Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

CHỈ ĐẠO CỦA TỔNG QUÂN ỦY VÀ BỘ TỔNG TƯ LỆNH ĐỐI VỚI CHIẾN DỊCH THƯỢNG LÀO 1953

 

Cách đây 70 năm, thực hiện chủ trương tăng cường liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào của Trung ương Đảng ta và quán triệt sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với vai trò là cơ quan chỉ đạo quân sự Trung ương, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam quyết định phối hợp cùng quân và dân Lào mở Chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, xây dựng căn cứ đứng chân cho bạn, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, đồng thời tạo điều kiện để bộ đội rèn luyện đánh tập đoàn cứ điểm nhỏ.
Sau gần một tháng tác chiến, các đơn vị tham gia chiến dịch đã hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ chiến dịch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, mở rộng địa bàn đứng chân của lực lượng kháng chiến Lào, nối liền vùng giải phóng của Lào với vùng tự do của Việt Nam, tạo thế chiến lược có lợi cho cách mạng 3 nước Đông Dương. Đánh giá về thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào 1953, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: Đó là thắng lợi đầu tiên của QĐND ta, của bộ đội chủ lực ta trong quá trình phối hợp chiến đấu với quân đội và nhân dân nước bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, của nhân dân ta đối với cách mạng Pathet Lào. Góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn này có vai trò chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, thể hiện trên một số nội dung sau:
Một là, nhạy bén nắm bắt thời cơ, hình thành ý định chiến dịch, tích cực chỉ đạo xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch.
Ngay sau khi Chiến dịch Tây Bắc 1952 kết thúc, trên cơ sở phân tích tình hình thực tế trên các chiến trường ở Đông Dương, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đã đặt vấn đề và chỉ đạo nghiên cứu lựa chọn hướng hoạt động trong thời gian tiếp theo. Qua phân tích tình hình, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Tổng Quân ủy và đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Phó bí thư Tổng Quân ủy thống nhất chủ trương mở chiến dịch ở hướng Thượng Lào và đề xuất đưa ra bàn kỹ trong hội nghị Tổng Quân ủy, đồng thời xin chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ trương này. Trong khi chờ xin chỉ thị, nhằm chủ động với ý định chiến dịch đã hình thành, đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ thị và chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình, làm cơ sở cho việc mở Chiến dịch Thượng Lào.
Tháng 1-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ tư (khóa II) xác định: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do. Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay. Quân đội ta phải đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch. “Bất kỳ ở miền núi hay đồng bằng, Quân đội ta phải chuẩn bị đánh những lực lượng, những cứ điểm ngày càng mạnh của địch".
Trên cơ sở phương hướng chiến lược và phương châm tác chiến do Trung ương Đảng xác định và ý định chiến dịch đã hình thành, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tập trung chỉ đạo nghiên cứu, đánh giá tình hình ở Thượng Lào đặt trong mối quan hệ chiến lược với các chiến trường khác ở Đông Dương, làm cơ sở để hiện thực hóa ý định mở Chiến dịch Thượng Lào.
Trong khi đó, sau thất bại ở Tây Bắc, nhận thấy nguy cơ có thể mất Thượng Lào, đầu năm 1953, tướng R.Salan, Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương quyết định đặt Thượng Lào dưới quyền của Bộ chỉ huy Quân đội Pháp ở Bắc Bộ Việt Nam; đồng thời, tập trung lực lượng, phương tiện, xây dựng những công sự, điểm tựa kiên cố, biến Sầm Nưa thành một tập đoàn cứ điểm theo kiểu “Nà Sản” trên đất Lào.
Để có thêm cơ sở mở Chiến dịch Thượng Lào, ngày 2-2-1953, Tổng Quân ủy tổ chức hội nghị mở rộng. Hội nghị xác định: Ta có thể tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ được nhân dân Lào, xây dựng được căn cứ đứng chân cho bạn. Địch buộc phải phân tán lực lượng thêm nữa. Bộ đội ta được rèn luyện đánh tập đoàn cứ điểm nhỏ trước khi đánh tập đoàn cứ điểm lớn. Ngay sau hội nghị, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng Quân ủy báo cáo và được Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng lãnh đạo Chính phủ Kháng chiến Lào nhất trí với đề nghị mở Chiến dịch Thượng Lào.
Thực hiện vai trò chỉ đạo chiến lược, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các cơ quan, nhất là Bộ Tổng Tham mưu tiến hành trinh sát, nghiên cứu tình hình, xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch. Đến tháng 3-1953, kế hoạch tác chiến Chiến dịch Thượng Lào được hoàn thành. Về mục đích chiến dịch: Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, buộc chúng phải phân tán thêm chủ lực ở Bắc Bộ Việt Nam, giải phóng Sầm Nưa, tạo điều kiện hỗ trợ cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào phát triển mạnh hơn nữa, rèn luyện bộ đội Việt Nam về chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm.
Theo kế hoạch tác chiến, hướng chủ yếu của chiến dịch là Sầm Nưa, gồm Đại đoàn 308 (3 trung đoàn), Đại đoàn 312 (2 trung đoàn), Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) theo Đường số 6 tiến sang Sầm Nưa. Phối thuộc cho các đơn vị ở hướng chủ yếu có các đại đội pháo binh, công binh, súng máy phòng không, thông tin, trinh sát của Bộ, phối hợp với Đoàn 80 Quân tình nguyện Việt Nam ở Sầm Nưa, quân và dân Lào thực hành bao vây, tiêu diệt địch theo cách đánh tập đoàn cứ điểm; hướng thứ yếu là Xiêng Khoảng, gồm Đại đoàn 304 từ Nghệ An hành quân theo Đường số 7 tiến sang phối hợp với Đoàn 81 Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT cách mạng Lào chặn đường rút lui của địch từ Sầm Nưa xuống. Trên hướng phối hợp ở khu vực sông Nậm Hu có Trung đoàn Bộ binh 148, cùng Đoàn 82 Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT cách mạng Lào; lực lượng dự bị chiến dịch có Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) đứng chân ở khu vực Mộc Châu sẵn sàng tham gia chiến đấu trên hướng chủ yếu.
Bộ chỉ huy chiến dịch, phía Việt Nam gồm các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng; Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Chính trị; Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng; Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Cung cấp. Về phía bạn có các đồng chí: Hoàng thân Souphanouvong, Thủ tướng Chính phủ Kháng chiến Lào; Kaysone Phomvihane, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào; Singkapo Sikhodchounlamaly, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lào; Ma Khaykhamphithoun, Bí thư Tỉnh ủy Sầm Nưa.
Như vậy, trên cơ sở hình thành ý định chiến dịch, dựa vào phương hướng chiến lược và phương châm tác chiến của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đã chỉ đạo các cơ quan xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch, bảo đảm cho QĐND Việt Nam phối hợp với LLVT cách mạng Lào giành thắng lợi trong Chiến dịch Thượng Lào.
Hai là, chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị chiến dịch, kết hợp giữ vững thế tiến công chiến lược trên các chiến trường.
Song song với quá trình chỉ đạo xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam tập trung chỉ đạo xúc tiến công tác chuẩn bị Chiến dịch Thượng Lào, kết hợp giữa chuẩn bị lực lượng tham gia chiến dịch, tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị chiến dịch, huấn luyện quân sự, tạo thế, giữ bí mật, bất ngờ, nghi binh và bảo đảm cung cấp vũ khí, trang bị cho chiến dịch. Đồng thời, chỉ đạo các lực lượng giữ vững và đẩy mạnh thế tiến công chiến lược trên khắp chiến trường Đông Dương.
Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, các đơn vị tham gia chiến dịch tiến hành củng cố tổ chức biên chế, trang bị, làm tốt công tác giáo dục động viên chính trị tư tưởng và huấn luyện quân sự. Về công tác huấn luyện quân sự, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo nghiên cứu chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm, hình thức phòng ngự cao nhất của địch và cũng là yêu cầu tất yếu phải tiến tới của QĐND Việt Nam trong giai đoạn tiến công và phản công chiến lược.
Cuối tháng 2-1953, Tổng Quân ủy mở hội nghị nghiên cứu chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm. Những cán bộ dự hội nghị đã thấy được chỗ mạnh, chỗ yếu trong phòng ngự tập đoàn cứ điểm của địch; đồng thời đưa ra một số cách đánh, cách khắc phục hỏa lực địch, chiến đấu ban ngày và liên tục chiến đấu. Tiếp đó, đầu tháng 3-1953, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam và lãnh đạo Chính phủ Kháng chiến Lào trong Bộ chỉ huy chiến dịch dự kiến hai khả năng có thể xảy ra khi ta bắt đầu hoạt động: Địch có thể tăng quân lên Sầm Nưa từ 5 đến 6 tiểu đoàn để chống trả ta tiến công, hoặc chúng có thể rút chạy khi có nguy cơ bị tiêu diệt. Trên cơ sở đó, để đánh thắng địch trong tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các đơn vị huấn luyện bộ đội đánh công kiên theo phương pháp bố trí mới của địch.
Công tác chuẩn bị bảo đảm, cung cấp cho chiến dịch gặp nhiều khó khăn, thách thức do địa bàn chiến dịch xa hậu phương. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và tăng cường cán bộ nhằm xúc tiến nhanh kế hoạch cung cấp cho chiến dịch. Các kho lương thực, vũ khí, đạn, các tuyến đường vận chuyển tiếp tế được bố trí thành hệ thống. Lực lượng dân công và các phương tiện vận tải được huy động với quy mô lớn.
Trong không khí chuẩn bị khẩn trương, ngày 3-4-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Người căn dặn: "Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình. Để làm tròn nhiệm vụ chiến đấu, từ trên xuống dưới các chú cần phải: Vượt mọi khó khăn, thi đua diệt địch, chiến đấu anh dũng ở bên đó cũng như ở ta; Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn; Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của QĐND Việt Nam...".
Thực hiện sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, ngày 6-4-1953, cơ quan chính trị chiến dịch ra chỉ thị “Công tác chính trị Chiến dịch X”, trong đó nêu rõ: Chiến dịch này không những củng cố được thắng lợi của Chiến dịch Tây Bắc, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt sinh lực địch trong những chiến dịch sau, đưa bộ đội ta tiến lên một bước mới về công kiên chiến, nó còn có một ý nghĩa quốc tế rất lớn lao và quan trọng. Phải kiên quyết tiêu diệt địch. Phải khẩn trương nhanh chóng. Phát huy tinh thần chiến đấu anh dũng, bền bỉ, gan dạ của bộ đội, bảo đảm mọi nhiệm vụ chiến đấu.
Ngày 9-4-1953, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh ra lời kêu gọi gửi đến bộ đội chủ lực, Bộ đội Tình nguyện Việt Nam, nhấn mạnh: Nhiệm vụ phối hợp tác chiến với bộ đội và nhân dân Pathet Lào là một nhiệm vụ vẻ vang của Quân đội ta, một nhiệm vụ vẻ vang đối với sự nghiệp giải phóng của nước bạn, cũng như đối với công cuộc kháng chiến của nước ta... Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế chân chính, chúng ta nhất định chiến thắng trong chiến dịch này.
Cùng với việc chỉ đạo trực tiếp chuẩn bị Chiến dịch Thượng Lào, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh kết hợp chỉ đạo giữ vững và đẩy mạnh thế tiến công chiến lược trên các chiến trường. Theo đó, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với LLVT cách mạng Lào phát triển phong trào du kích chiến tranh trên địa bàn Thượng Lào nhằm tạo thế cho chiến dịch. Các mặt trận: Đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Nam Bộ Việt Nam phát triển chiến tranh nhân dân, củng cố hậu phương chiến dịch. Cùng với đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tích cực chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý của quân địch vào hướng Nà Sản, tiếp tục giam chân chúng trong tình trạng khủng hoảng về quân số, cũng như về chiến lược giữa phân tán và tập trung trên các chiến trường Đông Dương. Như vậy, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, các LLVT ta và bạn vừa đẩy mạnh công tác chuẩn bị, kết hợp giữ vững thế tiến công chiến lược trên các chiến trường, sẵn sàng bước vào chiến đấu theo kế hoạch.
Ba là, chỉ đạo nhanh chóng hạ quyết tâm chuyển từ đánh công kiên sang vận động truy kích tiêu diệt địch.
Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch, đêm 21-3-1953, các đơn vị tham gia chiến dịch bắt đầu hành quân đến vị trí tập kết. Trên hướng chủ yếu, Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 hành quân từ Phú Thọ lên tập kết ở Mộc Châu (tỉnh Sơn La); Tiểu đoàn 999 (Đại đoàn 316) bắt đầu thực hiện kế hoạch nghi binh đánh vào Nà Sản. Trên hướng thứ yếu, ngày 31-3, Đại đoàn 304 bắt đầu rời Anh Sơn (tỉnh Nghệ An) vào tập kết ở Khe Kiều, ngay sát biên giới Việt Nam-Lào.
Ngày 8-4-1953, Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh cho các đơn vị tham gia chiến dịch nhanh chóng vượt qua biên giới, hành quân đến mục tiêu tiến công với tinh thần hành quân cực kỳ nhanh chóng, cực kỳ bí mật, để làm cho quân Pháp có muốn trở tay cũng không kịp. Phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch được Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ chỉ huy chiến dịch quán triệt đến cán bộ, chiến sĩ: Dùng lối bôn tập chiến dịch, nhanh chóng hành quân từ xa đến bao vây khống chế quân địch, không cho chúng tăng viện hoặc rút lui, tiến hành công kích các điểm cao quan trọng ở ngoại vi, tranh thủ nhanh chóng đánh sâu vào tung thâm, chia cắt quân địch ra mà tiêu diệt.
Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, các đơn vị khẩn trương hành quân sang đất bạn. Trong các ngày 10, 11 và 12-4-1953, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) đã vượt qua Mường Hung tiến thẳng đến Sầm Nưa. Bám sát Trung đoàn 98 là Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308). Qua tin tức nắm được, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp điện nhắc các đơn vị đi trước: Địch có thể rút Sầm Nưa... Không bỏ lỡ thời cơ, bộ đội tăng tốc hành quân.
Phát hiện các đơn vị chủ lực của ta ở nhiều hướng đang hành quân về phía Tây, mà điểm hội tụ là khu vực Sầm Nưa, Bộ chỉ huy quân Pháp tại Đông Dương phán đoán, ta sẽ mở chiến dịch đánh vào Sầm Nưa, giải phóng vùng Thượng Lào. Cuối tháng 3-1953, tướng R.Salan quyết định “kìm chân đối phương” bằng việc mở hai cuộc hành binh đánh vào Ninh Bình, Thanh Hóa và từ Nà Sản tiến về hướng Mộc Châu để giam chân và buộc chủ lực ta phải quay lại đối phó. Nhưng cả hai cuộc hành binh này đều không đem lại kết quả.
Trong khi đó, sau khi nhận được tin: Chủ lực đối phương đang tiến về ào ạt, R.Salan nhận thấy, nếu cố thủ Sầm Nưa bằng mọi giá trước ưu thế áp đảo của đối phương thì khó tránh khỏi thất bại. Do vậy, nhằm bảo toàn lực lượng, ngày 12-4-1953, Tổng chỉ huy quân Pháp tại Đông Dương quyết định rút ngay trong đêm toàn bộ quân khỏi Sầm Nưa về phía Nam (khi đó, các đơn vị đi đầu của ta còn cách Sầm Nưa gần một ngày đường). Đến trưa 13-4-1953, toán địch sau cùng rút chạy khỏi thị xã.
Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch thống nhất chỉ đạo bộ đội chuyển sang truy kích ngay. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lệnh cho các đơn vị: Địch đã bỏ Sầm Nưa chạy. Sầm Nưa đã giải phóng. Nhưng muốn giúp nước bạn củng cố căn cứ địa đó thì chúng ta phải tiêu diệt cho kỳ được sinh lực địch. Đường rút chạy của chúng khá xa, tinh thần chúng càng kém; chúng ta phải khắc phục tất cả khó khăn, chuyển thành quyết tâm diệt địch trong trận truy kích này. Đó là nhiệm vụ chúng ta phải làm cho kỳ được, vượt lên thực nhanh, bám sát và chia cắt địch, chặn đường rút lui của chúng, tiêu diệt cho giòn, cho gọn. Như vậy, trước tình huống chiến dịch thay đổi, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh cùng Bộ chỉ huy chiến dịch nhạy bén nắm chắc tình hình, kịp thời hạ quyết tâm chỉ đạo các đơn vị tham gia chiến dịch nhanh chóng chuyển từ đánh địch trong công sự vững chắc thành vận động truy kích địch. Đây là quyết định đúng đắn, kịp thời, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến dịch.
Bốn là, chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo, chỉ huy, điều hành tác chiến, góp phần giành thắng lợi chiến dịch.
Ngay sau khi địch rút khỏi Sầm Nưa, ngày 14-4-1953, Tổng Quân ủy họp hội nghị mở rộng, nhận định: Trước sự uy hiếp của ta, địch phải vội vã rút bỏ Sầm Nưa vào đêm 12-4 và sáng 13-4. Chiều 13-4, bộ đội ta bắt đầu truy kích. Địch rút Sầm Nưa là để bảo toàn lực lượng. Nhưng rút Sầm Nưa là địch bỏ ngỏ Thượng Lào, mất một vùng có tính chất chiến lược quan trọng... một thất bại lớn về chính trị. Để kịp thời truy kích địch, Tổng Quân ủy hạ quyết tâm, lệnh cho Đại đoàn 308 không kể ngày đêm, gấp rút đuổi địch, không cần chờ đầy đủ bộ đội, bộ phận nhẹ cho đi trước; đồng thời, lệnh cho Đại đoàn 304 tiến nhanh lên Đường số 7 chặn quân địch từ trên chạy xuống. Các Trung đoàn 102 và 36 cũng nhận được chỉ thị trực tiếp của Tổng Quân ủy, lập tức cho bộ đội xuất phát. Cùng với đó, các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp và Ban cán sự Thượng Lào đều được chỉ thị của Tổng Quân ủy tập trung lực lượng phục vụ cho nhiệm vụ truy kích, coi đó là trọng tâm công tác.
Chấp hành mệnh lệnh của Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, các hướng đẩy mạnh truy kích địch. Ngay trong ngày 13-4-1953, Tiểu đoàn 888 bắt được toàn bộ ngụy quyền tỉnh Sầm Nưa, 40 lính dõng tại Mường Hàm. Sáng 14-4, Trung đoàn 98 gặp địch ở chân đèo Nà Noọng, diệt 50 tên, bắt 15 lính Âu-Phi, 206 lính ngụy. Cùng thời gian, Trung đoàn 102 cùng bộ phận thuộc Trung đoàn 209 gặp địch tại Hứa Mường, diệt khoảng một đại đội, trong đó có 40 lính Âu. Một đại đội thuộc Trung đoàn 88 truy kích về hướng Bản Ban. Một bộ phận thuộc Trung đoàn 209 truy kích theo hướng Đông Nam Sầm Nưa tới Sầm Tớ (cách Tây Nam Sầm Nưa 60km). Tàn quân địch trên hướng chủ yếu chạy về Cánh đồng Chum.
Trên hướng thứ yếu, ngày 15-4-1953, địch rút khỏi Noọng Hét và Bản Ban. Trung đoàn 66 và tiểu đoàn bộ đội Lào phối hợp vào tiếp quản Noọng Hét; Trung đoàn 9 tiếp quản Bản Ban; 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 9 tiến về Sầm Nưa phối hợp với hướng chính, tiểu đoàn còn lại tiến theo Đường số 7 vào Khăng Khay. Ngày 18-4-1953, Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) áp sát thị xã Xiêng Khoảng, địch hoảng sợ rút về co cụm ở Cánh đồng Chum.
Tại khu vực sông Nậm Hu (hướng phối hợp), Trung đoàn 148 cùng Bộ đội Tình nguyện và LLVT Lào đẩy mạnh hoạt động tiến công. Ngày 21-4-1953, diệt một đại đội ở Mường Ngòi và buộc địch ở đồn Nậm Bạc rút chạy; ngày 23-4-1953, Trung đoàn 98 từ phía Nam lên phối hợp tiến đánh vị trí Mường Khoa; ngày 26-4-1953, diệt vị trí Pắc Sàng và chặn đánh địch ở Bản Sẻ. Phát huy thắng lợi trong những ngày cuối tháng 4-1953, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT Lào tiếp tục tổ chức truy kích địch rút chạy; đồng thời, tăng cường hoạt động gây sức ép ở Luông Pha Băng, khiến Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương phải gấp rút điều 2 tiểu đoàn thuộc Binh đoàn cơ động 1 (GM1) từ Nà Sản sang xây dựng thành tập đoàn cứ điểm bảo vệ kinh đô Luông Pha Băng. Ngày 2 và 3-5-1953, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Hội nghị tổng kết chiến dịch tại Sầm Nưa. Khuếch trương thắng lợi chiến dịch, ngày 17-5, Trung đoàn 98 phối hợp với Trung đoàn 148 nổ súng tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Mường Khoa, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên.
Ngay sau khi Chiến dịch Thượng Lào kết thúc, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đề ra nhiệm vụ tổ chức tiếp quản thị xã Sầm Nưa và những vùng mới giải phóng, đẩy mạnh tuyên truyền chiến thắng trong nhân dân và đề nghị cùng Chính phủ Kháng chiến Lào tổ chức “Tuần lễ đoàn kết Việt-Lào” để bộ đội tích cực tham gia vào công tác củng cố địa phương. Đồng thời, ta để lại một số đơn vị chủ lực cùng Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào củng cố vùng giải phóng, xây dựng Sầm Nưa thành căn cứ địa kháng chiến của nước bạn.
Chiến thắng Thượng Lào có ý nghĩa to lớn không những đối với cách mạng Lào, mà còn mở ra những điều kiện mới, thuận lợi để quân và dân 3 nước Đông Dương tiến lên giành những thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời, qua đó khẳng định vai trò quyết định của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo chiến dịch giành thắng lợi.
Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu cao hơn. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, còn có nhiều khó khăn, thách thức do tác động của tình hình thế giới, khu vực đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở nắm chắc tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục thực hiện tốt vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thường xuyên làm tốt công tác dự báo, nắm chắc tình hình, từ đó tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp phù hợp trong việc hoạch định các chính sách, đối sách, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, bổ sung, phát triển các chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự; xây dựng, hoàn thiện kế hoạch phòng thủ đất nước; phương hướng và biện pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân; triển khai thực hiện có hiệu quả một số đề án trọng điểm nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là các địa bàn chiến lược, quan trọng. Tập trung đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện theo Nghị quyết số 1659 ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương, tạo chuyển biến mạnh mẽ về trình độ huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu, nhất là khả năng cơ động, tác chiến trong điều kiện và đối tượng tác chiến mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội và các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ luôn có ý chí quyết tâm cao, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Chỉ đạo xây dựng và phát triển khoa học nghệ thuật quân sự trong điều kiện gắn với phát triển ngành công nghiệp quốc phòng; nghiên cứu, sản xuất các loại vũ khí phù hợp với điều kiện địa hình, cách đánh và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chỉ đạo triển khai đồng bộ, toàn diện công tác đối ngoại quân sự, quốc phòng theo phương châm tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Chỉ đạo đẩy mạnh mở rộng và tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng với các nước, nhất là với các nước láng giềng, ASEAN... nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cùng với đó, Quân ủy Trung ương tiếp tục thực hiện tốt vai trò trực tiếp lãnh đạo xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh toàn diện, xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội trong sạch, vững mạnh. Triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt chủ trương xây dựng QĐND Việt Nam theo hướng tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
70 năm đã trôi qua, nhưng thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào vẫn còn nguyên giá trị, để lại nhiều bài học quý về sự chỉ đạo, chỉ huy, điều hành chiến dịch đúng đắn, kiên quyết, sáng tạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó keo sơn “chí nghĩa, chí tình” giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào ngày càng bền chặt, cùng nhau giành những thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước.
Thượng tướng, TS LÊ HUY VỊNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Báo QĐND

Tiêu chí về chuẩn mực đạo đức trong công việc của cán bộ đảng viên

     Tiêu chí cụ thể về chuẩn mực đạo đức trong công việc của cán bộ, đảng viên được thể hiện ở nhiều khía cạnh, nhiều giá trị đó là: Tinh thần yêu Tổ quốc, tự hào về truyền thống dân tộc; nắm vững và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; am hiểu công việc, tâm huyết với nghề nghiệp, thực hiện đúng chức trách, thẩm quyền, nhiệm vụ được giao; luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết và trước hết; có ý thức giữ gìn danh dự, phẩm giá, uy tín của cán bộ, đảng viên; có tinh thần đoàn kết, phối hợp, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ được giao; thường xuyên tự soi, tự sửa, rút kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ để hoàn thiện bản thân, phát triển những giá trị mới của đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới. Thông qua công việc, những tiêu chuẩn, giá trị đạo đức nêu trên của người cán bộ, đảng viên được bộc lộ, được rèn luyện và được chuẩn hóa, phát triển lên tầm cao mới phù hợp với chức trách, nhiệm vụ, vị trí cương vị đảm nhận...

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH SỨC MẠNH QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG

 

Hiện nay tình hình thế giới và khu vực đang có những diễn biến rất phức tạp, vượt qua nhiều dự báo, tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Đối với nước ta, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ ở nước ta; tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông còn phức tạp; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện xa rời mục tiêu CNXH, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.

Để khắc phục được tình hình trên, điều quan trọng nhất là phải tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về "chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 về Chiến lược quốc phòng Việt Nam; Kết luận số 31-KL/TW, ngày 16/4/2018 về Chiến lược quân sự Việt Nam. Việc ban hành nghị quyết, kết luận về Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự nhằm tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán về nguyên tắc Ðảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là bước phát triển mới về tư duy, nhận thức của Ðảng đối với công cuộc bảo vệ đất nước.

Chỉ thị của Đảng đã xác định rõ chủ thể lãnh đạo giáo dục quốc phòng là các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến cơ sở, trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện là chính quyền các cấp. Vậy nên, trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo các hoạt động bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành và giáo dục quốc phòng toàn dân phải có kế hoạch cụ thể, tổ chức chặt chẽ, coi trọng chất lượng; kịp thời nghiên cứu bổ sung, cập nhật các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tình hình nhiệm vụ mới của Đảng, của địa phương vào giáo trình giáo dục, tài liệu thông tin tuyên truyền về quốc phòng, an ninh, phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học và từng lĩnh vực hoạt động, nhất là các vấn đề: Đổi mới tư duy về mục tiêu, nhiệm vụ, sức mạnh và lực lượng bảo vệ Tổ quốc; trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, điều hành xây dựng khu vực phòng thủ; nhãn quan chính trị trong xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng; tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh; chủ nghĩa yêu nước, lịch sử truyền thống của Đảng, của dân tộc, lòng tự hào, tự tôn dân tộc… Trong đó, cần tập trung lãnh đạo thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về "tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ"; kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa trang bị, vũ khí kỹ thuật, đi đôi với việc không ngừng xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Cùng với việc ra sức phát huy hiệu lực, tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bên ngoài, quán triệt sâu sắc đường lối độc lập tự chủ, phương châm thêm bạn bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, gia tăng hợp tác, hạn chế tối đa xung đột, đối đầu, đồng thời cảnh giác cao với mọi sự lợi dụng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của ta.

Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội "tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt”. Nghiên cứu bổ sung và thể chế hoá các quan điểm của Đảng, tập trung xây dựng quân đội nhân dân theo hướng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó, lấy xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc, thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chính trị - quân sự đúng đắn đã tập hợp được sức mạnh toàn dân, vũ trang toàn dân, phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang làm nòng cốt tới đỉnh cao, hết sức tài tình, sáng tạo, độc đáo đã đánh thắng các thế lực thực dân, đế quốc hùng mạnh nhất của thời đại hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là lựa chọn tất yếu khách quan của lịch sử cách mạng Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam, nhân tố quyết định sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa./.

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam có bước phát triển mới so với Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII. Cụ thể, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng: Hải quân, phòng không-không quân, tác chiến điện tử, cảnh sát biển, tình báo, cơ yếu, an ninh, cảnh sát cơ động, kỹ thuật nghiệp vụ, an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu đến năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”[1].

Có thể khẳng định mục tiêu, phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân như trên là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp trong tình hình mới, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Cả cơ sở lý luận và thực tiễn đều cho thấy, việc xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là đòi hỏi tất yếu khách quan và hoàn toàn phù hợp. Trước hết, về cơ sở lý luận, theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, quân đội kiểu mới để giành chính quyền và bảo vệ thành quả cách mạng phải được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: Con người, tổ chức, vũ khí, trang bị, nghệ thuật tác chiến..., trong đó, chính trị-tinh thần là yếu tố có ý nghĩa quyết định.

Truyền thống dân tộc ta, từ xa xưa ông cha ta đã đề ra kế sách “sâu rễ, bền gốc”: “Quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” vì đây chính là trụ cột của “thái bình, thịnh trị, quốc thái, dân an”, là quy luật sinh tồn của dân tộc. Đồng thời, ông cha ta đã đúc kết thành bài học kinh nghiệm “Quân cốt tinh, không cốt đông”.

Tiếp thu tinh hoa truyền thống quân sự Việt Nam, năm 1958, trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ nhân dịp kỷ niệm 14 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "...Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một Quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”.

Trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, quan điểm của Đảng ta về xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đã được hình thành từ sớm và từng bước bổ sung, hoàn thiện. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, ngày càng hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu cao”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được Đại hội VII của Đảng (năm 1991) thông qua, xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, tinh nhuệ, với cơ cấu tổ chức và quân số hợp lý; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu”. Từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng (năm 1996), mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trở thành chủ trương nhất quán của Đảng ta trong lãnh đạo công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Bước sang thế kỷ 21, sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh hiện đại và phương thức tác chiến mới, càng đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, coi trọng xây dựng quân đội hiện đại. Chính vì vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 hiến định rõ tại Điều 66: “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng”[2]. Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta xác định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng LLVT nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng”.

Như vậy, điểm thay đổi trong phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân mà văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định so với Đại hội Đảng lần thứ XII là: Từ chỗ “ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” phát triển thành “ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng: Hải quân, phòng không-không quân, tác chiến điện tử, cảnh sát biển, tình báo, cơ yếu, an ninh, cảnh sát cơ động, kỹ thuật nghiệp vụ, an ninh mạng và đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu đến năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

Sở dĩ Đại hội XIII của Đảng xác định rõ phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân như đã nêu trên là xuất phát từ tình hình thực tế trong nước và thế giới với những yêu cầu rất cao đặt ra đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cụ thể là:

Về dự báo tình hình, so với Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng có những nhận thức mới: Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn... Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới... Trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột... Cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh và phương thức tác chiến mới rất hiện đại, công nghệ cao, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, khó lường. Trước tình hình đó, việc đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, hiện đại hóa quân đội là xu thế chung trên thế giới và nước ta không thể đứng ngoài cuộc.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi mới, ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này, phải làm công tác tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc (nhiệm vụ được Đảng ta xác định là trọng yếu, thường xuyên); chủ động xử lý có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; vừa ngăn ngừa nguy cơ xung đột, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, vừa giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Hơn nữa, việc xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc chính là cơ sở quan trọng để thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” theo kế sách “chủ động giữ nước từ khi nước chưa nguy”, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Sự vững mạnh của quân đội, công an và nền quốc phòng, an ninh là tiền đề để đất nước phát triển ổn định, bền vững, là điều kiện quan trọng mở rộng và thu hút đầu tư, du lịch, thúc đẩy kinh tế phát triển, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Phương hướng, mục tiêu xây dựng quân đội mà Đại hội XIII của Đảng xác định là tất yếu khách quan, rất cần thiết trong tình hình mới. Cùng với đó, điều rất quan trọng nữa là chủ trương này phù hợp với điều kiện của nước ta và hoàn toàn có tính khả thi khi tình hình kinh tế-xã hội đất nước phát triển, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo 35 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; tiềm lực kinh tế và quốc phòng của nước ta có bước phát triển nhanh, có điều kiện đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng Cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời kết hợp mua sắm phương tiện, trang bị vũ khí hiện đại tăng cường sức mạnh cho quân đội, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn thực hiện chủ trương “ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng” trong những năm qua, chúng ta cũng đạt được những kết quả quan trọng và thu được nhiều kinh nghiệm quý. Đây chính là cơ sở vững chắc để phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Để đạt được mục tiêu “đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân ta, được triển khai thực hiện dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Trong quá trình xây dựng quân đội tiến lên hiện đại, chúng ta phải thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng: Quân đội ta tiến lên hiện đại trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống dân tộc, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quán triệt quan điểm hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam phải bắt đầu từ sự tinh nhuệ về chính trị, trước hết là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; thực hiện “người trước, súng sau”. Mục đích xây dựng quân đội vững mạnh là để phòng thủ và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, hóa giải nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa... Việt Nam luôn nhất quán không tham gia liên minh quân sự nào; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế...

Để góp phần triển khai thực hiện hiệu quả phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định, cán bộ, chiến sĩ toàn quân, trước hết là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải quán triệt thật sâu sắc và đề cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện ở cơ quan, đơn vị mình theo đúng sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Trước hết, phải tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời duy trì thực hiện nghiêm nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật; tập trung xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Bảo đảm thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp đã xác định trong định phấn đấu từ năm 2030 xây dựng quân đội hiện đại.  Đặc biệt, các quân chủng, binh chủng, lực lượng được ưu tiên hiện đại phải thực sự nỗ lực phấn đấu rất cao để hiện đại hóa đồng bộ cả về con người, tổ chức lực lượng, vũ khí, trang bị, phương thức và trình độ tác chiến cùng các mặt bảo đảm khác, đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời tạo tiền đề vững chắc để xây dựng quân đội hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.



[1] Đảng Cộng sản VieetjNam, văn kiện Đại hội XIII, Nxb CTQG, tập 1, tr.277

[2] Đảng Cộng sản VieetjNam, văn kiện Đại hội XII, Nxb CTQG tr.149

Đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới hiện nay

Ngày nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi cơ hội để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Chúng đưa ra các luận điệu sai trái nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng ta để làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành quản lý của Nhà nước. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đây là sự nghiệp cách mạng đòi hỏi bản lĩnh, sự bền bỉ, kiên quyết, kiên trì, không được chủ quan; đồng thời, phải thường xuyên đổi mới, sáng tạo trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại.

Thực tiễn cách mạng của Đảng ta chỉ rõ, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng luôn đứng ở vị trí hàng đầu trong các mặt công tác của Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, việc phát tán các quan điểm sai trái, thù địch trở nên rất dễ dàng, vì vậy công tác đấu tranh phản bác các quan điểm này cũng là nhiệm vụ được đặt ngang hàng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chấp hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, trong thời gian qua, đại đa số cán bộ, đảng viên đã góp phần tích cực vào công tác đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái của các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Nhiều đảng viên tham gia chia sẻ, lan tỏa sâu rộng những thông tin tích cực, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, nhận thức của Nhân dân trong việc chấp hành pháp luật, đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật của các phần tử cơ hội chính trị, phản động; tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Một số cán bộ, đảng viên trở thành “cây bút chiến” viết tin, bài đấu tranh, phản bác có chất lượng. Chính tinh thần trách nhiệm đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần mang lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Tuy nhiên, khi đất nước ngày càng phát triển thì các thế lực thù địch, phản động lại càng tìm mọi cách để chống phá. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ tất yếu chúng ta phải làm và nhất định phải làm thật tốt. Đây thực sự là cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững mối quan hệ mật thiết, bền chặt giữa Đảng với Nhân dân. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trong bối cảnh hiện nay có tầm quan trọng đặc biệt, vừa mang tính trước mắt, thường xuyên, vừa mang tính chiến lược, lâu dài của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó đội ngũ đảng viên phải là lực lượng nòng cốt, tiên phong, gương mẫu đi đầu. Đối với mỗi đảng viên, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một vấn đề thuộc về tiêu chuẩn, tư cách người cộng sản, là trách nhiệm chính trị. Để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đó, đòi hỏi mỗi đảng viên phải thực hiện tốt những nội dung, biện pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất, quyết tâm cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng, gắn với việc phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự giác đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ hai, thường xuyên quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết 35 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05-CT/TW “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”…

Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng, lý luận theo hướng khoa học, thiết thực, kịp thời, hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Coi trọng lấy gương “người tốt, việc tốt”, “điển hình tiên tiến” để tuyên truyền, giáo dục, tạo hiệu ứng tích cực, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm các vi phạm chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đồng thời cổ vũ, biểu dương các tấm gương đạo đức để tạo ảnh hưởng lan tỏa trong Đảng và xã hội.

Thứ tư, không ngừng đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho mọi tầng lớp Nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên nhận rõ mục tiêu sâu xa của các quan điểm sai trái. Tích cực chống lại các luận điệu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhằm phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, nghiên cứu và tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống, bài bản, đi vào chiều sâu.

Thứ năm, chủ động nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng, dư luận xã hội; xử lý kịp thời những vấn đề bức xúc nảy sinh; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Mặt khác, mỗi cơ quan, đơn vị cần duy trì và phát triển lực lượng chuyên trách (LL47) đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”.

Thứ sáu, tăng cường trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; bảo đảm việc học tập các môn lý luận chính trị được tiến hành một cách thực chất, để người học nắm được những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá thấu đáo các vấn đề chính trị – xã hội diễn ra trong đời sống hiện thực. Mặt khác, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định của Ðảng.

Thực tiễn hơn 93 năm qua đã cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn kiên trì, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, luôn kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Sự kiên trì, kiên định và kiên quyết ấy chính là những bài học kinh nghiệm quý báu cho mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức; mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta quán triệt sâu sắc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng đi đến thành công, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.