Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản cầm quyền và ý nghĩa hiện nay

(LLCT) - Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong lịch sử 75 năm cầm quyền, Đảng ta đã phải nhiều lần vượt qua những thách thức lớn để giữ vững vị trí của một Đảng cầm quyền. Bước sang giai đoạn giữ chính quyền và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa là một bước chuyển biến về chất, đòi hỏi Đảng phải có trí tuệ mới, phẩm chất mới. Do đó, cần quyết liệt hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống các nguy cơ mới đối với Đảng cầm quyền.

Từ khóa: Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản cầm quyền

Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ khi giành được chính quyền, trong khi phải lo đối phó thù trong, giặc ngoài, vẫn không một phút lơ là nhiệm vụ xây dựng Đảng. Người đã chỉ ra ba nguy cơ có thể dẫn tới thoái hóa, biến chất của một Đảng cầm quyền, Một là, nguy cơ sai lầm về đường lối, Hai là, chủ nghĩa cá nhân, Ba là, quan liêu xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng.

Để tránh sai lầm về đường lối, trước hết phải xây dựng Đảng về trí tuệ, làm cho Đảng vươn lên ngang tầm nhiệm vụ lịch sử mới. Trong vòng vây của đủ loại kẻ thù, hàng ngày hàng giờ phải đối phó với biết bao nguy cơ và thách thức có quan hệ đến sự tồn vong của chính quyền cách mạng, tình hình đó đòi hỏi Đảng phải có trí tuệ sáng suốt để kiên định mục tiêu, biến hóa về đối sách, khi hòa khi tiến, phân hóa và cô lập kẻ thù, tạo thời gian để củng cố chính quyền, chuẩn bị về lực lượng, dẫn dắt toàn dân đi vào cuộc kháng chiến lâu dài.

Bắt tay vào xây dựng một chế độ xã hội mới chưa từng có trong lịch sử dân tộc càng phải có tri thức mới. Sau khi lên cầm quyền, những người cộng sản dường như đã có tất cả, cái còn thiếu “chính là trình độ văn hóa của người cộng sản cầm quyền”. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải chống thói kiêu ngạo, tự mãn, cho mình là tài giỏi hơn ai hết, việc gì cũng làm được. Người nhắc nhở: phải có tinh thần cầu học, cầu tiến bộ, phải thực hiện lời dạy của V.I.Lênin: “Học, học nữa, học mãi”.

Thứ hai, đi đôi với nâng cao trí tuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng đã kịp thời đẩy mạnh chiến dịch giáo dục, bồi dưỡng về đạo đức cách mạng, tiến hành đấu tranh không mệt mỏi chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, một thứ “giặc nội xâm”, phá hoại Đảng từ bên trong. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịch liệt đả phá thói kiêu căng, đầu óc “ông tướng, bà tướng” của một số cán bộ có chức có quyền, đi tới chuyên quyền, vi phạm quyền làm chủ của người dân. Người đã viết nhiều bài viết nhắc nhở: trong một nước dân chủ thì dân là chủ, cán bộ phải là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Do đó, phải “sao cho được lòng dân” bởi “dân bất tính thì vô lập”.

Thứ ba, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, các phần tử cơ hội chủ nghĩa đã không từ một thủ đoạn nào để chui vào Đảng nhằm mưu cầu đặc quyền đặc lợi. Ở mỗi thời kỳ cách mạng, đặc biệt là ở những thời điểm cách mạng chuyển giai đoạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời mở các cuộc sinh hoạt chính trị, các cuộc vận động đổi mới, chỉnh đốn Đảng nhằm làm trong sạch đội ngũ đảng viên, đưa bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng, ra trước tòa án.

Thứ tư, phải nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra, không phải Đảng ta chỉ có thành tích và thắng lợi mà không có khuyết điểm sai lầm. Nhưng khi phát hiện ra sai lầm thì Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dũng cảm nhận sai lầm và quyết tâm sửa chữa. Hồ Chí Minh sớm chỉ rõ: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(1).

Quán triệt chỉ dạy của Người, Đại hội VI của Đảng đã thẳng thắn tự phê bình: Chúng ta đã phạm “sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội,... Đó là những biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản vừa “tả” khuynh, vừa hữu khuynh(2). Trong những sai lầm đó, có việc kéo dài quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, không quan tâm đúng mức đến lợi ích chính đáng của người lao động, làm triệt tiêu động lực của người sản xuất, nền kinh tế đất nước lâm vào trì trệ kéo dài, khó khăn thiếu thốn triền miên. Trong lúc cuộc khủng hoảng toàn diện, sâu sắc ở các nước xã hội chủ nghĩa đang diễn ra trầm trọng, những sai lầm đó đã làm cho tình hình kinh tế - xã hội của đất nước càng trở nên gay gắt.

Tuy nhiên, Đảng và Nhân dân Việt Nam không chấp nhận trì trệ, đói nghèo, đã “vượt rào” tìm tòi cách làm ăn mới. Từ tổng kết kinh nghiệm sáng tạo của quần chúng, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, thực hiện đổi mới toàn diện và triệt để; được đông đảo nhân dân hưởng ứng, công cuộc đổi mới đã thực sự trở thành một cuộc cách mạng sôi nổi của quần chúng, từng bước đạt được những thành tựu kỳ diệu.

Bài học vượt qua nguy cơ của Đảng ta ở thời kỳ này là: để khắc phục trì trệ, lạc hậu, Đảng phải luôn luôn tự đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy. Muốn thế, Đảng phải đẩy mạnh nghiên cứu lý luận kết hợp với tổng kết thực tiễn, từ thực tiễn mà kiểm tra lại nhận thức, khắc phục những quan niệm sai lầm hoặc đã lỗi thời, làm phong phú trí tuệ của mình bằng những kiến thức khoa học mới của thời đại. Để làm được như vậy, cần tạo được bầu không khí dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong tìm tòi nghiên cứu khoa học, phải theo đúng phương châm Đại hội VI của Đảng đã đề ra là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, nghĩa là đánh giá đúng thành tích nhưng cũng thấy cả những những yếu kém, sai lầm, khuyết tật, vạch rõ nguyên nhân và đề ra được biện pháp khắc phục để đổi mới và tiến lên.

2. Các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng đã bổ sung và xác định 4 nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam là: (1) Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, do điểm xuất phát thấp. (2) Nguy cơ sai lầm về đường lối, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. (3) Nguy cơ về sự suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí. (4) Nguy cơ “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đến Đại hội IX của Đảng, nhấn mạnh: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương trình Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ những nguy cơ, thách thức đối với Đảng ta hiện nay là: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”(3).

Trong các nguy cơ đó thì nguy cơ về sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, có thể coi là nguy hiểm nhất. Đây là điều kiện dễ làm cho cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, chạy theo chức, quyền, danh, lợi, dẫn đến phai nhạt lý tưởng và chệch hướng, dễ bị “diễn biến hòa bình”. Những tệ nạn này không chừa một ai và bất kỳ cán bộ đó làm gì, ở lĩnh vực nào, ở cấp cao hay thấp, nếu cán bộ đó không kiên trì học tập, tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng thì đều có thể mắc phải. Tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, đã nêu: “qua hoạt động thanh tra đã phát hiện 670 vụ với trên 1.800 đối tượng có hành vi, biểu hiện tham nhũng với số tiền, tài sản liên quan là trên 1.000 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra 274 vụ, 429 đối tượng có dấu hiệu tội phạm tham nhũng. Cả nước có 918 người đứng đầu và cấp phó đã bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, trong đó xử lý hình sự 118 trường hợp; xử lý kỷ luật 800 trường hợp. Đến nay, tỷ lệ kê khai tài sản, thu nhập đúng thời hạn đã đạt 99,5%, công khai đạt tỷ lệ 98,3%. Qua 10 năm đã xác minh được 4.859 trường hợp, phát hiện, xử lý kỷ luật 17 người kê khai tài sản không trung thực”(4). Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng đã có tác dụng đề cao trách nhiệm của họ, đồng thời có tác dụng răn đe nhất định, nhưng thực tế hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Số người đứng đầu bị xử lý còn ít so với số lượng việc tham nhũng được phát hiện; việc khuyến khích cán bộ lãnh đạo, quản lý “chủ động từ chức vì lý do trách nhiệm” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khóa X chưa được thực hiện; còn có sự nhầm lẫn giữa xử lý người đứng đầu khi có sai phạm và xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

 Trong điều kiện mới, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, đặc biệt là tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân diễn ra rất tinh vi, phức tạp và ngày càng trở nên nghiêm trọng. Sự suy thoái, biến chất không chỉ diễn ra riêng lẻ và đối với những đảng viên thường, mà có nơi, có lúc đã trở thành số đông có tính chất tập thể, thậm chí có cả một tổ chức, một cấp ủy và xảy ra đối với cả một số cán bộ có trình độ cao, có những người giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy của Đảng, Nhà nước. Đây là nguy cơ “diễn biến bên trong” đặc biệt nguy hại không thể coi thường và đang là những thách thức lớn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân ta.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI chỉ rõ nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém của công tác xây dựng Đảng từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội là do: Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thực sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực kém.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa lúc nào từ bỏ âm mưu và thủ đoạn thâm độc để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Chiến lược “diễn biến hòa bình” của chúng được thực hiện với những hình thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt: gây “tự diễn biến” từ bên trong để tạo cớ can thiệp; lợi dụng sơ hở, sai lầm của ta để khoét sâu; sử dụng các chiêu bài dân tộc, tôn giáo, nhân quyền,... để kích động chia rẽ, gây rối nội bộ; nhen nhóm lực lượng phản động bên trong, cấu kết với lực lượng bên ngoài để tiến hành bạo loạn, tạo cớ can thiệp vũ trang dưới nhiều hình thức. Ngoài ra, chúng còn thực hiện “diễn biến” về tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, qua con đường giao lưu, hội nhập về kinh tế, qua các mạng thông tin, để lôi kéo thanh niên ta đi chệch khỏi các định hướng giá trị của dân tộc, thực hiện “diễn biến” từ bên trong.

Bốn nguy cơ trên đang diễn biến phức tạp, đan xen nhau, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, coi đó là nguy cơ nóng bỏng trước mắt, nhưng cũng chỉ rõ: xét về lâu dài, kinh tế có phát triển cao mới có điều kiện đẩy lùi và xóa bỏ các nguy cơ khác, còn nếu để khoảng cách tụt hậu về kinh tế ngày càng xa thì đến một lúc nào đó khó tránh khỏi các vùng bùng nổ xã hội có thể đe dọa vị trí của Đảng cầm quyền.

3. Những giải pháp đẩy lùi các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, xây dựng Đảng, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

 Để cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng có sự chuyển biến trong thời gian tới, cần tập trung chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng; bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế, luật pháp về quản lý kinh tế - xã hội để phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, tạo sự thống nhất, tự giác, quyết tâm cao trong hành động.

Đề cao trách nhiệm của các cấp ủy đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Nâng cao năng lực, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng; tăng cường giám sát và chống tham nhũng trong các cơ quan bảo vệ pháp luật; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát hiện, điều tra và xử lý nghiêm minh, kịp thời các vụ án, vụ việc tham nhũng lớn.

Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đưa nội dung công tác phòng, chống tham nhũng vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm.

Thứ hai, có quyết tâm chính trị cao, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” , “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

  Cần nhận thức rõ rằng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cuộc chiến đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình với Đảng với Tổ quốc để thực hiện nghị quyết một cách nghiêm túc và có hiệu quả, tránh tình trạng thờ ơ vô cảm, đứng ngoài cuộc hoặc chỉ trông chờ, phán xét người khác.

Cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu các cấp phải thật sự đoàn kết, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là phải có những giải pháp đủ mạnh, những việc làm cụ thể để làm chuyển biến rõ rệt tình hình; kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”; tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc bức xúc đã được chỉ ra. Kết hợp công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình với việc xây dựng và thực hiện các cơ chế chính sách; kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; phát huy vai trò của Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải nắm chắc tình hình, thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Định kỳ sơ kết rút kinh nghiệm và có các hình thức khen thưởng kịp thời đối với những tổ chức, cá nhân làm tốt và xử lý kỷ luật đối với những nơi làm không tốt. Tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột”, khi quán triệt, triển khai Nghị quyết thì rầm rộ nhưng khi thực hiện thì tắc trách, không có tập thể cá nhân nào chịu trách nhiệm.

Trong sinh hoạt Đảng, phải đặc biệt coi trọng việc phát huy dân chủ, tự phê bình và phê bình trung thực, thẳng thắn trên tinh thần anh em, đồng chí. Tránh tình trạng thiếu dân chủ, biết sai của đồng chí mình mà không dám nói trong chi bộ, nhất là đối với đảng viên giữ cương vị có chức, có quyền, chỉ nói ở nơi khác.

Thứ ba, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thực chất là phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, các cấp ủy Đảng, các cơ quan nhà nước cần động viên, tổ chức nhân dân tham gia rộng rãi và thường xuyên vào các công việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Xóa bỏ nhận thức sai lầm cho rằng công tác vận động quần chúng chỉ là biện pháp tổ chức, động viên nhân dân thực hiện chính sách của Đảng. Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp với đời sống nhân dân, cấp ủy Đảng cần lắng nghe ý kiến nhân dân trước khi quyết định. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” phải trở thành khẩu hiệu hành động, thành phương châm công tác vận động quần chúng. Phải thực hiện đúng nguyên tắc: Chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và trình độ của nhân dân. Ngay cả trường hợp chính sách đúng rồi mà dân chưa hiểu, chưa đồng tình thì phải ra sức tuyên truyền, giải thích cho dân, biết chờ đợi dân; kịp thời điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tế cuộc sống.

Mặt khác, các cấp ủy Đảng, các cơ quan chính quyền có biện pháp tích cực giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, có ý thức và thái độ đúng đắn với nhân dân, yêu thương, gần gũi, tôn trọng, lắng nghe nhân dân; có chương trình, kế hoạch tiếp dân, giải quyết  tốt các đơn, thư khiếu tố, các yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của dân; trừng trị nghiêm minh, thích đáng những hiện tượng trù dập, ức hiếp quần chúng. Các đoàn thể nhân dân, nhất là Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ,... cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đi sâu giáo dục, bồi dưỡng, động viên đoàn viên, hội viên phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia các hoạt động chính trị, xã hội với đầy đủ ý thức trách nhiệm của người làm chủ.

Thứ tư, rèn luyện đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân

Hoạt động trong điều kiện mới, môi trường xã hội có nhiều yếu tố phức tạp hơn trước, bối cảnh trong nước và thế giới có những diễn biến rất nhanh, các thế lực thù địch lại giăng ra đủ thứ mưu mô và cạm bẫy, việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh cho cán bộ, đảng viên có ý nghĩa rất quan trọng. Trong khi đó nhiều cấp ủy và tổ chức Đảng chưa chú ý giáo dục, quản lý, kiểm tra đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu không kiên quyết khắc phục tình trạng này thì rất dễ làm thoái hóa, biến chất Đảng và Nhà nước, làm xói mòn nghiêm trọng lòng tin của nhân dân.

 Tất cả cán bộ, đảng viên dù ở cương vị công tác nào cũng phải thấy hết trách nhiệm của mình, không ngừng tự rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, khắc phục các thói quan liêu, cửa quyền, giữ gìn thanh danh, uy tín của Đảng. Phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giữ gìn đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Cán bộ càng cao càng phải gương mẫu. Các tổ chức Đảng phải có biện pháp giáo dục, bồi dưỡng, kiểm tra, quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên. Kịp thời biểu dương những cán bộ, đảng viên gương mẫu, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh những người hư hỏng về phẩm chất đạo đức, bất kể họ là ai, ở cương vị công tác nào.

Thứ năm, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ toàn diện và vững mạnh

Thực tiễn những năm gần đây càng chứng minh sâu sắc chân lý: cán bộ đóng vai trò quyết định; công tác cán bộ là công tác đặc biệt quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp, khó khăn. Cả thành tựu và những hạn chế, yếu kém đều phản ánh chất lượng của đội ngũ cán bộ của Đảng. Bởi vậy, Đảng cần phải đặc biệt chăm lo công tác cán bộ cho cả hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực.

Cần tiếp tục đổi mới quan niệm và phương pháp tiến hành công tác cán bộ theo hướng thực sự dân chủ, tập thể, kết hợp với tập trung thống nhất theo một quy trình chặt chẽ. Có chính sách thu hút và sử dụng nhân tài, bảo vệ trí tuệ, chất xám của đất nước.

Thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ, đồng thời kết hợp tốt ba độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, tính kế thừa và phát triển trong đội ngũ cán bộ, biết khai thác mặt mạnh của mỗi loại cán bộ để bổ sung cho nhau.

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về phẩm chất, trình độ, năng lực; cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các chuyên gia, các nhà doanh nghiệp, trước hết là các cán bộ chủ chốt ở các cấp. Mỗi cán bộ phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi phẩm chất cách mạng, gương mẫu về đạo đức, lối sống trung thành với sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, kết hợp hài hòa lợi ích riêng và lợi ích chung.

Việc lựa chọn đúng người thật sự có tâm, có tầm, có tài, có đủ tiêu chuẩn chính trị và bố trí giữ trọng trách tương xứng sẽ không chỉ phát huy được năng lực, sở trường của cán bộ mà còn tác động mạnh mẽ, tạo được sự đồng thuận, “tâm phục, khẩu phục” đối với cán bộ dưới quyền. Đó chắc chắn là những người luôn phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của đất nước, toàn tâm, toàn ý với công việc, là người tuyên truyền, phổ biến, dẫn dắt nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là tấm gương để mọi người noi theo. Ngược lại, nếu lựa chọn không đúng cán bộ, bố trí cán bộ không đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo hoặc để những phần tử cơ hội, thực dụng lọt vào bộ máy của hệ thống chính trị  thì hậu quả sẽ khó lường.

Có thể nói, việc lựa chọn, bố trí, sử dụng đúng cán bộ là liệu pháp quan trọng, hữu hiệu để ngăn ngừa sự suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, là giải pháp “phòng bệnh hơn chữa bệnh” trong công tác cán bộ.

Những giải pháp trên đây nếu được thực hiện tốt chắc chắn Đảng ta sẽ có đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, xứng đáng với niềm tin yêu và mong đợi của nhân dân.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2020

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 261.

(2) Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.34-35.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.29.

(4) Thanh Loan: Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, www.thanhtra.gov.vn, ngày 14-7-2016.

nguồn : ThS Võ Châu Thảo

Khoa Xây dựng Đảng,

Trường Chính trị tỉnh Bình Dương


TÔI LÀ MỘT VỊ TƯỚNG VÀ LÀ MỘT NHÀ BÁO


Trong lịch sử báo chí Cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua, từ Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội như Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,... đều là những người thông tuệ nghề báo. Trong một lần tiếp các nhà báo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tâm sự: “Tôi là một vị tướng và là một nhà báo!”.


Nhà báo - Đại tướng Tổng Tư lệnh


“Làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng. Công việc phải khẩn trương, nắm được ý nguyện của nhân dân, phát hiện được ý đồ, âm mưu lớn nhỏ của kẻ thù. Tất cả nhằm đến phương án tốt nhất trong việc phục vụ công chúng báo chí”. Trong một bài viết tổng kết 15 năm làm báo trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về nghề làm báo như vậy.


Suốt chặng đường cách mạng, đôi vai nặng gánh việc nước, việc quân, hàng chục năm tham gia Bộ Chính trị, đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh Quân đội, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn luôn quan tâm, sử dụng báo chí để đem lại hiệu quả lớn lao trong mọi thời kỳ, ở mọi tình huống.


Trả lời câu hỏi của các đồng nghiệp thế hệ sau thời gian làm báo ở tại mặt trận Điện Biên Phủ (1954) về bút danh Chính Nghĩa-tác giả của nhiều bài bình luận mang nội dung nhận định đúng đắn tình hình địch-ta, dự đoán các tình huống chính trị-quân sự phát triển trên các chiến trường mà trực tiếp là Điện Biên Phủ rất chính xác… nhà báo Trần Kư cho biết đó là ông Hoàng Xuân Tùy.


Những bài bình luận có sức hút đối với cán bộ, chiến sĩ tại mặt trận hào hứng đọc và củng cố thêm niềm tin vào chiến thắng, đồng thời mở rộng nhãn quan chiến lược trong chiến đấu. Ông Hoàng Xuân Tùy, nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân (1953-1956) thẳng thắn bày tỏ: “Các bài đó do tôi chấp bút, nhưng tư tưởng, cái hồn của bài viết là của Đại tướng-Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.


Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thời điểm ra báo là quan trọng. Khó hơn là làm nghệ thuật. Nghĩa là làm báo phải đúng lúc, chính xác, chặt chẽ, đem lại hiệu quả cho bạn đọc. Những bài chính, phụ, ngắn, dài, nặng, nhẹ phải kết hợp hài hòa như những màu sắc của tác phẩm hội họa. Những chữ lớn, nhỏ, đứng, nghiêng... đều toát lên vai trò và hiệu quả riêng”.


Riêng với các tờ báo của Quân đội, từ khi còn ở chiến khu Việt Bắc thời điểm cách mạng còn trứng nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm chủ bút và chỉ đạo biên tập 5 số đầu tiên (từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 5 tháng 8 năm 1945) của báo Nước Nam mới thuộc Khu Giải phóng. Ông viết bài chỉ đạo cho báo Việt Nam Độc lập của Mặt trận Việt Minh khu căn cứ địa. Ông cho ra đời tờ Quân Giải phóng của Việt Nam Giải phóng quân… Khi viết bài cho các tờ báo này, ông thường ký tên là Trí Dũng. Sau hòa bình lập lại (1954) đến mãi sau này, cả lúc tuổi đã cao, sức yếu, Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn đều đặn viết nhiều bài báo...


Báo chí có thể chuyển biến con người 


Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người làm báo rất sớm. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thành (1928-2007) khi xuất bản cuốn sách về sự nghiệp báo chí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, từ năm 16 tuổi, cậu học trò Trường Quốc học Huế là Võ Nguyên Giáp đã viết bài báo đầu tiên với tựa đề “Đả đảo tên bạo chúa trường Quốc học” đăng trên báo L’Annau ở Sài Gòn vào tháng 6 năm 1927. Ngay khi đọc bài báo này, luật sư Phan Văn Trường - chủ bút báo khi đó phải thốt lên “Một cây bút mới xuất hiện lần đầu ở bản xứ này, mà có giọng văn sắc sảo như giọng văn Nguyễn Ái Quốc bên Paris”.


Hai năm sau, vì tham gia bãi khóa, phản đối nhà trường đuổi học Nguyễn Chí Diểu nên Võ Nguyên Giáp cũng bị đuổi khỏi Trường Quốc học Huế. Ông xin làm việc tại tòa báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng (tháng 4 năm 1927) và hoạt động báo chí chuyên nghiệp từ đó.


Bài viết khởi đầu trên báo Tiếng Dân ra ngày 28-9-1929, với bút danh Vân Đình, tiêu đề “Vũ trụ và tiến hóa”. Võ Nguyên Giáp phân tích thời cuộc một cách tỉnh táo và nghiêm túc. Ông trở thành một cây bút chính phụ trách chuyên mục “Thế giới thời đàm” trên tờ báo này với 27 bài đăng trên 36 số ký bút danh Vân Đình.


Từ Huế, ra Hà Nội, vừa học vừa đi dạy học tư để học lên, vừa viết báo để tuyên truyền cho cách mạng. Ông nhận thấy trở ngại lớn nhất của báo chí tiếng Việt lúc đó là khó xin cấp phép ra báo. Khi ra được báo rồi lại bị kiểm duyệt ngặt nghèo hoặc nhanh chóng bị đóng cửa. Chính quyền thực dân lúc đó để ngỏ cho báo chí tiếng Pháp được tự do, Võ Nguyên Giáp đã cùng các đồng nghiệp Nguyễn Thế Rục, Phan Tư Nghĩa, Vũ Đình Huỳnh… ra tờ báo bằng tiếng Pháp mang tên Le Travail (Lao Động); tiếp đến là tờ Le Travail ra đời.


Vừa dạy học tư ở trường tư thục Thăng Long, Võ Nguyên Giáp vừa nhận làm mọi công đoạn của tờ báo. Ông viết nhiều thể loại từ xã luận, bình luận, phóng sự đến điều tra. Ông đã đạp xe từ Hà Nội ra khu mỏ Cẩm Phả tỉnh Quảng Yên (nay là tỉnh Quảng Ninh) để viết bài về phong trào đấu tranh của công nhân mỏ. Ông trực tiếp duyệt bài, lên marquette, đọc cả morasse của tờ báo và làm cả phát hành báo mà không hề nhận tiền nhuận bút, tiền phụ cấp. Tại Hội nghị Báo giới Bắc Kỳ, Võ Nguyên Giáp được bầu làm Chủ tịch Hội.


Đều đặn viết báo khi còn công tác cho cả đến khi nghỉ hưu, trước những vấn đề thời sự của đất nước và Quân đội ông vẫn kịp thời có bài viết để thể hiện quan điểm cá nhân của mình. Trong một lần tiếp các nhà báo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tâm sự:


“Tôi với tư cách là một vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, và là một nhà báo, tôi rất vui mừng và cảm động được các nhà báo đến thăm, chúc mừng và nhắc lại một thời làm báo của tôi. Báo chí là một lực lượng mạnh, có thể tạo nên sự chuyển biến con người. Báo chí phải tích cực tham gia vào công tác tư tưởng, xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ, phổ biến kiến thức mới trong nhân dân, trên cơ sở đó xây dựng một nước Việt Nam anh hùng nhưng giàu có”.


Trong một dịp khác, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chia sẻ: “Nghề báo là phải lao tâm, tổn trí, gian khổ. Nhưng được đền bù là người đọc”.

 

Một số nhận thức về việc xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045

(LLCT) - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện chính trị rất quan trọng, bởi đây là thời điểm nhìn lại chặng đường Việt Nam trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng vào năm 2030 và kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước vào năm 2045. Bài viết tập trung làm rõ một số nhận thức về việc xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 hướng tầm nhìn 2045.


Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là một dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên sự đồng lòng của cả dân tộc, toàn thể các lực lượng xã hội tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh đó, Việt Nam tiến hành Đại hội trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; song các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng gay gắt và dịch bệnh xuất hiện, diễn tiến khó đoán định. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, kinh tế số và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đan xen với mọi quốc gia và Việt Nam không là ngoại lệ.

Đứng trước thực tiễn nêu trên cho thấy việc xác định mục tiêu phát triển đất nước là vô cùng quan trọng, bởi chỉ khi xác lập chính xác mục tiêu sẽ giúp cho chúng ta biết nên tập trung vào đâu, cần chuẩn bị những điều kiện gì ... từ đó có căn cứ xây dựng kế hoạch, hoạch định lộ trình phát triển phù hợp.

1.Nhận thức cơ bản về mục tiêu và việc xác định mục tiêu phát triển của một quốc gia

 Mục tiêu là một ý tưởng của tương lai, hoặc kết quả mong muốn của một người hay một nhóm người đã hình dung ra, kế hoạch và cam kết để đạt được. Những nỗ lực để đạt được mục tiêu trong một hữu hạn thời gian, bằng cách đặt ra hạn chót. Từ đó mà mỗi chủ thể đều có thể đặt mục tiêu cho riêng mình. Một quốc gia có thể đặt mục tiêu đạt mức thu nhập, đạt trình độ phát triển nào đó khi đến mốc thời gian xác định nào đó trong tiến trình phát triển. Như vậy, khi nói đến mục tiêu cần xác định 2 vấn đề cơ bản đó là: kết quả mong muốn đạt được là gì? Thời hạn đạt kết quả đó là bao lâu. Còn việc sử dụng phương pháp nào; lộ trình ra sao; cần chuẩn bị những công cụ, phương tiện nào... để thực hiện mong muốn đạt được mục tiêu đã đề ra là vấn đề thuộc chủ thể đặt ra mục tiêu phải tiến hành, nó không thuộc phạm vi nội hàm của mục tiêu.

Có những cách tiếp cận phân định mục tiêu khác nhau, nếu phân định theo thời gian, mục tiêu có thể là dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn. Sự khác biệt ở cách phân định này chính là thời gian cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Nếu phân định theo kết quả mong muốn, mục tiêu có thể là mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể. Điểm căn cốt trong cách phân định này là mức độ/trình độ hay các điều kiện đảm bảo của chủ thể hiện có và tiềm năng để có thể đạt được mục tiêu đã xác định. Điều này đồng nghĩa với tính khả thi hay mức độ hiện thực của mục tiêu mà chủ thể xác định.

Trên thực tế, các cách phân định này thường được sử dụng đồng thời, đan xen, trong đó với các tổ chức, quốc gia, cách phân định mục tiêu theo kết quả mong muốn sẽ được xem xét trước, trên cơ sở đó, mỗi đối tượng thuộc cấu phần của chủ thể mục tiêu tổng thể sẽ có những phân định mục tiêu theo thời gian trong lộ trình thực hiện mục tiêu tổng thể hoặc đó là sự cụ thể hóa của những mục tiêu cụ thể.

 Với mỗi quốc gia, trước hết, việc xác định mục tiêu phát triển sẽ được tiếp cận theo kết quả mong muốn, với cách phân định dựa trên kết quả mong muốn. Theo đó, mọi quốc gia luôn xác định mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể trên cơ sở đánh giá tổng quát về thực trạng phát triển, trình độ phát triển, bối cảnh phát triển, tiềm năng phát triển... trên cơ sở đó xác định tầm nhìn, xác định mục tiêu phát triển tổng thể/ cụ thể của quốc gia. Cũng vì vậy, mục tiêu phát triển ở mỗi quốc gia là không giống nhau kể cả có cùng trình độ phát triển.

Từ thực tiễn vận hành các quốc gia cho thấy, xác định mục tiêu quốc gia là việc cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia về sự phát triển trong tương lai của quốc gia bằng việc định lượng những kết quả mong muốn mà quốc gia cần đạt được trong những khoảng thời gian xác định. Tuy nhiên, để xác định được mục tiêu quốc gia, đòi hỏi phải dựa trên việc phân tích, đánh giá đúng bối cảnh, diễn biến của tình hình quốc tế, xu thế phát triển của thời đại; nhận diện những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đang đặt ra, những mâu thuẫn lớn, cơ bản cần phải giải quyết để phát triển đất nước. Phân tích, đánh giá đúng hiện trạng phát triển của đất nước để có cơ sở lượng hóa tiềm năng phát triển của đất nước. Đây là những căn cứ quan trọng để xác định nhiệm vụ cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu đã xác định.

2. Các căn cứ xác định mục tiêu phát triển của Việt Nam và kiến nghị mục tiêu phát triển Việt Nam đến năm 2030 và 2045.

Từ thực tiễn lịch sử xây dựng và phát triển đất nước 90 năm qua kể từ khi có Đảng cho thấy việc xác định đúng đắn mục tiêu phát triển là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam nói chung, làm nên những thành tựu quan trọng để đất nước bước lên những nấc thang phát triển sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nói riêng. Chính vì vậy, trong lãnh đạo đất nước, mỗi khi chuẩn bị cho các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng sẽ chỉ đạo việc xây dựng dự thảo các Văn kiện trình Đại hội, trong đó quan trọng là Báo cáo chính trị - là văn kiện trung tâm của Đại hội, vừa có giá trị tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm, vừa xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác, các lĩnh vực trong cả nhiệm kỳ.

Hiện nay, chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIII của Đảng dự kiến tổ chức vào đầu năm 2021. Đảng cũng đang chỉ đạo xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội. Do tầm quan trọng đặc biệt của Đại hội lần này - hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (năm 2030) và 100 năm Quốc khánh (năm 2045), dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội được yêu cầu không chỉ xác định mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong 5 năm 2021 - 2025, mà còn phải xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045. Đây là chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng, là sự kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm, truyền thống quý báu của Đảng, là yêu cầu về sự phù hợp, đảm bảo tính thực tiễn và khả thi của mục tiêu phát triển, cũng là cơ sở để xác định chính xác những định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn dân.

Tuy nhiên, đến nay, vấn đề hệ trọng này vẫn còn những ý kiến khác nhau. Tựu chung có hai loại ý kiến(1): i/ loại ý kiến thứ nhất nhấn mạnh mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo ý tưởng trong văn kiện (từ Văn kiện Đại hội VIII đến nay), trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), một số nghị quyết Trung ương, Bộ Chính trị từ khóa IX đến khóa XII, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Theo đó, xác định mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại với ba mốc quan trọng: đến năm 2025, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2030, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. ii/ Loại ý kiến thứ hai cho rằng cần tham khảo cách phân loại các quốc gia theo xu hướng hiện nay của các tổ chức quốc tế. Theo đó, nên xác định mục tiêu theo trình độ phát triển.

Từ tổng hợp nêu trên cho thấy, mỗi loại ý kiến đều hàm chứa yếu tố hợp lý và có căn cứ, song sự tồn tại những khác nhau giữa ý kiến về xác định mục tiêu phát triển đất nước cũng là điều dễ hiểu, bởi đang hiện hữu sự khác nhau về cách tiếp cận của mỗi luồng ý kiến, tất yếu sẽ dẫn đến kết quả không giống nhau: i/ Đề cương Báo cáo chính trị của Tiểu ban Văn kiện xác định hai phương án: Phương án 1 phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045 với lộ trình theo 3 mức. Phương án 2 phấn đấu trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa với lộ trình theo 3 mức(2). ii/ Đề cương Báo cáo Tổng kết thực hiện chiến lược 2011-2020, xây dựng Chiến lược 2021-2030 của Tiểu ban Kinh tế - xã hội xác định ba phương án mục tiêu, trong đó có điểm chung là: đến năm 2030 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa(3).

Do vậy, để thống nhất nhận thức, thống nhất hành động cần có những phân tích căn bản, khoa học để có được căn cứ xác đáng cho việc xác định đúng mục tiêu phát triển đất nước - một vấn đề hệ trọng của quốc gia.

Thực vậy, không chỉ ở Việt Nam, mà ngay thế giới cũng đang tồn tại sự khác nhau trong cách phân loại quốc gia (hoạt động được thực hiện dựa trên việc đánh giá thành quả phát triển của mỗi quốc gia), bởi sự khác nhau từ cách tiếp cận. Cụ thể, với chức năng là những tổ chức quốc tế hình thành vì sự phát triển, nhiều tổ chức quốc tế, như Liên Hợp quốc (UN), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) đã thường xuyên thực hiện việc phân loại các quốc gia để có những lựa chọn hỗ trợ phát triển theo chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng hiện đang tồn tại nhiều cách để phân loại các quốc gia trên thế giới, một mặt, do những tổ chức này, có các chức năng, mục tiêu khác nhau nên đưa ra các cách phân loại khác nhau, nhưng có tham khảo, phối hợp, thống nhất với nhau ở nhiều nội dung. Nhưng mặt khác, cũng do cách tiếp cận đánh giá phân loại, xác định mức độ/ trình độ phát triển quốc gia còn có những phương cách khác nhau(4).

Hiện nay, Liên Hợp quốc phân chia các nước trên thế giới thành ba loại: 1- Nước kém phát triển; 2- Nước đang phát triển; 3- Nước phát triển, dựa trên cơ sở là thu nhập bình quân đầu người. Mức thu nhập này được điều chỉnh theo các giai đoạn phát triển, dựa trên các số liệu của Ngân hàng Thế giới.

Ngân hàng Thế giới phân loại các nước dựa trên thu nhập bình quân đầu người (GNI/người) thành bốn nhóm: 1- Nước có thu nhập thấp; 2- Nước có thu nhập trung bình thấp; 3- Nước có thu nhập trung bình cao; 4- Nước có thu nhập cao. Nghĩa là cũng dựa trên bình quân thu nhập đầu người với các tiêu chí cụ thể được xác lập ở năm tiêu chuẩn.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế định kỳ 3 năm một lần rà soát và lựa chọn các nước đủ điều kiện nhận ODA (vốn hỗ trợ phát triển chính thức) cũng dựa trên chỉ số thu nhập bình quân đầu người để phân loại quốc gia được nhận hay không được nhận ODA, theo đó, phân loại thành các nước kém phát triển/đang phát triển hay nước phát triển.

Riêng với UNIDO, do vai trò, chức năng của một tổ chức thúc đẩy phát triển công nghiệp ở các nước trên thế giới, nên thường sử dụng thuật ngữ “công nghiệp hóa” nhiều hơn là “phát triển”. Cũng vì vậy, UNIDO lấy chỉ số giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA) bình quân đầu người (MVA/người) làm tiêu chí xác định nước công nghiệp (đã công nghiệp hóa). Dựa trên tiêu chí này, UNIDO chia các nền kinh tế trên thế giới thành bốn nhóm:1- Các nước đã công nghiệp hóa(5) ; 2- Các nước công nghiệp mới nổi; 3- Các nước đang phát triển khác; 4- Các nước kém phát triển. Tuy nhiên, trong cách phân định này, UNIDO vẫn phải dựa trên chỉ số bình quân thu nhập đầu người - mặc dù bình quân thu nhập đầu người dựa trên gia trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA/người). Điều này một mặt khẳng định chỉ số thu nhập bình quân đầu người là căn cứ quan trọng hàng đầu với mỗi quốc gia, là kết quả, là mục tiêu cần xác lập của mỗi quốc gia; nhưng mặt khác, cũng cho thấy điều chưa thực sự toàn diện trong cách phân loại quốc gia của UNIDO (vì chỉ số gia tăng công nghiệp chế biến chưa thể đủ bao quát, đại diện cho sự phát triển của một quốc gia, kể cả quốc gia đó là quốc gia thuần công nghiệp); cũng chưa bao hàm được quốc gia mà sự phát triển không dựa trên công nghiệp do đặc thù riêng, đồng thời với cách phân loại này cũng chưa đảm bảm tính thống nhất về tiêu chí - nước đã công nghiệp hóa, hay nước công nghiệp mới nổi về thực chất là phản ánh quy trình chủ đạo vận hành nền kinh tế; các nước đang phát triển, các nước kém phát triển về bản chất là nói lên trình độ phát triển của một quốc gia.

Từ khái quát, phân tích trên, có thể coi đến nay tạm thời đang tồn tại hai cách phân chia các quốc gia là: i/ chia các quốc gia thành: Nước kém phát triển; Nước đang phát triển và nước phát triển; ii/ chia các quốc gia thành: Nước có thu nhập thấp; Nước có thu nhập trung bình thấp; Nước có thu nhập trung bình cao; Nước có thu nhập cao. Tuy nhiên, 2 cách phân loại này có sự liên thông, tương hỗ với nhau đó là đều dựa trên chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở mỗi quốc gia. Các nước kém phát triển là những nước có thu nhập thấp, những nước đang phát triển là những nước có thu nhập trung bình, nước phát triển là những nước có thu nhập cao. Mặc dù không có một quy định chính thức, nhưng thuật ngữ “nước phát triển” và “nước đã công nghiệp hóa” được sử dụng thay thế nhau ở các văn bản của các tổ chức quốc tế. Như vậy, có thể khẳng định rằng việc phân loại quốc gia có thể ở những tiếp cận khác nhau, tên gọi trong các cách phân loại cũng có thể khác nhau, nhưng tựu chung và suy đến cùng đều căn cứ vào chỉ số thu nhập bình quân đầu người, qua đó xác định trình độ phát triển. Còn việc đạt được chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở mức độ nào phụ thuộc vào điều kiện thực tiễn, hiện trạng nền kinh tế và cách thức vận hành nền kinh tế phù hợp hay không phù hợp với bối cảnh trong và ngoài nước.

Ngoài ra, nhiều năm qua, trên thế giới, cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu để làm rõ thế nào là một nước công nghiệp và xây dựng các tiêu chí của một nước công nghiệp, nhưng các kết quả đưa ra còn rất khác nhau. Hơn nữa, đến nay sau gần 30 năm triển khai thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng thông qua năm 1991 (Cương lĩnh 1991) và gần 10 năm hiện thực Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), nhưng thế nào là nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thế nào là tạo được nền tảng của nước công nghiệp theo hướng hiện đại vẫn đang là vấn đề vô cùng khó khăn trong việc định lượng, trong xác định tiêu chí, nghĩa là đến nay vẫn còn là vấn đề đang cần lời giải, song đời sống kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp diễn và yêu cầu phát triển ngày càng cấp thiết trong bối cách Cách mạng công nghiệp 4.0, vậy liệu rằng chúng ta có nên đứng đợi hay tập trung để giải quyết vấn đề rồi bước tiếp?

Từ những phân tích căn bản, khoa học về mục tiêu, về việc xác định mục tiêu phát triển của một quốc gia; căn cứ vào sự hợp lý trong các cách tiếp cận phân loại quốc gia và xuất phát từ hiện thực phát triển đất nước thời gian qua, có thể thấy có những căn cứ sau cần bám sát để xác định chuẩn xác mục tiêu phát triển đất nước trong thời gian tới đó là:

Thứ nhất, khi nói đến mục tiêu cần xác định 2 vấn đề cơ bản đó là: kết quả mong muốn đạt được là gì? Thời hạn đạt kết quả đó là bao lâu/khi nào?

Thứ hai, xác định mục tiêu quốc gia là việc cụ thể hóa, hiện thực hóa tầm nhìn của lãnh đạo quốc gia về sự phát triển trong tương lai của quốc gia bằng việc định lượng những kết quả mong muốn mà quốc gia cần đạt được trong những khoảng thời gian xác định.

Thứ ba, mục tiêu phát triển là dự báo tương lai, là đích phát triển mà quốc gia cần đạt được, nên phải là những thông số đo lường được, định lượng được.

Thứ tư, điều kiện thực tiễn, bối cảnh phát triển, tiềm năng, giới hạn của sự phát triển, cách thức tổ chức, vận hành kinh tế - xã hội...là những căn cứ tối quan trọng cho việc xác định mục tiêu phát triển với mỗi quốc gia.

Thứ năm, do khác nhau trong các điều kiện phát triển, cũng không giống nhau trong cách thức tổ chức vận hành kinh tế-xã hội...nhưng để khẳng định sự phát triển của quốc gia thì trực tiếp hay gián tiếp, thì cuối cùng chỉ số thu nhập bình quân đầu người vẫn là căn cứ quan trọng hàng đầu với mỗi quốc gia, là kết quả, là mục tiêu, là đích đến của mỗi quốc gia trong phát triển;

Với ý nghĩa, tầm quan trọng của Đại hội lần thứ XIII của Đảng và sự quan tâm sâu sắc của các cấp, ngành và đặc biệt là sự tâm huyết, trách nhiệm của những nhà lãnh đạo chiến lược của Đảng và Nhà nước trong việc chuẩn bị các điều kiện cho Đại hội, có thể nói từng nội dung trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội đã thể hiện những nhận thức mới, sâu sắc và ngày càng cụ thể, định lượng và sát thực hơn - trong đó nhận thức và đề xuất về mục tiêu phát triển đất nước giai đoạn sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng là một điểm đáng ghi nhận như vậy. Trên cơ sở những phân tích, luận giải đã trình bày và căn cứ vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 với mức thu nhập bình quân đầu người hiện dao động trong khoảng 2.500 -3.000 USD/người/năm(6), chúng tôi xin kiến nghị mục tiêu phát triển đất nước giai đoạn đến 2030 và đến 2045 đề cập trong Báo cáo chính trị; Báo cáo Tổng kết thực hiện chiến lược 2011-2020, xây dựng Chiến lược 2021-2030 như sau:

- Mục tiêu phấn đấu đến năm 2025, là nước đang phát triển có thu nhập trung bình.

- Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, là nước phát triển có thu nhập trung bình cao.

- Mục tiêu phấn đấu đến năm 2045, là nước phát triển có thu nhập cao.

Ngoài những căn cứ đã nêu, kiến nghị này có tính tới yếu tố Việt Nam vốn là nước nông nghiệp và phát triển trong bối cách Cách mạng công nghiệp 4.0 đang là xu hướng chủ đạo, nên việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ trong từng ngành, lĩnh vực, trong từng lộ trình phát triển là một tất yếu, nhưng đó chỉ là phương thức tổ chức vận hành phát triển đất nước, vậy thì không nên ghép phương thức lựa chọn để vận hành phát triển đất nước vào mục tiêu phát triển, vì như vậy sẽ khiên cưỡng, thiếu đi tính đặc thù, hạn chế sự linh hoạt trong điều hành, vận hành phát triển và hạn chế sự tiệm cận xu hướng phát triển của thế giới.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2020

(1), (2), (3) Xem thêm: Phát biểu của đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Thường trực Tiểu ban Văn kiện tại buổi tọa đàm khoa học “Mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025 và 2030, tầm nhìn đến năm 2045” diễn ra ngày 10-8-2019. http://dangcongsan.vn.

(4) PGS, TS Nguyễn Văn Thạo: Tầm nhìn của Đảng về phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI, http://www.tapchicongsan.org.vn.

(5) Nước đã công nghiệp hóa là nước có chỉ số giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến (MVA) bình quân đầu người (MVA/người) 2.500 USD.

(6) Do chưa có công bố chính thức về phương pháp tính GDP, nên theo cơ quan chức năng (Tổng Cục Thống kê) GDP đầu người theo cách tính GDP mới sẽ tăng lên khoảng 3.000 USD/năm (năm 2018), thay vì cách tính hiện nay đang áp dụng thì con số này là 2.590 USD/người/năm.

Tài liệu tham khảo

1. ĐCSVN: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, tháng 2-2020.

2. Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng, Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trưởng Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIII của Đảng, ngày 26-4-2020, http://www.tapchicongsan.org.vn.

nguồn : PGS, TS Phạm Thị Túy

Viện Kinh tế chính trị học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

CHỈ ĐẠO CỦA TỔNG QUÂN ỦY VÀ BỘ TỔNG TƯ LỆNH ĐỐI VỚI CHIẾN DỊCH THƯỢNG LÀO 1953

 

Cách đây 70 năm, thực hiện chủ trương tăng cường liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào của Trung ương Đảng ta và quán triệt sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với vai trò là cơ quan chỉ đạo quân sự Trung ương, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam quyết định phối hợp cùng quân và dân Lào mở Chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, xây dựng căn cứ đứng chân cho bạn, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, đồng thời tạo điều kiện để bộ đội rèn luyện đánh tập đoàn cứ điểm nhỏ.
Sau gần một tháng tác chiến, các đơn vị tham gia chiến dịch đã hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ chiến dịch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, mở rộng địa bàn đứng chân của lực lượng kháng chiến Lào, nối liền vùng giải phóng của Lào với vùng tự do của Việt Nam, tạo thế chiến lược có lợi cho cách mạng 3 nước Đông Dương. Đánh giá về thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào 1953, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: Đó là thắng lợi đầu tiên của QĐND ta, của bộ đội chủ lực ta trong quá trình phối hợp chiến đấu với quân đội và nhân dân nước bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, của nhân dân ta đối với cách mạng Pathet Lào. Góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn này có vai trò chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, thể hiện trên một số nội dung sau:
Một là, nhạy bén nắm bắt thời cơ, hình thành ý định chiến dịch, tích cực chỉ đạo xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch.
Ngay sau khi Chiến dịch Tây Bắc 1952 kết thúc, trên cơ sở phân tích tình hình thực tế trên các chiến trường ở Đông Dương, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đã đặt vấn đề và chỉ đạo nghiên cứu lựa chọn hướng hoạt động trong thời gian tiếp theo. Qua phân tích tình hình, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Tổng Quân ủy và đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Phó bí thư Tổng Quân ủy thống nhất chủ trương mở chiến dịch ở hướng Thượng Lào và đề xuất đưa ra bàn kỹ trong hội nghị Tổng Quân ủy, đồng thời xin chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ trương này. Trong khi chờ xin chỉ thị, nhằm chủ động với ý định chiến dịch đã hình thành, đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ thị và chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình, làm cơ sở cho việc mở Chiến dịch Thượng Lào.
Tháng 1-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ tư (khóa II) xác định: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do. Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay. Quân đội ta phải đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch. “Bất kỳ ở miền núi hay đồng bằng, Quân đội ta phải chuẩn bị đánh những lực lượng, những cứ điểm ngày càng mạnh của địch".
Trên cơ sở phương hướng chiến lược và phương châm tác chiến do Trung ương Đảng xác định và ý định chiến dịch đã hình thành, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tập trung chỉ đạo nghiên cứu, đánh giá tình hình ở Thượng Lào đặt trong mối quan hệ chiến lược với các chiến trường khác ở Đông Dương, làm cơ sở để hiện thực hóa ý định mở Chiến dịch Thượng Lào.
Trong khi đó, sau thất bại ở Tây Bắc, nhận thấy nguy cơ có thể mất Thượng Lào, đầu năm 1953, tướng R.Salan, Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương quyết định đặt Thượng Lào dưới quyền của Bộ chỉ huy Quân đội Pháp ở Bắc Bộ Việt Nam; đồng thời, tập trung lực lượng, phương tiện, xây dựng những công sự, điểm tựa kiên cố, biến Sầm Nưa thành một tập đoàn cứ điểm theo kiểu “Nà Sản” trên đất Lào.
Để có thêm cơ sở mở Chiến dịch Thượng Lào, ngày 2-2-1953, Tổng Quân ủy tổ chức hội nghị mở rộng. Hội nghị xác định: Ta có thể tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ được nhân dân Lào, xây dựng được căn cứ đứng chân cho bạn. Địch buộc phải phân tán lực lượng thêm nữa. Bộ đội ta được rèn luyện đánh tập đoàn cứ điểm nhỏ trước khi đánh tập đoàn cứ điểm lớn. Ngay sau hội nghị, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng Quân ủy báo cáo và được Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng lãnh đạo Chính phủ Kháng chiến Lào nhất trí với đề nghị mở Chiến dịch Thượng Lào.
Thực hiện vai trò chỉ đạo chiến lược, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các cơ quan, nhất là Bộ Tổng Tham mưu tiến hành trinh sát, nghiên cứu tình hình, xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch. Đến tháng 3-1953, kế hoạch tác chiến Chiến dịch Thượng Lào được hoàn thành. Về mục đích chiến dịch: Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, buộc chúng phải phân tán thêm chủ lực ở Bắc Bộ Việt Nam, giải phóng Sầm Nưa, tạo điều kiện hỗ trợ cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào phát triển mạnh hơn nữa, rèn luyện bộ đội Việt Nam về chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm.
Theo kế hoạch tác chiến, hướng chủ yếu của chiến dịch là Sầm Nưa, gồm Đại đoàn 308 (3 trung đoàn), Đại đoàn 312 (2 trung đoàn), Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) theo Đường số 6 tiến sang Sầm Nưa. Phối thuộc cho các đơn vị ở hướng chủ yếu có các đại đội pháo binh, công binh, súng máy phòng không, thông tin, trinh sát của Bộ, phối hợp với Đoàn 80 Quân tình nguyện Việt Nam ở Sầm Nưa, quân và dân Lào thực hành bao vây, tiêu diệt địch theo cách đánh tập đoàn cứ điểm; hướng thứ yếu là Xiêng Khoảng, gồm Đại đoàn 304 từ Nghệ An hành quân theo Đường số 7 tiến sang phối hợp với Đoàn 81 Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT cách mạng Lào chặn đường rút lui của địch từ Sầm Nưa xuống. Trên hướng phối hợp ở khu vực sông Nậm Hu có Trung đoàn Bộ binh 148, cùng Đoàn 82 Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT cách mạng Lào; lực lượng dự bị chiến dịch có Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) đứng chân ở khu vực Mộc Châu sẵn sàng tham gia chiến đấu trên hướng chủ yếu.
Bộ chỉ huy chiến dịch, phía Việt Nam gồm các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng; Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Chính trị; Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng; Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Cung cấp. Về phía bạn có các đồng chí: Hoàng thân Souphanouvong, Thủ tướng Chính phủ Kháng chiến Lào; Kaysone Phomvihane, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào; Singkapo Sikhodchounlamaly, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lào; Ma Khaykhamphithoun, Bí thư Tỉnh ủy Sầm Nưa.
Như vậy, trên cơ sở hình thành ý định chiến dịch, dựa vào phương hướng chiến lược và phương châm tác chiến của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đã chỉ đạo các cơ quan xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch, bảo đảm cho QĐND Việt Nam phối hợp với LLVT cách mạng Lào giành thắng lợi trong Chiến dịch Thượng Lào.
Hai là, chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị chiến dịch, kết hợp giữ vững thế tiến công chiến lược trên các chiến trường.
Song song với quá trình chỉ đạo xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam tập trung chỉ đạo xúc tiến công tác chuẩn bị Chiến dịch Thượng Lào, kết hợp giữa chuẩn bị lực lượng tham gia chiến dịch, tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị chiến dịch, huấn luyện quân sự, tạo thế, giữ bí mật, bất ngờ, nghi binh và bảo đảm cung cấp vũ khí, trang bị cho chiến dịch. Đồng thời, chỉ đạo các lực lượng giữ vững và đẩy mạnh thế tiến công chiến lược trên khắp chiến trường Đông Dương.
Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, các đơn vị tham gia chiến dịch tiến hành củng cố tổ chức biên chế, trang bị, làm tốt công tác giáo dục động viên chính trị tư tưởng và huấn luyện quân sự. Về công tác huấn luyện quân sự, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo nghiên cứu chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm, hình thức phòng ngự cao nhất của địch và cũng là yêu cầu tất yếu phải tiến tới của QĐND Việt Nam trong giai đoạn tiến công và phản công chiến lược.
Cuối tháng 2-1953, Tổng Quân ủy mở hội nghị nghiên cứu chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm. Những cán bộ dự hội nghị đã thấy được chỗ mạnh, chỗ yếu trong phòng ngự tập đoàn cứ điểm của địch; đồng thời đưa ra một số cách đánh, cách khắc phục hỏa lực địch, chiến đấu ban ngày và liên tục chiến đấu. Tiếp đó, đầu tháng 3-1953, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam và lãnh đạo Chính phủ Kháng chiến Lào trong Bộ chỉ huy chiến dịch dự kiến hai khả năng có thể xảy ra khi ta bắt đầu hoạt động: Địch có thể tăng quân lên Sầm Nưa từ 5 đến 6 tiểu đoàn để chống trả ta tiến công, hoặc chúng có thể rút chạy khi có nguy cơ bị tiêu diệt. Trên cơ sở đó, để đánh thắng địch trong tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các đơn vị huấn luyện bộ đội đánh công kiên theo phương pháp bố trí mới của địch.
Công tác chuẩn bị bảo đảm, cung cấp cho chiến dịch gặp nhiều khó khăn, thách thức do địa bàn chiến dịch xa hậu phương. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và tăng cường cán bộ nhằm xúc tiến nhanh kế hoạch cung cấp cho chiến dịch. Các kho lương thực, vũ khí, đạn, các tuyến đường vận chuyển tiếp tế được bố trí thành hệ thống. Lực lượng dân công và các phương tiện vận tải được huy động với quy mô lớn.
Trong không khí chuẩn bị khẩn trương, ngày 3-4-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Người căn dặn: "Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình. Để làm tròn nhiệm vụ chiến đấu, từ trên xuống dưới các chú cần phải: Vượt mọi khó khăn, thi đua diệt địch, chiến đấu anh dũng ở bên đó cũng như ở ta; Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn; Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của QĐND Việt Nam...".
Thực hiện sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, ngày 6-4-1953, cơ quan chính trị chiến dịch ra chỉ thị “Công tác chính trị Chiến dịch X”, trong đó nêu rõ: Chiến dịch này không những củng cố được thắng lợi của Chiến dịch Tây Bắc, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt sinh lực địch trong những chiến dịch sau, đưa bộ đội ta tiến lên một bước mới về công kiên chiến, nó còn có một ý nghĩa quốc tế rất lớn lao và quan trọng. Phải kiên quyết tiêu diệt địch. Phải khẩn trương nhanh chóng. Phát huy tinh thần chiến đấu anh dũng, bền bỉ, gan dạ của bộ đội, bảo đảm mọi nhiệm vụ chiến đấu.
Ngày 9-4-1953, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh ra lời kêu gọi gửi đến bộ đội chủ lực, Bộ đội Tình nguyện Việt Nam, nhấn mạnh: Nhiệm vụ phối hợp tác chiến với bộ đội và nhân dân Pathet Lào là một nhiệm vụ vẻ vang của Quân đội ta, một nhiệm vụ vẻ vang đối với sự nghiệp giải phóng của nước bạn, cũng như đối với công cuộc kháng chiến của nước ta... Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế chân chính, chúng ta nhất định chiến thắng trong chiến dịch này.
Cùng với việc chỉ đạo trực tiếp chuẩn bị Chiến dịch Thượng Lào, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh kết hợp chỉ đạo giữ vững và đẩy mạnh thế tiến công chiến lược trên các chiến trường. Theo đó, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với LLVT cách mạng Lào phát triển phong trào du kích chiến tranh trên địa bàn Thượng Lào nhằm tạo thế cho chiến dịch. Các mặt trận: Đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Nam Bộ Việt Nam phát triển chiến tranh nhân dân, củng cố hậu phương chiến dịch. Cùng với đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tích cực chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý của quân địch vào hướng Nà Sản, tiếp tục giam chân chúng trong tình trạng khủng hoảng về quân số, cũng như về chiến lược giữa phân tán và tập trung trên các chiến trường Đông Dương. Như vậy, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, các LLVT ta và bạn vừa đẩy mạnh công tác chuẩn bị, kết hợp giữ vững thế tiến công chiến lược trên các chiến trường, sẵn sàng bước vào chiến đấu theo kế hoạch.
Ba là, chỉ đạo nhanh chóng hạ quyết tâm chuyển từ đánh công kiên sang vận động truy kích tiêu diệt địch.
Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch, đêm 21-3-1953, các đơn vị tham gia chiến dịch bắt đầu hành quân đến vị trí tập kết. Trên hướng chủ yếu, Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 hành quân từ Phú Thọ lên tập kết ở Mộc Châu (tỉnh Sơn La); Tiểu đoàn 999 (Đại đoàn 316) bắt đầu thực hiện kế hoạch nghi binh đánh vào Nà Sản. Trên hướng thứ yếu, ngày 31-3, Đại đoàn 304 bắt đầu rời Anh Sơn (tỉnh Nghệ An) vào tập kết ở Khe Kiều, ngay sát biên giới Việt Nam-Lào.
Ngày 8-4-1953, Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh cho các đơn vị tham gia chiến dịch nhanh chóng vượt qua biên giới, hành quân đến mục tiêu tiến công với tinh thần hành quân cực kỳ nhanh chóng, cực kỳ bí mật, để làm cho quân Pháp có muốn trở tay cũng không kịp. Phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch được Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ chỉ huy chiến dịch quán triệt đến cán bộ, chiến sĩ: Dùng lối bôn tập chiến dịch, nhanh chóng hành quân từ xa đến bao vây khống chế quân địch, không cho chúng tăng viện hoặc rút lui, tiến hành công kích các điểm cao quan trọng ở ngoại vi, tranh thủ nhanh chóng đánh sâu vào tung thâm, chia cắt quân địch ra mà tiêu diệt.
Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, các đơn vị khẩn trương hành quân sang đất bạn. Trong các ngày 10, 11 và 12-4-1953, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) đã vượt qua Mường Hung tiến thẳng đến Sầm Nưa. Bám sát Trung đoàn 98 là Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308). Qua tin tức nắm được, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp điện nhắc các đơn vị đi trước: Địch có thể rút Sầm Nưa... Không bỏ lỡ thời cơ, bộ đội tăng tốc hành quân.
Phát hiện các đơn vị chủ lực của ta ở nhiều hướng đang hành quân về phía Tây, mà điểm hội tụ là khu vực Sầm Nưa, Bộ chỉ huy quân Pháp tại Đông Dương phán đoán, ta sẽ mở chiến dịch đánh vào Sầm Nưa, giải phóng vùng Thượng Lào. Cuối tháng 3-1953, tướng R.Salan quyết định “kìm chân đối phương” bằng việc mở hai cuộc hành binh đánh vào Ninh Bình, Thanh Hóa và từ Nà Sản tiến về hướng Mộc Châu để giam chân và buộc chủ lực ta phải quay lại đối phó. Nhưng cả hai cuộc hành binh này đều không đem lại kết quả.
Trong khi đó, sau khi nhận được tin: Chủ lực đối phương đang tiến về ào ạt, R.Salan nhận thấy, nếu cố thủ Sầm Nưa bằng mọi giá trước ưu thế áp đảo của đối phương thì khó tránh khỏi thất bại. Do vậy, nhằm bảo toàn lực lượng, ngày 12-4-1953, Tổng chỉ huy quân Pháp tại Đông Dương quyết định rút ngay trong đêm toàn bộ quân khỏi Sầm Nưa về phía Nam (khi đó, các đơn vị đi đầu của ta còn cách Sầm Nưa gần một ngày đường). Đến trưa 13-4-1953, toán địch sau cùng rút chạy khỏi thị xã.
Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch thống nhất chỉ đạo bộ đội chuyển sang truy kích ngay. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lệnh cho các đơn vị: Địch đã bỏ Sầm Nưa chạy. Sầm Nưa đã giải phóng. Nhưng muốn giúp nước bạn củng cố căn cứ địa đó thì chúng ta phải tiêu diệt cho kỳ được sinh lực địch. Đường rút chạy của chúng khá xa, tinh thần chúng càng kém; chúng ta phải khắc phục tất cả khó khăn, chuyển thành quyết tâm diệt địch trong trận truy kích này. Đó là nhiệm vụ chúng ta phải làm cho kỳ được, vượt lên thực nhanh, bám sát và chia cắt địch, chặn đường rút lui của chúng, tiêu diệt cho giòn, cho gọn. Như vậy, trước tình huống chiến dịch thay đổi, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh cùng Bộ chỉ huy chiến dịch nhạy bén nắm chắc tình hình, kịp thời hạ quyết tâm chỉ đạo các đơn vị tham gia chiến dịch nhanh chóng chuyển từ đánh địch trong công sự vững chắc thành vận động truy kích địch. Đây là quyết định đúng đắn, kịp thời, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến dịch.
Bốn là, chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo, chỉ huy, điều hành tác chiến, góp phần giành thắng lợi chiến dịch.
Ngay sau khi địch rút khỏi Sầm Nưa, ngày 14-4-1953, Tổng Quân ủy họp hội nghị mở rộng, nhận định: Trước sự uy hiếp của ta, địch phải vội vã rút bỏ Sầm Nưa vào đêm 12-4 và sáng 13-4. Chiều 13-4, bộ đội ta bắt đầu truy kích. Địch rút Sầm Nưa là để bảo toàn lực lượng. Nhưng rút Sầm Nưa là địch bỏ ngỏ Thượng Lào, mất một vùng có tính chất chiến lược quan trọng... một thất bại lớn về chính trị. Để kịp thời truy kích địch, Tổng Quân ủy hạ quyết tâm, lệnh cho Đại đoàn 308 không kể ngày đêm, gấp rút đuổi địch, không cần chờ đầy đủ bộ đội, bộ phận nhẹ cho đi trước; đồng thời, lệnh cho Đại đoàn 304 tiến nhanh lên Đường số 7 chặn quân địch từ trên chạy xuống. Các Trung đoàn 102 và 36 cũng nhận được chỉ thị trực tiếp của Tổng Quân ủy, lập tức cho bộ đội xuất phát. Cùng với đó, các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp và Ban cán sự Thượng Lào đều được chỉ thị của Tổng Quân ủy tập trung lực lượng phục vụ cho nhiệm vụ truy kích, coi đó là trọng tâm công tác.
Chấp hành mệnh lệnh của Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, các hướng đẩy mạnh truy kích địch. Ngay trong ngày 13-4-1953, Tiểu đoàn 888 bắt được toàn bộ ngụy quyền tỉnh Sầm Nưa, 40 lính dõng tại Mường Hàm. Sáng 14-4, Trung đoàn 98 gặp địch ở chân đèo Nà Noọng, diệt 50 tên, bắt 15 lính Âu-Phi, 206 lính ngụy. Cùng thời gian, Trung đoàn 102 cùng bộ phận thuộc Trung đoàn 209 gặp địch tại Hứa Mường, diệt khoảng một đại đội, trong đó có 40 lính Âu. Một đại đội thuộc Trung đoàn 88 truy kích về hướng Bản Ban. Một bộ phận thuộc Trung đoàn 209 truy kích theo hướng Đông Nam Sầm Nưa tới Sầm Tớ (cách Tây Nam Sầm Nưa 60km). Tàn quân địch trên hướng chủ yếu chạy về Cánh đồng Chum.
Trên hướng thứ yếu, ngày 15-4-1953, địch rút khỏi Noọng Hét và Bản Ban. Trung đoàn 66 và tiểu đoàn bộ đội Lào phối hợp vào tiếp quản Noọng Hét; Trung đoàn 9 tiếp quản Bản Ban; 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 9 tiến về Sầm Nưa phối hợp với hướng chính, tiểu đoàn còn lại tiến theo Đường số 7 vào Khăng Khay. Ngày 18-4-1953, Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) áp sát thị xã Xiêng Khoảng, địch hoảng sợ rút về co cụm ở Cánh đồng Chum.
Tại khu vực sông Nậm Hu (hướng phối hợp), Trung đoàn 148 cùng Bộ đội Tình nguyện và LLVT Lào đẩy mạnh hoạt động tiến công. Ngày 21-4-1953, diệt một đại đội ở Mường Ngòi và buộc địch ở đồn Nậm Bạc rút chạy; ngày 23-4-1953, Trung đoàn 98 từ phía Nam lên phối hợp tiến đánh vị trí Mường Khoa; ngày 26-4-1953, diệt vị trí Pắc Sàng và chặn đánh địch ở Bản Sẻ. Phát huy thắng lợi trong những ngày cuối tháng 4-1953, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT Lào tiếp tục tổ chức truy kích địch rút chạy; đồng thời, tăng cường hoạt động gây sức ép ở Luông Pha Băng, khiến Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương phải gấp rút điều 2 tiểu đoàn thuộc Binh đoàn cơ động 1 (GM1) từ Nà Sản sang xây dựng thành tập đoàn cứ điểm bảo vệ kinh đô Luông Pha Băng. Ngày 2 và 3-5-1953, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Hội nghị tổng kết chiến dịch tại Sầm Nưa. Khuếch trương thắng lợi chiến dịch, ngày 17-5, Trung đoàn 98 phối hợp với Trung đoàn 148 nổ súng tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Mường Khoa, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên.
Ngay sau khi Chiến dịch Thượng Lào kết thúc, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đề ra nhiệm vụ tổ chức tiếp quản thị xã Sầm Nưa và những vùng mới giải phóng, đẩy mạnh tuyên truyền chiến thắng trong nhân dân và đề nghị cùng Chính phủ Kháng chiến Lào tổ chức “Tuần lễ đoàn kết Việt-Lào” để bộ đội tích cực tham gia vào công tác củng cố địa phương. Đồng thời, ta để lại một số đơn vị chủ lực cùng Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào củng cố vùng giải phóng, xây dựng Sầm Nưa thành căn cứ địa kháng chiến của nước bạn.
Chiến thắng Thượng Lào có ý nghĩa to lớn không những đối với cách mạng Lào, mà còn mở ra những điều kiện mới, thuận lợi để quân và dân 3 nước Đông Dương tiến lên giành những thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời, qua đó khẳng định vai trò quyết định của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo chiến dịch giành thắng lợi.
Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu cao hơn. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, còn có nhiều khó khăn, thách thức do tác động của tình hình thế giới, khu vực đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở nắm chắc tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục thực hiện tốt vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thường xuyên làm tốt công tác dự báo, nắm chắc tình hình, từ đó tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp phù hợp trong việc hoạch định các chính sách, đối sách, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, bổ sung, phát triển các chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự; xây dựng, hoàn thiện kế hoạch phòng thủ đất nước; phương hướng và biện pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân; triển khai thực hiện có hiệu quả một số đề án trọng điểm nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là các địa bàn chiến lược, quan trọng. Tập trung đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện theo Nghị quyết số 1659 ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương, tạo chuyển biến mạnh mẽ về trình độ huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu, nhất là khả năng cơ động, tác chiến trong điều kiện và đối tượng tác chiến mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội và các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ luôn có ý chí quyết tâm cao, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Chỉ đạo xây dựng và phát triển khoa học nghệ thuật quân sự trong điều kiện gắn với phát triển ngành công nghiệp quốc phòng; nghiên cứu, sản xuất các loại vũ khí phù hợp với điều kiện địa hình, cách đánh và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chỉ đạo triển khai đồng bộ, toàn diện công tác đối ngoại quân sự, quốc phòng theo phương châm tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Chỉ đạo đẩy mạnh mở rộng và tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng với các nước, nhất là với các nước láng giềng, ASEAN... nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cùng với đó, Quân ủy Trung ương tiếp tục thực hiện tốt vai trò trực tiếp lãnh đạo xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh toàn diện, xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội trong sạch, vững mạnh. Triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt chủ trương xây dựng QĐND Việt Nam theo hướng tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
70 năm đã trôi qua, nhưng thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào vẫn còn nguyên giá trị, để lại nhiều bài học quý về sự chỉ đạo, chỉ huy, điều hành chiến dịch đúng đắn, kiên quyết, sáng tạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó keo sơn “chí nghĩa, chí tình” giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào ngày càng bền chặt, cùng nhau giành những thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước.
Thượng tướng, TS LÊ HUY VỊNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Báo QĐND