Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

Đảng bộ thành phố Hà Nội tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

 Trong thời gian qua, Đảng bộ thành phố Hà Nội luôn đặc biệt coi trọng việc phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Theo đó, tăng cường phát huy dân chủ ở cơ sở, gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là góp phần quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, hiệu quả của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong giai đoạn mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng thăm hỏi, động viên người dân có đất trong diện giải phóng mặt bằng phục vụ dự án Vành đai 4 - vùng Thủ đô Hà Nội tại xã Hồng Hà (huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội)_Nguồn: hanoimoi.vn

Đẩy mạnh phát huy dân chủ, thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết

Đảng bộ thành phố Hà Nội luôn phát huy mạnh mẽ dân chủ trong việc nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố thật sự trong sạch, vững mạnh. Đại hội đại biểu lần thứ XVII của Đảng bộ thành phố Hà Nội đã nêu lên năm bài học kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, trong đó có bài học: “Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn liền với kỷ cương, gắn bó mật thiết, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lắng nghe, tiếp thu ý kiến xây dựng và phản biện của nhân dân để kịp thời bổ sung, điều chỉnh chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp, gắn kết chặt chẽ, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ theo phương châm “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”(1). Phát huy bài học kinh nghiệm trên, những năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn quan tâm, coi trọng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị của Thủ đô.

Thành ủy Hà Nội luôn quán triệt, nhận thức sâu sắc và tập trung chỉ đạo thực hiện tốt, có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(2), thống nhất, xuyên suốt trong thảo luận, quyết định chủ trương, chính sách của thành phố; chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân Thủ đô; lựa chọn các vấn đề mới, khó, những vấn đề nhân dân quan tâm, các vấn đề nổi cộm, phức tạp để chỉ đạo thực hiện quyết liệt trên tinh thần lấy “dân làm gốc”, làm trung tâm, đặt quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Các cấp ủy của thành phố Hà Nội luôn nhận thức việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở là nhằm góp phần xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân. Thành ủy luôn cầu thị, lắng nghe, xây dựng chủ trương, chính sách xuất phát từ chính nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, lợi ích hợp pháp của nhân dân; bám sát các quan điểm Đại hội XIII của Đảng, mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ cuộc sống, từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Việc xây dựng chủ trương, nghị quyết của Thành ủy đều xuất phát từ chính thực tiễn lợi ích hợp pháp và nhu cầu chính đáng của nhân dân và được xây dựng, ban hành trên cơ sở nền tảng của việc phát huy dân chủ, kết tinh trí tuệ của tập thể, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng bộ, toàn thể nhân dân Thủ đô để phục vụ đời sống nhân dân tốt hơn; đặc biệt, chủ trương, chính sách lớn của Thành ủy đều được lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, của các nhà khoa học, chuyên gia, các tầng lớp nhân dân trên địa bàn để hoàn thiện chủ trương, chính sách. Theo đó, Thành ủy Hà Nội đã xây dựng được chủ trương, nghị quyết lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn, được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thủ đô đồng thuận ủng hộ, nghiêm túc chấp hành, chung sức, đồng lòng thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển Thủ đô; đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ thành phố nhanh chóng đi vào thực tiễn cuộc sống.

Từ đầu nhiệm kỳ 2020 - 2025 đến nay, nhằm giải quyết những vấn đề cấp thiết mà thực tiễn đặt ra và tạo động lực mới cho Thủ đô phát triển cả trước mắt và lâu dài, Thành ủy Hà Nội đã đề ra những giải pháp đồng bộ, tạo bước đột phá ở tất cả các khâu của công tác cán bộ, để nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ các cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển của Thủ đô(3).

Gắn thực hành dân chủ ở cơ sở với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Đảng bộ Hà Nội xác định mục tiêu: Gương mẫu xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy ý chí, phát huy truyền thống nghìn năm văn hiến, anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Việc mở rộng dân chủ trong toàn Đảng bộ được thực hiện bằng nhiều hình thức; đồng thời, mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tránh các biểu hiện “dân chủ hình thức” hoặc lợi dụng “tự do”, “dân chủ” để làm trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu tới lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Để mở rộng, phát huy dân chủ trong Đảng, Thành ủy Hà Nội xác định nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là phải đẩy mạnh thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng(4) về tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng bộ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từ thành phố đến cơ sở. Đây chính là điều kiện tiền đề, cơ sở quan trọng để thực hiện hiệu quả việc tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Thành ủy Hà Nội thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, gắn bó mật thiết, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng; lắng nghe, tiếp thu ý kiến xây dựng và phản biện của nhân dân để kịp thời bổ sung, điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, Thành ủy Hà Nội và các cấp ủy luôn quan tâm đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, trên cơ sở quán triệt và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giám sát, rút kinh nghiệm; phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các vi phạm, nhất là những vấn đề nổi cộm, bức xúc mới phát sinh. Tăng cường mở rộng dân chủ trong sinh hoạt đảng, nội dung bàn bạc tại các hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Ban Thường vụ Thành ủy và Thường trực Thành ủy đều được trao đổi, thảo luận dân chủ, thẳng thắn, tập trung, thể hiện được trách nhiệm và trí tuệ của tập thể, của từng cá nhân; các vấn đề được kết luận rõ ràng, những nội dung quan trọng được cụ thể hóa, kịp thời chỉ đạo triển khai thực hiện.

Thành ủy Hà Nội luôn đặc biệt quan tâm chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, quy trình công tác trong toàn hệ thống chính trị thành phố, bảo đảm tính hiệu quả, khoa học, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng thời, gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc; tập trung kiểm tra, giám sát thực hiện chức trách, nhiệm vụ, nhất là trách nhiệm người đứng đầu và những lĩnh vực, địa bàn dễ nảy sinh tham nhũng, tiêu cực.

Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đã tạo ra bầu không khí dân chủ, cởi mở, thực hiện tốt quyền làm chủ của cán bộ, đảng viên và nhân dân; từ đó, tạo thêm động lực thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Cùng với đó, Thành ủy Hà Nội chú trọng chỉ đạo tăng cường thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; quyết liệt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; ủy ban nhân dân các cấp tích cực đổi mới trong chỉ đạo, điều hành theo hướng công khai, minh bạch gần dân, sát dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân. Thành ủy Hà Nội chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội; góp ý xây dựng Đảng, chính quyền theo các quyết định của Bộ Chính trị và Thành ủy; qua đó, kịp thời giải quyết những vấn đề mới phát sinh, gây bức xúc trong nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; đồng thời, chỉ đạo tăng cường xây dựng các quy chế phối hợp giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội gắn với thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo”; tạo khí thế thi đua sôi nổi, sức lan tỏa rộng khắp, góp phần thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ chính trị của thành phố.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Trần Sỹ Thanh chủ trì buổi tiếp công dân_Nguồn: hanoimoi.vn

Đẩy mạnh thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và trong công tác cán bộ

Thành ủy Hà Nội đề ra yêu cầu có tính nguyên tắc trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị các cấp, đó là phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Theo đó, công tác đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy theo các nghị quyết của Đảng được tiến hành đồng bộ, hiệu quả, nhận được sự đồng thuận cao của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân; bước đầu đã đạt được những kết quả rõ nét, tạo ra hiệu ứng tích cực, toàn diện trong cả hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở, góp phần tạo sức lan tỏa để thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của thành phố.

Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII đã khẳng định: Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII và Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XI được triển khai thực hiện nghiêm túc, bài bản, khoa học với nhiều cách làm đổi mới, sáng tạo, dân chủ, tạo được sự thống nhất, đồng thuận cao của cán bộ, đảng viên và nhân dân; sau sắp xếp, tổ chức, bộ máy của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở đồng bộ, tinh gọn hơn, hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng lên rõ rệt.

Từ khi mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở thành phố Hà Nội được sắp xếp tinh gọn, phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đã có nhiều đổi mới; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng và năng lực điều hành, quản lý của chính quyền được nâng lên rõ rệt. Thành ủy đã chỉ đạo thực hiện tốt việc mở rộng, phát huy dân chủ trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ; xác định rõ dân chủ trong công tác cán bộ là mục tiêu, yêu cầu, nội dung có tính bắt buộc được thể chế hóa trong quy chế làm việc và các quy định, quy chế về công tác cán bộ của Thành ủy. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp đã cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Trung ương và của Thành ủy Hà Nội. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XVII của Đảng bộ thành phố Hà Nội, Thành ủy Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 31-5-2021, về “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và những năm tiếp theo”; đồng thời, cơ bản hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung đồng bộ hệ thống quy chế, quy định về công tác cán bộ bảo đảm ngày càng sát thực tiễn, công khai, minh bạch, dân chủ(5). Có thể khẳng định, việc thể chế hóa về công tác cán bộ ngày càng được đổi mới, hoàn thiện theo hướng mở rộng dân chủ hơn; các khâu, các bước trong quy trình công tác cán bộ, như đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bầu cử, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực theo hướng mở rộng công khai, dân chủ, khách quan, minh bạch, chính xác, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp. Công tác cán bộ đã có những có sự chuyển biến rõ nét, ngày càng đổi mới, nền nếp, bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng và đạt được nhiều kết quả quan trọng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn mới. Đội ngũ cán bộ Thủ đô thể hiện tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Những kết quả đạt được

Thành ủy Hà Nội ý thức việc đổi mới tư duy, nhận thức, nhận diện đầy đủ lợi thế, thách thức, mâu thuẫn, yếu kém, xác định đúng vấn đề, mục tiêu quan trọng, phương hướng phát triển của Thủ đô; từ đó, đưa ra được một số mô hình đổi mới, có tính sáng tạo, đột phá; quyết liệt đổi mới trong xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy dân chủ ở cơ sở thực sự là động lực, là nhân tố quan trọng giúp Hà Nội đạt được những kết quả nổi bật.

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 6-1-2012, của Bộ Chính trị, “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020”, kinh tế của Hà Nội duy trì phát triển và đạt mức tăng trưởng khá; tổng sản phẩm trên địa bàn tăng bình quân 6,83%, gấp 1,15 lần mức tăng chung của cả nước (5,95%); GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 123,7 triệu đồng (gấp 2,3 lần so với năm 2010). Năm 2021, do Hà Nội phòng, chống hiệu quả dịch bệnh COVID-19, kinh tế tăng trưởng đạt 2,92%; GRDP/người đạt cao. Mặc dù chỉ chiếm 1% về diện tích, 8,5% về dân số, nhưng Thủ đô Hà Nội đã đóng góp trên 16,2% về GDP, 19,1% về thu ngân sách nhà nước và 8,1% trong tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả nước. Chất lượng cuộc sống của nhân dân Thủ đô không ngừng được nâng lên, diện mạo của Thủ đô có nhiều đổi thay, văn minh, hiện đại hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được quan tâm, thực hiện có hiệu quả; năng lực, phương thức lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực.

Từ năm 2017 đến tháng 6-2022, các quận, huyện, thị xã có 8.796 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, 19.612 ý kiến góp ý xây dựng chính quyền; cấp xã có 47.447 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, 75.697 ý kiến góp ý xây dựng chính quyền; có 38.714 lượt ý kiến góp ý cho cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên các cấp. Để tăng cường việc tiếp thu các ý kiến của nhân dân, thắt chặt mối quan hệ mật thiết, bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, Thành ủy Hà Nội đã chỉ đạo duy trì tốt các hội nghị tiếp xúc, đối thoại theo Quyết định số 2200-QĐ/TU, ngày 25-5-2017, của Ban Thường vụ Thành ủy. Từ năm 2017 đến nay, cấp thành phố đã tổ chức được 18 hội nghị tiếp xúc, đối thoại giữa đồng chí Bí thư Thành ủy, Thường trực Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn thành phố. Cấp huyện định kỳ tổ chức được 210 hội nghị; có 47.674 lượt người tham gia, với 8.540 lượt ý kiến góp ý, kiến nghị, 8.403 lượt ý kiến được cấp ủy, chính quyền tiếp thu, trả lời theo quy định (chiếm 98,4%). Cấp xã tổ chức được 2.984 hội nghị; có 281.764 lượt người tham gia, với 42.591 lượt ý kiến góp ý, kiến nghị; có 41.423 lượt ý kiến được cấp ủy, chính quyền tiếp thu, trả lời (chiếm 97%).

Cán bộ, chiến sĩ cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội ra quân bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp tết Nguyên đán 2023_Ảnh: TTXVN

Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh để phục vụ tốt hơn người dân, tổ chức và doanh nghiệp, đạt nhiều kết quả nổi bật, được Trung ương ghi nhận, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đồng tình ủng hộ. Chỉ số cải cách hành chính ((PAR Index) của thành phố luôn xếp trong tốp 10 tỉnh/thành phố cao nhất cả nước; Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) và Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) của thành phố được cải thiện rõ rệt (năm 2021 Chỉ số SIPAS đứng thứ 30/63; Chỉ số PAPI đứng thứ 9/63). Với mục tiêu, phương châm “lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước các cấp”, các chỉ số liên quan đã có sự cải thiện, tăng 10,58% (so với năm 2017 là 76,53%, đến năm 2021 là 87,11%), trong đó Chỉ số hài lòng về công chức có tỷ lệ tăng cao nhất là 12,55%.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện phát huy dân chủ ở cơ sở, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Đảng bộ thành phố Hà Nội vẫn còn một số khó khăn, hạn chế: 1- Nhận thức về dân chủ và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn hạn chế, chưa đầy đủ và thiếu hệ thống, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và bảo đảm kỷ luật, kỷ cương; hiện nay, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Thủ đô nhận thức về dân chủ còn phiến diện, nhất là về thực hành dân chủ trong Đảng; 2- Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng ở một số cấp ủy, tổ chức đảng có lúc còn chưa nghiêm. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là ở cơ sở còn thấp; cá biệt, có cấp ủy mất vai trò lãnh đạo, giảm sức chiến đấu, để xảy ra những vụ, việc nổi cộm, phức tạp, trở thành “điểm nóng”; cấp ủy cấp trên trực tiếp chưa kịp thời có giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục. Sinh hoạt chi bộ ở một số đơn vị còn hình thức, hiệu quả thấp. Tính chiến đấu, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hạn chế; 3- Ý thức, thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa tốt, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Trong một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố ở một số cơ sở còn hạn chế; công tác vận động quần chúng có nơi, có việc chưa đáp ứng được yêu cầu, nội dung, hình thức vận động chưa phong phú, chưa sát đối tượng, nên đôi khi hiệu quả thấp. Việc tổ chức đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố có nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao; 4- Công tác xây dựng và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận ở một số cấp ủy chưa kịp thời, hiệu quả thấp. Chỉ đạo triển khai xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở có nơi còn mang tính hình thức. Việc thu hút, tập hợp, vận động nhân dân tham gia các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố ở một số nơi chưa hiệu quả, thiếu thực chất, còn nặng về bề nổi, chưa thực sự sát với nhiệm vụ chính trị và đòi hỏi của nhân dân; sinh hoạt định kỳ ở cơ sở còn hình thức, nội dung chưa phong phú.

Một số bài học kinh nghiệm

Một là, luôn quán triệt sâu sắc dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Thủ đô, đặc biệt là trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố trong sạch, vững mạnh; xác định đó là nhiệm vụ quan trọng, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong mọi hoạt động, luôn đề cao tinh thần phục vụ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường đối thoại, tháo gỡ khó khăn từ cơ sở, củng cố niềm tin của nhân dân đối với cấp ủy và chính quyền các cấp.

Hai là, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, thực hiện việc lãnh đạo hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố dựa trên cơ sở vận dụng và thực hiện có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, gần dân, sát dân, tin dân, trọng dân, dựa vào dân, phát huy sức dân để chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tập trung phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; chủ động phát hiện những vấn đề mâu thuẫn phức tạp, nảy sinh trong nội bộ nhân dân, kịp thời có biện pháp giải quyết, không để phát sinh “điểm nóng”; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc có trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của xã hội để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố trong sạch, vững mạnh, củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, nhận thức sâu sắc, xác định rõ trách nhiệm, phát huy tốt vị thế, vai trò của Thủ đô với cả nước. Phải đặc biệt chăm lo và chú trọng làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện đồng bộ và gắn với kiện toàn, củng cố bộ máy chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố. Phát huy dân chủ trong toàn bộ hệ thống chính trị, trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, giữ vững sự ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

Bốn là, tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng bộ thành phố; xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị các cấp; phát huy dân chủ và sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân Thủ đô, huy động có hiệu quả mọi nguồn lực tập trung cho đầu tư phát triển của thành phố. Kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết, hợp tác, trách nhiệm của Đảng bộ thành phố, sự đồng thuận của nhân dân, khơi dậy lòng tự hào, ý chí, khát vọng vươn lên, tạo động lực và không khí dân chủ, phấn khởi trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra là xây dựng Thủ đô Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”./.

-------------------------------

(1) Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVI, tại Đại hội đại biểu lần thứ XVII của Đảng bộ thành phố Hà Nội.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 173
(3) Như: Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 31-5-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 22-2-2022, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 20-9-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2021 - 2025”; Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 20-9-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Đề án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ trên địa bàn thành phố Hà Nội”; Nghị quyết số 07-NQ/TU, ngày 20-9-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Chủ trương triển khai Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô”; Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 7-4-2022, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Hội nghị chuyên đề Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội khóa XVII”; Nghị quyết số 15-NQ/TU, ngày 31-8-2022, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Hội nghị chuyên đề Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội khóa XVII”.
(4) Như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII; Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14-5-2011, của Bộ Chính trị, về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”;  Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
(5) Như: Quy định số 04-QĐ/TU, ngày 11-8-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, “Về quản lý cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 07-QĐ/TU, ngày 17-11-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, “Về luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ”; Quy định số 08-QĐ/TU, ngày 15-3-2022, của Ban Thường vụ Thành ủy, “Về công tác quy hoạch cán bộ”; Quyết định số 1841-QĐ/TU, ngày 28-10-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Việc ban hành Quy định đánh giá, xếp loại hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội”; Quyết định số 3251-QĐ/TU, ngày 16-8-2022, của Ban Thường vụ Thành ủy, “Về đánh giá, xếp loại cán bộ hằng tháng”; Quy định số 05-QĐ/TU, ngày 16-8-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, “Về trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác đào tạo, bồi dưỡng”; Quy định số 3543-QĐ/TU, ngày 29-8-2022, của Ban Thường vụ Thành ủy, “Về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội”.

PHÒNG, CHỐNG PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Trong giờ phút thiêng liêng được kết nạp vào Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều thề trước cờ Đảng và hình ảnh lãnh tụ, suốt đời đấu tranh phấn đấu theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành và nghiêm chỉnh thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ gìn kỷ luật Đảng và phẩm chất, đạo đức của người cách mạng. Đó là lời thề danh dự định hướng rèn luyện, hành động của mỗi đảng viên, cán bộ.
Suốt các thời kỳ đấu tranh cách mạng, tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ đã thực hiện trọn vẹn lời thề đó, điều này có ý nghĩa quyết định sức chiến đấu, danh dự và uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Sự phấn đấu, hy sinh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, đảng viên đã cổ vũ, đoàn kết toàn dân tộc: giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của lịch sử dân tộc; đi tới toàn thắng trong các cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân, đế quốc vì hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc; thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
"Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng".
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có những thành công căn bản và quan trọng, bảo đảm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Song công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhất là một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
"Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc".
Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (10/2016). Biểu hiện hàng đầu của sự suy thoái đó là: "Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".
Suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng là điều nguy hiểm nhất với sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Không chỉ phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mà một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện "Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái" và những biểu hiện sai trái khác. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị là căn bản và có ý nghĩa quyết định bảo đảm bản chất cách mạng, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng là điều nguy hiểm nhất với sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Vì vậy, phải đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh đó càng đòi hỏi sự trong sạch trong nội bộ Đảng, phải ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
Cách mạng và dân tộc Việt Nam từ năm 1930 đến nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã và đang phát triển trên con đường đúng đắn với những thắng lợi và thành tựu to lớn. Vì sao với hiện thực rõ ràng như vậy vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội? Cần thiết phải làm rõ nguyên nhân.
Có những người bị chi phối bởi quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho rằng sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự thật là, đó là sự tan vỡ của một mô hình với những hạn chế và khuyết điểm hoàn toàn có thể điều chỉnh, sửa chữa được.
Chính sự phản bội và nhân danh tư duy chính trị mới đã phủ nhận thành quả vĩ đại của chủ nghĩa xã hội, đưa các nước đó rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã sửa chữa những khuyết điểm của mô hình cũ bằng đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và đổi mới thành công đã làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã tổng kết điều đó. Đặc biệt, tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam công bố năm 2021 là sự phát triển quan trọng nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần phải quán triệt và nhận thức sâu sắc những tổng kết có giá trị khoa học và hiện thực của Đảng trong từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đó là điều có vai trò quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và đổi mới thành công đã làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý luận, tư tưởng đó quyết định bản chất cách mạng, khoa học, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của Đảng và cũng quyết định ý chí, lý tưởng cách mạng và phẩm chất chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng nhiều lần nhấn mạnh, học tập, nghiên cứu nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là thuộc lòng câu chữ mà phải nắm vững giá trị mang tính quy luật, phương pháp luận khoa học để vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển.
Bộ Chính trị khóa XII chủ trương tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán, bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Qua cuộc đấu tranh đó để toàn Đảng và nhân dân cảnh giác và góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng, lý luận, tăng sức đề kháng trong Đảng và toàn xã hội. Những người phai nhạt lý tưởng, dao động, giảm sút niềm tin, hoặc bị ảnh hưởng từ những luận điệu sai trái, thù địch, cố tình phụ họa, tiếp tay cho kẻ địch, hoặc do trình độ nhận thức hạn chế, bản lĩnh chính trị không vững vàng, ít chịu học tập, rèn luyện, tu dưỡng và cả sự chủ quan, kiêu ngạo, cố tình quay lưng lại với sự thật.
Vì vậy phải chú trọng công tác giáo dục, học tập, nghiên cứu lý luận chính trị một cách căn bản, sâu sắc, có hệ thống. Giáo dục sâu sắc, thiết thực lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng củng cố sức mạnh của Đảng về tư tưởng, chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Phòng ngừa sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện tính tiên phong, đức hy sinh và phẩm chất đạo đức cách mạng. Hiểu biết sâu sắc đất nước, dân tộc mình, tự hào, tự tôn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng và dân tộc và không ngừng học tập. Học tập để nâng cao trình độ trí tuệ, hiểu biết lý luận, nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để hành động tự giác, có hiệu quả.
Lý tưởng, mục tiêu của Đảng rất rõ ràng là độc lập dân tộc và xây dựng Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Là cán bộ, đảng viên của Đảng phải tuyệt đối trung thành và phấn đấu vì lý tưởng cao cả đó. Làm sao để trong Đảng không có những đảng viên phai nhạt lý tưởng, càng không thể có đảng viên xa rời tôn chỉ mục đích của Đảng. Hãy luôn luôn ghi nhớ lời thề khi gia nhập Đảng.

Học tập tấm gương đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.

 Trong quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã có nhiều cống hiến quan trọng, góp phần làm nên các chiến thắng lịch sử vĩ đại của dân tộc. Đồng chí đã để lại cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình tấm gương sáng, tình cảm sâu sắc cùng những kinh nghiệm quý, giúp tỉnh Quảng Bình vượt qua nhiều khó khăn, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

1- Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân ở xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch (nay thuộc thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình), được dìu dắt bởi những đảng viên trung kiên đầu tiên của quê hương Quảng Trạch, đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đến với cách mạng bằng sự nhiệt huyết và tình yêu quê hương đất nước trước cảnh đất nước bị kẻ thù xâm lược. Giai đoạn 1938 - 1948, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên tham gia hoạt động cách mạng ở quê nhà và gây dựng cơ sở trong Việt kiều ở Thái Lan và Lào. Năm 1950, đồng chí được điều động về nhận công tác và lần lượt kinh qua các chức vụ tại cơ quan Tổng cục Chính trị. Trải qua 2 cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như sau ngày đất nước thống nhất trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Đặc phái viên Chính phủ thực hiện Chương trình 327 “trồng bảo vệ rừng phòng hộ”, tham gia chỉ đạo xây dựng đường Hồ Chí Minh và cho đến khi nghỉ hưu, đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên luôn phát huy phẩm chất ngời sáng của người cộng sản kiên trung, người lính cụ Hồ, để lại nhiều dấu ấn trong sự nghiệp. Phẩm chất sáng ngời của người lính cụ Hồ và dấu ấn sâu sắc nhất, nổi bật nhất khiến ông trở thành huyền thoại thể hiện rõ nét trong những năm tháng khi ông đảm nhận nhiệm vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Đoàn 559; Bí thư Ban cán sự cố vấn Đảng, quân, dân, chính, kiêm Tư lệnh Bộ đội tình nguyện ở Trung Hạ Lào từ năm 1967 đến tháng 5-1976.

Tổng Bí thư Lê Duẩn và Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đồng Sỹ Nguyên thăm công trường xây dựng cầu Thăng Long, cầu hữu nghị Việt Nam - Liên Xô (năm 1983)_Ảnh: TTXVN

Dấu ấn của đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã khắc ghi trên từng cung đường, từng trọng điểm đánh phá của đế quốc Mỹ. Đồng chí đã để lại trong lòng hàng vạn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, bộ đội tham gia lao động, chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn một tình yêu thương, lòng kính trọng vô bờ bến. Trên cương vị là Tư lệnh Đoàn 559, với tinh thần táo bạo, kịp thời, sâu sát với thực tiễn, đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã đưa tuyến giao thông chiến lược Trường Sơn trở thành một hệ thống giao thông vận tải lớn với mạng lưới đường - cầu nhiều trục dọc bắc - nam, đông - tây Trường Sơn xuyên cả 3 nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia; nhiều trục ngang nối 2 sườn đông - tây, nối các chiến trường, tạo nên một hệ thống giao thông vận tải quân sự lớn nhất với tổng chiều dài lên đến 17.000km, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu dài 1.400km, đường sông dài 600km, mạng thông tin đường dây tải ba dài 1.350km. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã thực hiện thắng lợi vai trò chuyển tải cơ sở vật chất, vũ khí, cơ động các lực lượng quân binh chủng với quy mô ngày càng lớn, thỏa mãn yêu cầu, bảo đảm cho chiến trường đánh to, thắng lớn. Đặc biệt, tuyến đường đã góp phần rất quan trọng vào các quá trình thắng lợi của chiến tranh giải phóng miền Nam, nhất là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã trở thành một biểu tượng cao đẹp trong trang sử hào hùng của dân tộc. Huyền thoại về đường Trường Sơn mãi trường tồn trong trang sử oanh liệt của dân tộc ta, của quân đội ta. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên sẽ mãi là một phần không thể thiếu của Trường Sơn huyền thoại - một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo đức độ và tài năng, một người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định, cả cuộc đời chiến đấu, cống hiến, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên là tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, tinh thần dũng cảm, nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng, luôn tận tụy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Dù ở bất kỳ cương vị công tác nào, đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, là người đảng viên cộng sản kiên trung, gương mẫu, thẳng thắn, trung thực, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trên mọi cương vị chiến đấu, công tác và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên luôn thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; sự thao lược, quyết đoán, gan dạ, mưu trí trong lãnh đạo, chỉ huy trên các chiến trường, các mặt trận. Đồng chí Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên là một cán bộ có tầm tư duy chiến lược, sâu sát thực tế, rất sắc sảo trong chỉ đạo. Khi được giao phụ trách bất kể lĩnh vực nào, từ chỉ huy tham mưu, chính trị, hậu cần, kinh tế đồng chí đều có những phát hiện, đổi mới mang tính chiến lược. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn ghi nhớ và mãi tự hào về một vị chỉ huy dũng cảm, một tư lệnh chiến trường tài năng xuất chúng, nhưng rất bình dị, gần gũi với những câu chuyện đã trở thành giai thoại, như quá trình xây dựng “Đường kín” Tây Trường Sơn - một kỳ tích của quân và dân ta.

2- Đối với quê hương Quảng Bình, đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên luôn dành tình cảm sâu nặng và sự quan tâm đặc biệt. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, là địa bàn chịu nhiều bom đạn đánh phá của đế quốc Mỹ, đồng thời cũng là nơi có vai trò quan trọng trên tuyến vận tải Trường Sơn, tỉnh Quảng Bình đã thường xuyên nhận được sự theo dõi, chỉ đạo sâu sát của vị tướng Tư lệnh bộ đội Trường Sơn. Trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã nhiều lần về thăm và làm việc với tỉnh Quảng Bình. Trong những lần về thăm quê hương và những lần đoàn cán bộ của tỉnh đến thăm đồng chí, đồng chí đều có những lời chỉ bảo, căn dặn, ý kiến đóng góp tâm huyết đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng đảng và hệ thống chính trị để từng bước xây dựng tỉnh Quảng Bình trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Khắc ghi những lời căn dặn của đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình đã không ngừng củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn, phát huy truyền thống của quê hương “Hai giỏi”, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Bình theo các mục tiêu mà đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh qua các nhiệm kỳ đề ra. Đến nay, sau gần 34 năm tái lập tỉnh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Kinh tế đi vào ổn định, đạt tốc độ tăng trưởng khá, nhất là trong thời gian qua, mặc dù chịu ảnh hưởng của thiên tai, suy thoái kinh tế toàn cầu, sự cố môi trường biển, dịch bệnh COVID-19, nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn đạt trên 6%/năm, riêng năm 2022 đạt gần 8%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, công nghiệp giữ vai trò là ngành kinh tế trọng điểm, nhiều ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế được hình thành. Ngành du lịch có nhiều khởi sắc và dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; thương hiệu du lịch tỉnh Quảng Bình được khẳng định ở tầm quốc gia, khu vực, là điểm sáng trên bản đồ du lịch Việt Nam. Đặc biệt, sau 2 năm chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh COVID-19, năm 2022, du lịch tỉnh Quảng Bình đã chủ động bắt nhịp, đón đầu xu hướng, nhanh chóng phục hồi, phát triển trong điều kiện mới, tổng lượng khách du lịch đạt hơn 2 triệu lượt khách, gấp 3,5 lần so với cùng kỳ.

Kết cấu hạ tầng ngày càng đồng bộ, thu ngân sách đạt khá, xây dựng nông thôn mới đạt được kết quả quan trọng. Trong xu thế hội nhập, với các cơ chế, chính sách rộng mở, thông thoáng, tỉnh Quảng Bình ngày càng thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến nghiên cứu, khảo sát, triển khai nhiều dự án trọng điểm, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được chú trọng. Lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, giải quyết việc làm, giảm nghèo đạt nhiều kết quả quan trọng; công tác an sinh xã hội được quan tâm. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; công tác đối ngoại được đẩy mạnh.

Công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị được triển khai tích cực, toàn diện. Quán triệt sâu sắc các quan điểm của Trung ương và trên cơ sở thực tiễn của địa phương, Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đã đề ra những chủ trương đúng đắn, có những bước đi và biện pháp thích hợp để xây dựng Đảng bộ đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh bước đầu đạt kết quả quan trọng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng bộ. Tỉnh cũng đã tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, phát triển và nâng cao chất lượng đảng viên(1). Công tác nội chính, kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng được tăng cường; công tác dân vận có nhiều đổi mới...

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thăm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Bình_Ảnh: TTXVN

Có thể khẳng định, đến nay tỉnh Quảng Bình đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và diện mạo, với những kết quả toàn diện, tích cực, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, sự phát triển của tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, truyền thống văn hóa, lịch sử, điều kiện tự nhiên. Kinh tế của tỉnh còn gặp một số thách thức về hiệu quả, sức cạnh tranh, sự phát triển bền vững. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng, điều hành của chính quyền cơ sở có việc còn thiếu nhạy bén, chủ động. Tính chủ động, đổi mới sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ cán bộ, công chức có mặt chưa cao. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao... Những hạn chế nói trên đặt ra cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà những nhiệm vụ nặng nề trong thời gian tới, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm cao hơn nữa với các giải pháp thiết thực để khắc phục trên con đường phấn đấu thực hiện mục tiêu đưa tỉnh Quảng Bình trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Bắc Trung Bộ.

Học tập tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, tinh thần dũng cảm, nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng, luôn tận tụy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên; phát huy truyền thống của quê hương và những thành quả đã đạt được để xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, trong thời gian tới, cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Quảng Bình sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tập trung thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 12-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, ngày 16-1-2012, “Về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2018, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,” gắn với Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””. Trong đó, chú trọng đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ, lấy công tác cán bộ làm khâu đột phá trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cốt cán có đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đặc biệt là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đề cao ý thức đổi mới sáng tạo trên cơ sở sâu sát thực tiễn, gắn bó mật thiết với nhân dân. Kiện toàn tổ chức bộ máy, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế của hệ thống chính trị. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nội chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia gắn với thực hiện các nghị quyết chuyên đề, các khâu đột phá của tỉnh. Tập trung triển khai đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, các điểm nghẽn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư trong sản xuất, kinh doanh.

Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có lợi thế; đưa công nghiệp, du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm và mũi nhọn; tập trung xây dựng các khu kinh tế, nhất là khu kinh tế Hòn La sớm trở thành khu kinh tế tổng hợp trong vùng kinh tế động lực nam Hà Tĩnh - bắc Quảng Bình. Quan tâm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và miền núi, nhất là về hạ tầng giao thông, điện lưới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bà con.

Tập trung chỉ đạo cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; khuyến khích phát triển các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, sản xuất theo chuỗi giá trị; nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế tập thể, hợp tác xã. Quan tâm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển hợp tác xã và đẩy mạnh thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP).

Thực hiện quyết liệt, bứt phá, đổi mới sáng tạo các giải pháp xây dựng ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Huy động tổng hợp các nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại. Đổi mới công tác xúc tiến đầu tư, tập trung thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn lớn đầu tư các dự án lớn có tính lan tỏa, tạo thành chuỗi sản xuất có giá trị và hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, bền vững.

Thứ ba, tiếp tục chú trọng ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao gắn với đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ, đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chú trọng phát hiện, đổi mới chế độ tuyển dụng, trọng dụng nhân tài; phát huy có hiệu quả vai trò của các nhà khoa học, chuyên gia. Xây dựng cơ chế, chính sách trọng dụng nhân tài gắn với khuyến khích bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đồng thời, quan tâm xây dựng, phát triển văn hóa để văn hóa thực sự đứng ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; gắn các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa và xây dựng con người với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng đơn vị, địa phương. Xây dựng môi trường sống lành mạnh, an ninh, an toàn, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, có giải pháp hỗ trợ giảm nghèo phù hợp cho từng nhóm đối tượng; quan tâm đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người, những địa bàn khó khăn, người có công, gia đình chính sách và các đối tượng yếu thế trong xã hội.

Thứ tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư có chất lượng, tạo việc làm có năng suất, mang lại thu nhập cao và cơ hội nghề nghiệp tốt cho người lao động; phát huy vai trò của kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 03-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chú ý hơn nữa trong phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã nhằm tạo nhiều việc làm bền vững và thu nhập ổn định cho người dân; tăng cường hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên; chú trọng bảo vệ môi trường và phát triển rừng; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ năm, tăng cường quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, biển, đảo; không ngừng củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân; tăng cường công tác quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới, góp phần tạo môi trường thuận lợi, an toàn cho các doanh nghiệp, người dân an tâm sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đấu tranh phòng, chống, triệt phá các loại tội phạm; bảo đảm an toàn giao thông; phòng, chống cháy nổ... Tăng cường công tác đối ngoại, nhất là quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với các địa phương của nước bạn Lào, góp phần xây dựng biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Học tập tấm gương sáng ngời của đồng chí Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên - Vị tướng tài ba, nhà hoạt động thực tiễn xuất sắc của cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Quảng Bình, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Bình càng nhận thức sâu sắc hơn nữa vai trò, trách nhiệm, phát huy truyền thống của quê hương, con người Quảng Bình, quyết tâm xây dựng tỉnh Quảng Bình trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Bắc Trung Bộ. Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân nguyện nêu cao tinh thần vượt khó vươn lên, đổi mới sáng tạo, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và các nhiệm kỳ tiếp theo./.

CẦN XỬ LÝ NGHIÊM MINH VỚI NHỮNG HÀNH ĐỘNG VI PHẠM CHỦ QUYỀN VIỆT NAM


Là một doanh nghiệp Việt Nam, được lập ra bởi những người Việt nhưng hãng thương hiệu thời trang YODY lại đăng tải một bài viết trên website và fanpage của công ty có hình ảnh bản đồ thiếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhân kỷ niệm 9 năm thành lập hang  thương hiệu này. Mặc dù đại diện hãng đã nhận lỗi về sự sai sót và đưa thông cáo báo chí về vấn đề trên nhưng rõ ràng việc sai phạm của hãng thương hiệu thời trang trên là vô cùng đáng trách và cần xử lý nghiêm minh về những cá nhân, tập thể liên quan đến hành động vi phạm chủ quyền nghiêm trọng này của YODY. 


Là một thương hiệu thời trang lớn với hiện 230 cửa hàng trên 52 tỉnh thành phố trải dài khắp toàn quốc, việc để xuất hiện bài viết trên website và fanpage của công ty có hình ảnh bản đồ thiếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là minh chứng cho sự cẩu thả, buông lỏng trong khâu kiểm duyệt, sự non nớt, ấ.u trĩ về chính trị, về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Đây cũng sẽ là những miếng “mồi” cho những kẻ thiếu thiện chí, những cá nhân, tổ chức thù địch lợi dụng để kích động tuyên truyền chố.ng ph.á đất nước. 


Mong rằng các cơ quan chức năng sẽ xử lý nghiêm minh với những hành động vi phạm chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc để làm gương cho các cá nhân, tổ chức xã hội trong các hoạt động quảng cáo, triển lãm có sử dụng bản đồ của Việt Nam. Nếu không muốn khách hàng “tẩy c.hay” với thương hiệu thời trang này, YODY cũng nên tự kiểm điểm và có những hình thức xử lý nghiêm minh với các cá nhân, tổ chức vi phạm. Nên nhớ rằng, khách hàng có thể mua các sản phẩm của hãng thời trang này thời trang kia nhưng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Việt Nam. Mọi hành vi xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc sẽ được xử lý nghiêm minh và khi khách hàng mà “t.ẩy chay” hay ngoảnh mặt thì các bạn biết hậu quả phải nhận là gì rồi đấy.

NHẬN DIỆN CÁI GỌI LÀ “CÁCH MẠNG SẮC MÀU” THỰC CHẤT LÀ PHẢN CÁCH MẠNG

 

Nếu như các nhà lý luận của giai cấp tư sản tự do cho rằng cách mạng xã hội là một hiện tượng ngẫu nhiên, thì trái lại, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng các cuộc cách mạng là kết quả tất nhiên của sự phát triển của các xã hội chia thành giai cấp đối kháng. Các cuộc cách mạng hoàn thành quá trình tiến hóa, quá trình chín muồi dần dần của những điều kiện của một chế độ xã hội mới trong lòng chế độ xã hội cũ, hoàn thành quá trình tích lũy dần dần những mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ. Cách mạng giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ, dùng bạo lực phá hủy quan hệ sản xuất quá thời và mở rộng đường phát triền cho lực lượng sản xuất.


Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Phải trải qua đấu tranh giai cấp quyết liệt mới chuyển được chính quyền từ giai cấp phản động thống trị, giai cấp kìm hãm sự phát triển của xã hội sang giai cấp cách mạng. Cách mạng là hình đấu tranh giai cấp cao nhất. Không nên lẫn lộn cách mạng xã hội với cái gọi là “cách mạng trong cung điện” với những cuộc đảo chính, tuần hành, biểu tình trên đường phố. v.v. Những cuộc đảo chính chỉ là dùng bạo lực thay đổi chính phủ, chỉ là những người hay tập đoàn của cùng một giai cấp thay thế nhau nắm chính quyền, còn đặc điềm cơ bản của cách mạng xã hội là hoàn toàn biến đổi chế độ, là chuyển chính quyền từ giai cấp này sang giai cấp khác. Tuy nhiên, không thể gọi tất cả mọi cuộc lật đổ, trong đó một giai cấp này dùng bạo lực lật đổ một giai cấp khác là cách mạng được. Nếu giai cấp phản động gây ra một cuộc nổi dậy chống giai cấp tiến bộ, nếu giai cấp phản động lại chiếm chính quyền, đó không phải là cách mạng nữa, mà là phản cách mạng. Cách mạng là việc giai cấp tiến bộ lên nắm chính quyền, mở đường cho một sự phát triển mới của xã hội.


Đối chiếu với những diễn biến và kết quả các cuộc biểu tình, bạo động vũ trang, bạo loạn lật đổ, đảo chính bất hợp pháp ở một số quốc gia thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu (vào thập niên cuối thế kỷ XX) và ở Trung Đông, Bắc Phi trong (những thập niên đầu thế kỷ XXI) với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin nêu trên cho phép chúng ta khẳng định, đó không phải một cuộc cách mạng xã hội đúng nghĩa, mà thực chất là phản cách mạng. Bởi, tính chất của cách mạng là do những nhiệm vụ xã hội mà nó thực hiện, quyết định. Ví như, nhiệm vụ của Cách mạng Pháp năm 1789 là thủ tiêu chế độ phong kiến đang kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và ngăn cản không cho người ta mở đường cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển trên cơ sở lực lượng sản xuất ấy. Đó là một cuộc cách mạng tư sản cũng như những cuộc cách mạng 1848 - 1849 trong nhiều nước châu Âu. Còn cách mạng vô sản xã hội chủ nghĩa khác về căn bản với tất cả những cuộc cách mạng trước. Đây là cuộc cách mạng vĩ đại nhất chưa từng thấy trong lịch sử vì nó biến đổi đời sống nhân dân một cách sâu sắc nhất. Chỉ có cách mạng vô sản lập nên chuyên chính của giai cấp vô sản, giai cấp cách mạng nhất trong lịch sử nhân loại, mới có thể tiêu diệt mọi hiện tượng người bóc lột người. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại là một kiểu mẫu của cách mạng vô sản


Trong khi đó, cái gọi là “cách mạng sắc màu” (colour revolution) hay còn được biết đến với những tên gọi như “cách mạng cam / nhung /hạt dẻ / hoa hồng / hoa tulip...” (ở Trung Đông, Bắc Phi); hay “cách mạng đường phố” (Maidan ở U-crai-na, ô/dù ở Hồng Kông); hoặc “cách mạng nghị trường” ở Gru-zi-a, Vê-nê-zu-ê-la... là thuật ngữ dùng để chỉ các phong trào biểu tình quần chúng (thường là lực lượng thanh niên cấp tiến có tư tưởng của chủ nghĩa phát xít mới). Đó là các cuộc chính biến do phương Tây và các lượng lượng thân phương Tây ở chính các quốc gia đó can dự vào nội bộ của các quốc gia có chủ quyền, đặc biệt là các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, thông qua việc thiết kế lực lượng đối lập, dựa vào sức ép dư luận, lấy con bài dân chủ, nhân quyền với ngòi nổ là vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm đẩy các nước rơi vào khủng hoảng chính trị trầm trọng, tạo điều kiện cho phe đối lập lật đổ chính quyền, thiết lập chế độ mới thân phương Tây, đem lại lợi ích chủ yếu cho giới tài phiệt mà không đem lại sự thay đổi chế độ chính trị một cách triệt để, mà đa phần chỉ thay đổi liên minh chính trị bên trong hệ thống chính trị hiện tại. Trên thực tế, chẳng những đại đa số quần chúng không được hưởng bất cứ thành quả gì từ các cuộc chính biến đó - điều mà những thủ lĩnh của các cuộc chính biến từng hứa hẹn - mà còn phải chịu thêm cảnh thương vong, đói nghèo, bệnh tật và mất quyền tự do, dân chủ nhiều hơn so với trước khi nó xảy ra…  Chính vì thế, những cuộc chính biến đó không thể gọi là cách mạng được.


Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa của “cách mạng sắc màu” từ hai cách tiếp cận: 


Thứ nhất, tiếp cận từ góc độ xung đột lợi ích địa chính trị giữa phương Đông và phương Tây sau chiến tranh lạnh, “cách mạng sắc màu” là công cụ của phương Tây dùng để củng cố, mở rộng gia tăng phạm vi ảnh hưởng toàn cầu bằng việc thúc đẩy mô hình chính trị với các giá trị dân chủ. 


Thứ hai, nhấn mạnh vào các phong trào đối lập lại khá lạc quan khi cho rằng “cách mạng màu” là quá trình dân chủ hoá. Họ cho rằng “cách mạng sắc màu” phản ánh khuynh hướng của phe đối lập nhằm đạt được sự đột phá về dân chủ trong bầu cử chính trị để phê phán các trường hợp gian lận trong bầu cử, từ đó lên án những hành động phản dân chủ của liên minh cầm quyền. Trong khi đó, một số học giả cho rằng, “cách mạng sắc màu” là mưu kế then chốt nhằm áp đặt trật tự thế giới mới do Mỹ đứng đầu. Đây là một chiến thuật chính trị che giấu sự mở rộng của NATO và ảnh hưởng của Mỹ đến các vùng biên giới của Nga, thậm chí cả Trung Quốc. Mục tiêu cơ bản trong chiến lược của Mỹ là bao vây Nga và Trung Quốc nhằm ngăn chặn sự nổi lên của những thách thức đối với quyền lực của Mỹ trong khu vực và trên toàn cầu.


Căn cứ vào lý luận và thực tiễn thì tuyệt nhiên không thể gọi những hoạt động/hành động chính biến nêu trên là “cách mạng sắc màu” được, mà thực chất đó là phản cách mạng.


NHỮNG CẢNH BÁO ĐỐI VỚI VIỆT NAM


Trong tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, đăng trên tạp chí Giáo dục số 3/1913, V. I. Lênin từng cảnh báo đối với những người cộng sản: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”. Theo đó, nếu chúng ta mất tinh thần cảnh giác cách mạng, mơ hồ giai cấp khi thừa nhận nó là “cách mạng” với cái tên và tuyên bố của các chính trị gia cùng giới truyền thông phương Tây về cái gọi là “cách mạng sắc màu” thì vô hình chung chính chúng ta thừa nhận tính phản động, phản cách mạng của các cuộc chính biến trên; là cổ xúy và tạo một tiền lệ vô cùng nguy hiểm đối với sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, là một trong những nguy cơ kéo lùi sự phát triển của đất nước ta.


Trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng tấn công vào các nước xã hội chủ nghĩa hoặc các nước không chịu theo “chiếc gậy chỉ huy” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì Việt Nam là trọng điểm chống phá thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ kết hợp bạo loạn lật đổ với mục tiêu không thay đổi là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chính vì vậy, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994), Đảng ta đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Những thách thức là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa…; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau”(5); Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…”.


Không phải ngẫu nhiên chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lựa chọn các nước xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa, các nước trong “không gian hậu Xôviết” để tiến hành cách chính biến bất hợp pháp trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Hậu quả nặng nề và kéo dài ở các nước bị cái gọi là “cách mạng sắc màu” “càn quét và tàn phá” qua là lời cảnh báo đối với Việt Nam.


Trên thực tế, mặc dù cái gọi là “cách mạng sắc màu” chưa được các thế lực thù địch thực hiện thành công ở nước ta, nhưng đã có manh nha với những biểu hiện cụ thể của âm mưu, thủ đoạn này ở Việt Nam và gây ra những hậu quả nhất định. Những năm vừa qua đã xuất hiện nhiều vụ việc cho thấy rằng, thế lực thù địch và phản động không ngừng nuôi âm mưu và sử dụng “chiêu thức” phản cách mạng để tấn công vào sự nghiệp cách mạng của nước ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng mạng xã hội, Internet cùng những hạn chế trong nhận thức, hiểu biết của một bộ phận không nhỏ quần chúng để xúi giục nhân dân biểu tình. Điển hình như: lấy danh nghĩa “Hướng về biển, đảo quê hương” để kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại, bài xích quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc (như vụ phản đối giàn khoan HD-981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam năm 2014 để tiến hành cái gọi là “cách mạng hoa sen”; vụ Formosa gây ra ô nhiễm môi trường biển khiến cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung để thực hiện cái gọi là “cách mạng cá” năm 2016); lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường để thực hiện cái gọi là “cách mạng cây”; kêu gọi “xuống đường tổng biểu tình” năm 2018 tại 23 tỉnh, thành phố liên quan đến việc Quốc hội nước ta chuẩn bị thông qua và ban hành Luật An ninh mạng và Dự thảo Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt...


MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG HỮU HIỆU


Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”. Theo đó, để ngăn chặn và triệt tiêu những nguy cơ của của cái gọi là “cách mạng sắc màu”, chúng ta cần phải “bắt đầu” từ những yếu tố chủ quan, bao gồm tình hình kinh tế - chính trị - xã hội nội tại. Trong đó, tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:


Một là, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực xã hội; chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội… để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.


Muốn ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả - làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta thì phải giữ vững được sự ổn định xã hội và làm cho đất nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Do đó, việc đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực xã hội; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực; chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế là giải pháp hữu hiệu để đảm bảo và thúc đẩy yếu tố bên trong của đất nước luôn luôn ổn định.


Để giữ được sự ổn định xã hội thì vấn đề mấu chốt phải giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực. Thực chất làm cho các nhân tố xã hội chủ nghĩa ngày càng củng cố, phát triển trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế đồng nghĩa với tránh nguy cơ đời sống nhân dân lao động suy giảm, dẫn đến lòng dân hoang mang, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước.


Hai là, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ.


Chủ động nắm bắt, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Yêu cầu đặt ra là phải giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội để mọi người dân, mọi tổ chức chính trị - xã hội đều nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hoà bình” thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” của các thế lực phản động. Đảng, Nhà nước tăng cường chỉ đạo cơ quan tham mưu chuyên trách phối hợp các ngành, các cấp trong xã hội chú trọng giáo dục kiến thức quốc phòng - an ninh; thông qua các kênh thông tin đại chúng để nâng cao cảnh giác cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân. Nghiêm khắc đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trong một bộ phận nhân dân, học sinh, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta của kẻ thù.


Không ai khác và hơn ai hết, mỗi cá nhân phải có ý thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước về thông tin, tham gia tích cực đấu tranh chống phao tin đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu và thất thiệt.


Ba là, xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho toàn dân.


Bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không ngừng từ bỏ âm mưu thôn tính chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, mỗi công dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng. Ý thức bảo vệ Tổ quốc cần được thấm nhuần sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân mà trọng tâm là thanh niên.


Yêu cầu nội dung giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân phải mang tính toàn diện: tình yêu quê hương, đất nước; cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới; tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Vận dụng các hình thức biện pháp giáo dục đa dạng nhưng phù hợp với từng đối tượng.


Bốn là, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh về mọi mặt.


Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh là “thành trì” bảo đảm cho chế độ xã hội luôn ổn định, phát triển. Trước hết, phải luôn luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam là đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng mọi miền đất nước; đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng... Để đạt được sự đoàn kết rộng rãi đó, Đảng và Nhà nước phải nâng cao chất lượng các chính sách xã hội nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng cho từng giai tầng; củng cố vững chắc khối liên minh công - nông - trí; phát huy tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường, lòng tự hào của toàn dân. Đồng thời, Đảng và Nhà nước phải luôn luôn chú trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương ngày càng vững mạnh về mọi mặt; nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên, năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các cấp, nhất là ở cơ sở; thực hiện tốt quy chế và pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, củng cố nâng cao chất lượng, hiệu quả, nề nếp hoạt động của các tổ chức quần chúng.


Năm là, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh.


Không ngừng chú trọng xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại), xây dựng vững mạnh lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở... Đây vừa là lực lượng trực tiếp vừa là một bộ phận của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, do Đảng lãnh đạo, là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cùng với lực lượng chính quy có sức chiến đấu cao, phải bảo đảm vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, phòng thủ ở các địa phương, cơ sở. Chú trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, lấy chất lượng là chính.


Mỗi địa phương phải chú trọng kết hợp phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở. Thực tiễn cho thấy, quần chúng nhân dân là nền tảng của đất nước, là gốc rễ của dân tộc, là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nhưng cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động thường hướng tới để lợi dụng, lôi kéo nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng./. 

 

Cách mạng Tháng Mười Nga tiếp tục định hướng xu thế phát triển của thời đại trong thế kỷ XXI

(LLCT) - Hơn 100 năm trước đây, cuộc Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, đồng thời đặt nền móng hiện thực cho xu hướng đi lên CNXH của phần lớn quốc gia - dân tộc trong thế kỷ XX. Trong bối cảnh mới hiện nay, dưới tác động nhiều chiều của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0, lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười vẫn đang tiếp tục cổ vũ nhân loại tiến lên trên con đường phát triển theo định hướng XHCN. 

 


Ngày 7-11-1917, cuộc cách mạng XHCN tháng Mười Nga nổ ra thắng lợi, đánh dấu bước ngoặt căn bản trong đời sống chính trị nhân loại, mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Tầm vóc vạch dòng thời đại của Cách mạng Tháng Mười đã đặt nền móng hiện thực cho xu hướng đi lên CNXH như một tất yếu khách quan, không thể bị đảo ngược. Hơn một thế kỷ đi qua, lịch sử thế giới đã trải qua biết bao thăng trầm, khúc quanh khắc nghiệt, nhưng Cách mạng Tháng Mười, với những giá trị bất diệt, vẫn mãi mãi là sự kiện vạch sáng thời đại, vạch sáng tương lai; lý tưởng và con đường của Cách mạng Tháng Mười vẫn tỏa sáng, định hướng cho xu thế phát triển của thời đại với những mục tiêu cao cả là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

1. Xét trên bình diện lịch sử toàn thế giới, Cách mạng Tháng Mười đã “mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đều đang tiến tới một cuộc đời mới, tới chỗ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chỗ thành lập chuyên chính vô sản, tới chỗ giải phóng nhân loại khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”(1). Thật vậy, Cách mạng Tháng Mười là khâu đột phá đầu tiên vào dinh lũy của chủ nghĩa tư bản, chặt đứt một mắt xích quan trọng trong sợi dây chuyền, phá vỡ một mảng lớn hệ thống đế quốc chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đứng lên giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động ở các nước tư bản nhằm thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN - theo tấm gương của nước Nga.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, từ chỗ còn là một “bóng ma ám ảnh châu Âu”, CNXH đã tồn tại trên thực tế và trở thành xu thế không thể đảo ngược của lịch sử nhân loại. Hệ thống XHCN thế giới được xác lập ảnh hưởng to lớn đến xu thế phát triển tiến bộ của lịch sử nhân loại. Với sự xuất hiện và tồn tại gần 80 năm của nước Nga Xôviết và sau đó là Liên bang Xôviết (Liên Xô), nhân loại đã được chứng kiến những biến đổi kỳ diệu của đời sống con người trên diện tích một phần ba trái đất, chiến thắng oanh liệt của Hồng quân Liên Xô cứu loài người khỏi thảm họa phát xít và rất nhiều thành tựu to lớn mà CNXH hiện thực đã mang lại.

Dưới ảnh hưởng trực tiếp của Cách mạng Tháng Mười, cao trào cách mạng thế giới trong những năm 1918-1923, đặc biệt là ở các nước Tây Âu, đã thực sự làm chấn động dinh luỹ của chủ nghĩa tư bản. Cùng với đó, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc ở hầu khắp các châu lục được thức tỉnh, vùng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển ngày càng mạnh mẽ và từ sau chiến tranh thế giới thứ II trở thành cao trào, liên tiếp giành thắng lợi, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, đưa độc lập dân tộc trở thành chân giá trị phổ biến mang tính thời đại. Từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, trong thế kỷ XX đã có trên 100 quốc gia giành được độc lập với hàng tỷ người thoát khỏi ách đô hộ, áp bức, bóc lột của ngoại bang; nhiều quốc gia - dân tộc ở châu Âu, châu Á và khu vực Mỹ Latinh đã lựa chọn con đường xây dựng CNXH cho định hướng phát triển của đất nước mình.

Thực tế lịch sử hơn một thế kỷ qua đã chỉ rõ, Cách mạng Tháng Mười không phải là sản phẩm "thuần tuý Nga", mà là cuộc cách mạng mang ý nghĩa thời đại của thế kỷ XX. Bằng sức mạnh của CNXH, Liên Xô đã trở thành lực lượng chủ yếu đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), cứu nhân loại thoát khỏi thảm hoạ diệt vong, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân do chủ nghĩa đế quốc phát động trong nhiều thập niên sau chiến tranh lạnh. Cách mạng Tháng Mười và sự tồn tại của hệ thống XHCN, đứng đầu là Liên Xô, đã trở thành thành trì của hòa bình thế giới, chỗ dựa vững chắc của nhân dân các dân tộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và CNXH trên phạm vi toàn thế giới trong thế kỷ XX, đồng thời còn có tác động mạnh mẽ đến toàn bộ quá trình phát triển của thế giới hiện đại những năm đầu thế kỷ XXI.

2. Tuy nhiên, lịch sử bao giờ cũng có những thăng trầm khắc nghiệt. Hơn 70 năm sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, nhân loại đã phải chứng kiến nhiều biến động dữ dội trong đời sống chính trị thế giới. Sự tan vỡ của thể chế XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, cùng với sự khủng hoảng rồi dẫn tới thoái trào của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, đã ảnh hưởng khá tiêu cực đến sự nghiệp cách mạng của các dân tộc đang phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Lợi dụng sự kiện đó, các thế lực đế quốc, thù địch đẩy mạnh cuộc phản kích chống phá CNXH và phong trào cách mạng thế giới, tìm mọi cách, với nhiều luận điệu khác nhau, hòng phủ nhận giá trị vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười, từ đó tiến tới phủ nhận những thành tựu mà CNXH hiện thực đạt được trong suốt hơn một thế kỷ qua. Trong khi đó, với bản chất không hề thay đổi, lại được che đậy bằng nhiều ngôn từ rất mỹ miều, các thế lực tư bản quốc tế vẫn đang tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới (chủ nghĩa thực dân thời toàn cầu hóa) đối với các quốc gia - dân tộc còn đang trong tình trạng kém phát triển về kinh tế, với đủ mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, gây nên những hậu quả rất nặng nề ở các nước đang và kém phát triển.

Mặc dù đã có rất nhiều biến cố lớn diễn ra trong khoảng ba thập niên trở lại đây, mà biến cố lớn nhất là sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, nhưng không phải vì thế mà Cách mạng Tháng Mười mất đi ý nghĩa lịch sử của nó như giọng điệu tuyên truyền của các thế lực đế quốc, thù địch.Lịch sử có những đoạn quanh co, có bước thăng trầm nhưng CNXH, một mô hình nhà nước kiểu mới, một bước tiến của văn minh nhân loại xuất hiện từ Cách mạng Tháng Mười vẫn là xu thế của thời đại, là hình mẫu lý tưởng mà nhân loại tiến bộ hướng tới. Những thành tựu vĩ đại của CNXH hiện thực trong hơn một thế kỷ qua, nhất là thành tựu cải cách, đổi mới ở các nước XHCN còn lại, ngày càng chứng tỏ thêm bản chất ưu việt của chế độ XHCN, sức sáng tạo, năng lực đổi mới và những đóng góp của các nước XHCN cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, văn minh và tiến bộ xã hội. Ngày nay, mặc dù CNXH hiện thực vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn, phong trào XHCN thế giới chưa hòan toàn vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng, nhưng trên thế giới hiện vẫn tồn tại một số quốc gia, chiếm 1/5 diện tích toàn cầu với gần 1,5 tỷ người, đi theo định hướng XHCN; không chỉ thế, hàng chục đảng cộng sản, đảng công nhân với hàng chục triệu đảng viên vẫn đang có ảnh hưởng chính trị to lớn ngay cả ở những nước tư bản phát triển; lý tưởng về một xã hội công bằng, nhân văn mà Cách mạng Tháng Mười đã chỉ ra cho đến nay vẫn có sức hấp dẫn ở hàng chục quốc gia đã giành được độc lập, đang trên đường thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu...

Sự tìm tòi, khai phá mô hình phát triển của các nước XHCN do đảng cộng sản cầm quyền, dấu hiệu phục hồi đáng khích lệ của các đảng cộng sản chưa cầm quyền, sự sáng tạo các hình thức liên hệ, tập hợp lực lượng mới của các đảng cộng sản, công nhân và những làn sóng mới của trào lưu cánh tả ở các khu vực trên thế giới đã và đang tiếp tục trở thành những nhân tố tích cực có sức lôi cuốn và ảnh hưởng rộng lớn, thật sự có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn cho việc bảo vệ, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong bối cảnh quốc tế mới. Đó là thực tế sinh động chứng tỏ tính đúng đắn và hợp quy luật lịch sử của con đường phát triển được khai vạch từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười.

Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Đó là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên CNXH. Đây là xu thế phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại, nhưng là một quá trình lịch sử lâu dài đầy khó khăn, phức tạp. V.I.Lênin từng chỉ rõ: nếu hình dung lịch sử như một con đường thẳng tắp, trơn tru là không biện chứng, không khoa học, không đúng về mặt lý luận. Người cũng nhấn mạnh: "Sự xuất hiện một giai cấp mới trên vũ đài lịch sử với tư cách là người lãnh đạo xã hội, không bao giờ diễn ra mà không có một thời kỳ "tròng trành" hết sức dữ dội, một thời kỳ chấn động, đấu tranh và bão táp, đó là một mặt; mặt khác không bao giờ diễn ra mà không có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm, do dự, ngả nghiêng trong việc lựa chọn những phương pháp mới đáp ứng đúng với tình thế khách quan mới"(2). Quan điểm này của V.I.Lênin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng về mặt phương pháp luận khi nhận thức về xu thế phát triển của thời đại ngày nay, là cơ sở lý luận khoa học để các đảng cộng sản tiếp tục kiên trì quan niệm đúng đắn rằng: sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH là một quá trình lịch sử lâu dài, gồm nhiều thời kỳ vận động dích dắc, phức tạp. Chỉ có nắm được quy luật và lôgic vận động của thế giới và thời đại, mới giúp cho các đảng cộng sản vững vàng lập trường cách mạng, không dao động và vững niềm tin vào thắng lợi của con đường mà Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra.

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người cộng sản Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác-Lê-nin, đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”(3). Và Người chỉ ra: “Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo con đường của V.I.Lênin - con đường Cách mạng Tháng Mười Nga; muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Theo ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười soi rọi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH. Và đến nay, sau hơn bảy thập niên tôi luyện và thử thách, kể cả trong những thời điểm gay go nhất, khi hệ thống XHCN, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có sự khủng hoảng nghiêm trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn vững vàng lãnh đạo nhân dân ta tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong bối cảnh hiện nay, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với những thách thức gay gắt từ xu thế toàn cầu hoá và sự chống phá ngày càng quyết liệt, tinh vi của các thế lực đế quốc, phản động, thì hệ giá trị độc lập dân tộc và CNXH, trong ý thức và trong hành động, vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là “quốc bảo” phù hợp với xu thế thời đại; sẽ đưa nhân dân Việt Nam tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Những thành công mới của cách mạng Việt Nam vừa thể hiện, vừa góp phần thúc đẩy trào lưu chính trong giai đoạn hiện nay của thời đại - tiếp tục quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới những thập niên đầu của thế kỷ XXI dưới tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

4.Như vậy, có thể khẳng định rằng, mặc dù chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã không còn tồn tại với tư cách là một hệ thống thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chưa vượt qua tình trạng khủng hoảng, song không có nghĩa là quy luật tiến hóa của xã hội loài người - đi lên CNXH, đã bị triệt tiêu. Trên phạm vi toàn thế giới, nhiều quốc gia - dân tộc vẫn định hướng sự phát triển của đất nước theo lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười. Từ khi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi đến nay đã qua hơn một thế kỷ, tuy nhiên lý tưởng cao đẹp của cuộc cách mạng này vẫn đang và sẽ tiếp tục cổ vũ nhân loại tiến lên trên con đường phát triển theo định hướng XHCN, mà không trở ngại nào, không xu hướng đối lập nào có thể ngăn cản. Cách mạng Tháng Mười thực sự là mốc son mở ra một thời đại mới, một sự nghiệp mới trong lịch sử nhân loại - sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới. Vì thế nó không thể bị lãng quên, cho dù “cách mạng XHCN quốc tế sẽ có thể trải qua những đột biến gian khổ đến mấy đi nữa”(5). Lẽ tất nhiên, Cách mạng Tháng Mười có vinh dự là sự đột phá, mở đường, còn “bao giờ và trong thời hạn nào thì những người vô sản nước nào sẽ hòan thành được sự nghiệp ấy, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng, chính là băng đã tan, đường đã mở, lối đã vạch ra rồi”(6). Với Cách mạng Tháng Mười và với lý tưởng cao đẹp của nó, “cách mạng quốc tế tương lai sẽ xây dựng nên lâu đài xã hội chủ nghĩa của mình”(7). Và đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(8).

Trong bối cảnh thế giới phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc, khó lường hiện nay, giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười vẫn luôn tỏa sáng: Chỉ có đi theo con đường mà Cách mạng Tháng Mười đã khơi nguồn, mở lối, thì các nước mới giành được độc lập thực sự cả về chính trị và kinh tế; mới ngày càng nâng cao vị thế của quốc gia - dân tộc mình trên thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười cũng cho thấy rõ sức mạnh sáng tạo của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh tự giải phóng và mở đầu cho sự nghiệp kiến tạo xã hội mới chưa từng có hình mẫu trong lịch sửnhân loại. Thắng lợi đó còn chứng tỏ trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa cuộc đấu tranh vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì CNXH, dân chủ và CNXH chẳng những là mục tiêu, mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tới tự do, bình đẳng, công bằng, văn minh. Khúc quanh hiện nay của phong trào cách mạng thế giới, dù có làm cho sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH bị kéo dài thêm, song không thể đảo ngược được. Con đường của thời đại, con đường mà nhân loại đang đi tới chính là con đường thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.

__________________

(1), (6) V.I. Lênin: Toàn tập, t.44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.184-185, 187.

(2), (5), (7) V.I.Lênin: Toàn tập, t.36, Nxb.Tiến bộ, Mátxcơva, 1978,  tr.235, 473, 473.

(3), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 388, 387.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr. 603.

Nguồn : TS Mai Hoài Anh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TS Nguyễn Thị Ngọc Loan

Học viện Báo chí và Tuyên truyền