Thứ Ba, 11 tháng 4, 2023

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO TRONG BỐI CẢNH LỊCH SỬ MỚI!

     Hoạt động đối ngoại cấp cao của Việt Nam đang diễn ra sôi động trong những ngày vừa qua. Ngày 10-4, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng bắt đầu chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của ông trên cương vị mới tới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Toàn quyền Úc David Hurley vừa kết thúc chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (1973 – 2023). Cách đây ít ngày, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa có cuộc điện đàm với Tổng thống Mỹ Joe Biden nhân kỷ niệm 10 năm hai nước thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện (2013-2023). Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng vừa có những cuộc hội đàm trực tuyến với những người đồng cấp Trung Quốc. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Blinken dự kiến sẽ có chuyến thăm Việt Nam trong những ngày tới…

Dư luận trong nước và quốc tế rất quan tâm theo dõi những hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh tình hình thế giới đang có những biến động hết sức nhanh chóng, phức tạp và chưa từng có tiền lệ do cuộc cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt giữa các cường quốc và cuộc xung đột tại Ucraina, xu hướng chạy đua vũ trang, sử dụng vũ lực, chính trị cường quyền gia tăng. Một trật tự thế giới mới đang trong giai đoạn định hình với nhiều diễn biến khó dự đoán. Các nước lớn vừa điều chỉnh chính sách của mình, vừa tìm cách lôi kéo các nước nhỏ, các nước đang phát triển vào vòng ảnh hưởng của họ nhằm mục đích giành lợi thế. Điều này đã và đang tác động trực tiếp đến an ninh, hòa bình, phát triển của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.   

Trên MXH tiếp tục xuất hiện những thông tin, bài viết, bình luận trái chiều về đường lối đối ngoại của Việt Nam. Bên cạnh đại đa số những ý kiến ủng hộ, cũng có những thông tin, bình luận trái chiều, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta nhằm gây hoang mang, mất phương hướng, tạo sự bức xúc, tâm lý chống đối, gây mất ổn định xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Vẫn là những luận điệu xuyên tạc quen thuộc, đại loại như: “Việt Nam theo Mỹ sẽ mất Đảng, theo Trung Quốc sẽ mất nước”, “Việt Nam nâng cấp quan hệ với Australia, Hàn Quốc, nhưng lại ngó lơ Mỹ. Chắc chắn là do Trung Quốc không đồng ý.”, “Không có Mỹ liệu Việt Nam có bảo vệ được Biển Đông không?”, “Việt Nam xun xoe với hàng xóm, nhưng trong nhà cấm đoán, bịt miệng vợ con”, “Đu dây kiểu này nguy hiểm lắm, rơi lúc nào chẳng biết”, “Không dám nâng cấp quan hệ với Mỹ chứng tỏ Việt Nam không quan tâm nhiều đến phát triển kinh tế, mà chỉ lo bảo vệ chế độ”…

Cộng đồng mạng chân chính đã lập tức lên tiếng phản bác những thông tin, luận điệu phản động nói trên. “Có thể Trung Quốc không muốn Việt Nam và Mỹ tiến tới quan hệ đối tác chiến lược, nhưng quan hệ Việt – Mỹ là quan hệ tay đôi, Việt Nam chẳng phải đợi ai cho phép”, “Chơi với ai là quyền của Việt Nam. Tôi tin vào Đảng và Nhà nước Việt Nam.”, “Cứ lợi ích quốc gia là trên hết, chẳng việc gì phải sợ ai”, “Tốt nhất đừng lệ thuộc vào thằng nào, cứ giữ quan hệ bình đẳng với tất cả các nước, nhất là các nước lớn”, “Việt Nam đã lựa chọn đường lối đối ngoại sáng suốt, nhìn xa, trông rộng. Cứ nhìn cuộc xung đột tại Ucraina thì biết”…  

Ông Carl Thayer, một chuyên gia quốc tế có uy tín về Việt Nam và các vấn đề châu Á, nhận xét, nếu nhìn sang các quốc gia khác như Myanmar, Philippines, Thái Lan… có thể thấy ngay là chính ĐCS Việt Nam đã giúp bảo đảm được sự ổn định chính trị – xã hội lâu dài trong nước. Cách đây vài năm, cũng chính ông Carl Thayer đã khẳng định rằng: “Việt Nam đã thành công lớn trong những đối sách ngoại giao để bảo vệ độc lập, chủ quyền, phát triển đất nước và chính sách đối ngoại đã và đang đóng vai trò gìn giữ chủ quyền và độc lập dân tộc của Việt Nam ngày càng vững bền hơn”.

Trong cuộc điện đàm ngày 29/3 mới đây với Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã tuyên bố: “Việt Nam là đối tác rất quan trọng của Mỹ. Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của Việt Nam”. Lời khẳng định của ông Biden như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào những kẻ chống phá, cơ hội chính trị, những kẻ luôn tìm cách phá hoại quan hệ Việt – Mỹ, tìm mọi cách hạ thấp, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hiện nay, cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn được cho là có tác động sâu rộng hơn và phức tạp hơn nhiều so với thời kỳ trước đây, trên mọi phương diện, từ chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội cho đến cấu trúc quan hệ quốc tế. Bối cảnh lịch sử hiện nay đặt ra nhiều thách thức mới cho Việt Nam, nhưng với mục tiêu đã lựa chọn là “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết”, Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trên thế giới, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; phấn đấu vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”. Trong suốt những năm qua, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại này và đó chính là tiền đề vững chắc giúp Việt Nam duy trì được môi trường hòa bình, sự ổn định chính trị, xã hội để đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử như ngày hôm nay./.
Yêu nước ST.

Phương châm “Lấy cái đẹp đè bẹp cái xấu”

"Nếu mỗi một cán bộ, Đảng viên dùng smartphone, Facebook mỗi ngày chủ động chia sẻ cho nhau một bài báo hay, một clip tốt, viết một bình luận tích cực, tìm kiếm một thông tin tốt đẹp, gửi đi thông điệp hay thì đã góp phần làm cho công tác tư tưởng tốt hơn. Chúng ta cứ ngồi than thở là thông tin trên mạng xấu, độc, cái đó đúng, nhưng cũng phản ánh thực trạng là toàn đi tìm thông tin xấu, độc để đọc. Bởi Facebook, YouTube có thuật toán cung cấp thông tin theo gợi ý thói quen tìm kiếm thông tin của người sử dụng”. Trích phát biểu chỉ đạo của Tân Chu tịch nước Võ Văn Thưởng từ khi Ông còn làm Trưởng Ban Tuyên giáo Trung Ương. 

Phát huy hơn nữa truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn”

 NDO - Chiều 10/4, phát biểu tại cuộc gặp mặt Đoàn đại biểu cựu tù chính trị và tù binh Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh: Dân tộc ta có truyền thống đạo lý rất tốt đẹp là “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”.

Ghi nhận các kiến nghị của các cựu tù chính trị, tù binh Thành phố, Chủ tịch Quốc hội cho rằng, đây đều là những ý kiến xác đáng; trong đó nhấn mạnh tiếp tục kêu gọi cộng đồng quốc tế góp phần khắc phục hậu quả chất độc da cam/dioxin, các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu cách điều trị, chế độ chính sách, nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho những nạn nhân chất độc da cam/dioxin.

Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị các cơ quan hữu quan tiếp tục thực hiện giải quyết hồ sơ tồn đọng; trong những trường hợp chưa được Nhà nước cấp chứng nhận, có thể bàn với cấp ủy, chính quyền địa phương vẫn tôn vinh với hình thức Nhà nước, xã hội hóa để có chế độ bằng như những trường hợp đã được xác nhận.

Thay mặt Đảng đoàn Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội bày tỏ vui mừng trước những kết quả hoạt động mà Ban Liên lạc cựu tù chính trị và tù binh Thành phố Hồ Chí Minh đạt được trong 22 năm qua.

“Ban Liên lạc cựu tù chính trị và tù binh Thành phố Hồ Chí Minh là tổ chức không chỉ cần thiết cho các thành viên, mà còn cần cho cả Đảng, cho đất nước và cho Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hình thức tập hợp, giáo dục truyền thống rất sâu sắc, có ý nghĩa thiết thực”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Ban đã xây dựng được Quỹ Nghĩa tình đồng đội với hơn 8 tỷ đồng để hỗ trợ các hội viên bị bệnh nan y, vận động, hỗ trợ xây dựng nhà ở, trao tặng học bổng cho các cháu cựu tù nhà nghèo học giỏi và các cháu học sinh khác; phối hợp giải quyết trên 1.000 hồ sơ tồn đọng của cựu tù.

Đặc biệt, Chủ tịch Quốc hội đánh giá rất cao việc Ban Liên lạc đã viết, biên soạn, sưu tầm in 6 đầu sách về tù, nhà tù, kỷ yếu ảnh về hơn 11.000 cựu tù chính trị và tù binh; trong đó có tập sách Cựu tù chính trị và tù binh Thành phố Hồ Chí Minh - Nhân vật và sự kiện (ra mắt tháng 12/2013) với hơn 1.500 trang, nội dung chính là hình ảnh cá nhân của gần 9.000 nhân vật từng là tù chính trị hoặc tù binh thời chống Pháp và chống Mỹ.

Giải quyết hồ sơ tồn đọng là vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta rất trăn trở, vì có nhiều trường hợp không có giấy tờ chứng minh, không có nhân chứng. Mấy năm vừa qua, Quốc hội, Chính phủ dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đã tập trung tối đa giải quyết vấn đề hồ sơ người có công còn tồn đọng.

“Đây là hình thức rất đặc biệt, giúp Đảng, Nhà nước nói chung và cấp ủy, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ghi lại lịch sử hào hùng của dân tộc thông qua những tấm gương rất tiêu biểu. Đây là tư liệu rất quý giá do chính người trong cuộc viết nên tính toàn diện, chân thực và giá trị lịch sử không gì so sánh được”, Chủ tịch Quốc hội nói.

Chủ tịch Quốc hội cũng đánh giá rất cao nỗ lực hỗ trợ giải quyết hơn 1.000 hồ sơ người có công với cách mạng tồn đọng. Giải quyết hồ sơ tồn đọng là vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta rất trăn trở, vì có nhiều trường hợp không có giấy tờ chứng minh, không có nhân chứng. Mấy năm vừa qua, Quốc hội, Chính phủ dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đã tập trung tối đa giải quyết vấn đề hồ sơ người có công còn tồn đọng.

“Phương châm của chúng ta là “Không để người có công nào không được hưởng chính sách của Đảng, Nhà nước”, nên phải cố gắng ở mức cao nhất để giải quyết những trường hợp còn tồn đọng. Đây là việc rất cấp bách, vì nhiều bác tuổi đã cao”, Chủ tịch Quốc hội nói.

Chủ tịch Quốc hội cho biết, Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1/6/2012, của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”, trong đó có nêu rất rõ chính sách với người có công. Dự kiến, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII sẽ tổng kết 10 năm thực hiện nghị quyết. Bộ Chính trị đã thống nhất sẽ trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành nghị quyết mới để tiếp tục tăng cường hơn nữa chính sách về công tác xã hội, trong đó có các chính sách về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và chính sách với người có công.

Cùng với đó, Ban Bí thư đã có Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; bảo đảm chế độ ưu đãi người và gia đình người có công phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2021 với nhiều điểm mới, trong đó đã quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày và thân nhân.

Với 69 đại biểu trong Đoàn, Chủ tịch Quốc hội cho rằng, mỗi đồng chí là một câu chuyện sống động, một pho lịch sử sống gắn với những sự kiện của lịch sử cách mạng Việt Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Chủ tịch Quốc hội khẳng định, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ rà soát, nghiên cứu đề nghị xây dựng Luật Ưu đãi người có công với cách mạng, trước mắt sẽ rà soát để sửa đổi Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng để tôn vinh nhiều trường hợp xứng đáng được công nhận là Mẹ Việt Nam Anh hùng, hay tôn vinh những trường hợp là Việt kiều tự nguyện về nước tham gia cách mạng…

Trân trọng lắng nghe những kiến nghị của đại biểu nêu ra tại cuộc gặp, trong đó có ý kiến của bác Nguyễn Thị Bé Bảy, 79 tuổi, nạn nhân chất độc da cam đề nghị nghiên cứu biệt dược, phương thức điều trị dành cho nạn nhân chất độc da cam, Chủ tịch Quốc hội cho biết sẽ chuyển ý kiến tới các cơ quan chức năng đề nghị xem xét, giải quyết.

“Sắp tới, khi Trung ương thảo luận về tổng kết Nghị quyết số 15, chúng tôi cũng sẽ nêu lại vấn đề này để Trung ương xem xét”, Chủ tịch Quốc hội khẳng định.

TL

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng thăm các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Lào

 Lào, sáng ngày 11/4, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã đến thăm đồng chí nguyên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Choummaly Sayasone; nguyên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Bounnhang Vorachith và nguyên Thủ tướng Chính phủ Lào Thongsing Thammavong.

bày tỏ vui mừng được gặp những người đồng chí, người bạn thân thiết lâu năm của lãnh đạo và nhân dân Việt Nam; chân thành cảm ơn các đồng chí nguyên lãnh đạo Lào đã có nhiều cống hiến và đóng góp to lớn trong việc vun đắp cho mối quan hệ thủy chung, trong sáng, đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào cũng như luôn quan tâm, ủng hộ cho sự phát triển toàn diện của quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước chuyển lời chúc mừng năm mới Tết cổ truyền Bun Pi-may và những lời hỏi thăm thân tình, thắm tình đồng chí anh em của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Chính Phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tới các đồng chí nguyên Lãnh đạo cấp cao của Lào.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chúc mừng thành công và đánh giá cao những thành tựu đối nội, đối ngoại to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em đạt được trong những năm vừa qua, trong đó có những đóng góp vô cùng quan trọng của các đồng chí nguyên Lãnh đạo cấp cao của Lào.

Chủ tịch nước bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, đất nước Lào sẽ sớm vượt qua khó khăn, ngày càng phát triển độc lập, tự chủ, phồn vinh, nhân dân Lào anh em ngày càng ấm no và hạnh phúc.

Các đồng chí nguyên lãnh đạo Lào cảm ơn Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tới thăm; gửi lời hỏi thăm và chúc sức khỏe tới các đồng chí Lãnh đạo cấp cao Việt Nam; ôn lại những kỷ niệm trước đây và nhấn mạnh tình cảm gắn bó, thân thiết với Việt Nam vẫn luôn sâu đậm, đồng thời vẫn theo dõi sát tình hình và rất vui mừng trước sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực; cảm ơn sự ủng hộ, hỗ trợ quý báu Việt Nam dành cho Lào và đề nghị tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm giúp ổn định và phát triển kinh tế xã hội.

Các đồng chí nguyên lãnh đạo đề nghị hai bên tiếp tục vun đắp cho mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt-Lào; không ngừng nâng cao hiệu quả hợp tác và triển khai hiệu quả các hiệp định, thỏa thuận giữa hai nước; nhấn mạnh cần tiếp tục quan tâm giáo dục và tuyên truyền cho nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống quan hệ đặc biệt, gắn bó thủy chung Lào-Việt Nam, Việt Nam-Lào.

TL

Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về dự án Luật Căn cước công dân (sửa đổi)

NDO - Tại Phiên họp chuyên đề pháp luật tháng 4/2023, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ thảo luận, cho ý kiến về một số nội dung quan trọng, trong đó có dự án Luật Căn cước công dân (sửa đổi).

Trong 3 ngày làm việc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về các dự án: Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); Luật Viễn thông (sửa đổi); Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở (đồng thời xem xét về việc trình Quốc hội quyết định bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5); Luật Căn cước công dân (sửa đổi).

Việc sửa đổi Luật Căn cước công dân đang nhận được sự quan tâm của dư luận. Trước đó, tại Phiên họp thứ 21 vào tháng 3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí bổ sung dự án Luật Căn cước công dân (sửa đổi) vào chương trình xây dựng luật pháp lệnh năm nay, trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 5 và thông qua tại Kỳ họp thứ 6.

Cũng tại phiên họp chuyên đề pháp luật tháng 4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc trình Quốc hội quyết định bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đối với 2 dự án: Luật Đường bộ, Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Đồng thời, các đại biểu sẽ cho ý kiến về Tờ trình của Chính phủ đề xuất một số chính sách mới trong lĩnh vực quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam vào Nghị quyết chung của Quốc hội tại kỳ họp thứ 5; chủ trương đầu tư Dự án đường liên kết vùng kết nối Khánh Hòa, Ninh Thuận và Lâm Đồng, từ Yang Bay-Tà Gụ kết nối với Quốc lộ 27C và đường tỉnh ĐT.707.

TL

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Lào từ ngày 10 đến 11/4, theo lời mời của Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith

 

Kết quả đạt được trong chuyến thăm tiếp tục đóng góp vào việc giữ gìn và phát huy tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, đồng thời tăng cường hợp tác toàn diện giữa hai nước, góp phần đưa quan hệ Việt Nam-Lào hướng tới tầm cao mới trong tương lai.

Đặt chân đến thủ đô Vientiane của Lào, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã nhận được sự đón tiếp nồng hậu, chu đáo và thắm tình đồng chí anh em của lãnh đạo và nhân dân Lào. Điều này thể hiện tình hữu nghị, sự gắn bó mật thiết giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước.

Diễn ra đúng dịp nhân dân Lào chuẩn bị đón Tết Bun Pi May năm 2566 theo Phật lịch, chuyến thăm của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mang đến những tình cảm hữu nghị của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Chuyến thăm gửi lời chúc nhân dân các dân tộc Lào anh em bước sang một năm mới đạt được những thành tựu to lớn hơn, đưa đất nước Lào ngày càng phát triển phồn vinh.

Trong chuyến thăm, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các liệt sĩ vô danh, tượng đài Chủ tịch Kaysone Phomvihane và tới thăm hỏi các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Lào. Điều này thể hiện sự tri ân của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với những đóng góp to lớn của các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Lào anh em dành cho mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.

Năm Đoàn kết Hữu nghị Việt Nam-Lào 2022 kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962-5/9/2022) và 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào (18/7/1977-18/7/2022) đã thành công tốt đẹp, với hàng trăm sự kiện, hoạt động được tổ chức ở cả hai nước.

Trên cơ sở đó, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và các nhà lãnh đạo Lào đều nhất trí tiếp tục phát huy kết quả, hiệu ứng tích cực của Năm Đoàn kết Hữu nghị để đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về lịch sử truyền thống quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào cho cán bộ và nhân dân hai nước.

Theo đó, hai bên nhất trí sớm đưa các nội dung của Bộ Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục của mỗi nước; phối hợp xây dựng các công trình và di tích lịch sử về quan hệ Việt Nam-Lào, trong đó có Công viên hữu nghị Lào-Việt Nam tại thủ đô Vientiane.

Thành công của Năm Đoàn kết Hữu nghị có sự đóng góp quan trọng của các Hội hữu nghị hai nước. Do đó, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đề nghị các hội hữu nghị tiếp tục phối hợp chặt chẽ, có các hình thức phù hợp, thiết thực, tổ chức tốt các chương trình, hoạt động giao lưu nhân dân, tạo sức lan tỏa, gắn bó rộng rãi giữa các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước. Chủ tịch nước nhấn mạnh, các Hội hữu nghị là những nhịp cầu nối quan trọng gắn bó nhân dân hai nước trên tinh thần tương thân tương ái.

Trong cuộc gặp và nói chuyện với cán bộ, nhân viên cơ quan đại diện Việt Nam, cùng đại diện doanh nghiệp và cộng đồng người Việt Nam tại Lào, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm và coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có cộng đồng tại Lào, là một bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc.

Chủ tịch nước mong muốn, cộng đồng người Việt Nam tại Lào tiếp tục nâng cao tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau, nỗ lực xây dựng cộng đồng phát triển hơn nữa, đồng thời đóng góp vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của Lào, giữ gìn, vun đắp mối quan hệ Việt Nam-Lào.

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Lào, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng có các cuộc hội đàm, hội kiến với lãnh đạo cấp cao của Lào. Trong bầu không khí hữu nghị, thắm tình đồng chí anh em, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cảm ơn về tình cảm chân thành, trong sáng và sự ủng hộ của Nhà nước và nhân dân Lào anh em đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam. Lãnh đạo cấp cao Lào cũng cảm ơn về sự ủng hộ của Việt Nam dành cho Lào trong quá trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội thời gian qua.

Mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào ngày càng được củng cố và phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực.Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng

 Lãnh đạo Việt Nam và Lào đánh giá cao những thành quả phát triển của mỗi nước, cũng như trong hợp tác giữa hai nước trên tất cả lĩnh vực thời gian qua. Chúc mừng về những thành tựu to lớn và toàn diện mà Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã giành được trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng bày tỏ tin tưởng Lào sẽ vượt qua được khó khăn và thách thức, tiến tới thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm lần thứ IX.

Lãnh đạo cấp cao Lào chúc mừng về những thành tựu to lớn và toàn diện của Việt Nam trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII; nhấn mạnh những thành tựu mà Việt Nam đạt được là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với Lào trong công cuộc xây dựng đất nước giai đoạn hội nhập. Lãnh đạo cấp cao Lào đều nhiệt liệt chào mừng và đánh giá cao việc Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chọn thăm Lào đầu tiên trên cương vị mới.

 Việc Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chọn Lào là nước đầu tiên đi thăm trên cương vị mới thể hiện sự coi trọng mà Đảng, Nhà nước Việt Nam và cá nhân đồng chí Võ Văn Thưởng đối với mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào.Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith

Tại các cuộc hội đàm, hội kiến, lãnh đạo hai nước trao đổi tin cậy, chân thành và thẳng thắn về các định hướng, biện pháp thúc đẩy tất cả các lĩnh vực hợp tác trong thời gian tới. Trong bối cảnh tình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp hiện nay, Việt Nam và Lào càng cần tăng cường tham vấn, trao đổi kinh nghiệm, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau vượt qua thách thức, cùng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế sâu rộng.

Theo đó, hai bên khẳng định lại chính sách nhất quán của cả hai nước là luôn coi trọng và dành ưu tiên cao nhất cho việc củng cố, vun đắp quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào.

Hai bên nhất trí tiếp tục tập trung triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao giữa hai nước, cũng như giữa các bộ, ngành ở trung ương và địa phương; tăng cường tham vấn về các vấn đề chiến lược; đẩy mạnh trao đổi các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao và các cấp; rà soát và nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác.

Nhằm phối hợp đối phó thách thức mới, hai bên nhất trí đẩy mạnh trụ cột hợp tác an ninh-quốc phòng; tiếp tục phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau bảo đảm ổn định chính trị, an ninh, trật tự và an toàn xã hội ở mỗi nước; triển khai tốt các thỏa thuận giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an hai nước; phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý bảo vệ biên giới. Hai bên cũng tiếp tục phối hợp tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào và tôn tạo các tượng đài liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith chứng kiến lễ ký Biên bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Công nghệ và Truyền thông Lào.

Hai bên nhất trí nỗ lực nâng tầm hợp tác kinh tế cho xứng đáng với tầm vóc của quan hệ chính trị; tăng cường trao đổi kinh nghiệm quản lý kinh tế vĩ mô; nâng cấp các cửa khẩu quốc tế và đường giao thông kết nối hai nước.

Bên cạnh đó, hai bên không ngừng nâng cao hiệu quả hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, du lịch, năng lượng, nông nghiệp sạch, khoa học, công nghệ, y tế, văn hóa, giao lưu nhân dân và giữa các địa phương.

* Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng công bố món quà trị giá 1 triệu USD của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tặng Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào.

* Hai bên ký kết các văn kiện hợp tác:

- Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Công nghệ và Truyền thông Lào.

- Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực khoa học giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Giáo dục và Thể thao Lào.

Trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và các nhà lãnh đạo Lào nhất trí rằng, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, hai bên cần tăng cường chia sẻ, trao đổi thông tin, phối hợp và hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn đa phương; bảo đảm đoàn kết và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định, Việt Nam sẽ ủng hộ Lào đăng cai tổ chức thành công Hội nghị cấp cao Chiến lược hợp tác kinh tế ba dòng sông Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong (ACMECS) lần thứ 10 và Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam lần thứ nhất tại Vientiane trong năm 2023.

Việt Nam cũng ủng hộ Lào đảm nhiệm thành công các trọng trách quốc tế trong thời gian tới, như Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch Hội đồng liên Nghị viện ASEAN (AIPA) vào năm 2024, góp phần nâng cao vai trò và vị thế của Lào ở khu vực và trên thế giới.

Chuyến thăm chính thức Lào của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã đạt nhiều kết quả cụ thể và toàn diện:

Một là, về chính trị, hai bên tiếp tục khẳng định quyết tâm không ngừng củng cố và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào, quan hệ gắn bó và tin cậy ở mức cao nhất giữa lãnh đạo cấp cao hai nước.

Hai là, lãnh đạo hai nước nhất trí cao về các biện pháp để tiếp tục triển khai có hiệu quả các thỏa thuận cấp cao của hai Đảng, hai nước, góp phần tạo động lực mới thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ Việt Nam-Lào.

Ba là,  hai bên nhất trí đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, về quan hệ truyền thống gắn bó, thủy chung, trong sáng có một không hai giữa hai Đảng, hai nước.  

Bốn là, hai bên cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; cùng nhau giữ vững đoàn kết và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN.

Năm là, trong khuôn khổ chuyến thăm, Chủ tịch nước đã gặp, nói chuyện và động viên cộng đồng người Việt đang sinh sống, kinh doanh tại Lào nêu cao tinh thần đoàn kết, nỗ lực đóng góp vào công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội của Lào, góp phần vun đắp tình đoàn kết Việt Nam-Lào

Chuyến thăm chính thức Lào của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng kết thúc tốt đẹp tiếp thêm động lực để quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào tiếp tục phát triển hiệu quả và thực chất hơn. Chuyến thăm cũng góp phần đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

TL

Bế mạc Phiên họp thứ 22 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

 NDO - Chiều 11/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội bế mạc Phiên họp thứ 22 sau 2 ngày làm việc khẩn trương, tích cực.

Trong đó, có 3 nội dung Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến trình Quốc hội khóa XV tại Kỳ họp thứ 5 tới, gồm: Dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023; dự kiến Chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2024; báo cáo kết quả thực hiện giám sát chuyên đề về “Việc huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19; việc thực hiện chính sách, pháp luật về y tế cơ sở, y tế dự phòng”.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã cho ý kiến về tổng kết Kỳ họp bất thường lần thứ 4 và nội dung chương trình, cách thức tổ chức Kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XV.

Đồng thời, xem xét, cho ý kiến về 4 nội dung thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Quyết định về việc cho phép sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản; phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan chủ trì thẩm tra của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; báo cáo tổng hợp kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ trách của Hội đồng Dân tộc và các cơ quan của Quốc hội; báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 3/2023.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, Phiên họp thứ 22 là phiên họp quan trọng để chuẩn bị cho các nội dung của Kỳ họp thứ 5, với khối lượng công việc nhất là công tác lập pháp rất lớn trong khi quỹ thời gian còn rất ngắn.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị Tổng Thư ký Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các cơ quan của Quốc hội bám sát chương trình dự kiến đã được thông qua để tiến hành các hoạt động của từng cơ quan và đôn đốc các cơ quan tổ chức thực hiện.

Chủ tịch Quốc hội chỉ ra tình trạng các cơ quan trình chậm gửi tài liệu đến phiên họp và đề nghị các cơ quan nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Theo kế hoạch, từ ngày mai (12/4), Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ bắt đầu Phiên họp chuyên đề pháp luật để cho ý kiến về các dự án luật sẽ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5. Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cơ quan tiếp tục quán triệt nguyên tắc chung là khẩn trương, nỗ lực cao nhất, phối hợp chặt chẽ, đồng hành cùng với Chính phủ, các cơ quan hữu quan, bảo đảm các nội dung phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, hồ sơ đầy đủ thì mới trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến để trình Quốc hội.

Với dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, ngày 10/4, Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì họp Chính phủ cho ý kiến về dự án luật này. Lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ đã thống nhất, nếu cần thiết Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ tổ chức riêng 1 ngày họp để có thời gian chỉnh lý, bổ sung dự án luật.

“Chúng ta cần chuẩn bị tích cực, để làm sao thống nhất được lộ trình, bảo đảm chúng ta sẽ thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 6”, Chủ tịch Quốc hội nêu.

TL

Tô thắm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

 

Triển khai Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”, sáng 31/3, tại Hà Nội, Báo Quân đội nhân dân tổ chức Tọa đàm “Tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ”.

Qua gần 78 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta đã cùng toàn dân làm nên những chiến thắng vẻ vang, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” do nhân dân trao tặng.

Các tham luận đã đi sâu phân tích, đánh giá 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được nêu trong Nghị quyết, đồng thời nhấn mạnh: Truyền thống vẻ vang của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được giữ gìn và phát huy. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Quân đội luôn giữ vững phẩm chất người quân nhân cách mạng, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, những hành vi tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch nội bộ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân tin cậy, yêu mến.

Bên cạnh những kết quả đạt được, các đại biểu cũng thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân và thống nhất với nhận định: Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm chưa cao trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang né tránh, ngại va chạm, làm việc cầm chừng, tính toán thiệt hơn, xa rời thực tiễn.

Trong đó, có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, Quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.

TL

 

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước tác động của cuộc chiến thông tin trên không gian mạng

TCCS - Tiến bộ vượt bậc của khoa học - công nghệ, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn được xem là những nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc chiến thông tin, nhất là chiến tranh thông tin trên không gian mạng. Các cuộc chiến tranh này đã và đang có những tác động chưa thể lường hết đối với chế độ chính trị, thể chế nhà nước cũng như hệ giá trị của các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Mặc dù Liên hợp quốc và các quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đã và đang nỗ lực để giải quyết, nhưng đến nay vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tác động của cuộc chiến thông tin trên không gian mạng đối với an ninh quốc gia và quan hệ quốc tế Sự ra đời và phát triển của internet cùng những yếu tố, như hạ tầng thông tin, công nghệ,... tạo nên không gian mạng, đã và đang giúp tăng khả năng thu thập dữ liệu, lan truyền thông tin, bảo vệ thông tin cũng như làm gián đoạn thông tin, đồng thời tạo ra các cơ hội dễ dàng trong việc tiếp cận thông tin đến từng người dân ở khắp nơi trên thế giới, cộng đồng quốc tế và quan hệ giữa các chủ thể (nhà nước, phi nhà nước) trong quan hệ quốc tế. Với tốc độ đường truyền nhanh, độ bao phủ rộng và chi phí thấp, các chiến dịch thông tin truyền thông trên các nền tảng mạng xã hội tương tác ở tất cả các cấp độ đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị, an ninh, kinh tế và xã hội trên toàn cầu. Thực tiễn những năm qua cho thấy, bên cạnh những thành quả to lớn và khía cạnh tích cực đối với thế giới, không gian mạng và các khía cạnh liên quan đến công nghệ mới đã và đang tạo điều kiện cho sự bùng nổ, phát triển của chiến tranh thông tin trên không gian mạng. Các hoạt động chiến tranh thông tin trên không gian mạng có thể bao gồm các cuộc tấn công mạng, phá hủy hệ thống thông tin của đối phương, tấn công nền tảng mạng xã hội, bằng cách đưa vào trong tâm trí con người hình ảnh, thông tin có chủ đích theo hướng có lợi cho mình/nước mình về thế giới hay quốc gia, cộng đồng nhằm thực hiện mục tiêu xác lập vị thế độc quyền trong việc “diễn giải” một câu chuyện, sự kiện nào đó, trong khi tìm cách “tước đoạt” năng lực phát tán thông tin của một quốc gia hay các chủ thể nhà nước, phi nhà nước trong quan hệ quốc tế. Các hình thức chiến tranh này đã và đang có những tác động sâu sắc trong quan hệ giữa các quốc gia nói chung và nội bộ của từng quốc gia nói riêng với một số nguy cơ đáng chú ý sau: Một là, đe dọa sự ổn định chính trị, thậm chí là sự tồn vong, sự lựa chọn về thể chế chính trị của các quốc gia, đảng cầm quyền, tổ chức, liên minh. Thông tin sai lệch, xuyên tạc từ nước ngoài được truyền tải bằng các nền tảng công nghệ hiện đại được vận hành cùng với công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI)(1), đã và đang có những tác động rất lớn nhằm tăng cường sự đối nghịch về ý thức hệ, nhằm can thiệp vào các vấn đề chính trị trong nước của quốc gia khác, như can thiệp sâu hơn vào các cuộc bầu cử, bao gồm cả việc cải thiện khả năng nhắm trúng mục tiêu và thuyết phục các nhóm bỏ phiếu cụ thể của đối thủ, thậm chí là thay đổi kết quả bầu cử cũng như hạ bệ đảng cầm quyền, liên minh đảng cầm quyền,... tại nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước lớn. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu gần đây cũng đưa ra không ít bằng chứng về các chiến dịch tin giả, xuyên tạc từ bên ngoài đã có tác động nhất định đối với sự kiện người dân Anh bỏ phiếu rời Liên minh châu Âu (hay còn gọi là “Brexit”). Điều này không chỉ làm suy yếu vị thế toàn cầu của Liên minh châu Âu (EU), mà còn dẫn đến những tác động tiêu cực về xu thế liên kết quốc tế và cân bằng quyền lực trong quan hệ quốc tế. Cuộc chiến thông tin giữa Nga và phương Tây về cuộc xung đột Nga - U-crai-na hiện nay cũng là một ví dụ điển hình. Với thế mạnh về các nền tảng mạng xã hội, hệ thống truyền thông mạng của phương Tây đã và đang truyền tải nhiều nội dung thông tin, hình ảnh và video một chiều về cuộc xung đột Nga - U-crai-na và tình hình nội trị nước Nga. Ở chiều ngược lại, bên cạnh việc gồng mình chống các hình thức cấm vận toàn diện của phương Tây, Nga cũng có sự chủ động triển khai “phòng thủ” tốt, bao gồm các giải pháp công nghệ do Nga làm chủ nhằm ngăn chặn, đập tan những cuộc xâm nhập, tấn công mạng, lan truyền tin trên không gian mạng mà Nga cho là tin giả, xuyên tạc, kích động, gây rối loạn từ bên trong nước Nga. Bên cạnh đó, Nga cũng chủ động phản công, triển khai các biện pháp truyền tải thông tin có lợi nhất của mình ra bên ngoài khi có thể để cộng đồng quốc tế và người dân phương Tây hiểu rõ nguyên nhân của việc Nga triển khai “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở U-crai-na. Trong cuộc chiến này, các phương tiện tuyên truyền chính trị giữa Nga và phương Tây hiện nay đã chuyển sang một không gian mới - không gian của các phương tiện truyền thông xã hội đa nền tảng, như Facebook, Instagram, Tiktok, Twitter, Youtube, Vkontakte, Odnoklassniki và Moy Mir cho đến các ứng dụng di động, các kênh truyền hình, các trang web và tuyên truyền bằng nhiều ngôn ngữ ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, có thể tạo ra những tác động mạnh mẽ ngay lập tức, như BBC, Reuter (Anh), CNN, AP (Mỹ), AFP (Pháp), DW (Đức), RT (Nga)... Hai là, làm mất lòng tin, căng thẳng chính trị, thậm chí dẫn đến xung đột trong quan hệ quốc tế, đe dọa tới trật tự, an ninh quốc gia, khu vực và thế giới. Các thông tin giả, sai sự thật được sử dụng trong không gian mạng đều có mục đích chính trị nhằm thực hiện lợi ích của các quốc gia, đối thủ và các chủ thể có lợi ích. Đây là một trong những công cụ quan trọng mà các quốc gia sử dụng trong triển khai chính sách đối ngoại nhằm gây hiểu lầm, bất đồng và bất hòa giữa các tầng lớp nhân dân ở các quốc gia khác, nhằm mục tiêu gia tăng lợi ích, vị thế, ảnh hưởng của mình trong quan hệ quốc tế và làm suy yếu vai trò của đối phương(2). Các công nghệ hiện đại ngày nay đã trở thành công cụ để các quốc gia, chủ thể lợi ích (kể cả chủ thể phi nhà nước) tạo ra những loại hình sản phẩm truyền thông, tin tức theo thời gian thực một cách giả mạo, tinh vi nhằm gây ra những xáo trộn, mâu thuẫn, thậm chí là xung đột trong nội bộ một quốc gia hoặc giữa các quốc gia. Có thể thấy, quốc gia nào, xã hội nào cũng đều thấm thía những hậu quả chính trị của những thông tin sai lệch, cho dù mức độ dễ bị tổn thương khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh trong nước của từng quốc gia. Đối với những “điểm nóng” xung đột hay chiến tranh, các loại hình chiến tranh thông tin mạng được triển khai rầm rộ trong thời gian qua đã và đang tạo ra các nguy cơ, hệ lụy đối với hòa bình, an ninh quốc tế. Bên cạnh đó, thông qua các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, các tổ chức khủng bố, tổ chức tội phạm xuyên quốc gia có thể dễ dàng chiêu mộ, đào tạo trực tuyến, mở rộng hoạt động ở nhiều nơi trên thế giới, đe dọa tình hình an ninh của các quốc gia cũng như sự ổn định, hòa bình, an ninh của khu vực và quốc tế. Ba là, nguy cơ dẫn đến xung đột về hệ giá trị của các quốc gia. Việc áp dụng, phát triển các nền tảng công nghệ hiện đại, công nghệ mới nổi, đặc biệt là vận hành trên công nghệ AI của các doanh nghiệp, tập đoàn ở các nước lớn, như Mỹ và Trung Quốc, nhằm cạnh tranh, đối phó lẫn nhau sẽ dẫn đến những tác động lớn, thậm chí là xung đột không chỉ về hệ giá trị đối với Mỹ, Trung Quốc nói chung, người dân sử dụng ở Mỹ và Trung Quốc nói riêng, mà còn đối với các quốc gia và người dân trên thế giới. Các nền tảng công nghệ hiện đại vươn tới toàn cầu và công nghệ AI đã được địa phương hóa cho phù hợp với từng khu vực, lãnh thổ, có thể là phương tiện để tăng cường sự đối nghịch về ý thức hệ, tiêu chuẩn về dân chủ, tự do ngôn luận, kích động bạo lực,... phục vụ việc can thiệp vào các vấn đề chính trị trong nước của quốc gia khác, gây ảnh hưởng đến tình hình chính trị của các quốc gia có chủ quyền(3). Ngoài ra, trên thế giới hiện nay, các chiến dịch tuyên truyền tin giả, xuyên tạc, sai sự thật từ cuộc chiến thông tin giữa các thực thể tham gia quan hệ quốc tế (nhà nước, phi nhà nước) đã và đang lan rộng và trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng đối với thế giới, quốc gia và người dân trên toàn cầu. Đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu và bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng đi kèm với nguy cơ hiện hữu về đói nghèo... đã tạo ra làn sóng thông tin sai lệch, xuyên tạc dữ dội hơn trên các nền tảng mạng xã hội toàn cầu, khu vực và quốc gia, gây ảnh hưởng đến quyền con người cũng như những giá trị tích cực và nỗ lực của các quốc gia, định chế quốc tế, xã hội trên khắp thế giới đạt được trong nhiều thập niên qua. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển internet, mạng xã hội nhanh nhất thế giới. Theo số liệu thống kê đến tháng 6-2021, trong số 97,75 triệu dân cả nước có trên 68,72 triệu người (chiếm 70,3% dân số) sử dụng internet, cao thứ 12 trên thế giới và thứ 6 ở châu Á; hơn 72 triệu người (chiếm 73,7% dân số) dùng mạng xã hội, chủ yếu là Youtube, Facebook (đứng thứ 7 trong số 10 quốc gia sử dụng Facebook nhiều nhất) và là một trong 10 nước có số lượng người dùng Youtube cao nhất thế giới. Trong đó, 94% số người sử dụng internet hằng ngày là sinh viên, trí thức trẻ, thanh niên(4). Trong thời gian qua, lợi dụng những thế mạnh và tính mở của không gian mạng với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, không có ranh giới cụ thể giữa “thực” và “ảo”, các thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nước, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, không ngừng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, đó là: 1- Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; 2- Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3- Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng... Điển hình là đầu năm 2022, ngay từ khi xảy ra cuộc xung đột Nga - U-crai-na, trên các diễn đàn đa phương quốc tế và phương tiện thông tin đại chúng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ quan điểm chính thức của mình. Thế nhưng, trên internet, các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại cố tình đăng tải những tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước những vấn đề liên quan đến cuộc xung đột giữa Nga và U-crai-na..., mưu toan hướng dư luận trong nước và quốc tế hiểu sai lệch về Việt Nam, gây ảnh hưởng tới mối quan quan hệ của Việt Nam với Nga, U-crai-na và cộng đồng quốc tế. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị còn đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc, chống phá chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam khi xuyên tạc rằng nguyên tắc “không tham gia liên minh quân sự” nêu trong Sách trắng Quốc phòng năm 2019 của Việt Nam là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế của thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải thay đổi... Để chủ động đập tan những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, ngay từ năm 1983, Đảng ta đã đưa ra quan điểm: “Tăng cường hoạt động của các cơ quan nghiên cứu lý luận để làm tốt nhiệm vụ tham gia nghiên cứu, chuẩn bị và giải thích về mặt lý luận đường lối, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực, nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm tiên tiến trong các phong trào cách mạng của quần chúng, phê phán những tư tưởng, quan điểm sai trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối của Đảng”(5). Kể từ đó đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản (nghị quyết, chỉ thị) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, về công tác tư tưởng, lý luận... trong đó nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động(6). Đặc biệt, ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”... Tháng 1-2021, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốì sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (7). Việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã thể hiện sự chủ động của Đảng ta trong công tác quan trọng này. Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới vấn đề “bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia”, nhất là về các nguy cơ, biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh, bảo vệ bí mật quốc gia trong không gian mạng, như Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”; Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25-7-2018, của Bộ Chính trị, “Về Chiến lược an ninh mạng quốc gia”... Có thể thấy, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều thống nhất quan điểm chỉ đạo về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật, như Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018 và Luật Quốc phòng năm 2018(8)... Việc Nhà nước từng bước thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về an toàn thông tin, nhất là thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng. Mặc dù vậy, việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật nêu trên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn gặp khá nhiều khó khăn, thách thức, xuất phát từ một số nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về nguyên nhân khách quan, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn song gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, quyết liệt, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cách thức tập hợp lực lượng trên thế giới và trong khu vực diễn ra hết sức linh hoạt. Bên cạnh các thách thức an ninh truyền thống, các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là biến đổi khí hậu và dịch bệnh nổi lên gay gắt hơn. Đặc biệt là đại dịch COVID-19, với sự xuất hiện của các biến chủng mới tiếp tục tác động tiêu cực đến sự phát triển của các quốc gia và quan hệ quốc tế, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề về chính trị, đối ngoại, kinh tế, y tế, môi trường, khoa học - công nghệ và văn hóa - xã hội... Tất cả những điều này ít nhiều tác động đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của quốc tế, khu vực và các nước, trong đó có Việt Nam, tác động đến việc triển khai đường lối đối ngoại, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như bảo đảm tình hình an ninh, ổn định trật tự xã hội của Việt Nam thời gian qua. Về nguyên nhân chủ quan, hạn chế về nguồn lực triển khai, làm chủ công nghệ, hạn chế về nghiên cứu, dự báo và những thách thức nhức nhối của tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đã tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vu cáo, xuyên tạc. Trên cơ sở những phân tích về thực trạng, tác động của chiến tranh thông tin trong không gian mạng và những khó khăn, thách thức, nguyên nhân nêu trên, để góp phần triển khai thực hiện hiệu quả công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động trong thời gian tới, cần lưu ý một số nội dung từ góc độ chính trị, đối ngoại như sau: Ở phương diện quốc tế và khu vực Một là, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vừa hợp tác, vừa đấu tranh; kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế đối với tất cả các loại hình không gian, nhất là không gian mạng, trong thời gian tới. Hai là, chủ động tham gia các diễn đàn đa phương quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc về việc xây dựng bộ quy chuẩn quốc tế về cách hành xử có trách nhiệm của các thực thể tham gia quan hệ quốc tế (bao gồm nhà nước, phi nhà nước...) khi tham gia, triển khai các hoạt động trên không gian mạng, trong đó nhấn mạnh đến nội dung bảo đảm việc tôn trọng thể chế chính trị, nền tảng tư tưởng và giá trị dân chủ của các quốc gia có chủ quyền cũng như chống các loại hình thông tin xuyên tạc, tin giả, xấu, độc hại và coi các loại hình thông tin này là kẻ thù chung của cộng đồng quốc tế. Ba là, tham gia thúc đẩy xây dựng các văn kiện quốc tế về hợp tác ở cấp độ quốc tế và khu vực, xây dựng và triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin trong quan hệ quốc tế nhằm giải quyết tận gốc vấn đề thông tin xuyên tạc, tin giả, sai sự thật và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thông tin trong không gian mạng, thậm chí là chiến tranh mạng..., qua đó đóng góp vào việc xây dựng lòng tin giữa các quốc gia trên không gian mạng; tham gia thảo luận, đóng góp nội dung theo quan điểm của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, khu vực về xây dựng các văn bản quản lý, quản trị đối với việc áp dụng các công nghệ mới nổi có liên quan đến các lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam trong không gian mạng; tham gia thúc đẩy việc triển khai thực hiện các điều ước, nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc về bảo vệ và bảo đảm việc thụ hưởng, thực hiện các quyền con người trước những tác động tiêu cực ngày càng gia tăng và sâu rộng của thông tin xuyên tạc, sai lệch, tin giả. Ở phương diện quốc gia Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị nêu trên của Đảng, Nhà nước về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch(9), nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị khóa XII, Luật An ninh mạng và các luật liên quan; mở rộng, nâng cao hiệu quả và đưa các mối quan hệ đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân đi vào chiều sâu, tạo nền tảng chính trị cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước; tạo lập sự đồng thuận và hậu thuẫn chính trị của các chính đảng và các lực lượng chính trị đối với sự nghiệp đổi mới cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức nhân dân với vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hoạt động đối ngoại. Thứ hai, tăng cường giáo dục, tuyên truyền sâu rộng về Luật An ninh mạng, để người dân có ý thức đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi sử dụng không gian mạng tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam. Quyết tâm thực hiện nội dung về “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng, trong đó ưu tiên bảo đảm thực hiện các nội dung hệ giá trị của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, bao gồm các lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích xã hội, lợi ích chính đáng của cá nhân, trên cơ sở tập trung nhấn mạnh các thành tố, như dân chủ và pháp quyền, nhân ái và yêu nước, trung thực và bản lĩnh; dân giàu, nước mạnh, công bằng, trách nhiệm, hạnh phúc, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; quan tâm đầu tư phát triển các lực lượng đặc biệt, đặc thù và mạng lưới cộng tác viên với sự hỗ trợ của công nghệ AI trong theo dõi, ngăn ngừa, thậm chí là chủ động tấn công, loại bỏ các sản phẩm truyền thông chứa đựng thông tin xuyên tạc, tin giả, độc hại nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và các chính sách, hoạt động của Đảng và Nhà nước. Thứ ba, tiếp tục xây dựng, củng cố đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân trong nước cũng như ngoài nước nhằm giải quyết tận gốc “giặc nội xâm” (tham nhũng, tiêu cực...), tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, qua đó tăng cường sức mạnh nội tại, bổ trợ cho việc đối phó với các loại hình giặc ngoại xâm thông qua triển khai đồng bộ các biện pháp đối ngoại, quốc phòng và an ninh; quyết liệt triển khai Đề án “Nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đến năm 2030”, nhằm phục vụ việc quảng bá, nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời, thu thập những thông tin có chọn lọc về tình hình, sự phát triển của thế giới, khu vực về các vấn đề được dư luận và nhân dân trong nước quan tâm; đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Ở phương diện ý thức của con người Một là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người do luật pháp quy định, trong đó bao gồm các quyền về tự do ngôn luận, quyền riêng tư, quyền tham gia các công việc của cộng đồng và bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử; nâng cao, đa dạng hóa các biện pháp triển khai ở tất cả các cấp trong việc củng cố lòng tin của người dân vào Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa, đập tan các xu hướng phân cực, kích động, cổ xúy ngôn từ hận thù trên không gian mạng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân; củng cố, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, tạo nền tảng xã hội hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên không gian mạng. Hai là, xác định cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những tác động tiêu cực của cuộc chiến thông tin không gian mạng là lâu dài, kiên nhẫn, bền bỉ và cần học cách sống chung với tin giả, thông tin xuyên tạc, qua đó tự tạo sức đề kháng, giúp hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và nhân dân kiên cường hơn khi tham gia tương tác trên không gian mạng để chống thông tin độc hại, âm mưu thâm độc chống phá Đảng và Nhà nước. Chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Củng cố mối quan hệ thường xuyên, liên tục với các nhóm cần tranh thủ ở nước ngoài đã hiểu biết về Việt Nam cũng như ưu tiên xây dựng quan hệ và tạo thiện cảm với các đối tượng, như giới báo chí, giới trẻ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Ba la, chú trọng đầu tư và đặt con người vào vai trò chủ thể, luôn làm chủ công nghệ, trong đó có công nghệ hiện đại, công nghệ mới nổi phục vụ việc xây dựng nguồn nhân lực công nghệ số chất lượng cao, trong đó có yêu cầu kiên định về lập trường, bản lĩnh chính trị trước những thay đổi, biến đổi của thế giới trong tương lai. Ở phương diện kỹ thuật Thứ nhất, tập trung triển khai các chiến lược quan trọng tự lực, tự cường về công nghệ, nhất là Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược quốc gia về phát triển trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, trong đó quan tâm tập trung đầu tư cho công nghệ tiên tiến, hiện đại, đặc biệt là công nghệ AI, tiến tới xây dựng Việt Nam trở thành một “cường quốc mạng” (đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực về AI), góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bao gồm việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, phát huy phẩm chất cần cù, thông minh, sáng tạo của con người Việt Nam; đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng các nền tảng hạ tầng, hệ thống mạng “Make in Viet Nam” song song với việc làm chủ, quản lý được các hệ thống nền tảng mạng do nước ngoài sản xuất, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào các nền tảng mạng do các doanh nghiệp, tập đoàn của nước ngoài cung cấp và tạo nền móng vững chắc trong việc triển khai, áp dụng các công nghệ hiện đại trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ giá trị quốc gia trong toàn bộ đời sống chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong tương lai; hợp tác, đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu có uy tín, các tập đoàn công nghệ lớn (Viettel, VNPT, FPT...) để xây dựng bộ công cụ toàn diện được vận hành bởi công nghệ AI và có tính tương thích cao trên mọi nền tảng mạng xã hội nhằm phục vụ việc triển khai công tác đấu tranh lâu dài của Đảng trong lĩnh vực này. Thứ ba, sớm xây dựng, cập nhật, ban hành các văn bản pháp luật, trong đó bao gồm các quy định bảo vệ, quản lý dữ liệu quan trọng của quốc gia, của người dân Việt Nam; cập nhật, sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan đến công nghệ AI trong các văn bản, chính sách, quản lý hoạt động nền tảng mạng/trực tuyến của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam./. (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Phản bác các quan điểm sai trái của một số nước phương Tây về quyền con người ở Việt Nam

TCCS - Thời gian qua, một số nước phương Tây đã đưa ra các đánh giá, nhận định không đúng về quyền con người ở Việt Nam. Nhận diện và đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái này cần được đặc biệt coi trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, không chỉ vì hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn vì chân lý, lẽ phải luôn thuộc về chúng ta. Quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế(1). Nội hàm của quyền con người rất rộng, không ngừng được bổ sung và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Trên thế giới không có quyền con người trừu tượng, chỉ có quyền con người cụ thể. Tuy nhiên, mỗi giai cấp và xã hội khác nhau có sự lý giải khác nhau đối với quyền con người. Nhìn đại thể, luận điệu sai trái của nhiều nước phương Tây về quyền con người ở Việt Nam thường biểu hiện ở các nội dung sau đây cần được nhận diện và đấu tranh phản bác: Sai lầm của luận thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền” Lâu nay, các nước phương Tây thường rêu rao cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền lực nhà nước ở một quốc gia không được đàn áp nhân quyền”. Về thực chất, quan điểm này đã đối lập quyền con người với chủ quyền. Họ lập luận một cách phi lý rằng, vấn đề quyền con người không thuộc công việc nội bộ của một nước. Thậm chí, một số nước phương Tây còn quy chụp rằng “việc Việt Nam nhấn mạnh chủ quyền quốc gia cao hơn tất cả, trên thực tế là lấy danh nghĩa duy trì chủ quyền quốc gia để duy trì quyền lực thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam” (!?). Họ còn rêu rao rằng, tuyệt đối hóa tầm quan trọng của chủ quyền quốc gia là sai lầm (!?) và ngụy biện bằng viện dẫn báo cáo về an ninh con người của một số tổ chức quốc tế, như Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), cũng nhấn mạnh bảo đảm an ninh cá nhân, mà coi nhẹ, không đề cập đến an ninh quốc gia(2). Có thể nói, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là hoàn toàn sai trái. Như chúng ta đã biết, quyền con người không bao giờ tách khỏi điều kiện, trình độ phát triển và chủ quyền của từng quốc gia - dân tộc. Quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất chỉ là “bình phong” che đậy cho các âm mưu mà các nước phương Tây lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền của nước khác. Để nhận diện và bóc trần âm mưu, thủ đoạn này, cần nhận thức đúng đắn mấy vấn đề sau đây: Thứ nhất, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia là một tiêu chuẩn đã được cộng đồng quốc tế công nhận, cũng là cơ sở và tiền đề để thực hiện quyền con người. Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ngày 24-10-1970, đã đưa ra Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó khẳng định các nguyên tắc, như nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác...(3). Vì vậy, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực quan hệ quốc tế, bao gồm lĩnh vực quyền con người. Không có chủ quyền quốc gia, cũng như không có luật pháp quốc tế, thì không thể nói đến bảo đảm quyền con người. Quan điểm cho rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” trực tiếp vi phạm tôn chỉ và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc. Thứ hai, việc thực hiện quyền con người cần phải dựa vào chủ quyền, do các nước thông qua pháp luật, biện pháp và cơ chế của nhà nước ở từng quốc gia - dân tộc để thực hiện. Các điều ước quốc tế về quyền con người đã quy định quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Để thực hiện tốt các quyền này, cần phải thông qua pháp luật quốc gia cũng như cơ chế bảo đảm của pháp luật quốc gia. Thứ ba, quyền con người không thể tách rời chủ quyền quốc gia. Quyền con người của cá nhân và chủ quyền quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có chủ quyền thì không thể nói đến quyền con người, mất đi chủ quyền cũng có nghĩa là mất đi sự bảo đảm đối với quyền con người. Thứ tư, quyền con người mang tính quốc tế, nhưng về bản chất là vấn đề thuộc công việc nội bộ của một quốc gia. Vì vậy, các nước có quyền căn cứ vào tình hình cụ thể của nước mình để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Thứ năm, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người nằm ở vị trí phụ thuộc. Như chúng ta đã thấy, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, chủ quyền quốc gia nằm ở vị trí ưu tiên. Bởi vì, quyền con người của cá nhân chịu sự quy định, chi phối và chế ước của pháp luật quốc gia. Đối với các điều ước quốc tế không phù hợp với chế độ chính trị, cũng như không phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế - xã hội, chính phủ các nước có quyền từ chối tham gia hoặc bảo lưu nhằm tránh việc đảm nhận nghĩa vụ điều ước có thể gây tổn hại đến chủ quyền quốc gia. Hiện nay, có khoảng hơn 28 điều ước quốc tế về quyền con người, nhưng Mỹ mới chỉ phê chuẩn 4 điều ước. Đặc biệt, nước này vẫn chưa phê chuẩn một số điều ước cốt lõi về quyền con người, trong đó có Công ước lao động cưỡng bức năm 1930. Lý do được Mỹ đưa ra là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị xung đột với pháp luật của nước này, và bởi “chủ quyền quốc gia của nước Mỹ cao hơn tất cả”. Điều này cho thấy, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người chỉ ở vị trí phụ thuộc. Thứ sáu, các quốc gia bất kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều có quyền tự chủ trong việc lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của mình, các quốc gia khác không có quyền can thiệp. Hơn nữa, các quốc gia do sự khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và sự khác biệt về điều kiện lịch sử nên phương thức bảo đảm quyền con người có thể khác nhau. Thứ bảy, việc các nước phương Tây rêu rao rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất xuất phát từ nhu cầu can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác cũng như thúc đẩy chính trị cường quyền mà thôi. Trên thực tế, nhân danh “dân chủ nhân quyền”, trong những thập niên qua, Mỹ và một số quốc gia đã sử dụng vũ lực can thiệp vào công việc nội bộ, thay đổi chế độ chính trị ở một số nước. Tuy nhiên, thực tế ở các nước sau khi Mỹ “can dự” cho thấy, cái mang lại cho những quốc gia này không hề là “dân chủ nhân quyền”, mà là sự xung đột và hỗn loạn. Chính vì thế, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” không hề có giá trị đối với việc thúc đẩy quyền con người, mà trái lại, khiến khả năng xâm hại quyền con người một cách nghiêm trọng hơn. Cái gọi là “quyền con người không có biên giới quốc gia” - một cách che giấu mưu đồ quốc tế hóa các vấn đề nhân quyền, mở đường can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền quốc gia Một số nước phương Tây tuyệt đối hóa tính phổ biến, phổ quát của quyền con người, phủ định hoặc cố tình “lờ đi” tính đặc thù của quyền con người, ra sức cổ vũ cho cái gọi là “quyền con người không có biên giới quốc gia”, “nhân quyền phổ biến chỉ có một, bất kỳ quốc gia nào cũng đều cần phải tuân thủ tiêu chuẩn thống nhất về quyền con người”. Không chỉ dừng lại ở việc nêu lên quan điểm, một số nước phương Tây còn dựa trên “tiêu chuẩn” chủ quan của mình để kêu gọi việc thiết lập cơ chế cần thiết nhằm đánh giá việc thực hiện quyền con người của nước khác. Chẳng hạn, Quốc hội Mỹ đã ra nghị quyết yêu cầu Chính phủ Mỹ hằng năm phải đệ trình báo cáo tình hình nhân quyền của các nước trên thế giới. Trước tiên, cần khẳng định rằng, quyền con người là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, dù vấn đề quyền con người có tính phổ biến, có điểm chung ở mức độ nhất định, nhưng không thể coi nhẹ hoặc phủ nhận tính đặc thù của nó. Mặt khác, cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người cũng không được vượt qua chủ quyền quốc gia. Quan điểm “quyền con người không có biên giới quốc gia” là phi lý, cần phải đấu tranh, bác bỏ, sở dĩ như vậy là vì: Một là, các nước phương Tây đưa ra tiêu chuẩn phổ biến về quyền con người là không hiện thực, thậm chí là lừa bịp. Sự phát triển và cải thiện về quyền con người luôn tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể ở từng quốc gia - dân tộc. Do sự khác nhau về điều kiện của từng quốc gia nên không thể có tiêu chuẩn thống nhất về quyền con người mà các quốc gia cần phải tuân thủ. Cho đến nay vẫn chưa có tiêu chuẩn về quyền con người được quốc tế công nhận. Ngay kể cả đối với khái niệm hoặc định nghĩa về quyền con người, giới nghiên cứu pháp luật nói chung, pháp luật quốc tế nói riêng cũng chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất. Hai là, nguyên tắc tính phổ biến của quyền con người cần được quy chiếu với điều kiện cụ thể và thực tiễn của từng nước nhằm bảo đảm kết hợp hài hòa giữa tính phổ biến và tính đặc thù. Những quan điểm và nội dung cốt lõi về quyền con người mà cộng đồng quốc tế thừa nhận và có sự đồng thuận là điều chúng ta cần tôn trọng, nhất là khi điều này có ý nghĩa tích cực đối với việc phát triển con người. Chúng ta không phủ nhận giá trị phổ biến về quyền con người, nhưng điều kiện, tình hình của từng nước rất khác nhau, việc thực hiện quyền con người không thể tránh khỏi sự chế ước của điều kiện kinh tế - xã hội. Việc nhìn nhận thực trạng quyền con người của một quốc gia cần phải theo quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển, không được coi nhẹ đặc điểm khác nhau giữa các quốc gia, không lấy tiêu chuẩn và giá trị của nước mình áp đặt cho nước khác. Trên thực tế, Việt Nam đã kết hợp tốt nguyên tắc tính phổ biến và tính đặc thù về vấn đề quyền con người. Điều này thể hiện rõ nét ở việc Việt Nam tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người. Ba là, quyền con người bị giới hạn bởi chủ quyền quốc gia và pháp luật quốc gia. Một số hành vi ảnh hưởng đến hòa bình của thế giới và không có lợi cho việc bảo đảm quyền con người, như khủng bố quốc tế, xâm lược vũ trang, đe dọa môi trường sinh thái,... cần phải bị lên án và đấu tranh, cộng đồng quốc tế cần sử dụng biện pháp tích cực để ngăn chặn. Tuy nhiên về bản chất, quyền con người là một vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, cần phải được bảo đảm bởi pháp luật quốc gia. Do vậy, chỉ khi thông qua pháp luật và nghĩa vụ quốc gia thì các điều ước quốc tế về quyền con người mới có thể thực hiện hiệu quả. Bốn là, cơ chế bảo vệ của quốc tế về quyền con người được thực hiện với điều kiện và phạm vi nhất định. Một số nước phương Tây nỗ lực đưa vấn đề quyền con người vào các cơ chế của quan hệ quốc tế, hơn nữa đưa ra luận điệu “không can thiệp vào nội bộ là không thích hợp với vấn đề quyền con người”,... chính là biểu hiện điển hình của chính trị cường quyền. Hiến chương Liên hợp quốc chỉ đưa ra những nguyên tắc thông thường nhằm thúc đẩy chính phủ các nước không ngừng cải thiện quyền con người, mà không đưa ra nghĩa vụ mang tính chế ước đối với các nước thành viên; đồng thời, quy định rõ nếu chưa được sự trao quyền của Liên hợp quốc thì bất cứ quốc gia thành viên nào cũng không được nhân danh quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Điều đó cho thấy, việc một số nước phương Tây tự ý đưa ra tiêu chuẩn nhân quyền, rồi mưu toan sử dụng sức ép quốc tế để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác là không thể chấp nhận được. Năm là, hợp tác quốc tế về quyền con người chỉ được thực hiện dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của các nước, không can thiệp vào công việc nội bộ cũng như thông qua cơ chế đối thoại. Phát triển và thúc đẩy quyền con người một cách đầy đủ là mong muốn của cộng đồng quốc tế hiện nay. Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan. Việt Nam ủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người. Sáu là, chỉ khi kết hợp đồng thời giữa thúc đẩy quyền con người với duy trì hòa bình trên thế giới gắn với phát triển kinh tế - xã hội mới có thể đạt được tiến bộ thực chất trên lĩnh vực quyền con người. Không có môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, không có một trật tự kinh tế quốc tế hợp lý, công bằng thì không thể thực hiện được quyền con người phổ biến. Bảy là, sự khác nhau giữa lời nói và việc làm trên lĩnh vực quyền con người của Mỹ. Mỹ tự cho mình cái quyền đánh giá, chỉ trích mức độ bảo đảm quyền con người của các nước khác, song chính nội bộ nước Mỹ lại tồn tại những vấn đề nghiêm trọng về quyền con người. Đơn cử như, năm 2021, ở Mỹ đã xảy ra 693 vụ xả súng (tăng 10,1% so với năm 2020), khiến hơn 44.000 người thiệt mạng. Cũng trong năm 2021, 9 tiểu bang của Mỹ đã đề xuất hơn 420 dự luật nhằm hạn chế việc bỏ phiếu của cử tri; chỉ 7% thanh niên Mỹ tin rằng hệ thống dân chủ Mỹ vẫn “lành mạnh”. Tại biên giới phía Nam, Mỹ đã giam giữ hơn 1,7 triệu người nhập cư, trong đó có 45.000 trẻ em(4). Một mặt, Mỹ nhấn mạnh tính phổ biến của quyền con người; mặt khác, Mỹ lại từ chối ký kết và tham gia nhiều điều ước quốc tế về quyền con người, như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật... Tám là, việc các nước phương Tây nhấn mạnh cái gọi là “quyền con người không có biên giới quốc gia” thực chất là nhằm phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị của các nước phương Tây. Quan điểm này không có giá trị gì cho việc thúc đẩy quyền con người ở trên thế giới, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. Tính phi lý của quan điểm “quyền chính trị là quyền con người quan trọng nhất, duy nhất”, nhưng lại coi nhẹ quyền sống và quyền phát triển của con người Người dân trên thế giới hiện nay, nhất là người dân ở các nước đang phát triển đều có khát vọng, mong muốn về kinh tế phồn vinh, xã hội tiến bộ cũng như chất lượng sống không ngừng được nâng lên. Vì thế, có thể cho rằng, ở nhiều quốc gia, quyền sống và quyền phát triển trở nên bức thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Trong thời kỳ đấu tranh nhằm lật đổ chế độ phong kiến, quyền sống và quyền phát triển là một vũ khí được giai cấp tư sản nhấn mạnh. Tuy nhiên, khi giai cấp tư sản giành được quyền lực nhà nước thì họ lại “vứt bỏ” những quyền này, đặt quyền sống và phát triển của nhân dân lao động sang một bên, thay vào đó nhấn mạnh một cách phiến diện các quyền chính trị. Thật là phi lý khi lập luận rằng, chỉ khi ưu tiên cho dân chủ và nhân quyền, kinh tế và xã hội mới có thể phát triển; sự phát triển về kinh tế và xã hội phải trên cơ sở thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của dân chủ và nhân quyền. Với nhận thức này, một số nước phương Tây nhấn mạnh việc thực hiện dân chủ, nhân quyền ở các nước trên thế giới, cũng như dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước. Trên thực tế, việc nhấn mạnh quyền chính trị mà coi nhẹ các quyền khác của con người, nhất là quyền sống và quyền phát triển là không có cơ sở. Về vấn đề này, cần nhận thức đúng đắn và khẳng định các vấn đề sau: Cần phải kiên trì tính không thể tách rời và tính lệ thuộc lẫn nhau của quyền con người. Các quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, văn hóa và xã hội lệ thuộc lẫn nhau, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau. Theo quan điểm của Liên hợp quốc, tất cả quyền con người và tự do cơ bản đều không thể tách rời, mà có sự lệ thuộc lẫn nhau. Việc thực thi, bảo vệ, tăng cường đối với quyền công dân và các quyền chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cần được coi là bức thiết như nhau và cần được chú ý như nhau. Vì vậy, việc các nước phương Tây tuyệt đối hóa quyền chính trị, nhưng lại coi nhẹ các quyền khác của con người là thiếu khách quan, không đúng bản chất quyền con người. Quyền sống và quyền phát triển là quyền con người cơ bản nhất. Quyền độc lập của một quốc gia, quyền sống, quyền phát triển của công dân là các quyền con người cơ bản nhất. Không có quyền sống, các quyền khác của con người đều trở nên vô nghĩa; quốc gia không độc lập, quyền sống của người dân khó được bảo đảm; kinh tế, văn hóa, xã hội không phát triển, đời sống của người dân khó có thể được nâng cao. Vì thế, quyền độc lập, quyền sống và quyền phát triển là những quyền con người cần được ưu tiên. Đối với các nước đang phát triển, quyền sống và quyền phát triển có ý nghĩa rất quan trọng, cần phải được ưu tiên hơn so với một số quyền khác. Nhiệm vụ bức thiết mà các nước đang phát triển cần quan tâm, giải quyết đó chính là những vấn đề cơ bản, thiết yếu, như ăn, ở, mặc, đi lại, việc làm, giáo dục, sức khỏe, cải thiện và nâng cao chất lượng sống của người dân. Quyền chính trị dù rất quan trọng, nhưng các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội được bảo đảm thì mới có điều kiện thực hiện quyền chính trị. Nếu quyền kinh tế, văn hóa, xã hội không được bảo đảm thì việc thực hiện quyền chính trị trở nên khó khăn. Nhấn mạnh quyền sống và quyền phát triển không có nghĩa là coi nhẹ hay phủ nhận các quyền chính trị. Các nước phương Tây luôn rêu rao rằng, “quyền chính trị là quyền con người quan trọng nhất, thậm chí là quyền con người duy nhất”. Đây là quan điểm phiến diện, không phù hợp với thực tế. Cho dù quyền tự do, dân chủ về chính trị là một trong những quyền con người quan trọng, có vai trò không thể thiếu đối với việc thực hiện quyền sống và quyền phát triển, nhưng không phải là quyền con người duy nhất. Việc thực hiện quyền con người là một quá trình tiệm tiến, chịu sự chế ước bởi những điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, vừa không thể yêu cầu quá cao, nằm ngoài các điều kiện hiện thực, vừa không được bằng lòng với hiện thực, lạc hậu so với nhu cầu hiện thực của sự phát triển xã hội. Các phương diện có thể làm được, Đảng và Nhà nước ta đã đáp ứng tốt nhu cầu chính đáng, hợp pháp của người dân. Không chỉ bảo đảm các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội, mà các quyền dân sự, chính trị rất được coi trọng thúc đẩy với tính đồng bộ, toàn diện, nhất là không ngừng bảo đảm tốt hơn quyền tự do, dân chủ của người dân. Nhận thức sai lầm khi tuyệt đối hóa quyền con người của cá nhân, đặt quyền con người của cá nhân lên trên quyền con người của tập thể Lấy “chủ nghĩa cá nhân” làm ý thức hệ cơ bản, giai cấp tư sản cho rằng, quyền con người là quyền tự nhiên, tuyệt đối, vốn có của cá nhân; quyền của cá nhân là cái tự nhiên, bất khả nhượng. Họ chủ trương đặt lên hàng đầu việc bảo vệ quyền con người của cá nhân khi cho rằng “trong xã hội tự do của toàn thế giới, tất cả nhân dân đều có quyền thể hiện quan điểm chính trị cá nhân”. Cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ việc tuyệt đối hóa quyền con người của cá nhân, chỉ ra việc đặt quyền cá nhân lên trên quyền của tập thể, của cộng đồng, của quốc gia - dân tộc là sai lầm, bởi vì: Thứ nhất, nhấn mạnh quyền con người của cá nhân theo quan điểm của giai cấp tư sản là quyền con người của số ít người. Quyền con người “lấy cá nhân làm trung tâm” là sản phẩm của chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất, liên quan mật thiết với chế độ kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản. Nó nhấn mạnh giá trị cá nhân, quyền cá nhân và đặt lên hàng đầu lợi ích cá nhân. Quyền con người của giai cấp tư sản chính là đặc quyền của thiểu số. Trên thực tế, ở trong nước, quyền con người của giai cấp tư sản chính là sự tước đoạt đối với quyền con người của đại đa số; còn trong quan hệ quốc tế, đó là sự can thiệp một cách vô căn cứ vào chủ quyền, công việc nội bộ của nước khác. Thứ hai, bảo vệ quyền con người của đại đa số người là ưu tiên số một của quyền con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Quyền con người ở Việt Nam bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Bảo đảm để nhân dân Việt Nam thụ hưởng rộng rãi, đầy đủ và toàn diện các quyền này là mục tiêu cơ bản về vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Ở Việt Nam, chủ thể thụ hưởng quyền con người không phải là thiểu số, cũng không phải là một bộ phận người thuộc giai cấp hay tầng lớp nào đó, mà là toàn thể nhân dân Việt Nam. Điều này thể hiện tính công bằng của quyền con người ở Việt Nam, cũng là điểm cơ bản thể hiện sự khác biệt quyền con người ở Việt Nam với quyền con người ở các nền dân chủ đa nguyên phương Tây. Thứ ba, chúng ta nhấn mạnh phát triển quyền con người của tập thể, quyền cá nhân không được “đứng lên trên” quyền và lợi ích của tập thể, của cộng đồng xã hội. Quyền cá nhân và quyền tập thể có mối quan hệ với nhau, không thể tách rời, không có quyền con người của cá nhân thì không có quyền con người của tập thể, quyền tập thể hay quyền con người của tập thể lại là cơ sở của tất cả quyền con người của cá nhân, là điều kiện tiên quyết để cá nhân thụ hưởng tất cả các quyền và tự do. Đúng như quan niệm cho rằng “nước mất thì nhà tan”. Chúng ta vừa cần phải bảo vệ, tôn trọng quyền và tự do cá nhân, vừa phải tôn trọng quyền của người khác, cũng như tôn trọng, bảo vệ lợi ích của quốc gia, xã hội và tập thể. Không thể lấy danh nghĩa bảo vệ quyền con người của thiểu số mà xâm hại đến quyền con người của đại đa số người, thậm chí gây tổn hại đến lợi ích quốc gia; nhấn mạnh quyền con người của tập thể chính là để bảo vệ nhiều hơn quyền con người của cá nhân. Thứ tư, nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ là một nguyên tắc cơ bản của quyền con người ở Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ không thể tách rời. Điều 15, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 chỉ rõ: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”(5). Bất kỳ quyền và tự do nào cũng là tương đối, trên thế giới không có quyền và tự do tuyệt đối mà không chịu sự hạn chế hay chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ. Thứ năm, việc Nhà nước Việt Nam truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật không phải là “vi phạm nhân quyền” như một số nước phương Tây quy chụp. Đây là sự thực thi quyền năng của Nhà nước nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời bảo đảm hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người dân. Che giấu bản chất, đánh tráo khái niệm khi cho rằng “Quyền con người là phi giai cấp”, “quyền con người không gắn liền với pháp luật và pháp quyền” Quyền con người là sản phẩm của giai cấp xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với chế độ nhà nước và pháp luật. Thế nhưng, nhiều nước phương Tây công khai can thiệp vào hoạt động tư pháp của một số nước, lập luận hàm hồ rằng “quyền con người là phi giai cấp, quyền con người không gắn liền với pháp luật và pháp chế”. Cũng từ cách lập luận hàm hồ này, một số nước phương Tây chỉ trích vô căn cứ việc Việt Nam xử lý một số đối tượng vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến lợi ích của nhà nước và tập thể. Họ lập luận rằng, hành vi của họ không phải là can thiệp vào hoạt động tư pháp, mà là để duy trì quyền con người. Thế nhưng cần thấy rằng, trong chế độ xã hội và giai cấp khác nhau, việc thụ hưởng quyền con người cũng khác nhau. Bất luận nhà nước nào cũng đều có quy định pháp luật để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật. Xét từ bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật Việt Nam xử lý các hành vi vi phạm pháp luật là nhằm bảo vệ quyền tự do dân chủ và lợi ích của đa số, vì quyền con người chính đáng, hợp pháp, bảo đảm môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước (an ninh, trật tự an toàn xã hội, ổn định chính trị - xã hội...). Vì thế, quan điểm phủ nhận tính giai cấp của quyền con người cũng như việc “cổ xúy” cho nhân quyền nằm trên pháp luật là thiếu căn cứ vì những lý do sau: Quyền con người có tính giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, con người có tính giai cấp, nội dung của quyền con người, pháp luật về quyền con người, đạo đức về quyền con người, quyền và tự do cơ bản của con người đều có tính giai cấp. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, về vấn đề quyền con người, thành viên thuộc các giai cấp khác nhau dù có điểm chung nhất định, nhưng do địa vị chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau nên mức độ thụ hưởng quyền và yêu cầu đối với quyền con người cũng khác nhau. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền con người cũng có tính giai cấp, nhưng tính giai cấp và tính nhân dân là thống nhất, bởi vì lợi ích cơ bản là thống nhất, đều vì làm cho toàn thể nhân dân có được quyền dân chủ và tự do được thực hiện đầy đủ. Quyền con người do pháp luật quy định và bảo đảm. Không một tổ chức hay cá nhân nào được tùy tiện đưa ra quy định về việc thực hiện quyền con người mà phải thông qua cơ chế pháp luật của một nhà nước có chủ quyền. Tách rời nhà nước và pháp luật quốc gia thì quyền con người chỉ nằm trên các tuyên bố chính trị mà không có tính khả thi, thậm chí là không tưởng. Nếu không có thể chế pháp luật, mỗi cá nhân thực hiện hành vi tùy tiện theo ý muốn của mình thì xã hội sẽ trở nên hỗn loạn. Vì thế, việc thụ hưởng quyền và tự do của cá nhân phải trên cơ sở pháp luật. Quyền con người chịu sự chế ước và hạn chế bởi pháp luật. Quyền con người do pháp luật quy định, đồng thời thông qua pháp luật để bảo đảm quyền con người. Vì thế, quyền con người cần phải chịu sự chế ước bởi pháp luật. Khoản 2, Điều 19 trong Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người chỉ rõ, khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ. Điều này cho thấy, quyền con người không phải là tuyệt đối, quyền con người không thể thoát ly khỏi quy định pháp luật và nguyên tắc pháp quyền. Trên thế giới, không có quốc gia nào cho phép công dân của nước mình có quyền tự do vô hạn mà không chịu sự hạn chế và điều chỉnh của pháp luật. Tóm lại, hiện nay một số nước phương Tây vẫn đưa ra những quan điểm về quyền con người thiếu căn cứ cả về phương diện lý luận và thực tiễn, không phù hợp với các quy định của pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền con người, trong đó có Hiến chương của Liên hợp quốc. Việc đấu tranh với các quan điểm sai trái này phải được thực hiện một cách đồng bộ trên nhiều mặt trận thông qua các phương thức đa dạng, như chính trị, tư tưởng, pháp lý,... gắn chặt giữa bảo đảm quyền con người với bảo vệ quyền người./. (Nguồn: Tạp chí Cộng sản).