Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

NHẬN DIỆN CÁI GỌI LÀ “CÁCH MẠNG SẮC MÀU” THỰC CHẤT LÀ PHẢN CÁCH MẠNG

 

Nếu như các nhà lý luận của giai cấp tư sản tự do cho rằng cách mạng xã hội là một hiện tượng ngẫu nhiên, thì trái lại, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng các cuộc cách mạng là kết quả tất nhiên của sự phát triển của các xã hội chia thành giai cấp đối kháng. Các cuộc cách mạng hoàn thành quá trình tiến hóa, quá trình chín muồi dần dần của những điều kiện của một chế độ xã hội mới trong lòng chế độ xã hội cũ, hoàn thành quá trình tích lũy dần dần những mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ. Cách mạng giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ, dùng bạo lực phá hủy quan hệ sản xuất quá thời và mở rộng đường phát triền cho lực lượng sản xuất.


Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Phải trải qua đấu tranh giai cấp quyết liệt mới chuyển được chính quyền từ giai cấp phản động thống trị, giai cấp kìm hãm sự phát triển của xã hội sang giai cấp cách mạng. Cách mạng là hình đấu tranh giai cấp cao nhất. Không nên lẫn lộn cách mạng xã hội với cái gọi là “cách mạng trong cung điện” với những cuộc đảo chính, tuần hành, biểu tình trên đường phố. v.v. Những cuộc đảo chính chỉ là dùng bạo lực thay đổi chính phủ, chỉ là những người hay tập đoàn của cùng một giai cấp thay thế nhau nắm chính quyền, còn đặc điềm cơ bản của cách mạng xã hội là hoàn toàn biến đổi chế độ, là chuyển chính quyền từ giai cấp này sang giai cấp khác. Tuy nhiên, không thể gọi tất cả mọi cuộc lật đổ, trong đó một giai cấp này dùng bạo lực lật đổ một giai cấp khác là cách mạng được. Nếu giai cấp phản động gây ra một cuộc nổi dậy chống giai cấp tiến bộ, nếu giai cấp phản động lại chiếm chính quyền, đó không phải là cách mạng nữa, mà là phản cách mạng. Cách mạng là việc giai cấp tiến bộ lên nắm chính quyền, mở đường cho một sự phát triển mới của xã hội.


Đối chiếu với những diễn biến và kết quả các cuộc biểu tình, bạo động vũ trang, bạo loạn lật đổ, đảo chính bất hợp pháp ở một số quốc gia thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu (vào thập niên cuối thế kỷ XX) và ở Trung Đông, Bắc Phi trong (những thập niên đầu thế kỷ XXI) với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin nêu trên cho phép chúng ta khẳng định, đó không phải một cuộc cách mạng xã hội đúng nghĩa, mà thực chất là phản cách mạng. Bởi, tính chất của cách mạng là do những nhiệm vụ xã hội mà nó thực hiện, quyết định. Ví như, nhiệm vụ của Cách mạng Pháp năm 1789 là thủ tiêu chế độ phong kiến đang kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và ngăn cản không cho người ta mở đường cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển trên cơ sở lực lượng sản xuất ấy. Đó là một cuộc cách mạng tư sản cũng như những cuộc cách mạng 1848 - 1849 trong nhiều nước châu Âu. Còn cách mạng vô sản xã hội chủ nghĩa khác về căn bản với tất cả những cuộc cách mạng trước. Đây là cuộc cách mạng vĩ đại nhất chưa từng thấy trong lịch sử vì nó biến đổi đời sống nhân dân một cách sâu sắc nhất. Chỉ có cách mạng vô sản lập nên chuyên chính của giai cấp vô sản, giai cấp cách mạng nhất trong lịch sử nhân loại, mới có thể tiêu diệt mọi hiện tượng người bóc lột người. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại là một kiểu mẫu của cách mạng vô sản


Trong khi đó, cái gọi là “cách mạng sắc màu” (colour revolution) hay còn được biết đến với những tên gọi như “cách mạng cam / nhung /hạt dẻ / hoa hồng / hoa tulip...” (ở Trung Đông, Bắc Phi); hay “cách mạng đường phố” (Maidan ở U-crai-na, ô/dù ở Hồng Kông); hoặc “cách mạng nghị trường” ở Gru-zi-a, Vê-nê-zu-ê-la... là thuật ngữ dùng để chỉ các phong trào biểu tình quần chúng (thường là lực lượng thanh niên cấp tiến có tư tưởng của chủ nghĩa phát xít mới). Đó là các cuộc chính biến do phương Tây và các lượng lượng thân phương Tây ở chính các quốc gia đó can dự vào nội bộ của các quốc gia có chủ quyền, đặc biệt là các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, thông qua việc thiết kế lực lượng đối lập, dựa vào sức ép dư luận, lấy con bài dân chủ, nhân quyền với ngòi nổ là vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm đẩy các nước rơi vào khủng hoảng chính trị trầm trọng, tạo điều kiện cho phe đối lập lật đổ chính quyền, thiết lập chế độ mới thân phương Tây, đem lại lợi ích chủ yếu cho giới tài phiệt mà không đem lại sự thay đổi chế độ chính trị một cách triệt để, mà đa phần chỉ thay đổi liên minh chính trị bên trong hệ thống chính trị hiện tại. Trên thực tế, chẳng những đại đa số quần chúng không được hưởng bất cứ thành quả gì từ các cuộc chính biến đó - điều mà những thủ lĩnh của các cuộc chính biến từng hứa hẹn - mà còn phải chịu thêm cảnh thương vong, đói nghèo, bệnh tật và mất quyền tự do, dân chủ nhiều hơn so với trước khi nó xảy ra…  Chính vì thế, những cuộc chính biến đó không thể gọi là cách mạng được.


Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa của “cách mạng sắc màu” từ hai cách tiếp cận: 


Thứ nhất, tiếp cận từ góc độ xung đột lợi ích địa chính trị giữa phương Đông và phương Tây sau chiến tranh lạnh, “cách mạng sắc màu” là công cụ của phương Tây dùng để củng cố, mở rộng gia tăng phạm vi ảnh hưởng toàn cầu bằng việc thúc đẩy mô hình chính trị với các giá trị dân chủ. 


Thứ hai, nhấn mạnh vào các phong trào đối lập lại khá lạc quan khi cho rằng “cách mạng màu” là quá trình dân chủ hoá. Họ cho rằng “cách mạng sắc màu” phản ánh khuynh hướng của phe đối lập nhằm đạt được sự đột phá về dân chủ trong bầu cử chính trị để phê phán các trường hợp gian lận trong bầu cử, từ đó lên án những hành động phản dân chủ của liên minh cầm quyền. Trong khi đó, một số học giả cho rằng, “cách mạng sắc màu” là mưu kế then chốt nhằm áp đặt trật tự thế giới mới do Mỹ đứng đầu. Đây là một chiến thuật chính trị che giấu sự mở rộng của NATO và ảnh hưởng của Mỹ đến các vùng biên giới của Nga, thậm chí cả Trung Quốc. Mục tiêu cơ bản trong chiến lược của Mỹ là bao vây Nga và Trung Quốc nhằm ngăn chặn sự nổi lên của những thách thức đối với quyền lực của Mỹ trong khu vực và trên toàn cầu.


Căn cứ vào lý luận và thực tiễn thì tuyệt nhiên không thể gọi những hoạt động/hành động chính biến nêu trên là “cách mạng sắc màu” được, mà thực chất đó là phản cách mạng.


NHỮNG CẢNH BÁO ĐỐI VỚI VIỆT NAM


Trong tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, đăng trên tạp chí Giáo dục số 3/1913, V. I. Lênin từng cảnh báo đối với những người cộng sản: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Theo đó, nếu chúng ta mất tinh thần cảnh giác cách mạng, mơ hồ giai cấp khi thừa nhận nó là “cách mạng” với cái tên và tuyên bố của các chính trị gia cùng giới truyền thông phương Tây về cái gọi là “cách mạng sắc màu” thì vô hình chung chính chúng ta thừa nhận tính phản động, phản cách mạng của các cuộc chính biến trên; là cổ xúy và tạo một tiền lệ vô cùng nguy hiểm đối với sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, là một trong những nguy cơ kéo lùi sự phát triển của đất nước ta.


Trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng tấn công vào các nước xã hội chủ nghĩa hoặc các nước không chịu theo “chiếc gậy chỉ huy” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì Việt Nam là trọng điểm chống phá thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ kết hợp bạo loạn lật đổ với mục tiêu không thay đổi là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chính vì vậy, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994), Đảng ta đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Những thách thức là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa…; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau”(5); Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…”.


Không phải ngẫu nhiên chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lựa chọn các nước xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa, các nước trong “không gian hậu Xôviết” để tiến hành cách chính biến bất hợp pháp trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Hậu quả nặng nề và kéo dài ở các nước bị cái gọi là “cách mạng sắc màu” “càn quét và tàn phá” qua là lời cảnh báo đối với Việt Nam.


Trên thực tế, mặc dù cái gọi là “cách mạng sắc màu” chưa được các thế lực thù địch thực hiện thành công ở nước ta, nhưng đã có manh nha với những biểu hiện cụ thể của âm mưu, thủ đoạn này ở Việt Nam và gây ra những hậu quả nhất định. Những năm vừa qua đã xuất hiện nhiều vụ việc cho thấy rằng, thế lực thù địch và phản động không ngừng nuôi âm mưu và sử dụng “chiêu thức” phản cách mạng để tấn công vào sự nghiệp cách mạng của nước ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng mạng xã hội, Internet cùng những hạn chế trong nhận thức, hiểu biết của một bộ phận không nhỏ quần chúng để xúi giục nhân dân biểu tình. Điển hình như: lấy danh nghĩa “Hướng về biển, đảo quê hương” để kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại, bài xích quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc (như vụ phản đối giàn khoan HD-981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam năm 2014 để tiến hành cái gọi là “cách mạng hoa sen”; vụ Formosa gây ra ô nhiễm môi trường biển khiến cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung để thực hiện cái gọi là “cách mạng cá” năm 2016); lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường để thực hiện cái gọi là “cách mạng cây”; kêu gọi “xuống đường tổng biểu tình” năm 2018 tại 23 tỉnh, thành phố liên quan đến việc Quốc hội nước ta chuẩn bị thông qua và ban hành Luật An ninh mạng và Dự thảo Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt...


MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG HỮU HIỆU


Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”. Theo đó, để ngăn chặn và triệt tiêu những nguy cơ của của cái gọi là “cách mạng sắc màu”, chúng ta cần phải “bắt đầu” từ những yếu tố chủ quan, bao gồm tình hình kinh tế - chính trị - xã hội nội tại. Trong đó, tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:


Một là, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực xã hội; chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội… để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.


Muốn ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả - làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta thì phải giữ vững được sự ổn định xã hội và làm cho đất nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Do đó, việc đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực xã hội; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực; chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế là giải pháp hữu hiệu để đảm bảo và thúc đẩy yếu tố bên trong của đất nước luôn luôn ổn định.


Để giữ được sự ổn định xã hội thì vấn đề mấu chốt phải giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực. Thực chất làm cho các nhân tố xã hội chủ nghĩa ngày càng củng cố, phát triển trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế đồng nghĩa với tránh nguy cơ đời sống nhân dân lao động suy giảm, dẫn đến lòng dân hoang mang, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước.


Hai là, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ.


Chủ động nắm bắt, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Yêu cầu đặt ra là phải giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội để mọi người dân, mọi tổ chức chính trị - xã hội đều nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hoà bình” thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” của các thế lực phản động. Đảng, Nhà nước tăng cường chỉ đạo cơ quan tham mưu chuyên trách phối hợp các ngành, các cấp trong xã hội chú trọng giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh; thông qua các kênh thông tin đại chúng để nâng cao cảnh giác cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân. Nghiêm khắc đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trong một bộ phận nhân dân, học sinh, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta của kẻ thù.


Không ai khác và hơn ai hết, mỗi cá nhân phải có ý thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước về thông tin, tham gia tích cực đấu tranh chống phao tin đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu và thất thiệt.


Ba là, xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho toàn dân.


Bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không ngừng từ bỏ âm mưu thôn tính chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, mỗi công dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng. Ý thức bảo vệ Tổ quốc cần được thấm nhuần sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân mà trọng tâm là thanh niên.


Yêu cầu nội dung giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân phải mang tính toàn diện: tình yêu quê hương, đất nước; cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới; tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Vận dụng các hình thức biện pháp giáo dục đa dạng nhưng phù hợp với từng đối tượng.


Bốn là, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh về mọi mặt.


Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh là “thành trì” bảo đảm cho chế độ xã hội luôn ổn định, phát triển. Trước hết, phải luôn luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam là đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng mọi miền đất nước; đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng... Để đạt được sự đoàn kết rộng rãi đó, Đảng và Nhà nước phải nâng cao chất lượng các chính sách xã hội nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng cho từng giai tầng; củng cố vững chắc khối liên minh công - nông - trí; phát huy tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường, lòng tự hào của toàn dân. Đồng thời, Đảng và Nhà nước phải luôn luôn chú trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương ngày càng vững mạnh về mọi mặt; nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên, năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các cấp, nhất là ở cơ sở; thực hiện tốt quy chế và pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, củng cố nâng cao chất lượng, hiệu quả, nề nếp hoạt động của các tổ chức quần chúng.


Năm là, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh.


Không ngừng chú trọng xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại), xây dựng vững mạnh lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở... Đây vừa là lực lượng trực tiếp vừa là một bộ phận của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, do Đảng lãnh đạo, là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cùng với lực lượng chính quy có sức chiến đấu cao, phải bảo đảm vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, phòng thủ ở các địa phương, cơ sở. Chú trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, lấy chất lượng là chính.


Mỗi địa phương phải chú trọng kết hợp phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở. Thực tiễn cho thấy, quần chúng nhân dân là nền tảng của đất nước, là gốc rễ của dân tộc, là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nhưng cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động thường hướng tới để lợi dụng, lôi kéo nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng./. 

 

Cách mạng Tháng Mười Nga tiếp tục định hướng xu thế phát triển của thời đại trong thế kỷ XXI

(LLCT) - Hơn 100 năm trước đây, cuộc Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, đồng thời đặt nền móng hiện thực cho xu hướng đi lên CNXH của phần lớn quốc gia - dân tộc trong thế kỷ XX. Trong bối cảnh mới hiện nay, dưới tác động nhiều chiều của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0, lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười vẫn đang tiếp tục cổ vũ nhân loại tiến lên trên con đường phát triển theo định hướng XHCN. 

 


Ngày 7-11-1917, cuộc cách mạng XHCN tháng Mười Nga nổ ra thắng lợi, đánh dấu bước ngoặt căn bản trong đời sống chính trị nhân loại, mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Tầm vóc vạch dòng thời đại của Cách mạng Tháng Mười đã đặt nền móng hiện thực cho xu hướng đi lên CNXH như một tất yếu khách quan, không thể bị đảo ngược. Hơn một thế kỷ đi qua, lịch sử thế giới đã trải qua biết bao thăng trầm, khúc quanh khắc nghiệt, nhưng Cách mạng Tháng Mười, với những giá trị bất diệt, vẫn mãi mãi là sự kiện vạch sáng thời đại, vạch sáng tương lai; lý tưởng và con đường của Cách mạng Tháng Mười vẫn tỏa sáng, định hướng cho xu thế phát triển của thời đại với những mục tiêu cao cả là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

1. Xét trên bình diện lịch sử toàn thế giới, Cách mạng Tháng Mười đã “mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đều đang tiến tới một cuộc đời mới, tới chỗ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chỗ thành lập chuyên chính vô sản, tới chỗ giải phóng nhân loại khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”(1). Thật vậy, Cách mạng Tháng Mười là khâu đột phá đầu tiên vào dinh lũy của chủ nghĩa tư bản, chặt đứt một mắt xích quan trọng trong sợi dây chuyền, phá vỡ một mảng lớn hệ thống đế quốc chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đứng lên giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động ở các nước tư bản nhằm thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN - theo tấm gương của nước Nga.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, từ chỗ còn là một “bóng ma ám ảnh châu Âu”, CNXH đã tồn tại trên thực tế và trở thành xu thế không thể đảo ngược của lịch sử nhân loại. Hệ thống XHCN thế giới được xác lập ảnh hưởng to lớn đến xu thế phát triển tiến bộ của lịch sử nhân loại. Với sự xuất hiện và tồn tại gần 80 năm của nước Nga Xôviết và sau đó là Liên bang Xôviết (Liên Xô), nhân loại đã được chứng kiến những biến đổi kỳ diệu của đời sống con người trên diện tích một phần ba trái đất, chiến thắng oanh liệt của Hồng quân Liên Xô cứu loài người khỏi thảm họa phát xít và rất nhiều thành tựu to lớn mà CNXH hiện thực đã mang lại.

Dưới ảnh hưởng trực tiếp của Cách mạng Tháng Mười, cao trào cách mạng thế giới trong những năm 1918-1923, đặc biệt là ở các nước Tây Âu, đã thực sự làm chấn động dinh luỹ của chủ nghĩa tư bản. Cùng với đó, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc ở hầu khắp các châu lục được thức tỉnh, vùng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển ngày càng mạnh mẽ và từ sau chiến tranh thế giới thứ II trở thành cao trào, liên tiếp giành thắng lợi, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, đưa độc lập dân tộc trở thành chân giá trị phổ biến mang tính thời đại. Từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, trong thế kỷ XX đã có trên 100 quốc gia giành được độc lập với hàng tỷ người thoát khỏi ách đô hộ, áp bức, bóc lột của ngoại bang; nhiều quốc gia - dân tộc ở châu Âu, châu Á và khu vực Mỹ Latinh đã lựa chọn con đường xây dựng CNXH cho định hướng phát triển của đất nước mình.

Thực tế lịch sử hơn một thế kỷ qua đã chỉ rõ, Cách mạng Tháng Mười không phải là sản phẩm "thuần tuý Nga", mà là cuộc cách mạng mang ý nghĩa thời đại của thế kỷ XX. Bằng sức mạnh của CNXH, Liên Xô đã trở thành lực lượng chủ yếu đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), cứu nhân loại thoát khỏi thảm hoạ diệt vong, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân do chủ nghĩa đế quốc phát động trong nhiều thập niên sau chiến tranh lạnh. Cách mạng Tháng Mười và sự tồn tại của hệ thống XHCN, đứng đầu là Liên Xô, đã trở thành thành trì của hòa bình thế giới, chỗ dựa vững chắc của nhân dân các dân tộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và CNXH trên phạm vi toàn thế giới trong thế kỷ XX, đồng thời còn có tác động mạnh mẽ đến toàn bộ quá trình phát triển của thế giới hiện đại những năm đầu thế kỷ XXI.

2. Tuy nhiên, lịch sử bao giờ cũng có những thăng trầm khắc nghiệt. Hơn 70 năm sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, nhân loại đã phải chứng kiến nhiều biến động dữ dội trong đời sống chính trị thế giới. Sự tan vỡ của thể chế XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, cùng với sự khủng hoảng rồi dẫn tới thoái trào của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, đã ảnh hưởng khá tiêu cực đến sự nghiệp cách mạng của các dân tộc đang phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Lợi dụng sự kiện đó, các thế lực đế quốc, thù địch đẩy mạnh cuộc phản kích chống phá CNXH và phong trào cách mạng thế giới, tìm mọi cách, với nhiều luận điệu khác nhau, hòng phủ nhận giá trị vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười, từ đó tiến tới phủ nhận những thành tựu mà CNXH hiện thực đạt được trong suốt hơn một thế kỷ qua. Trong khi đó, với bản chất không hề thay đổi, lại được che đậy bằng nhiều ngôn từ rất mỹ miều, các thế lực tư bản quốc tế vẫn đang tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới (chủ nghĩa thực dân thời toàn cầu hóa) đối với các quốc gia - dân tộc còn đang trong tình trạng kém phát triển về kinh tế, với đủ mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, gây nên những hậu quả rất nặng nề ở các nước đang và kém phát triển.

Mặc dù đã có rất nhiều biến cố lớn diễn ra trong khoảng ba thập niên trở lại đây, mà biến cố lớn nhất là sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, nhưng không phải vì thế mà Cách mạng Tháng Mười mất đi ý nghĩa lịch sử của nó như giọng điệu tuyên truyền của các thế lực đế quốc, thù địch.Lịch sử có những đoạn quanh co, có bước thăng trầm nhưng CNXH, một mô hình nhà nước kiểu mới, một bước tiến của văn minh nhân loại xuất hiện từ Cách mạng Tháng Mười vẫn là xu thế của thời đại, là hình mẫu lý tưởng mà nhân loại tiến bộ hướng tới. Những thành tựu vĩ đại của CNXH hiện thực trong hơn một thế kỷ qua, nhất là thành tựu cải cách, đổi mới ở các nước XHCN còn lại, ngày càng chứng tỏ thêm bản chất ưu việt của chế độ XHCN, sức sáng tạo, năng lực đổi mới và những đóng góp của các nước XHCN cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, văn minh và tiến bộ xã hội. Ngày nay, mặc dù CNXH hiện thực vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn, phong trào XHCN thế giới chưa hòan toàn vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng, nhưng trên thế giới hiện vẫn tồn tại một số quốc gia, chiếm 1/5 diện tích toàn cầu với gần 1,5 tỷ người, đi theo định hướng XHCN; không chỉ thế, hàng chục đảng cộng sản, đảng công nhân với hàng chục triệu đảng viên vẫn đang có ảnh hưởng chính trị to lớn ngay cả ở những nước tư bản phát triển; lý tưởng về một xã hội công bằng, nhân văn mà Cách mạng Tháng Mười đã chỉ ra cho đến nay vẫn có sức hấp dẫn ở hàng chục quốc gia đã giành được độc lập, đang trên đường thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu...

Sự tìm tòi, khai phá mô hình phát triển của các nước XHCN do đảng cộng sản cầm quyền, dấu hiệu phục hồi đáng khích lệ của các đảng cộng sản chưa cầm quyền, sự sáng tạo các hình thức liên hệ, tập hợp lực lượng mới của các đảng cộng sản, công nhân và những làn sóng mới của trào lưu cánh tả ở các khu vực trên thế giới đã và đang tiếp tục trở thành những nhân tố tích cực có sức lôi cuốn và ảnh hưởng rộng lớn, thật sự có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn cho việc bảo vệ, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong bối cảnh quốc tế mới. Đó là thực tế sinh động chứng tỏ tính đúng đắn và hợp quy luật lịch sử của con đường phát triển được khai vạch từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười.

Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Đó là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên CNXH. Đây là xu thế phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại, nhưng là một quá trình lịch sử lâu dài đầy khó khăn, phức tạp. V.I.Lênin từng chỉ rõ: nếu hình dung lịch sử như một con đường thẳng tắp, trơn tru là không biện chứng, không khoa học, không đúng về mặt lý luận. Người cũng nhấn mạnh: "Sự xuất hiện một giai cấp mới trên vũ đài lịch sử với tư cách là người lãnh đạo xã hội, không bao giờ diễn ra mà không có một thời kỳ "tròng trành" hết sức dữ dội, một thời kỳ chấn động, đấu tranh và bão táp, đó là một mặt; mặt khác không bao giờ diễn ra mà không có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm, do dự, ngả nghiêng trong việc lựa chọn những phương pháp mới đáp ứng đúng với tình thế khách quan mới"(2). Quan điểm này của V.I.Lênin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng về mặt phương pháp luận khi nhận thức về xu thế phát triển của thời đại ngày nay, là cơ sở lý luận khoa học để các đảng cộng sản tiếp tục kiên trì quan niệm đúng đắn rằng: sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH là một quá trình lịch sử lâu dài, gồm nhiều thời kỳ vận động dích dắc, phức tạp. Chỉ có nắm được quy luật và lôgic vận động của thế giới và thời đại, mới giúp cho các đảng cộng sản vững vàng lập trường cách mạng, không dao động và vững niềm tin vào thắng lợi của con đường mà Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra.

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người cộng sản Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác-Lê-nin, đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”(3). Và Người chỉ ra: “Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo con đường của V.I.Lênin - con đường Cách mạng Tháng Mười Nga; muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Theo ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười soi rọi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH. Và đến nay, sau hơn bảy thập niên tôi luyện và thử thách, kể cả trong những thời điểm gay go nhất, khi hệ thống XHCN, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có sự khủng hoảng nghiêm trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn vững vàng lãnh đạo nhân dân ta tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong bối cảnh hiện nay, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với những thách thức gay gắt từ xu thế toàn cầu hoá và sự chống phá ngày càng quyết liệt, tinh vi của các thế lực đế quốc, phản động, thì hệ giá trị độc lập dân tộc và CNXH, trong ý thức và trong hành động, vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là “quốc bảo” phù hợp với xu thế thời đại; sẽ đưa nhân dân Việt Nam tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Những thành công mới của cách mạng Việt Nam vừa thể hiện, vừa góp phần thúc đẩy trào lưu chính trong giai đoạn hiện nay của thời đại - tiếp tục quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới những thập niên đầu của thế kỷ XXI dưới tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

4.Như vậy, có thể khẳng định rằng, mặc dù chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã không còn tồn tại với tư cách là một hệ thống thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chưa vượt qua tình trạng khủng hoảng, song không có nghĩa là quy luật tiến hóa của xã hội loài người - đi lên CNXH, đã bị triệt tiêu. Trên phạm vi toàn thế giới, nhiều quốc gia - dân tộc vẫn định hướng sự phát triển của đất nước theo lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười. Từ khi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi đến nay đã qua hơn một thế kỷ, tuy nhiên lý tưởng cao đẹp của cuộc cách mạng này vẫn đang và sẽ tiếp tục cổ vũ nhân loại tiến lên trên con đường phát triển theo định hướng XHCN, mà không trở ngại nào, không xu hướng đối lập nào có thể ngăn cản. Cách mạng Tháng Mười thực sự là mốc son mở ra một thời đại mới, một sự nghiệp mới trong lịch sử nhân loại - sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới. Vì thế nó không thể bị lãng quên, cho dù “cách mạng XHCN quốc tế sẽ có thể trải qua những đột biến gian khổ đến mấy đi nữa”(5). Lẽ tất nhiên, Cách mạng Tháng Mười có vinh dự là sự đột phá, mở đường, còn “bao giờ và trong thời hạn nào thì những người vô sản nước nào sẽ hòan thành được sự nghiệp ấy, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng, chính là băng đã tan, đường đã mở, lối đã vạch ra rồi”(6). Với Cách mạng Tháng Mười và với lý tưởng cao đẹp của nó, “cách mạng quốc tế tương lai sẽ xây dựng nên lâu đài xã hội chủ nghĩa của mình”(7). Và đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(8).

Trong bối cảnh thế giới phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc, khó lường hiện nay, giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười vẫn luôn tỏa sáng: Chỉ có đi theo con đường mà Cách mạng Tháng Mười đã khơi nguồn, mở lối, thì các nước mới giành được độc lập thực sự cả về chính trị và kinh tế; mới ngày càng nâng cao vị thế của quốc gia - dân tộc mình trên thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười cũng cho thấy rõ sức mạnh sáng tạo của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh tự giải phóng và mở đầu cho sự nghiệp kiến tạo xã hội mới chưa từng có hình mẫu trong lịch sửnhân loại. Thắng lợi đó còn chứng tỏ trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa cuộc đấu tranh vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì CNXH, dân chủ và CNXH chẳng những là mục tiêu, mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tới tự do, bình đẳng, công bằng, văn minh. Khúc quanh hiện nay của phong trào cách mạng thế giới, dù có làm cho sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH bị kéo dài thêm, song không thể đảo ngược được. Con đường của thời đại, con đường mà nhân loại đang đi tới chính là con đường thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.

__________________

(1), (6) V.I. Lênin: Toàn tập, t.44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.184-185, 187.

(2), (5), (7) V.I.Lênin: Toàn tập, t.36, Nxb.Tiến bộ, Mátxcơva, 1978,  tr.235, 473, 473.

(3), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 388, 387.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr. 603.

Nguồn : TS Mai Hoài Anh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TS Nguyễn Thị Ngọc Loan

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

PHÒNG, CHỐNG PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN


Trong giờ phút thiêng liêng được kết nạp vào Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều thề trước cờ Đảng và hình ảnh lãnh tụ, suốt đời đấu tranh phấn đấu theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành và nghiêm chỉnh thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ gìn kỷ luật Đảng và phẩm chất, đạo đức của người cách mạng. Đó là lời thề danh dự định hướng rèn luyện, hành động của mỗi đảng viên, cán bộ.


Suốt các thời kỳ đấu tranh cách mạng, tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ đã thực hiện trọn vẹn lời thề đó, điều này có ý nghĩa quyết định sức chiến đấu, danh dự và uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Sự phấn đấu, hy sinh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, đảng viên đã cổ vũ, đoàn kết toàn dân tộc: giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của lịch sử dân tộc; đi tới toàn thắng trong các cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân, đế quốc vì hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc; thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".

"Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng".

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có những thành công căn bản và quan trọng, bảo đảm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Song công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhất là một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

"Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc".

Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (10/2016). Biểu hiện hàng đầu của sự suy thoái đó là: "Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".


Suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng là điều nguy hiểm nhất với sự tồn vong của Đảng và chế độ.


Không chỉ phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mà một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện "Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái" và những biểu hiện sai trái khác. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị là căn bản và có ý nghĩa quyết định bảo đảm bản chất cách mạng, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng là điều nguy hiểm nhất với sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Vì vậy, phải đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh đó càng đòi hỏi sự trong sạch trong nội bộ Đảng, phải ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Cách mạng và dân tộc Việt Nam từ năm 1930 đến nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã và đang phát triển trên con đường đúng đắn với những thắng lợi và thành tựu to lớn. Vì sao với hiện thực rõ ràng như vậy vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội? Cần thiết phải làm rõ nguyên nhân.

Có những người bị chi phối bởi quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho rằng sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự thật là, đó là sự tan vỡ của một mô hình với những hạn chế và khuyết điểm hoàn toàn có thể điều chỉnh, sửa chữa được.

Chính sự phản bội và nhân danh tư duy chính trị mới đã phủ nhận thành quả vĩ đại của chủ nghĩa xã hội, đưa các nước đó rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã sửa chữa những khuyết điểm của mô hình cũ bằng đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và đổi mới thành công đã làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.

Các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã tổng kết điều đó. Đặc biệt, tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam công bố năm 2021 là sự phát triển quan trọng nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần phải quán triệt và nhận thức sâu sắc những tổng kết có giá trị khoa học và hiện thực của Đảng trong từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đó là điều có vai trò quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt lý tưởng cách mạng.


Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và đổi mới thành công đã làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.


Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý luận, tư tưởng đó quyết định bản chất cách mạng, khoa học, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của Đảng và cũng quyết định ý chí, lý tưởng cách mạng và phẩm chất chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng nhiều lần nhấn mạnh, học tập, nghiên cứu nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là thuộc lòng câu chữ mà phải nắm vững giá trị mang tính quy luật, phương pháp luận khoa học để vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển.

Bộ Chính trị khóa XII chủ trương tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán, bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Qua cuộc đấu tranh đó để toàn Đảng và nhân dân cảnh giác và góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng, lý luận, tăng sức đề kháng trong Đảng và toàn xã hội. Những người phai nhạt lý tưởng, dao động, giảm sút niềm tin, hoặc bị ảnh hưởng từ những luận điệu sai trái, thù địch, cố tình phụ họa, tiếp tay cho kẻ địch, hoặc do trình độ nhận thức hạn chế, bản lĩnh chính trị không vững vàng, ít chịu học tập, rèn luyện, tu dưỡng và cả sự chủ quan, kiêu ngạo, cố tình quay lưng lại với sự thật.

Vì vậy phải chú trọng công tác giáo dục, học tập, nghiên cứu lý luận chính trị một cách căn bản, sâu sắc, có hệ thống. Giáo dục sâu sắc, thiết thực lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng củng cố sức mạnh của Đảng về tư tưởng, chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự phai nhạt lý tưởng cách mạng.

Phòng ngừa sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện tính tiên phong, đức hy sinh và phẩm chất đạo đức cách mạng. Hiểu biết sâu sắc đất nước, dân tộc mình, tự hào, tự tôn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng và dân tộc và không ngừng học tập. Học tập để nâng cao trình độ trí tuệ, hiểu biết lý luận, nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để hành động tự giác, có hiệu quả.

Lý tưởng, mục tiêu của Đảng rất rõ ràng là độc lập dân tộc và xây dựng Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Là cán bộ, đảng viên của Đảng phải tuyệt đối trung thành và phấn đấu vì lý tưởng cao cả đó. Làm sao để trong Đảng không có những đảng viên phai nhạt lý tưởng, càng không thể có đảng viên xa rời tôn chỉ mục đích của Đảng. Hãy luôn luôn ghi nhớ lời thề khi gia nhập Đảng.

 

Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình cải tổ và hoàn thiện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ tháng 8-1945 đến tháng 11-1946)

(LLCT) Trong giai đoạn từ tháng 8-1945 đến tháng 11-1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trải qua 5 lần cải tổ, từ Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (UBDTGPVN) đến Chính phủ lâm thời, Chính phủ Liên hiệp lâm thời, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến và Chính phủ kháng chiến - Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Quá trình này diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước, có nhiều điểm độc đáo, thể hiện vai trò lãnh đạo tài tình, sáng tạo Hồ Chí Minh.


1. Vai trò của Hồ Chí Minh trong thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam - hình thức tiền Chính phủ

Từ tháng 9-1940, quân phiệt Nhật đưa quân vào chiếm Đông Dương, nhân dân Việt Nam bị đặt dưới ách thống trị vô cùng tàn bạo của hai kẻ thù xâm lược Pháp-Nhật. Đồng bào cả nước mong muốn nổi dậy đánh đuổi bè lũ cướp nước, giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc. Đáp ứng nguyện vọng tha thiết đó, Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) của Đảng, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì, quyết định “Cần phải thay đổi chiến lược”. Nghị quyết nêu rõ: trong giai đoạn cách mạng hiện tại, nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương là đánh đuổi Pháp-Nhật, giành độc lập cho xứ Đông Dương. Hội nghị chủ trương xây dựng Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết các giai cấp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, cá nhân yêu nước để đánh đuổi giặc ngoại xâm, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thành lập Mặt trận Việt Minh là một sáng kiến lớn của Nguyễn Ái Quốc,  đúng như đồng chí Võ Nguyên Giáp viết: “Trong những ngày ở Quế Lâm, có lần Bác bàn với chúng tôi: Trong tình hình mới, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng. Ta phải nghĩ đến việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Việt Nam phản đế đồng minh? hay là Việt Nam độc lập đồng minh? có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ”(1). Nhiệm vụ trên được thực hiện thí điểm thành công tại ba châu: Hà Quảng, Hòa An và Nguyên Bình thuộc tỉnh Cao Bằng.

Sau Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), Đảng khẩn trương triển khai tổ chức thực hiện nghị quyết Hội nghị, xúc tiến xây dựng lực lượng mọi mặt, trước hết là xây dựng các đoàn thể Việt Minh trên toàn quốc.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Cuộc đảo chính của Nhật tạo ra những thách thức mới cũng như những điều kiện thuận lợi mới cho cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang của nhân dân ta. Trước tình thế đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng ra Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”,xác định: đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính-kẻ thù cụ thể, trước mắt duy nhất của nhân dân Đông Dương.

Trong làn sóng khởi nghĩa từng phần, chính quyền cách mạng của nhân dân đã dần dần hình thành và phát triển ở nhiều nơi trên đất nước, để làm rõ vai trò và chức năng của chính quyền cách mạng, ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức Ủy ban dân tộc giải phóng, nêu rõ: “Ủy ban dân tộc giải phóng là hình thức tiền chính phủ, trong đó nhân dân học tập để tiến lên giành chính quyền cách mạng”(2). Theo đó, ở trong các làng xã, xí nghiệp thành lập “Ủy ban giải phóng”, “Ủy ban nhân dân cách mạng”. Ủy ban này vừa có tính chất mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, vừa có tính chất “tiền Chính phủ” trong các xí nghiệp, các làng... Việc hình thành các tổ chức ấy có tác dụng to lớn trong việc tập dượt nhân dân tự mình nắm lấy vận mệnh của mình, tự cởi bỏ dần xiềng xích, tự cải thiện đời sống cho mình, mà không cần đếm xỉa đến chính quyền phát xít Nhật và bọn bù nhìn bán nước tay sai của Nhật. Đồng chí Trường-Chinh nhận xét: “Dùng những Ủy ban nhân dân và Ủy ban giải phóng làm bước chuyển tiếp lên chính thể cộng hòa dân chủ, đó là một đặc điểm hết sức thú vị của chiến thuật Việt Minh trong thời kỳ tiền khởi nghĩa”(3).

Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang để lãnh đạo cách mạng. Người đã đề nghị triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội. Vấn đề này được Người nêu ra từ tháng 10-1944, trong “Thư gửi tới đồng bào cả nước”, vạch rõ sự cần thiết phải triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội để lập ra một “cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết, hành động và nhất trí của toàn thể quốc dân ta”(4).

Ngày 4-6-1945, Hội nghị cán bộ Việt Minh quyết định thành lập Khu giải phóng gồm hầu hết các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang và một số vùng của các tỉnh lân cận… Tân Trào được chọn là Thủ đô Khu giải phóng. Chính quyền cách mạng ở Khu giải phóng thực hiện cương lĩnh của Việt Minh. Về hình ảnh Khu giải phóng, đồng chí Trường-Chinh nhận định: “Nước Việt Nam mới phôi thai từ đó… Một phần Bắc Bộ thực tế đặt dưới chính quyền cách mạng”(5).

Ngày 14-8-1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng các nước Đồng minh, tin đó đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng trong toàn quốc. Thời cơ đã đến, điều kiện để tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Ngày 16-8-1945, tại Tân Trào, Đại hội quốc dân được khai mạc, có hơn 60 đại biểu thuộc đại biểu các đảng phái, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo của 3 kỳ: Bắc, Trung, Nam; Việt kiều Thái Lan và Lào về dự, để cùng quyết định vận mệnh non sông đất nước. Đại hội là tiếng nói chung của đồng bào cả nước, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, là tiếng nói thống nhất giết giặc, cứu nước. Đại hội thống nhất thông qua bản đề án của Tổng bộ Việt Minh về Tổng khởi nghĩa và bầuỦy ban dân tộc giải phóng Việt Nam(6) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch. Đại hội ra lời hiệu triệu toàn quốc sẵn sàng chiến đấu, đoàn kết phấn đấu thi hành 10 điểm của Mặt trận Việt Minh. Đại hội quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, Quốc ca là bài “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao.

Đại hội quốc dân đã thông qua những vấn đề mà một nhà nước phải làm, thành lập UBDTGPVN đóng vai trò như “chính phủ lâm thời” của nước Việt Nam trước khi thành lập chính phủ chính thức. Chính phủ này thay mặt quốc dân mà giao thiệp với nước ngoài và chủ trì công việc cấp bách trong nước.

Từ đây, cách mạng Việt Nam đã có một tiếng nói thống nhất, một cơ cấu đại diện đúng đắn. Đây là một yếu tố quan trọng đưa đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Việc thành lập UBDTGPVN, đóng vai trò là “chính phủ lâm thời”, lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa là một nét độc đáocủa cách mạng Việt Nam.

2. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong 5 lần cải tổ, hoàn thiện Chính phủ (9-1945 - 11-1946)

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, chính thức tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn Độc lập là văn bản pháp lý đầu tiên vô cùng quan trọng của Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập đặt nền móng vững chắc cho đường lối đối nội, đối ngoại của Nhà nước Việt Nam mới.Để phù hợp với tình hình mới, UBDTGPVN tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời. Chính phủ lâm thời có cơ cấu gồm 15 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đã chính thức làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào. Nói về Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nó thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ cộng hòa chính thức”(7). Chính phủ lâm thời bao gồm đông đảo các thành phần trong xã hội, bước đầu có cơ cấu tương đối hoàn chỉnh gồm 13 bộ: đứng đầu các bộ là các lãnh tụ cộng sản, những đại diện của Đảng dân chủ, của Mặt trận Việt Minh, những nhân sĩ yêu nước(8). So với UBDTGPVN, thành phần của Chính phủ lâm thời gồm nhiều đại diện của các đảng phái, đoàn thể, mang tính dân chủ hơn, mở rộng thành phần tham gia, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân.

Ngay từ những ngày đầu của chính quyền dân chủ nhân dân, các thế lực đế quốc, phản động quốc tế đã câu kết, bao vây, chống phá cách mạng non trẻ Việt Nam. Vận mệnh đất nước rơi vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng và Chính phủ kiên quyết giữ vững chính quyền, thẳng thắn lên án những hành động phá hoại của bọn phản động và kêu gọi toàn dân đoàn kết; khẳng định ý chí và quyết tâm của dân tộc Việt Nam. Chính phủ lâm thời khẳng định: “khẩu hiệu chính của chúng ta trong lúc này là độc lập và chỉ một cách để thực hiện khẩu hiệu ấy là đoàn kết”(9).

Để đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thờido Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch. Chính phủ Liên hiệp lâm thời ra đời dựa trên cơ cấu, tổ chức của Chính phủ lâm thời, gồm 18 thành viên: ngoài bộ trưởng, còn 2 thứ trưởng(10).

Chính phủ này thể hiện sự mở rộng các thành phần tham gia, thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, nhằm cùng một mục đích để giữ vững nền độc lập. Trong buổi lễ cải tổ Chính phủ lâm thời thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời, Chính phủ đã tỏ rõ sức mạnh đoàn kết quốc dân Việt Nam. Việc thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời thể hiện sự khôn khéo của Đảng trong sách lược phân hóa kẻ thù.

Chính phủ Liên hiệp lâm thời cũng nêu rõ mục đích, tuyên ngôn như sau: “Vì muốn tranh thủ hoàn toàn nền độc lập, muốn có sự hợp tác chặt chẽ giữa các đảng phái để làm cho Chính phủ mạnh mẽ thêm, nên nay thay đổi thành Chính phủ liên hiệp lâm thời. Trong giai đoạn này các đảng phái đoàn kết thì Chính phủ mới vượt qua được các cơn gió sóng gió. Hết thảy quốc dân Việt Nam ai cũng mong chờ Chính phủ Liên hiệp lâm thời giữ chức đến Quốc hội thì sẽ đổi thành Chính phủ Liên hiệp chính thức”(11).

Chính phủ Liên hiệp lâm thời thực hiện chương trình đối nội là ra sức thống nhất chính trị, điều hành thực hiện nhiệm vụ tăng gia sản xuất chống nạn đói và tích cực chuẩn bị chống ngoại xâm. Về đối ngoại, thực hiện nhiệm vụ trước mắt là làm sao cho các nước công nhận nền độc lập của nước Việt Nam; thân thiện với kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa kiều, bảo vệ tính mệnh và tài sản của kiều dân Pháp không làm hại đến nền độc lập của Việt Nam.

Để hoàn thiện về mặt pháp lý, Chính phủ đã gấp rút chuẩn bị tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ chính thức. Về việc này, ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”(12). Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 14/SL ghi rõ: “Chiếu theo Nghị quyết của Quốc dân Đại hội đại biểu họp ngày 16, 17-8-1945 tại Khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc hội đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên.

Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân Đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hòa”(13).

Thực hiện chủ trương trên, cả nước tiến hành cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 và đã thu được thắng lợi rực rỡ. Tổng tuyển cử thắng lợi với sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã củng cố tính pháp lý của Nhà nước Việt Nam mới.

Ngày 2-3-1946, tại Hà Nội, Quốc hội khóa I kỳ họp thứ nhất đã họp. Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Thay mặt Chính phủ, Hồ Chí Minh tuyên thệ: “Chúng tôi, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tối cao cố vấn đoàn và ủy viên kháng chiến hội, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội xin thề quyết tâm lãnh đạo nhân dân lãnh đạo kháng chiến thực hiện nền Dân chủ Cộng hòa Việt Nam mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc trong công cuộc giữ gìn độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi khó khăn dù phải hy sinh đến tính mạng cũng không từ”(14).

Lần đầu tiên nước ta có một chính phủ hợp pháp đại diện cho nhân dân Việt Nam-là kết quả cuộc Tổng tuyển cử, ngày 6-1-1946. Chính phủ thực hiện triệt để sự thống nhất các lực lượng của quốc dân về các phương diện quân sự, tuyên truyền, hành chính, tư pháp… tổng động viên tài sản lực lượng toàn thể quốc gia để phục vụ kháng chiến và kiến thiết nước nhà, hạn chế sự chia rẽ đối lập giữa các lực lượng của quốc gia dân tộc. Chính phủ Liên hiệp kháng chiến gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và 10 bộ(15).

Chính phủ Liên hiệp kháng chiến là tổ chức gồm các đại biểu đảng phái và không đảng phái trước đây đã thương lượng và thỏa thuận với nhau nên công việc tổ chức Chính phủ mới được nhanh chóng. Đây là tổ chức gồm các đảng phái lực lượng trong nước để tiến hành cuộc chiến đấu với thực dân Pháp. Việc thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến là sách lược khôn khéo của Đảng trong lúc thực dân Pháp xâm lược, việc thành lập lực lượng liên hiệp lúc này là rất cần thiết.

Ngày 28-10-1946 đến ngày 9-11-1946, kỳ họp thứ II của Quốc hội bàn việc lập Chính phủ kháng chiến; ủy nhiệm cho Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ theo nguyên tắc đoàn kết tập hợp nhân tài không phân biệt đảng phái và là một Chính phủ kháng chiến, Chính phủ liêm khiết. Hồ Chí Minh khẳng định: “Theo nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích, trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà”(16).

Ngày 3-11-1946, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh đứng đầuđã trình diện trước Quốc hội và được Quốc hội nhất trí biểu quyết thông qua (17). Thành phần tham gia trong Chính phủ và cơ cấu của Chính phủ có đủ các đại biểu của ba miền đất nước gồm những chiến sĩ cộng sản, những nhà yêu nước có tài có đức. Một đặc điểm nổi bật của Chính phủ là đã loại được các đảng phái phản động. Khi báo cáo về thành phần Chính phủ trước Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi có thể tuyên bố trước Quốc hội chú trọng thực tế và sẽ nỗ lực làm việc, để tranh thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ cùng xây dựng một nước Việt Nam mới… Chính phủ này là chính phủ toàn quốc có đủ nhân tài Trung-Nam-Bắc tham gia”.

Việc thành lập Chính phủ mới hay còn gọi là Chính phủ kháng chiến với sự kiện toàn về cơ cấu, có chương trình hành động, đánh dấu bước tiến lớn về tư duy chính trị, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chính phủ kháng chiến thể hiện rõ quan điểm luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt, rộng mở trên nguyên tắc thống nhất xây dựng chế độ dân chủ, xây dựng thực lực cách mạng nhằm mục đích duy nhất bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, vì độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân. Chính phủ thể hiện uy tín và năng lực trước nhân dân, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Việt Nam. Ngày 9-11-1946, Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội biểu quyết thông qua. Trong Hiến pháp quy định: Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ phải thi hành các đạo luật và nghị quyết của Quốc hội.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 3-11-1946, khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đã vượt qua mọi tình thế hiểm nghèo, từng bước hoàn thiện; cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước đã thành hình rất thú vị, từng bước tạo thế và lực cùng toàn Đảng, toàn dân bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi vẻ vang.

Quá trình ra đời, xây dựng và hoàn thiện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (8-1945-11-1946) là rất độc đáo, thể hiện khả năng lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua đó để lại nhiều kinh nghiệm có giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

__________________

(1) Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 32.

(2), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 535, 530-535.

(3) Trường-Chinh: Cách mạng Tháng Tám, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1946, tr. 38.

(5) Trường-Chinh: Cách mạng Tháng Tám-Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, t. 1, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1975, tr. 348.

(6) UBDTGPVN do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch và các ủy viên: Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang. Thường trực của Ủy ban gồm 5 người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền

(7) Công báo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, số 1, ngày 29-9-1945. Lưu tại Thư viện Quốc gia.

(8) Theo Công báo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, số 1, ngày 29-9-1945. Lưu tại Thư viện Quốc Gia. Chính phủ lâm thời gồm: 1. Chủ tịch kiêm Ngoại giao-Hồ Chí Minh 2. Bộ trưởng Bộ Nội vụ-Võ Nguyên Giáp; 3. Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền-Trần Huy Liệu; 4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Chu Văn Tấn; 5. Bộ trưởng Bộ Tài chính-Phạm Văn Đồng; 6. Bộ trưởng Bộ Thanh niên-Lương Đức Hiền; 7. Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế quốc gia-Nguyễn Mạnh Hà; 8. Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội-Nguyễn Văn Tố; 9. Bộ trưởng Bộ Tư pháp-Vũ Trọng Khánh; 10. Bộ trưởng Bộ Y tế-Phạm Ngọc Thạch; 11. Bộ trưởng Giao thông công chính-Đào Trọng Kim; 12. Bộ trưởng Bộ Lao động-Lê Văn Hiến; 13. Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục-Vũ Đình Hòe; 14. Bộ trưởng không giữ bộ nào - Cù Huy Cận; 15. Bộ trưởng không giữ bộ nào Nguyễn Văn Xuân.

(9) Báo Cứu quốc,số 70, ngày 18-10-1945.

(10) Chính phủ Liên hiệp lâm thời được tổ chức theo cơ cấu: 1. Chủ tịch kiêm Ngoại giao-Hồ Chí Minh; 2. Phó Chủ tịch-Nguyễn Hải Thần; 3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ-Võ Nguyên Giáp; 4. Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động-Trần Huy Liệu; 5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Chu Văn Tấn; 6. Bộ trưởng Bộ Thanh niên-Dương Đức Hiền; 7. Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế-Nguyễn Tường Long; 8. Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội-Nguyễn Văn Tố; 9. Bộ trưởng Bộ Tư pháp-Vũ Trọng Khánh; 10. Bộ trưởng Bộ Y tế - Trương Đình Tri ; 11. Bộ trưởng Bộ Giao thông-Đào Trọng Kim; 12. Bộ trưởng Bộ Lao động-Lê Văn Hiến; 13. Bộ trưởng Bộ Tài chính-Phạm Văn Đồng; 14. Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục-Vũ Đình Hòe; 15. Bộ trưởng  Bộ Canh nông-Cù Huy Cận; 16. Bộ trưởng Bộ không bộ-Nguyễn Văn Xuân; 17. Thứ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế-Nguyễn Mạnh Hà; 18. Thứ trưởng Bộ Y tế-Hoàng Tích Trí. 

(11) Báo Sự thật, số 10, ngày 9-1-1946.

(12)Hồ Chí Minh:Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, T. 4, tr. 7

(13) Bản sao các sắc lệnh của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do phòng lưu trữ Phủ Thủ tướng sao lục Hồ sơ B1/Q001 H001

(14) Việt Nam dân quốc công báo, số 15, ra ngày 13-4-1946 (Tuyên ngôn của Quốc hội khóa I), tr. 215. Quyết định của Quốc hội truy nhận Chính phủ Liên hiệp kháng chiến đọc tại Quốc hội ngày 2-3-1946, cặp 1 Quốc hội KLTTW.

(15) Xem Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.1, tr. 59. Cơ cấu của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và 10 bộ. Các thành viên Chính phủ gồm: 1. Chủ tịch - Hồ Chí Minh; 2. Phó Chủ tịch - Nguyễn Hải Thần; 3. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao - Nguyễn Trường Tam; 4. Bộ trưởng Bộ Nội vụ - Huỳnh Thúc Kháng; 5. Bộ trưởng Bộ Kinh tế- Chu Bá Phương; 6. Bộ trưởng Bộ Tài chính - Lê Văn Hiến; 7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng- Phan Anh; 8. Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Ytế, Cứu tế và Lao động - Trương Đình Tri; 9. Bộ trưởng Bộ Giáo dục-Đặng Thai Mai; 10. Bộ trưởng Bộ Tư pháp - Vũ Đình Hòe; 11. Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính - Trần Đăng Khoa; 12. Bộ trưởng Bộ Canh nông-Bồ Xuân Luật. Kháng chiến ủy viên hội gồm: 1. Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch; 2. Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch; 3. Tối cao cố vấn đoàn do ông Vĩnh Thụy đảm nhiệm.

(16) Báo Cứu quốc, ngày 3-11-1946.

(17) Chính phủ kháng chiến được tổ chức theo cơ cấu sau: 1. Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao - Hồ Chí Minh; 2. Bộ trưởng Bộ Nội vụ- Huỳnh Thúc Kháng; 3. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Võ Nguyên Giáp; 4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục-Nguyễn Văn Huyên; 5. Bộ trưởng Bộ Tài chính-Lê Văn Hiến; 6. Bộ trưởng Bộ Kinh tế - đồng chí người Nam Bộ khuyết tên; 7. Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính- Trần Đăng Khoa; 8. Bộ trưởng Bộ Y tế-Hoàng Tích Trý; 9. Bộ trưởng Bộ Lao động-Nguyễn Văn Tạo; 10. Bộ trưởng Bộ Tư pháp-Vũ Đình Hòe; 11. Bộ trưởng Bộ Canh nông-Ngô Tấn Nhơn; 12. Bộ trưởng Bộ Cứu tế - Chu Bá Phượng; 13. Bộ trưởng Bộ không bộ-Nguyễn Văn Tố; 14. Bộ trưởng Bộ không bộ-Bồ Xuân Luật (theo Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 149).

Nguồn: TS ĐẶNG KIM OANH

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

DANH DỰ

  


Danh dự là sự coi trọng, đánh giá của dư luận xã hội đối với mỗi người dựa trên giá trị tinh thần, đạo đức của người đó; là sự tự ý thức về giá trị của bản thân, sự tôn trọng và gìn giữ giá trị ấy, đặc biệt trong những bối cảnh khó khăn, trước các tình huống thử thách.


Con người chân chính rất coi trọng “lời thề danh dự”; rất xấu hổ khi “đánh mất danh dự” và cũng rất bất bình khi bị “bôi nhọ danh dự”. Không kể chức quyền to nhỏ, không kể giàu nghèo, sang hèn, không kể nghề nghiệp, giới tính,... đều có thể và cần phải tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn danh dự của bản thân mình. Cán bộ, đảng viên càng phải biết giữ gìn, trọng danh dự thì Nhân dân mới nể trọng, quý mến.


Vật chất, tiền bạc mất đi có thể làm lại, tìm kiếm được; danh dự nếu mất đi thì khó lòng lấy lại được. Vì vậy, người trọng danh dự khi chuẩn bị làm một việc gì, nhất là những việc quan trọng, thử thách, nhạy cảm thường suy nghĩ một cách thận trọng, kỹ lưỡng. Họ luôn đặt lợi ích của đất nước, của cộng đồng trên lợi ích của cá nhân. Nếu làm việc gì dù có lợi cho cá nhân nhưng ảnh hưởng đến danh dự của bản thân, làm tổn hại đến lợi ích của người khác hoặc của tổ chức thì họ quyết không làm. Danh dự của người cán bộ, đảng viên vô cùng cao quý và thiêng liêng. Người trọng danh dự thường lấy lời tuyên thệ của mình khi được đứng vào hàng ngũ đảng viên cộng sản để ngăn ngừa những phút mềm lòng trước mọi cám dỗ của cuộc sống.

Nhiều thế hệ người Việt Nam trong quá khứ từng chuyền tay nhau đọc Thép đã tôi thế đấy, từng tâm đắc, với câu nói bất hủ của nhân vật Pavel: “Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình...”. Nhiều thế hệ từng thuộc làu “Danh dự của riêng thân/ Là của chung đồng chí/ Phải giữ gìn tỉ mỉ/ Như tròng mắt con ngươi/ Đến cạn máu tàn hơi/ Không xa rời kỷ luật...”. Chính vì lẽ sống ấy, nhân phẩm, danh dự ấy mà hàng triệu đồng bào, đồng chí đã chiến đấu, hy sinh trong các cuộc kháng chiến giữ nước, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước.

Nhưng uy tín, danh dự không phải tự nhiên mà có, cũng không phải bất biến. Nó sẽ bị giảm sút, thậm chí mất đi nếu không biết giữ gìn, bảo vệ, bồi đắp. Đi vào kinh tế thị trường, không ít người đã sa ngã, đánh mất danh dự. Đáng tiếc là trong số ấy, có người từng vào sinh ra tử, không sợ gian khổ hy sinh... Họ từng được phong Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, họ không bị khuất phục trước súng đạn của quân thù nhưng lại “chết” với những “viên đạn bọc đường". Có cả những người quyền cao, chức trọng, “học cao hiểu rộng”, bằng cấp đầy mình, nhưng “nói một đàng, làm một nẻo”.


Trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước không biết giữ gìn danh dự, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, nặng về chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, không vượt qua cám dỗ của quyền lực, địa vị, tiền tài… sa ngã, suy thoái, bị xử lý kỷ luật, có người phải chịu lao lý, tù tội. Họ đã tự mình đánh mất danh dự của bản thân; làm tổn hại uy tín, thanh danh của Đảng, làm xói mòn lòng tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ. Ta càng thấm thía câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Không phải ngẫu nhiên mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo "phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự". Đồng chí cũng nhiều lần nhấn mạnh: Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất, sẽ còn mãi với thời gian; phải giữ cho được tư cách, đạo đức, danh dự của người đảng viên, người cán bộ cách mạng.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản cầm quyền và ý nghĩa hiện nay

(LLCT) - Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong lịch sử 75 năm cầm quyền, Đảng ta đã phải nhiều lần vượt qua những thách thức lớn để giữ vững vị trí của một Đảng cầm quyền. Bước sang giai đoạn giữ chính quyền và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa là một bước chuyển biến về chất, đòi hỏi Đảng phải có trí tuệ mới, phẩm chất mới. Do đó, cần quyết liệt hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống các nguy cơ mới đối với Đảng cầm quyền.

Từ khóa: Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản cầm quyền

Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ khi giành được chính quyền, trong khi phải lo đối phó thù trong, giặc ngoài, vẫn không một phút lơ là nhiệm vụ xây dựng Đảng. Người đã chỉ ra ba nguy cơ có thể dẫn tới thoái hóa, biến chất của một Đảng cầm quyền, Một là, nguy cơ sai lầm về đường lối, Hai là, chủ nghĩa cá nhân, Ba là, quan liêu xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng.

Để tránh sai lầm về đường lối, trước hết phải xây dựng Đảng về trí tuệ, làm cho Đảng vươn lên ngang tầm nhiệm vụ lịch sử mới. Trong vòng vây của đủ loại kẻ thù, hàng ngày hàng giờ phải đối phó với biết bao nguy cơ và thách thức có quan hệ đến sự tồn vong của chính quyền cách mạng, tình hình đó đòi hỏi Đảng phải có trí tuệ sáng suốt để kiên định mục tiêu, biến hóa về đối sách, khi hòa khi tiến, phân hóa và cô lập kẻ thù, tạo thời gian để củng cố chính quyền, chuẩn bị về lực lượng, dẫn dắt toàn dân đi vào cuộc kháng chiến lâu dài.

Bắt tay vào xây dựng một chế độ xã hội mới chưa từng có trong lịch sử dân tộc càng phải có tri thức mới. Sau khi lên cầm quyền, những người cộng sản dường như đã có tất cả, cái còn thiếu “chính là trình độ văn hóa của người cộng sản cầm quyền”. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải chống thói kiêu ngạo, tự mãn, cho mình là tài giỏi hơn ai hết, việc gì cũng làm được. Người nhắc nhở: phải có tinh thần cầu học, cầu tiến bộ, phải thực hiện lời dạy của V.I.Lênin: “Học, học nữa, học mãi”.

Thứ hai, đi đôi với nâng cao trí tuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng đã kịp thời đẩy mạnh chiến dịch giáo dục, bồi dưỡng về đạo đức cách mạng, tiến hành đấu tranh không mệt mỏi chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, một thứ “giặc nội xâm”, phá hoại Đảng từ bên trong. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịch liệt đả phá thói kiêu căng, đầu óc “ông tướng, bà tướng” của một số cán bộ có chức có quyền, đi tới chuyên quyền, vi phạm quyền làm chủ của người dân. Người đã viết nhiều bài viết nhắc nhở: trong một nước dân chủ thì dân là chủ, cán bộ phải là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Do đó, phải “sao cho được lòng dân” bởi “dân bất tính thì vô lập”.

Thứ ba, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, các phần tử cơ hội chủ nghĩa đã không từ một thủ đoạn nào để chui vào Đảng nhằm mưu cầu đặc quyền đặc lợi. Ở mỗi thời kỳ cách mạng, đặc biệt là ở những thời điểm cách mạng chuyển giai đoạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời mở các cuộc sinh hoạt chính trị, các cuộc vận động đổi mới, chỉnh đốn Đảng nhằm làm trong sạch đội ngũ đảng viên, đưa bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng, ra trước tòa án.

Thứ tư, phải nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra, không phải Đảng ta chỉ có thành tích và thắng lợi mà không có khuyết điểm sai lầm. Nhưng khi phát hiện ra sai lầm thì Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dũng cảm nhận sai lầm và quyết tâm sửa chữa. Hồ Chí Minh sớm chỉ rõ: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(1).

Quán triệt chỉ dạy của Người, Đại hội VI của Đảng đã thẳng thắn tự phê bình: Chúng ta đã phạm “sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội,... Đó là những biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản vừa “tả” khuynh, vừa hữu khuynh(2). Trong những sai lầm đó, có việc kéo dài quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, không quan tâm đúng mức đến lợi ích chính đáng của người lao động, làm triệt tiêu động lực của người sản xuất, nền kinh tế đất nước lâm vào trì trệ kéo dài, khó khăn thiếu thốn triền miên. Trong lúc cuộc khủng hoảng toàn diện, sâu sắc ở các nước xã hội chủ nghĩa đang diễn ra trầm trọng, những sai lầm đó đã làm cho tình hình kinh tế - xã hội của đất nước càng trở nên gay gắt.

Tuy nhiên, Đảng và Nhân dân Việt Nam không chấp nhận trì trệ, đói nghèo, đã “vượt rào” tìm tòi cách làm ăn mới. Từ tổng kết kinh nghiệm sáng tạo của quần chúng, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, thực hiện đổi mới toàn diện và triệt để; được đông đảo nhân dân hưởng ứng, công cuộc đổi mới đã thực sự trở thành một cuộc cách mạng sôi nổi của quần chúng, từng bước đạt được những thành tựu kỳ diệu.

Bài học vượt qua nguy cơ của Đảng ta ở thời kỳ này là: để khắc phục trì trệ, lạc hậu, Đảng phải luôn luôn tự đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy. Muốn thế, Đảng phải đẩy mạnh nghiên cứu lý luận kết hợp với tổng kết thực tiễn, từ thực tiễn mà kiểm tra lại nhận thức, khắc phục những quan niệm sai lầm hoặc đã lỗi thời, làm phong phú trí tuệ của mình bằng những kiến thức khoa học mới của thời đại. Để làm được như vậy, cần tạo được bầu không khí dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong tìm tòi nghiên cứu khoa học, phải theo đúng phương châm Đại hội VI của Đảng đã đề ra là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, nghĩa là đánh giá đúng thành tích nhưng cũng thấy cả những những yếu kém, sai lầm, khuyết tật, vạch rõ nguyên nhân và đề ra được biện pháp khắc phục để đổi mới và tiến lên.

2. Các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng đã bổ sung và xác định 4 nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam là: (1) Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, do điểm xuất phát thấp. (2) Nguy cơ sai lầm về đường lối, đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. (3) Nguy cơ về sự suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí. (4) Nguy cơ “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đến Đại hội IX của Đảng, nhấn mạnh: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương trình Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ những nguy cơ, thách thức đối với Đảng ta hiện nay là: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”(3).

Trong các nguy cơ đó thì nguy cơ về sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, có thể coi là nguy hiểm nhất. Đây là điều kiện dễ làm cho cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, chạy theo chức, quyền, danh, lợi, dẫn đến phai nhạt lý tưởng và chệch hướng, dễ bị “diễn biến hòa bình”. Những tệ nạn này không chừa một ai và bất kỳ cán bộ đó làm gì, ở lĩnh vực nào, ở cấp cao hay thấp, nếu cán bộ đó không kiên trì học tập, tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng thì đều có thể mắc phải. Tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, đã nêu: “qua hoạt động thanh tra đã phát hiện 670 vụ với trên 1.800 đối tượng có hành vi, biểu hiện tham nhũng với số tiền, tài sản liên quan là trên 1.000 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra 274 vụ, 429 đối tượng có dấu hiệu tội phạm tham nhũng. Cả nước có 918 người đứng đầu và cấp phó đã bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, trong đó xử lý hình sự 118 trường hợp; xử lý kỷ luật 800 trường hợp. Đến nay, tỷ lệ kê khai tài sản, thu nhập đúng thời hạn đã đạt 99,5%, công khai đạt tỷ lệ 98,3%. Qua 10 năm đã xác minh được 4.859 trường hợp, phát hiện, xử lý kỷ luật 17 người kê khai tài sản không trung thực”(4). Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng đã có tác dụng đề cao trách nhiệm của họ, đồng thời có tác dụng răn đe nhất định, nhưng thực tế hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Số người đứng đầu bị xử lý còn ít so với số lượng việc tham nhũng được phát hiện; việc khuyến khích cán bộ lãnh đạo, quản lý “chủ động từ chức vì lý do trách nhiệm” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khóa X chưa được thực hiện; còn có sự nhầm lẫn giữa xử lý người đứng đầu khi có sai phạm và xử lý trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

 Trong điều kiện mới, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, đặc biệt là tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân diễn ra rất tinh vi, phức tạp và ngày càng trở nên nghiêm trọng. Sự suy thoái, biến chất không chỉ diễn ra riêng lẻ và đối với những đảng viên thường, mà có nơi, có lúc đã trở thành số đông có tính chất tập thể, thậm chí có cả một tổ chức, một cấp ủy và xảy ra đối với cả một số cán bộ có trình độ cao, có những người giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy của Đảng, Nhà nước. Đây là nguy cơ “diễn biến bên trong” đặc biệt nguy hại không thể coi thường và đang là những thách thức lớn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân ta.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI chỉ rõ nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém của công tác xây dựng Đảng từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội là do: Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ, chưa chú trọng phát hiện và có cơ chế thực sự để trọng dụng người có đức, có tài; không kiên quyết thay thế người vi phạm, uy tín giảm sút, năng lực kém.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa lúc nào từ bỏ âm mưu và thủ đoạn thâm độc để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Chiến lược “diễn biến hòa bình” của chúng được thực hiện với những hình thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt: gây “tự diễn biến” từ bên trong để tạo cớ can thiệp; lợi dụng sơ hở, sai lầm của ta để khoét sâu; sử dụng các chiêu bài dân tộc, tôn giáo, nhân quyền,... để kích động chia rẽ, gây rối nội bộ; nhen nhóm lực lượng phản động bên trong, cấu kết với lực lượng bên ngoài để tiến hành bạo loạn, tạo cớ can thiệp vũ trang dưới nhiều hình thức. Ngoài ra, chúng còn thực hiện “diễn biến” về tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, qua con đường giao lưu, hội nhập về kinh tế, qua các mạng thông tin, để lôi kéo thanh niên ta đi chệch khỏi các định hướng giá trị của dân tộc, thực hiện “diễn biến” từ bên trong.

Bốn nguy cơ trên đang diễn biến phức tạp, đan xen nhau, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, coi đó là nguy cơ nóng bỏng trước mắt, nhưng cũng chỉ rõ: xét về lâu dài, kinh tế có phát triển cao mới có điều kiện đẩy lùi và xóa bỏ các nguy cơ khác, còn nếu để khoảng cách tụt hậu về kinh tế ngày càng xa thì đến một lúc nào đó khó tránh khỏi các vùng bùng nổ xã hội có thể đe dọa vị trí của Đảng cầm quyền.

3. Những giải pháp đẩy lùi các nguy cơ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, xây dựng Đảng, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

 Để cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng có sự chuyển biến trong thời gian tới, cần tập trung chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng; bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế, luật pháp về quản lý kinh tế - xã hội để phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, tạo sự thống nhất, tự giác, quyết tâm cao trong hành động.

Đề cao trách nhiệm của các cấp ủy đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Nâng cao năng lực, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng; tăng cường giám sát và chống tham nhũng trong các cơ quan bảo vệ pháp luật; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát hiện, điều tra và xử lý nghiêm minh, kịp thời các vụ án, vụ việc tham nhũng lớn.

Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đưa nội dung công tác phòng, chống tham nhũng vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm.

Thứ hai, có quyết tâm chính trị cao, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” , “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

  Cần nhận thức rõ rằng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cuộc chiến đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình với Đảng với Tổ quốc để thực hiện nghị quyết một cách nghiêm túc và có hiệu quả, tránh tình trạng thờ ơ vô cảm, đứng ngoài cuộc hoặc chỉ trông chờ, phán xét người khác.

Cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu các cấp phải thật sự đoàn kết, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là phải có những giải pháp đủ mạnh, những việc làm cụ thể để làm chuyển biến rõ rệt tình hình; kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”; tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc bức xúc đã được chỉ ra. Kết hợp công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình với việc xây dựng và thực hiện các cơ chế chính sách; kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; phát huy vai trò của Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải nắm chắc tình hình, thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Định kỳ sơ kết rút kinh nghiệm và có các hình thức khen thưởng kịp thời đối với những tổ chức, cá nhân làm tốt và xử lý kỷ luật đối với những nơi làm không tốt. Tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột”, khi quán triệt, triển khai Nghị quyết thì rầm rộ nhưng khi thực hiện thì tắc trách, không có tập thể cá nhân nào chịu trách nhiệm.

Trong sinh hoạt Đảng, phải đặc biệt coi trọng việc phát huy dân chủ, tự phê bình và phê bình trung thực, thẳng thắn trên tinh thần anh em, đồng chí. Tránh tình trạng thiếu dân chủ, biết sai của đồng chí mình mà không dám nói trong chi bộ, nhất là đối với đảng viên giữ cương vị có chức, có quyền, chỉ nói ở nơi khác.

Thứ ba, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thực chất là phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, các cấp ủy Đảng, các cơ quan nhà nước cần động viên, tổ chức nhân dân tham gia rộng rãi và thường xuyên vào các công việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Xóa bỏ nhận thức sai lầm cho rằng công tác vận động quần chúng chỉ là biện pháp tổ chức, động viên nhân dân thực hiện chính sách của Đảng. Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp với đời sống nhân dân, cấp ủy Đảng cần lắng nghe ý kiến nhân dân trước khi quyết định. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” phải trở thành khẩu hiệu hành động, thành phương châm công tác vận động quần chúng. Phải thực hiện đúng nguyên tắc: Chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và trình độ của nhân dân. Ngay cả trường hợp chính sách đúng rồi mà dân chưa hiểu, chưa đồng tình thì phải ra sức tuyên truyền, giải thích cho dân, biết chờ đợi dân; kịp thời điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tế cuộc sống.

Mặt khác, các cấp ủy Đảng, các cơ quan chính quyền có biện pháp tích cực giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, có ý thức và thái độ đúng đắn với nhân dân, yêu thương, gần gũi, tôn trọng, lắng nghe nhân dân; có chương trình, kế hoạch tiếp dân, giải quyết  tốt các đơn, thư khiếu tố, các yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của dân; trừng trị nghiêm minh, thích đáng những hiện tượng trù dập, ức hiếp quần chúng. Các đoàn thể nhân dân, nhất là Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ,... cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đi sâu giáo dục, bồi dưỡng, động viên đoàn viên, hội viên phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia các hoạt động chính trị, xã hội với đầy đủ ý thức trách nhiệm của người làm chủ.

Thứ tư, rèn luyện đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân

Hoạt động trong điều kiện mới, môi trường xã hội có nhiều yếu tố phức tạp hơn trước, bối cảnh trong nước và thế giới có những diễn biến rất nhanh, các thế lực thù địch lại giăng ra đủ thứ mưu mô và cạm bẫy, việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh cho cán bộ, đảng viên có ý nghĩa rất quan trọng. Trong khi đó nhiều cấp ủy và tổ chức Đảng chưa chú ý giáo dục, quản lý, kiểm tra đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu không kiên quyết khắc phục tình trạng này thì rất dễ làm thoái hóa, biến chất Đảng và Nhà nước, làm xói mòn nghiêm trọng lòng tin của nhân dân.

 Tất cả cán bộ, đảng viên dù ở cương vị công tác nào cũng phải thấy hết trách nhiệm của mình, không ngừng tự rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, khắc phục các thói quan liêu, cửa quyền, giữ gìn thanh danh, uy tín của Đảng. Phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giữ gìn đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Cán bộ càng cao càng phải gương mẫu. Các tổ chức Đảng phải có biện pháp giáo dục, bồi dưỡng, kiểm tra, quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên. Kịp thời biểu dương những cán bộ, đảng viên gương mẫu, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh những người hư hỏng về phẩm chất đạo đức, bất kể họ là ai, ở cương vị công tác nào.

Thứ năm, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ toàn diện và vững mạnh

Thực tiễn những năm gần đây càng chứng minh sâu sắc chân lý: cán bộ đóng vai trò quyết định; công tác cán bộ là công tác đặc biệt quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp, khó khăn. Cả thành tựu và những hạn chế, yếu kém đều phản ánh chất lượng của đội ngũ cán bộ của Đảng. Bởi vậy, Đảng cần phải đặc biệt chăm lo công tác cán bộ cho cả hệ thống chính trị, trên tất cả các lĩnh vực.

Cần tiếp tục đổi mới quan niệm và phương pháp tiến hành công tác cán bộ theo hướng thực sự dân chủ, tập thể, kết hợp với tập trung thống nhất theo một quy trình chặt chẽ. Có chính sách thu hút và sử dụng nhân tài, bảo vệ trí tuệ, chất xám của đất nước.

Thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ, đồng thời kết hợp tốt ba độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, tính kế thừa và phát triển trong đội ngũ cán bộ, biết khai thác mặt mạnh của mỗi loại cán bộ để bổ sung cho nhau.

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về phẩm chất, trình độ, năng lực; cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các chuyên gia, các nhà doanh nghiệp, trước hết là các cán bộ chủ chốt ở các cấp. Mỗi cán bộ phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi phẩm chất cách mạng, gương mẫu về đạo đức, lối sống trung thành với sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, kết hợp hài hòa lợi ích riêng và lợi ích chung.

Việc lựa chọn đúng người thật sự có tâm, có tầm, có tài, có đủ tiêu chuẩn chính trị và bố trí giữ trọng trách tương xứng sẽ không chỉ phát huy được năng lực, sở trường của cán bộ mà còn tác động mạnh mẽ, tạo được sự đồng thuận, “tâm phục, khẩu phục” đối với cán bộ dưới quyền. Đó chắc chắn là những người luôn phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của đất nước, toàn tâm, toàn ý với công việc, là người tuyên truyền, phổ biến, dẫn dắt nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là tấm gương để mọi người noi theo. Ngược lại, nếu lựa chọn không đúng cán bộ, bố trí cán bộ không đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo hoặc để những phần tử cơ hội, thực dụng lọt vào bộ máy của hệ thống chính trị  thì hậu quả sẽ khó lường.

Có thể nói, việc lựa chọn, bố trí, sử dụng đúng cán bộ là liệu pháp quan trọng, hữu hiệu để ngăn ngừa sự suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, là giải pháp “phòng bệnh hơn chữa bệnh” trong công tác cán bộ.

Những giải pháp trên đây nếu được thực hiện tốt chắc chắn Đảng ta sẽ có đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, xứng đáng với niềm tin yêu và mong đợi của nhân dân.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2020

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 261.

(2) Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.34-35.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.29.

(4) Thanh Loan: Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, www.thanhtra.gov.vn, ngày 14-7-2016.

nguồn : ThS Võ Châu Thảo

Khoa Xây dựng Đảng,

Trường Chính trị tỉnh Bình Dương


TÔI LÀ MỘT VỊ TƯỚNG VÀ LÀ MỘT NHÀ BÁO


Trong lịch sử báo chí Cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua, từ Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội như Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,... đều là những người thông tuệ nghề báo. Trong một lần tiếp các nhà báo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tâm sự: “Tôi là một vị tướng và là một nhà báo!”.


Nhà báo - Đại tướng Tổng Tư lệnh


“Làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng. Công việc phải khẩn trương, nắm được ý nguyện của nhân dân, phát hiện được ý đồ, âm mưu lớn nhỏ của kẻ thù. Tất cả nhằm đến phương án tốt nhất trong việc phục vụ công chúng báo chí”. Trong một bài viết tổng kết 15 năm làm báo trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về nghề làm báo như vậy.


Suốt chặng đường cách mạng, đôi vai nặng gánh việc nước, việc quân, hàng chục năm tham gia Bộ Chính trị, đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh Quân đội, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn luôn quan tâm, sử dụng báo chí để đem lại hiệu quả lớn lao trong mọi thời kỳ, ở mọi tình huống.


Trả lời câu hỏi của các đồng nghiệp thế hệ sau thời gian làm báo ở tại mặt trận Điện Biên Phủ (1954) về bút danh Chính Nghĩa-tác giả của nhiều bài bình luận mang nội dung nhận định đúng đắn tình hình địch-ta, dự đoán các tình huống chính trị-quân sự phát triển trên các chiến trường mà trực tiếp là Điện Biên Phủ rất chính xác… nhà báo Trần Kư cho biết đó là ông Hoàng Xuân Tùy.


Những bài bình luận có sức hút đối với cán bộ, chiến sĩ tại mặt trận hào hứng đọc và củng cố thêm niềm tin vào chiến thắng, đồng thời mở rộng nhãn quan chiến lược trong chiến đấu. Ông Hoàng Xuân Tùy, nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân (1953-1956) thẳng thắn bày tỏ: “Các bài đó do tôi chấp bút, nhưng tư tưởng, cái hồn của bài viết là của Đại tướng-Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.


Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thời điểm ra báo là quan trọng. Khó hơn là làm nghệ thuật. Nghĩa là làm báo phải đúng lúc, chính xác, chặt chẽ, đem lại hiệu quả cho bạn đọc. Những bài chính, phụ, ngắn, dài, nặng, nhẹ phải kết hợp hài hòa như những màu sắc của tác phẩm hội họa. Những chữ lớn, nhỏ, đứng, nghiêng... đều toát lên vai trò và hiệu quả riêng”.


Riêng với các tờ báo của Quân đội, từ khi còn ở chiến khu Việt Bắc thời điểm cách mạng còn trứng nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm chủ bút và chỉ đạo biên tập 5 số đầu tiên (từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 5 tháng 8 năm 1945) của báo Nước Nam mới thuộc Khu Giải phóng. Ông viết bài chỉ đạo cho báo Việt Nam Độc lập của Mặt trận Việt Minh khu căn cứ địa. Ông cho ra đời tờ Quân Giải phóng của Việt Nam Giải phóng quân… Khi viết bài cho các tờ báo này, ông thường ký tên là Trí Dũng. Sau hòa bình lập lại (1954) đến mãi sau này, cả lúc tuổi đã cao, sức yếu, Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn đều đặn viết nhiều bài báo...


Báo chí có thể chuyển biến con người 


Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người làm báo rất sớm. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thành (1928-2007) khi xuất bản cuốn sách về sự nghiệp báo chí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, từ năm 16 tuổi, cậu học trò Trường Quốc học Huế là Võ Nguyên Giáp đã viết bài báo đầu tiên với tựa đề “Đả đảo tên bạo chúa trường Quốc học” đăng trên báo L’Annau ở Sài Gòn vào tháng 6 năm 1927. Ngay khi đọc bài báo này, luật sư Phan Văn Trường - chủ bút báo khi đó phải thốt lên “Một cây bút mới xuất hiện lần đầu ở bản xứ này, mà có giọng văn sắc sảo như giọng văn Nguyễn Ái Quốc bên Paris”.


Hai năm sau, vì tham gia bãi khóa, phản đối nhà trường đuổi học Nguyễn Chí Diểu nên Võ Nguyên Giáp cũng bị đuổi khỏi Trường Quốc học Huế. Ông xin làm việc tại tòa báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng (tháng 4 năm 1927) và hoạt động báo chí chuyên nghiệp từ đó.


Bài viết khởi đầu trên báo Tiếng Dân ra ngày 28-9-1929, với bút danh Vân Đình, tiêu đề “Vũ trụ và tiến hóa”. Võ Nguyên Giáp phân tích thời cuộc một cách tỉnh táo và nghiêm túc. Ông trở thành một cây bút chính phụ trách chuyên mục “Thế giới thời đàm” trên tờ báo này với 27 bài đăng trên 36 số ký bút danh Vân Đình.


Từ Huế, ra Hà Nội, vừa học vừa đi dạy học tư để học lên, vừa viết báo để tuyên truyền cho cách mạng. Ông nhận thấy trở ngại lớn nhất của báo chí tiếng Việt lúc đó là khó xin cấp phép ra báo. Khi ra được báo rồi lại bị kiểm duyệt ngặt nghèo hoặc nhanh chóng bị đóng cửa. Chính quyền thực dân lúc đó để ngỏ cho báo chí tiếng Pháp được tự do, Võ Nguyên Giáp đã cùng các đồng nghiệp Nguyễn Thế Rục, Phan Tư Nghĩa, Vũ Đình Huỳnh… ra tờ báo bằng tiếng Pháp mang tên Le Travail (Lao Động); tiếp đến là tờ Le Travail ra đời.


Vừa dạy học tư ở trường tư thục Thăng Long, Võ Nguyên Giáp vừa nhận làm mọi công đoạn của tờ báo. Ông viết nhiều thể loại từ xã luận, bình luận, phóng sự đến điều tra. Ông đã đạp xe từ Hà Nội ra khu mỏ Cẩm Phả tỉnh Quảng Yên (nay là tỉnh Quảng Ninh) để viết bài về phong trào đấu tranh của công nhân mỏ. Ông trực tiếp duyệt bài, lên marquette, đọc cả morasse của tờ báo và làm cả phát hành báo mà không hề nhận tiền nhuận bút, tiền phụ cấp. Tại Hội nghị Báo giới Bắc Kỳ, Võ Nguyên Giáp được bầu làm Chủ tịch Hội.


Đều đặn viết báo khi còn công tác cho cả đến khi nghỉ hưu, trước những vấn đề thời sự của đất nước và Quân đội ông vẫn kịp thời có bài viết để thể hiện quan điểm cá nhân của mình. Trong một lần tiếp các nhà báo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tâm sự:


“Tôi với tư cách là một vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, và là một nhà báo, tôi rất vui mừng và cảm động được các nhà báo đến thăm, chúc mừng và nhắc lại một thời làm báo của tôi. Báo chí là một lực lượng mạnh, có thể tạo nên sự chuyển biến con người. Báo chí phải tích cực tham gia vào công tác tư tưởng, xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ, phổ biến kiến thức mới trong nhân dân, trên cơ sở đó xây dựng một nước Việt Nam anh hùng nhưng giàu có”.


Trong một dịp khác, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chia sẻ: “Nghề báo là phải lao tâm, tổn trí, gian khổ. Nhưng được đền bù là người đọc”.