(22), (23), (24), (25) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 118, 29, 112, 29
(26), (27) Nguyễn Phú Trọng: Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng khó khăn nào cũng vượt qua, Sđd, tr. 220, 65
(28) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamSđd, tr. 112
(29) Nguyễn Phú Trọng: Vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng khó khăn nào cũng vượt qua, Sđd, tr. 56

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam: Hành trình 40 năm tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Trải qua quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc, trí thức Việt Nam luôn nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và có vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong thời đại Hồ Chí Minh, trí thức nước nhà không ngừng phấn đấu, hy sinh, hăng hái tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan trưng bày các sản phẩm khoa học, kỹ thuật tại Hội nghị đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng _Ảnh: TTXVN

Quá trình vận động thành lập và Đại hội lần thứ nhất của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Nửa đầu của thế kỷ XX, nhiều tổ chức của trí thức đã được thành lập và phát triển rộng khắp, như Hội Truyền bá quốc ngữ (1938), Hội Văn hóa cứu quốc (1943), Hội Văn nghệ Việt Nam (1948), góp phần tích cực mở mang dân trí, giải phóng dân tộc, chấn hưng đất nước. Ngay sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc, một số hội của các nhà khoa học Việt Nam đã ra đời, như: Hội Luật gia Việt Nam (1955), Tổng hội Y - Dược học Việt Nam (1955), Hội Đông y Việt Nam (1957), Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam (1959). Tiếp theo, các hội phát triển tổ chức đến các địa phương; đồng thời, nhiều hội khoa học - công nghệ mới tiếp tục hình thành và hoạt động, nhất là sau khi miền Nam giải phóng. Ngay trong năm 1975, Hội Trí thức yêu nước đã được thành lập tại thành phố Sài Gòn.

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI (12-1986) giúp giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tạo ra không khí cởi mở và thổi một luồng sinh khí mới vào các hoạt động xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các hội khoa học và công nghệ. Trong vòng hơn hai thập kỷ, gần 50 hội và tổng hội khoa học và công nghệ đã được thành lập, cùng với hơn mười hội ra đời trước đó, đưa tập hợp các hội khoa học - công nghệ lên con số 66.

Song song với sự ra đời của các hội hoạt động trong ngành khoa học và công nghệ, là xu thế tập hợp các hội khoa học và công nghệ ngành thành một tổ chức chung thống nhất. Tháng 3-1965, Ủy ban liên lạc lâm thời các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam được thành lập. Các nhà khoa học của Thủ đô Hà Nội đã đi tiên phong thực hiện chủ trương này với việc thành lập Hội Liên hiệp khoa học - kỹ thuật Hà Nội (1982), sau này đổi tên thành Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội - liên hiệp hội địa phương đầu tiên trong cả nước.

Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, những điều kiện cần thiết cho sự ra đời một tổ chức thống nhất của các hội khoa học và công nghệ đã hội đủ. Trên cơ sở kết quả hoạt động của Ủy ban liên lạc lâm thời các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, ngày 26-3-1983, tại Thủ đô Hà Nội, đại biểu của 14 hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Hội Liên hiệp khoa học - kỹ thuật Hà Nội tổ chức đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Đại hội đã thông qua Điều lệ và bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. GS, VS, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa được bầu làm Chủ tịch.

Ngày 29-7-1983, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 121-HĐBT, cho phép Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chính thức thành lập và hoạt động. Liên hiệp ra đời là nơi tập hợp và đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ cả nước, điều hòa và phối hợp hoạt động của các tổ chức thành viên. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Liên hiệp Hội gây được tiếng vang lớn ở trong và ngoài nước.

Những kết quả đạt được trong công tác vận động trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, vừa phải giải quyết những hậu quả của chiến tranh, vừa phải đối đầu với việc bao vây cấm vận, phải làm nghĩa vụ quốc tế. Tuy nhiên, sau 40 năm xây dựng và phát triển cùng với đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã khẳng định vai trò trong việc tập hợp, đoàn kết và phát huy đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được thừa nhận là một tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Liên hiệp có hệ thống tổ chức từ Trung ương tới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nằm trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Các hội ngành khoa học và kỹ thuật Trung ương là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, nhưng khi đã là hội thành viên thì có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ngày càng trở thành địa chỉ tin cậy tập hợp trí thức khoa học và công nghệ trong cả nước, thể hiện qua việc phát triển mạnh về tổ chức. Từ 15 tổ chức thành viên với vài chục nghìn hội viên khi mới thành lập, tính đến tháng 12-2022, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam có 93 hội ngành toàn quốc, 63 liên hiệp hội tỉnh, thành phố, với hơn 3,7 triệu hội viên, trong đó có hơn 2,2 triệu hội viên là trí thức; 607 tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc; 3 đơn vị thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Quỹ Vifotec, Nhà xuất bản Tri thức, Báo Tri thức và Cuộc sống).

Tổ chức bộ máy của Liên hiệp Hội ở Trung ương, địa phương mang tính hệ thống chính trị - xã hội hai cấp và phần lớn các liên hiệp hội địa phương đã sử dụng chung Điều lệ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được phê duyệt theo Quyết định số 1795-QĐ-TTg, ngày 21-10-2015, của Thủ tướng Chính phủ. Mối quan hệ của các tổ chức trong hệ thống ngày càng được củng cố, đặc biệt mối quan hệ phối hợp và liên kết vùng giữa các liên hiệp hội địa phương và giữa các hội thành viên ở Trung ương và địa phương ngày càng được tăng cường. Cán bộ cơ quan Liên hiệp Hội ở Trung ương và địa phương được củng cố theo hướng tinh gọn, nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả. Công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ hoạt động hội từng bước được định hướng theo một chương trình thống nhất, có tính hệ thống. Nhiều hội thành viên đã thành lập một số loại hình tổ chức mới phù hợp để thực hiện công tác vận động, thu hút, động viên, khuyến khích trí thức tham gia xây dựng và phát triển đất nước.

Để bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã phối hợp với các tỉnh, thành ủy thành lập 53 đảng đoàn ở các liên hiệp hội địa phương và dần hình thành các tổ chức đảng, đoàn thể ở các liên hiệp hội. Riêng các tổ chức hội ở Trung ương từ các chi bộ nhỏ lẻ đã phát triển thành Đảng bộ Liên hiệp Hội, với 58 chi bộ trực thuộc, trên 800 đảng viên; các tổ chức đoàn thể như đoàn thanh niên, công đoàn được thành lập và hoạt động khá nền nếp. Công đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trực thuộc Công đoàn Viên chức Việt Nam, có 15 tổ chức công đoàn trực thuộc, với trên 1.000 công đoàn viên. Đoàn Thanh niên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trực thuộc Đoàn Thanh niên Khối các cơ quan Trung ương, có 11 chi đoàn trực thuộc.

Về công tác vận động trí thức, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam thực hiện nhiều hình thức phù hợp và có hiệu quả, như: Tuyên truyền, gặp gỡ, thăm hỏi, động viên trí thức khoa học và công nghệ; tổ chức tặng quà, thăm hỏi các trí thức có nhiều cống hiến, nhưng có khó khăn trong cuộc sống, theo Kết luận số 59-KL/TW, ngày 9-4-2013, của Ban Bí thư; tổ chức các đợt trao Huy hiệu tuổi Đảng cho các đảng viên thuộc Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5 hằng năm, nhiều liên hiệp hội tỉnh, thành phố, các hội ngành toàn quốc đã tổ chức hội thảo, tọa đàm về khoa học và công nghệ; tham mưu cho lãnh đạo địa phương tổ chức gặp mặt, tôn vinh các trí thức tiêu biểu của địa phương; tạo điều kiện để trí thức trực tiếp trao đổi, bày tỏ suy nghĩ, nguyện vọng và hiến kế đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Hoạt động tôn vinh trí thức khoa học và công nghệ trở thành một nhiệm vụ quan trọng của Liên hiệp Hội từ Trung ương tới địa phương. Từ năm 1993, hằng năm, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức trao Giải thưởng "Sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam". Giải thưởng lôi cuốn nhiều cán bộ khoa học ở các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp tham gia. Ngoài ra, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam còn phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể tổ chức Hội thi "Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc", Cuộc thi "Sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên và nhi đồng", Giải thưởng “Sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC” dành cho sinh viên. Các hội thành viên cũng tổ chức nhiều hình thức để tôn vinh trí thức, như Giải thưởng Loa Thành của Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Giải thưởng Phạm Thận Duật của Hội Lịch sử Việt Nam, Giải thưởng khoa học - công nghệ Hoa Lư của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Ninh Bình, Hội thi Sáng tạo khoa học - kỹ thuật Trần Đại Nghĩa của tỉnh Vĩnh Long và việc tổ chức tôn vinh trí thức tiêu biểu hằng năm của các tỉnh…

Từ năm 2015 đến nay, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã 4 lần tổ chức tôn vinh và trao biểu trưng trí thức khoa học và công nghệ tiêu biểu cho gần 600 trí thức thuộc hệ thống Liên hiệp Hội. Nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước tham dự và phát biểu chỉ đạo, động viên khích lệ đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ nước nhà. Hội nghị tôn vinh trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đánh giá cao, các Ban của Đảng và Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương… ghi nhận, được đội ngũ trí thức trong cả nước và các hội thành viên Liên hiệp Hội đồng tình, ủng hộ.

Phát huy vai trò thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp Hội ở Trung ương và địa phương đặc biệt chú trọng công tác tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; tích cực hưởng ứng, chỉ đạo các hội thành viên, các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động; cử đại diện lãnh đạo Liên hiệp Hội ở Trung ương và địa phương tham gia vào cơ cấu lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; phối hợp cùng với các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực hiện chỉ đạo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiộp Hội ở Trung ương và địa phương lựa chọn và tiến cử các nhà khoa học có uy tín tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Các đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố đã phát huy được vai trò là người đại biểu của nhân dân, nói lên tiếng nói của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, đóng góp ý kiến và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, khẳng định được tài năng và bản lĩnh của mình, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Với những kết quả đạt được trong việc tập hợp, đoàn kết và phát huy đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Liên hiệp tiếp tục phát huy truyền thống của các hội khoa học và kỹ thuật trước đây về thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ cho quần chúng nhân dân. Hình thức phổ biến kiến thức ngày càng phong phú thông qua sách, báo, truyền hình, phát thanh, hội thảo, lớp tập huấn, cầm tay, chỉ việc trực tiếp… Mỗi năm, Liên hiệp Hội và các hội thành viên thực hiện tới hàng chục nghìn sự kiện liên quan tới phổ biến kiến thức. Nhiệm vụ này trở thành thường xuyên trong hoạt động của Liên hiệp Hội và các hội thành viên. Hoạt động truyền thông và phổ biến kiến thức được thực hiện liên tục ở hầu hết các hội thành viên trong hệ thống, có nhiều bước tiến và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Thông qua các ấn phẩm báo chí, bản tin, hệ thống báo chí của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, nhất là dịch bệnh COVID-19 trong thời gian vừa qua…, giúp nâng cao dân trí, bảo đảm an toàn và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.

Trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội, Liên hiệp Hội tập hợp được đông đảo chuyên gia, trí thức ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau và đã thực hiện hàng nghìn nhiệm vụ tư vấn, phản biện, góp ý khách quan, thẳng thắn và kịp thời nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến chủ trương, chính sách, các dự thảo văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhiều dự án đầu tư trọng điểm có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tập trung góp ý các dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội đảng bộ các cấp, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, bảo vệ môi trường, y tế, các dự thảo luật quan trọng, các dự án đầu tư trọng điểm, “vấn đề nóng” cần sự vào cuộc của trí thức khoa học và công nghệ… Liên hiệp Hội từ Trung ương tới tỉnh, thành phố thực sự trở thành cầu nối giữa giới trí thức với Đảng.

Thực hiện Quyết định số 501/QĐ-TTg, ngày 15-4-20215, của Thủ tướng Chính phủ, về tổ chức Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của trí thức, Liên hiệp Hội chủ động và tích cực triển khai hàng chục diễn đàn với nhiều chủ đề khác nhau, được các cơ quan quản lý và các nhà khoa học quan tâm. Diễn đàn vừa là kênh thông tin, vừa là môi trường để trí thức có điều kiện phát huy trí tuệ, tâm huyết trong việc đóng góp vào các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án quan trọng của Đảng và Nhà nước. Thông qua diễn đàn, đội ngũ trí thức bày tỏ quan điểm, thái độ trên cơ sở khoa học và thực tiễn để tham mưu, tư vấn cho các cơ quan chức năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý xã hội. Đó là những ý kiến khách quan, khoa học giúp cho Đảng và Nhà nước nghiên cứu, xem xét, trước khi quyết định những vấn đề quan trọng về đường lối, chính sách và các dự án phát triển.

Với thế mạnh là tập hợp được nhiều chuyên gia, các nhà khoa học, hoạt động nghiên cứu khoa học của Liên hiệp Hội tập trung vào hướng nghiên cứu ứng dụng. Nhiều cán bộ khoa học có năng lực tích cực tham gia nghiên cứu ở các hội. Hằng năm, có hàng trăm đề tài nghiên cứu từ cấp Nhà nước cho tới cơ sở đã được thực hiện ở các hội và các tổ chức khoa học và công nghệ. Một số liên hiệp hội của các tỉnh, thành phố cũng đã tổ chức nghiên cứu khoa học, nhiều kết quả nghiên cứu được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe nhân dân..., Liên hiệp Hội ở Trung ương, địa phương cùng với các hội ngành thành viên và các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc đã có nhiều đóng góp tích cực trong công tác xã hội hóa các hoạt động. Thông qua nghiên cứu ứng dụng, nhiều mô hình kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, phát triển nông nghiệp bền vững, mô hình cộng đồng tự quản... đã được các tổ chức triển khai thực hiện, góp phần phát triển cộng đồng, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, các liên hiệp hội địa phương, hội ngành thành viên và tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc chủ động khai thác các nguồn lực để tổ chức hàng trăm khóa đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho các hội viên; tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng; tham gia xã hội hóa công tác đào tạo, dạy nghề, nâng cao năng lực cho trẻ em, thanh thiếu niên, người yếu thế, nông dân. Hình thức tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực phong phú, như: Tự nghiên cứu, thiết kế chương trình và trực tiếp tuyển sinh; liên kết, hợp tác với các cơ sở đào tạo, dạy nghề của cơ quan nhà nước, trong đó có những đơn vị uy tín, tập trung chủ yếu vào đối tượng thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, đào tạo tiếng Anh, tin học miễn phí, các “kỹ năng mềm” cho trẻ em...

Các hội ngành thành viên và tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc thực hiện nhiều dự án bảo vệ môi trường, bảo tồn động vật, thực vật; trực tiếp tổ chức nhiều chiến dịch truyền thông về môi trường, với hàng nghìn pa-nô, áp-phích, băng-rôn; xây dựng và triển khai hàng trăm mô hình bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn và khai thác tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia của cộng đồng; xây dựng nhiều mô hình bảo vệ và khai thác bền vững tài nguyên nước; mô hình về năng lượng sạch (điện mặt trời, điện gió…).

Trong hoạt động chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, các hội ngành thành viên và tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc phối hợp với các cơ quan y tế tổ chức thăm khám, hỗ trợ cho các bệnh nhân; nghiên cứu, triển khai các dự án về sức khỏe sinh sản; tổ chức thực hiện dịch vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân...

Trong 40 năm qua, Liên hiệp Hội và các hội thành viên, nhất là các hội ngành toàn quốc đã đẩy mạnh các hoạt động quan hệ quốc tế. Liên hiệp Hội tiếp tục phát triển mối quan hệ tốt đẹp với Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN và mở rộng mối quan hệ với Hiệp hội Khoa học và Công nghệ Trung Quốc, Hàn Quốc, với các tổ chức quốc tế… Nhiều hội nghị khoa học do Liên hiệp Hội hay các hội thành viên tổ chức ngày càng có nhiều nhà khoa học các nước và Việt kiều tham gia. Liên hiệp hội các tỉnh, thành phố cũng đã bắt đầu mở rộng mối quan hệ với các tổ chức hội ở các nước. Nhiều tổ chức khoa học và công nghệ tham gia các mạng lưới, liên minh trong khu vực; huy động và triển khai trực tiếp hàng nghìn dự án với nguồn viện trợ từ bên ngoài. Trong đó, phần lớn các dự án tập trung vào các lĩnh vực phát triển kinh tế tổng hợp, giảm nghèo bền vững, y tế, giáo dục, giải quyết các vấn đề xã hội, khắc phục hậu quả chiến tranh, cứu trợ và phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Mối quan hệ quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu thông qua việc hợp tác nghiên cứu khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững…

Đánh giá cao những thành tích hoạt động của Liên hiệp Hội trong suốt 40 năm qua, Đảng và Nhà nước đã trao tặng Liên hiệp Hội và các hội thành viên nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Thu hút các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành, các trí thức trẻ tham gia vào các hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam_Nguồn: tiasang.com.vn

Một số bài học kinh nghiệm

Một là, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị đối với Liên hiệp Hội có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công trong công tác củng cố, phát triển tổ chức và hoạt động của Liên hiệp Hội. Thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1795/QĐ-TTg, ngày 21-10-2015, phê chuẩn Điều lệ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam nhằm thể chế hóa Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16-4-2010, của Bộ Chính trị, trong đó quy định vị thế chính trị - xã hội của Liên hiệp Hội ở Trung ương, địa phương, thể hiện sự quan tâm, đánh giá đúng vai trò, vị trí của Liên hiệp Hội. Đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho việc xây dựng Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trở thành một tổ chức có vị thế xứng đáng trong xã hội, trở thành ngôi nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ nước nhà.

Hai là, củng cố, hoàn thiện và thống nhất tổ chức bộ máy từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quan tâm giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ, đề cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là uy tín của người đứng đầu là yếu tố cơ bản tạo nên sự thành công của Liên hiệp Hội ở Trung ương, địa phương và các hội ngành thành viên.

Ba là, chủ động phối hợp với các ban, bộ, ngành trung ương, tích cực tham mưu, đề xuất việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng về Liên hiệp Hội thành cơ chế, chính sách, quy định của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Liên hiệp Hội ở Trung ương, địa phương, các hội ngành thành viên và đơn vị trực thuộc để thực hiện các nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, có vai trò hết sức quan trọng đối với toàn hệ thống. Phát huy sự năng động, sáng tạo, củng cố và mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế, huy động và thu hút đa dạng các nguồn lực để triển khai nhiệm vụ; phát huy dân chủ, coi trọng việc thuyết phục, vận động, lắng nghe, sự đồng thuận là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của Liên hiệp Hội ở Trung ương, địa phương và các hội ngành thành viên.

Bốn là, vận dụng một cách sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong công tác tập hợp, vận động trí thức; bám sát các chương trình, nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước để xây dựng và triển khai thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả. Đổi mới phương thức hoạt động bằng các hình thức tổ chức linh hoạt, nội dung phong phú, đa dạng, thu hút các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành, các trí thức trẻ trong và ngoài hệ thống tham gia các hoạt động của Liên hiệp Hội. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn; hướng các hoạt động của Liên hiệp Hội ở Trung ương, địa phương và các hội ngành thành viên về cơ sở, gắn kết hoạt động, đồng hành và bám sát các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của địa phương.

Sự trưởng thành và phát triển của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong suốt 40 năm qua luôn gắn liền với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp; sự hỗ trợ của Nhà nước về tài chính, cơ sở vật chất, cơ chế và chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho Liên hiệp Hội phát triển; sự đóng góp nhiệt tình không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ hội, nhất là cán bộ lãnh đạo hội các cấp, qua các thời kỳ, trong suốt 40 năm qua, đặc biệt ở những thời điểm khó khăn nhất.

Trí tuệ của đội ngũ trí thức là sức mạnh của đất nước và cũng chính là sức mạnh để xây dựng Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Với mục tiêu phấn đấu trở thành một tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh, Liên hiệp Hội tiếp tục củng cố, kiện toàn và phát triển tổ chức; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đặc biệt là hoàn thành tốt những nhiệm vụ về công tác tư tưởng, đề xuất, tham mưu cho Đảng, Nhà nước những vấn đề lớn có liên quan đến phát triển đất nước; chủ động trong hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xã hội; phát huy dân chủ, tôn trọng tự do sáng tạo trong hoạt động khoa học và công nghệ; đa dạng hóa các hình thức hợp tác về khoa học và công nghệ, tích cực đóng góp trí tuệ vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.