Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ MỚI!

     Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc nhìn nhận những khó khăn, thách thức và những vấn đề đặt ra trong công tác dân tộc sẽ khiến chúng ta giải quyết tốt, hiệu quả chính sách bảo đảm đời sống, an sinh xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số.

Những thách thức
     Qua hơn 30 năm đổi mới, phát triển đất nước, bên cạnh những kết quả đạt được, nhìn chung kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở nước ta phát triển còn chậm, kết cấu hạ tầng cơ sở còn nhiều bất cập, khó khăn. Tác động điều tiết của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa là nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa thu nhập, chênh lệch giàu - nghèo giữa miền núi và miền xuôi, giữa các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc.
     Bản sắc văn hóa truyền thống của một số cộng đồng dân tộc thiểu số, nhất là phong tục tín ngưỡng trong tang lễ và hôn nhân đang đứng trước thử thách gay gắt trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đứng trước sự khủng hoảng và bị tác động mạnh mẽ, đòi hỏi phải có sự hướng dẫn cải biến cho phù hợp.
     Một số chính sách dân tộc qua quá trình thực hiện đang bộc lộ những bất cập trên các mặt như thiếu đồng bộ, thiếu nguồn lực để thực hiện, dàn trải... cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.
     Tỷ lệ người lao động qua đào tạo trong các dân tộc thiểu số còn thấp, trong khi thực trạng đa số người dân ở vùng dân tộc thiểu số vẫn duy trì tập quán, thói quen sản xuất nhỏ, tự sản tự tiêu; việc ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ còn hạn chế, kỹ năng và tác phong lao động ở nhiều vùng dân tộc thiểu số còn lạc hậu.
     Trình độ dân trí và học vấn thấp là nguyên nhân căn bản làm cho các vùng dân tộc thiếu số kéo dài sự trì trệ và kìm hãm sức phát triển kinh tế hàng hóa, năng suất lao động và thu nhập thấp; năng lực hấp thụ các nguồn lực giúp đỡ từ bên ngoài vào các vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế.
     Một số dân tộc thiểu số có số lượng cán bộ trong hệ thống chính trị ở các cấp, các ngành chưa tương xứng với tỷ lệ dân số của mỗi dân tộc trong tổng dân số của đất nước, của địa phương. Số người dân tộc thiểu số gốc địa phương tham gia vào cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội đang có xu hướng giảm.
     Quá trình hội nhập quốc tế, những diễn biến của tình hình thế giới có tác động lớn đến việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta, sự phân hóa giàu nghèo, phân cực xã hội, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, bạo loạn chính trị, ly khai, can thiệp, lật đổ; mạng in-tơ-nét và mạng xã hội ngày càng tham gia trực tiếp vào đời sống chính trị, xã hội của các quốc gia...
     Sự bất bình đẳng trong thực tiễn về kinh tế, chính trị và đời sống sẽ tăng lên; bản sắc văn hóa tốt đẹp của nhiều dân tộc thiểu số đứng trước sự khủng hoảng gay gắt và bị tác động ngày càng mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa ngoại lai và sự xâm nhập của các tôn giáo mới, lạ; các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ ra sức lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, làm cho tình hình an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta có nơi, có lúc sẽ diễn biến phức tạp.

Những nhiệm vụ
cấp bách
     Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
     Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơ-me Nam Bộ.
     Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới. Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới; công tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng.
     Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; ăn tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc.
     Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc.
     Đa dạng hóa, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị đại học dân tộc ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số.
     Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp; nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian.
     Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, kiên quyết khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ. 
     Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc, khắc phục tình trạng cơ sở không có tổ chức đảng và đảng viên.
     Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu ph.á h.oại của các thế lực th.ù đ.ịch; tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.
     Tiếp tục xây dựng, phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động ph.á h.oại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xã hội ch.ống ph.á sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta.
     Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương.
     Thông qua các chính sách, biện pháp cụ thể, động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực tự cường, tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Theo: Báo Xây dựng Đảng./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 12/4


“… Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo. Nếu lòng mình không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo xã hội…” .
Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lớp chỉnh đốn Đảng Trung ương khóa III tổ chức tháng 4 năm 1953.
Xuất phát từ bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân đã được qui định trong Hiến pháp; từ mối quan hệ biện chứng giữa đội ngũ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân. Để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đòi hỏi phải xây dựng được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, vì nhân dân phục vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn; thực sự tiền phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân, lấy tiêu chí sự hài lòng của nhân dân là thước đo kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hội đồng quân nhân. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên tiền phong, gương mẫu, có phương pháp, tác phong công tác khoa học; yêu mến, gắn bó với đơn vị, gần gũi với bộ đội, luôn đề cao tự phê bình và phê bình. Tích cực, chủ động, sáng tạo không ngừng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết trong đơn vị, đoàn kết quân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

“BUÔNG LỎNG LÃNH ĐẠO”, “ĐÁNH TRỐNG BỎ DÙI” TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN


Nghị quyết dù hay đến mấy, nhưng nếu công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện bị xem nhẹ, hoặc thiếu tính kế hoạch, thiếu quyết tâm, thì cái “hay” ấy cũng chẳng để làm gì. Trong khi đó, thời gian qua, nhiều tổ chức đảng vẫn chưa thật coi trọng công việc hệ trọng này.
Nặng việc ban hành, nhẹ việc triển khai
Trong không ít chuyến công tác về cơ sở, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ ý đặt câu hỏi với đồng chí bí thư cấp ủy ở một số địa phương: "Kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ ở đảng bộ ta đạt đến đâu rồi? Có hoàn thành chỉ tiêu nghị quyết theo đúng lộ trình, tiến độ không?". Trả lời những câu hỏi ấy, nhiều đồng chí bí thư cấp ủy hồn nhiên: “Đảng bộ địa phương chưa tiến hành công tác tổng kết nên cũng chưa nắm được cụ thể!”.
Nghe vậy, Tổng Bí thư nghiêm túc phê bình và nhắc nhở, việc ban hành nghị quyết là quan trọng, nhưng lãnh đạo triển khai còn quan trọng hơn. Nghị quyết chỉ có giá trị khi và chỉ khi các chủ trương, giải pháp được xác định trong nghị quyết trở thành hành động cách mạng của cán bộ, đảng viên, nhân dân và đi vào thực tiễn đời sống xã hội.
Câu chuyện xem nhẹ, buông lỏng việc lãnh đạo thực hiện nghị quyết xem ra đang là vấn đề rất nghiêm trọng. Đó là việc người đứng đầu tổ chức đảng không biết rõ nghị quyết đã triển khai thực hiện đạt kết quả đến mức nào. Có nghĩa, các tổ chức cơ sở đảng cứ mặc nhiên triển khai nghị quyết mà chưa thật quan tâm đến công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện nghị quyết. Nhiều nơi có lối nghĩ rằng, nghị quyết lãnh đạo năm thì đến cuối năm tổng kết, nghị quyết nhiệm kỳ thì đến cuối nhiệm kỳ mới soi lại, đánh giá tổng quan; có hướng dẫn thì mới sơ kết nửa nhiệm kỳ hoặc làm theo yêu cầu của cấp trên.
Nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã thực hiện điều tra xã hội học ở 23 đảng bộ cấp xã, phường, thị trấn của 3 tỉnh khu vực Tây Bắc. Kết quả khảo sát mang đến những băn khoăn, lo ngại. Theo đó, người đứng đầu và cấp ủy khẳng định là có triển khai nghị quyết, nhưng phần đa đảng viên chỉ biết và nắm mơ hồ về nội dung; thậm chí không rõ tên nghị quyết. Hơn 92% số lượng đảng viên được khảo sát cho rằng, vì cấp trên yêu cầu học quá nhiều nghị quyết nên chỉ để tâm tới những nghị quyết liên quan đến thực tế địa phương và cương vị, chức trách công tác. 96% cho rằng, không nên để tình trạng nghị quyết lãnh đạo về phát triển kinh tế biển lại yêu cầu cán bộ ở khu vực miền núi tổ chức học tập... Như vậy, nguyên nhân của việc “thả trôi” nghị quyết có tác động từ nhiều yếu tố, chứ không đơn thuần thuộc trách nhiệm của tổ chức đảng ở cơ sở.
Việc không quan tâm đến công tác lãnh đạo triển khai nghị quyết là một thực tế rất đáng báo động. Đó chẳng khác nào tổ chức đảng “vứt” hàng loạt chủ trương, giải pháp, chỉ tiêu vào thực tiễn, rồi để nó tự vận động, tự trôi dạt, mà thiếu theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung. Thành thử, qua năm tháng, các chỉ tiêu nghị quyết đạt được đến đâu, chỉ tiêu nào đã hoàn thành sớm, kinh nghiệm lãnh đạo hoàn thành; chỉ tiêu nào khó đạt được, cần tập trung sức lãnh đạo; hay những vấn đề cần điều chỉnh, bổ sung, thay đổi trong quá trình thực hiện nghị quyết... thì chính tổ chức đảng triển khai lại không nắm bắt được. Cũng vì thế mà sinh ra tắc trách, mất thời cơ lãnh đạo hoàn thành các chỉ tiêu nghị quyết; tạo sự ngắt quãng trong công tác vận hành lãnh đạo của hệ thống tổ chức đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “... Mệnh lệnh và nghị quyết cũng như mạch máu. Mạch máu chạy đều khắp thân thể thì người mạnh khỏe. Mạch máu dừng lại đâu, không chạy thì chỗ đó sẽ tê liệt, sinh bệnh. Mệnh lệnh và nghị quyết đi mau, đi suốt từ trên đến dưới, công tác mau chóng, việc gì cũng xong xuôi. Nó ngừng lại cấp nào, từ cấp đó trở xuống là tê liệt”.
Thực trạng trên khiến không ít nghị quyết với nhiều chỉ tiêu “đẹp” và mỹ từ, có cả những nghị quyết rất đúng và hay nhưng chậm đi vào cuộc sống, ít trở thành hiện thực sinh động, chưa tạo ra được nhiều của cải vật chất và văn hóa, mang lại hạnh phúc và giàu có cho nhân dân... PGS, TS Đỗ Duy Môn, Học viện Chính trị nêu nhận định: “Đây chính là một nguyên nhân quan trọng khiến nghị quyết của Đảng khó đi vào cuộc sống, khó dẫn dắt, soi đường cho thực tiễn. Và đây cũng chính là lý do dẫn đến thực tế, dù rằng nghị quyết rất hay, nhưng triển khai thực hiện lại gay trăm bề”.
Một cách làm có thể tham khảo ở Đảng bộ tỉnh Yên Bái là Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc phải luôn làm tốt công tác đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được nghị quyết xác định qua từng giai đoạn. Theo đó, dù nghị quyết nhiệm kỳ, nghị quyết chuyên đề hay nghị quyết hằng năm thì vào bất kỳ thời điểm nào, những người có trách nhiệm buộc phải nắm chắc thực trạng, kết quả thực hiện cả định tính và định lượng. Đồng chí Đỗ Đức Duy, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khẳng định: “Nếu không chủ động chỉ đạo, yêu cầu các cơ quan chức năng báo cáo tiến độ, kết quả hoàn thành qua từng tháng, quý, thì việc đánh giá kết quả triển khai nghị quyết rất khó lượng hóa. Vì có nhiều nghị quyết, mà cứ để nó trôi đi, thì không tài nào hình dung được chủ trương đang ở đâu, đạt đến mức nào, kết quả ra sao”.
Như vậy, triển khai nghị quyết phải đi liền với lãnh đạo tổ chức thực hiện một cách tích cực, khẩn trương, thường xuyên, liên tục trên thực tế. Cũng qua đó mà có thêm điều kiện phát hiện hạn chế, yếu kém, kịp thời điều chỉnh, bổ sung phương thức, phương pháp lãnh đạo. Còn nếu “bỏ ngỏ”, thiếu quan tâm đến công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện nghị quyết thì dễ dẫn đến tình trạng “sai một ly, đi một dặm”, thậm chí bị mất phương hướng lãnh đạo, xa rời chủ trương và giải pháp căn bản; sinh ra sự tự phát, thiếu tính khoa học, thiếu bài bản ở tổ chức đảng cấp dưới, rồi manh nha tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên trải thảm, dưới rải đinh”, hoặc biểu hiện “đánh trống bỏ dùi”...
Băn khoăn những “nghị quyết 0 đồng”
“Nghị quyết 0 đồng” là cách nói vui của nhiều cán bộ địa phương để phản ánh tình trạng: Có nghị quyết nhưng không có nguồn lực, nhân lực triển khai, nên dù nội dung nghị quyết có hay, có đúng thì việc triển khai rất ì ạch, thậm chí kết quả thu về chỉ là con số không. Đây cũng là thực trạng chung đối với hệ thống nghị quyết các cấp, kể cả ở cấp Trung ương; cả nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và mặt trận đoàn thể. Bởi thế, trong tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết thì phần nguyên nhân của hạn chế bao giờ cũng đưa ra một nhận định quen thuộc: Còn thiếu nguồn lực tổ chức thực hiện nghị quyết; do đó, giải pháp kế tiếp luôn vạch rõ: Tập trung mọi nguồn lực để triển khai kịp thời, hiệu quả các chủ trương của nghị quyết trong thời gian tới. Vì thế mới đây, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới” chỉ rõ: Khắc phục tình trạng ban hành văn bản không sát với thực tiễn, thiếu nguồn lực tổ chức thực hiện.
Rõ ràng, Trung ương và các cấp đã nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của nguồn lực trong tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết. Thế nhưng, đến thời điểm hiện tại, lời giải cho bài toán: Bố trí, cân đối, phát huy nguồn lực triển khai thực hiện nghị quyết vẫn là “một ẩn số” và chưa có định khuôn về chế tài, pháp lý để hiện thực hóa. Thành thử, ở nhiều tổ chức đảng, cơ quan, ban, ngành, địa phương khác nhau thì việc bố trí nguồn lực khác nhau đối với việc triển khai thực hiện một nghị quyết cụ thể.
Kết quả khảo sát 23 đảng bộ xã, phường, thị trấn trên địa bàn 3 tỉnh khu vực Tây Nguyên cho thấy: Các tổ chức đảng chưa xác định rõ nguồn lực thực hiện nghị quyết bao gồm những nhân tố, yếu tố, thành tố nào? Chưa phân biệt đầy đủ sự khác nhau giữa nghị quyết của Đảng với nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Chính phủ...; giữa nghị quyết lãnh đạo với các kết luận, chỉ thị, văn bản khác của Đảng. Nhiều nơi chỉ mường tượng nhân lực thực hiện nghị quyết là sự lãnh đạo của cấp ủy, phân công cấp ủy viên phụ trách, rồi kêu gọi toàn thể đảng viên nêu cao trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Đây là tư duy, cách nghĩ hoàn toàn sai lệch. Nguồn nhân lực để nghị quyết lãnh đạo không chỉ đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, tập thể cấp ủy, người được phân công phụ trách, mà đó còn là việc gắn trách nhiệm đối với từng cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Triển khai thực hiện nghị quyết hoàn toàn không phải là nhiệm vụ của riêng tổ chức đảng, mà cần sự tham gia, phát huy đầy đủ vai trò, chức năng của từng tổ chức trong hệ thống chính trị.
Một nguồn lực quan trọng nữa là kinh phí phục vụ việc xây dựng, lãnh đạo thực hiện nghị quyết. Thực tế cho thấy, ở nhiều nơi, cơ quan chức năng chưa thật quan tâm đến vấn đề này, cứ triển khai nghị quyết, dồn mọi chủ trương đổ về cơ sở, “khoán” cho cơ sở thực hiện mà chưa tính toán kỹ các nguồn lực tài chính bảo đảm cho cơ sở hoàn thành nhiệm vụ. Thế mới có chuyện, cơ sở rất ngại, rất lo phải lãnh đạo thực hiện các “nghị quyết 0 đồng”, vì không có, không đủ nguồn lực để hiện thực hóa các chủ trương, mục tiêu của nghị quyết. Đồng chí Lê Anh Tân, Phó chủ tịch UBND TP Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) thẳng thắn: “Không có kinh phí thì không thể làm được gì cả, chứ nói gì đến việc triển khai nghị quyết bằng “hai bàn tay trắng” và sự kêu gọi, hô hào chung chung”.
Thực tế này được các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước thẳng thắn nhận diện, đề cập ở nhiều diễn đàn chính trị. Có ý kiến cho rằng, việc phân bổ nguồn lực cho lĩnh vực xây dựng Đảng còn quá khiêm tốn so với lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực khác. Một khi thiếu nguồn lực, không bảo đảm nguồn lực thì không thể hô hào suông, rằng: Công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, là việc gốc của Đảng được.
Tương tự, nguồn lực cho việc thực hiện nghị quyết của một số tổ chức đảng hiện nay vẫn chỉ mới vận hành theo lối “cầu may”. Có nơi đề cao trách nhiệm thì chủ động phân bổ, cân đối nguồn lực; có nơi lại “cấu véo” kinh phí từ những lĩnh vực khác để “nhường” cho phần việc hệ trọng của Đảng; có nơi lại “lực bất tòng tâm”, vì không thể hoặc không biết huy động nguồn lực từ đâu, ở đâu và bằng cách nào.
Để không còn những “nghị quyết 0 đồng”, cùng với việc làm tốt công tác tổ chức học tập, quán triệt, thì mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải chủ động làm tốt việc xác định nguồn lực trong thực hiện nghị quyết. Một cách làm khá sáng tạo, nhằm góp phần “đong, đo, đếm” được nguồn lực để nghị quyết đi vào cuộc sống tại Đảng bộ TP Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) là chủ động, kiên quyết vận hành tròn khâu trong quy trình ban hành nghị quyết. Ví như, trước khi ban hành nghị quyết lãnh đạo xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, Ban Thường vụ Thành ủy giao UBND thành phố xây dựng dự thảo đề án, trong đó xác định rõ nguồn lực lãnh đạo tổ chức thực hiện. Khi dự thảo đề án hoàn thành, Ban Thường vụ Thành ủy nghe UBND thành phố báo cáo, trên cơ sở đó chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục bổ sung, hoàn thiện; tiếp đó mới tiến hành họp, quyết nghị ban hành nghị quyết. Làm như vậy sẽ giúp nghị quyết khi được xây dựng có tính khả thi rất cao, vừa xác định đúng vấn đề lãnh đạo, vừa có nguồn lực thực hiện. Mặt khác, khi nghị quyết ra đời, UBND thành phố lại đảm nhiệm trọng trách là cơ quan trung tâm tổ chức thực hiện. Trên cơ sở dự thảo đề án đã có, UBND thành phố tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, ban hành đề án. Đây là căn cứ, cơ sở vững chắc để cụ thể hóa, hiện thực hóa nghị quyết lãnh đạo của tổ chức đảng.
Đồng chí Nguyễn Hoài Nam, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Vĩnh Yên, khẳng định: “Cách vận hành giao nhiệm vụ cụ thể như vậy bảo đảm nghị quyết được xây dựng tròn khâu, bài bản, sát thực tế. Đó cũng là cách tạo nguồn lực cho nghị quyết; bảo đảm mọi chủ trương khi được ban hành tất yếu sẽ đi vào cuộc sống”.
“Muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo, về sau khuyết điểm nhất định bớt đi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh).
“Tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nghiên cứu, học tập quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị, địa phương; tập trung nghiên cứu, thể chế thành luật và các văn bản dưới luật; xây dựng các quy định, quy chế của Đảng; tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thực hiện” (Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”).
ST BÁO QĐN

KỶ NIỆM 70 NĂM CHIẾN THẮNG THƯỢNG LÀO (13-4-1953/ 13-4-2023)


KÝ ỨC VỀ CHIẾN THẮNG THƯỢNG LÀO
Việt Nam và Lào có đường biên giới chung dài hơn 2.000km, núi liền núi, cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn, sông liền sông, cùng chung dòng nước Mekong.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Hoàng thân Souphanouvong cùng các nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối của hai nước đã chung tay gây dựng, gìn giữ và dày công vun đắp cho tình hữu nghị vĩ đại, đoàn kết, gắn bó chặt chẽ và liên minh chiến đấu của cách mạng hai nước.
Bộ phim tài liệu “Ký ức Thượng Lào” do Điện ảnh Quân đội nhân dân thực hiện vừa hoàn thành vào đúng dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Thượng Lào (13-4-1953/ 13-4-2023) góp phần để độc giả hiểu rõ hơn về Chiến thắng Thượng Lào.
“Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”
Chiến dịch Thượng Lào là chiến dịch tiến công giành thắng lợi to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào trên địa bàn các tỉnh: Viêng Chăn, Louangphabang, Houaphanh, Xiangkhouang, Phongsaly và Houayxai (thuộc Thượng Lào, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào) tạo điều kiện cho cách mạng Lào cũng như cách mạng Việt Nam phát triển.
Bộ phim tài liệu “Ký ức Thượng Lào” giúp khán giả ngược dòng thời gian, trở về quá khứ để tưởng nhớ lại những năm tháng chiến đấu gian khổ nhưng vô cùng hào hùng và thắm tình đoàn kết hữu nghị giữa quân đội hai nước Việt-Lào.
Cảnh quay ở những phần mở đầu của phim tại khu vực đài tưởng niệm ở bản Lao Khô, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, khiến người xem vô cùng xúc động khi đồng bào ở đây, nhiều năm qua, từ thế hệ này sang thế hệ khác vẫn truyền tai nhau, nhắc lại câu chuyện lịch sử khi cách mạng Lào gặp khó khăn, đồng chí Kaysone Phomvihane đã đến đây và được bà con dân bản lo cơm ăn, nơi nghỉ, bảo vệ…
Trước kia, ở thôn Làng Ngòi, xã Đá Bàn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang là đại bản doanh của cách mạng Lào và là nơi diễn ra Đại hội các lực lượng kháng chiến Lào. Những hình ảnh, hiện vật mà người dân còn lưu giữ đến ngày nay được tái hiện trong phim để gợi nhớ âm hưởng một thời hào hùng của cách mạng hai nước thời kỳ cách mạng Lào còn khó khăn, chưa có căn cứ để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp.
Nhằm tăng cường quan hệ đoàn kết liên minh chiến đấu Việt - Lào, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1-1953) xác định: Cách mạng Việt Nam có điều kiện phối hợp với cách mạng Lào đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển lên bước mới.
Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, ngày 2-2-1953, Tổng Quân ủy Việt Nam thông qua phương hướng mở đợt hoạt động quân sự trên chiến trường Lào, đề nghị Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho quân chủ lực và quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào mở chiến dịch Thượng Lào và được chấp thuận.
“Lần này là lần đầu tiên các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”, đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong thư gửi các đơn vị bộ đội có nhiệm vụ chiến đấu ở Thượng Lào ngày 3-4-1953.
Ký ức đong đầy
Chiến dịch Thượng Lào có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc kháng chiến của hai dân tộc Lào - Việt. 70 năm đã trôi qua, nhưng ký ức về chiến dịch năm xưa vẫn còn in đậm trong tâm trí của các cựu chiến binh quân tình nguyện Việt Nam.
Chiến thắng Thượng Lào đã giúp cách mạng Lào có một khu căn cứ rộng lớn. Để có được thắng lợi đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ Lào và quân tình nguyện Việt Nam đã anh dũng hy sinh.
Sau 70 năm, những nhân chứng lịch sử từng tham gia chiến dịch mặc dù tuổi cao, sức yếu nhưng khi nhắc đến những năm tháng chiến đấu hào hùng thì ký ức lại hiện về trong tâm trí họ. Cho dù giờ đây đã ở vào tuổi xưa nay hiếm nhưng Đại tá Nguyễn Quốc Thịnh, nguyên sĩ quan tác huấn Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 vẫn tha thiết và đau đáu với nguyện vọng được trở lại chiến trường xưa và được thăm lại các bạn Lào.
Trong bộ phim “Ký ức Thượng Lào”, Đại tá Nguyễn Quốc Thịnh đã kể về thời gian được tham gia và chứng kiến những thời khắc quan trọng của lịch sử dân tộc hai nước Việt-Lào.
Đánh giá về tầm quan trọng của Chiến dịch Thượng Lào, PGS, TS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam bày tỏ trong phim: "Thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào thể hiện thắng lợi của Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với Lào là hết sức to lớn. Chúng ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 2.800 quân địch".
Được giao nhiệm vụ đạo diễn của phim, Trung tá Vũ Trọng Quảng chia sẻ: "Tôi nhận kịch bản từ tháng 12-2022. Sau đó, tôi đã tìm đọc những tài liệu về Chiến dịch Thượng Lào. Chiến dịch đã diễn ra cách đây 70 năm mà thời đó rất ít hình ảnh nên đây cũng là một trong những khó khăn cho đoàn làm phim. Tuy nhiên, tôi và ê kíp làm phim tâm niệm, đây là bộ phim mang tính lịch sử nên có khó khăn đến mấy thì cũng sẽ tìm cách khắc phục để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà cấp trên giao".
Điều thuận lợi của đạo diễn Vũ Trọng Quảng khi thực hiện bộ phim này là vào năm 2018, anh đã được sang Lào làm phim. Những hình ảnh được ghi lại hồi đó cùng với những dấu ấn về đất nước Lào tươi đẹp đã giúp người nghệ sĩ, chiến sĩ này hoàn thành tác phẩm điện ảnh mà anh dành nhiều tâm huyết để thực hiện.
“Điện ảnh Quân đội nhân dân có sẵn một kho tư liệu nên rất thuận lợi cho chúng tôi khi chọn những cảnh phù hợp với nội dung phim. Trong quá trình thực hiện khâu tiền kỳ cũng có đôi chút khó khăn vì là bộ phim làm gấp nên chúng tôi phải mất 3 tháng mới xong. Tuy nhiên, được sự chỉ đạo của Ban giám đốc Điện ảnh Quân đội nhân dân và sự giúp đỡ của đồng nghiệp, có nhiều cảnh, tôi thực hiện từ trước Tết Nguyên đán Quý Mão 2023. Sau đó, vào tháng 2-2023, chúng tôi triển khai ghi hình ở các địa danh: Điện Biên, Sơn La, Tuyên Quang, Nghệ An, Hà Tĩnh, những nơi mà các đồng chí Kaysone Phomvihane và Souphanouvong cũng như lực lượng quân đội Lào đã từng đến”, đạo diễn Vũ Trọng Quảng cho biết.
Giờ đây những người lính, dân quân du kích, bà con nhân dân từng tham gia chiến dịch Thượng Lào đến nay cũng đã hơn 90 tuổi nhưng những ký ức về chiến dịch hào hùng năm xưa vẫn theo họ trong suốt cuộc đời. Hoàng thân Souphanouvong đã từng nói “Sầm Nưa giải phóng là kết quả của bao nhiêu năm đấu tranh chống quân xâm lược của các bộ tộc Lào. Sầm Nưa giải phóng là kết quả của tinh thần đoàn kết anh em giữa hai nước Việt - Lào, của sự giúp đỡ không điều kiện của nhân dân, của quân đội Việt Nam”.
Ký ức về Chiến thắng Thượng Lào mãi là một phần làm nên tâm hồn, tình cảm của hai dân tộc Việt - Lào, là nguồn động viên để quân và dân hai nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong lịch sử và tiếp tục bồi đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào mãi sắt son, bền chặt. Bộ phim “Ký ức Thượng Lào” sẽ được Điện ảnh Quân đội nhân dân công chiếu rộng rãi trong thời gian tới.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHÁ HOẠI NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG THỜI ĐẠI SỐ



Nhận diện âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay đối diện nhiều khó khăn, phức tạp
Những âm mưu, thủ đoạn phá hoại trong thời đại số
Thời đại công nghệ số 4.0 làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới chung quanh. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội. Từ những tiến bộ về khoa học và công nghệ sẽ xuất hiện nhiều hơn một số xu thế mang tính phổ quát bên cạnh những giá trị chung, truyền thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm khác nhau. Đó là xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế đổi mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa thông tin; tăng cường nguồn lực cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); xu thế tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn công nghệ số được các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng, thực hiện tinh vi và xảo quyệt, nguy hiểm hơn.
Trong thời đại công nghệ số đang phát triển như vũ bão, các thế lực thù địch, phản động tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí điện tử ở nước ngoài. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ uy tín lãnh tụ, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ; triệt để khai thác các sự kiện chính trị, ngoại giao, những vấn đề nhân sự, nội bộ với các thông tin chưa được kiểm chứng để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước ta.
Thời gian qua, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hình thức thể hiện của tự do ngôn luận có sự biến đổi lớn. Internet, mạng xã hội trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổ chức bày tỏ quan điểm, tư tưởng, truyền bá thông tin, thể hiện quyền tự do ngôn luận. Sức lan tỏa và ảnh hưởng của nó rất mạnh mẽ và nhanh chóng, tạo được sự chú ý, quan tâm theo dõi của số đông người dân, nhất là những người có ảnh hưởng trong xã hội. Chỉ cần sở hữu phương tiện điện tử (điện thoại thông minh, laptop) có kết nối Internet, cá nhân có quyền tự do truyền đạt thông tin, ý kiến của mình đến người khác mọi nơi, mọi lúc. Tình trạng các hội, nhóm chia sẻ những thông tin tiêu cực, thông tin sai trái, tin không rõ nguồn, chưa được kiểm chứng… xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng gây tác động xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội nói chung.
Thực tế này đang đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả cũng như đặt ra yêu cầu mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo để không trở thành nạn nhân của "thế giới ảo". Thông qua các hội, nhóm, người dùng có thể tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền thông tin, hình ảnh thông qua tài khoản cá nhân của mình. Điều này mang đến những nguy cơ khi quyền này bị lạm dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin trên không gian mạng có quan điểm sai trái, thái độ cực đoan, có tư tưởng kỳ thị, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ dẫn đến bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động. Hoặc vì động cơ cá nhân, một số trường hợp đã đăng tải thông tin sai sự thật, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
Việc lợi dụng các quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng đã và đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho cộng đồng. Theo dữ liệu thống kê từ We are Social, tính đến tháng 1/2022, Việt Nam có 76,95 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương 78,1% tổng dân số. Chỉ tính trong hai năm 2021, 2022, số người dùng mạng xã hội ở Việt Nam đã tăng 5 triệu người (6,9%). Với độ phủ sóng rộng cùng một lượng lớn thời gian hoạt động và tương tác trên không gian mạng, những gì người sử dụng thu nhận được sẽ tác động không nhỏ đến việc hình thành tư tưởng và phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống, nhất là ở nhóm đối tượng vị thành niên - lứa tuổi dễ đi theo những luồng tư tưởng mới, dễ bị tổn thương và kích động tâm lý.
Thông qua các nền tảng không gian mạng trong thời đại số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung thật giả lẫn lộn, sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan của Đảng, Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin; ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư luận quan tâm… Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, phần tử bất mãn đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận người dân, nhất là những người có tâm lý hiếu kỳ, tò mò muốn dò tìm các thông tin không chính thống. Những cái “bẫy thông tin” mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thật giả và bị những dòng thông tin sai lệch này dẫn dắt.
Đổi mới hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Tình hình trên cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong thời đại công nghệ số hiện nay là rất khó khăn, phức tạp. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.
Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ uy tín, hình ảnh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
Thực tế, những quan điểm thù địch, xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam XHCN hướng tới mục tiêu làm thay đổi bản chất dân chủ của Nhà nước, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm làm chệch hướng. Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết. Cần nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo, định hướng, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhất là sức mạnh tổng hợp của các “binh chủng” công tác tư tưởng để thực hiện thắng lợi đồng thời cả hai mục tiêu: Bảo vệ, phát triển, vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng mạng internet, nâng cao khả năng nhận thức và năng lực tự sàng lọc thông tin của người dân và cộng đồng, hình thành thói quen hành xử tích cực trên môi trường mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài để mỗi người dân trở thành bộ lọc thông tin hiệu quả cho chính mình và cộng đồng. Mỗi người khi sử dụng mạng internet cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, bản chất của các thế lực thù địch để không tin, không bị lôi kéo, dẫn dắt trước các thông tin xấu, độc./.
ST

XÂY DỰNG NẾP SỐNG KỶ LUẬT TỰ GIÁC, NGHIÊM MINH


Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội là một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (Nghị quyết 847).
Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, bản chất kỷ luật của Quân đội ta mang bản chất kỷ luật của Đảng và của giai cấp công nhân. Đó là kỷ luật sắt, tự giác, nghiêm minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Ngay trong buổi đầu thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã thực hiện tuyên thệ 10 lời thề danh dự-chuẩn mực để quân nhân tự giác chấp hành, thể hiện lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân.
Kỷ luật tự giác, nghiêm minh là một phẩm chất cao đẹp trong phẩm chất nhân cách Bộ đội Cụ Hồ, là truyền thống tốt đẹp được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Truyền thống đó được thể hiện ở tính tự giác cao trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mỗi quân nhân; trong chấp hành đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; trong chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên ở bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Thực tiễn hơn 78 năm qua cho thấy, chính nhờ sự đoàn kết, thống nhất, kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã tạo thành nguồn sức mạnh nội sinh quan trọng để Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh góp phần làm cho quân đội giữ được trọn vẹn niềm tin yêu của nhân dân, xứng đáng là trường học lớn, lực lượng mẫu mực trong xã hội.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thủ đoạn “bạo loạn lật đổ”, các thế lực thù địch thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định từ bên trong; âm mưu tách mỗi cá nhân quân nhân ra khỏi tập thể quân nhân, làm mất sức chiến đấu của quân nhân bằng cách cổ vũ lối sống thực dụng, tự do vô kỷ luật, phi chính trị hóa... từ đó hòng gây mất đoàn kết nội bộ, mất sức chiến đấu của quân đội. Mặt khác, hiện tượng thiếu tự giác trong rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, thậm chí vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của một số quân nhân xảy ra trong thời gian qua đã làm ảnh hưởng tới uy tín của quân đội, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nghị quyết 847 đã chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang, né tránh, ngại va chạm, làm việc cầm chừng, tính toán thiệt hơn, xa rời thực tiễn; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ”.
Quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” và “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”. Thấm nhuần lời dạy sâu sắc của Người, trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh cho cán bộ, chiến sĩ là vấn đề hết sức quan trọng.
Để giữ vững và phát huy, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bồi dưỡng năng lực chấp hành kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ. Đây là việc làm thường xuyên, liên tục, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng người và được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, nhất là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu; làm cho mọi quân nhân có nhận thức sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục cho mỗi quân nhân nâng cao nhận thức, quán triệt thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân; nắm chắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và của từng đơn vị, hiểu rõ chức trách, nhiệm vụ của mình, có ý thức chấp hành nhanh chóng, chính xác mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, tuân thủ tuyệt đối pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ của quân đội, quy định của đơn vị.
Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp cần phải đề cao trách nhiệm nêu gương trong duy trì, chấp hành kỷ luật quân đội. Sự gương mẫu của người cán bộ, đảng viên trước hết là sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong lãnh đạo, chỉ huy. Phải mẫu mực chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, các quy định, chế độ của đơn vị; luôn toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung, vì nhiệm vụ của đơn vị. Người cán bộ, chỉ huy phải thật sự gương mẫu đi đầu, có tác phong nói đi đôi với làm, kiên quyết khắc phục, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của bản thân. Sự gương mẫu của người cán bộ còn thể hiện ở việc dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn sâu sát, bám nắm bộ đội, tâm huyết với công việc, thật sự là người anh, người chị và người bạn thân thiết của bộ đội; biết định hướng, hướng dẫn hành động cho cấp dưới.
Với mỗi quân nhân phải không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện, phấn đấu trong chấp hành kỷ luật ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi nhiệm vụ, điều kiện, hoàn cảnh; cần đặt ra kế hoạch tự rèn luyện một cách toàn diện cả về nhận thức, thái độ, hành động, cả ý chí, quyết tâm tu dưỡng, phấn đấu và phải được cụ thể hóa thành yêu cầu, chỉ tiêu phấn đấu sát với cương vị, chức trách của mình; tập trung đi sâu vào nội dung, biện pháp khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong chấp hành kỷ luật và đề ra phương hướng cụ thể phấn đấu trong thời gian tiếp theo.
Một trong những biện pháp quan trọng bảo đảm cho việc giữ nghiêm kỷ luật trong các đơn vị quân đội hiện nay là xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh. Để thực hiện điều này, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-6-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện”; Hướng dẫn số 1090/QH-KH ngày 29-4-2020 của Cục Quân huấn-Bộ Tổng Tham mưu về “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” cho mọi đối tượng trong đơn vị. Có biện pháp quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của bộ đội, nhất là ở những nhiệm vụ, lĩnh vực khó khăn, nhạy cảm, hoạt động phân tán, công tác nhỏ lẻ; duy trì kỷ luật luôn gắn chặt với mọi hoạt động của đơn vị và bộ đội.
Bên cạnh đó, các đơn vị cần kết hợp chặt chẽ Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu và các tổ chức vững mạnh để tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng đơn vị. Duy trì thực hiện năm tiêu chuẩn đơn vị có môi trường văn hóa tốt, làm cho mỗi quân nhân luôn có ý thức và thực hiện “sống theo pháp luật, hành động theo điều lệnh, làm việc theo chức trách”. Đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo và gương điển hình tiên tiến.
Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải quan tâm coi trọng xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa lãnh đạo với chỉ huy, quản lý, điều hành; cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ; giữa tổ chức đảng với các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân nhằm xây dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh, đoàn kết, phấn khởi trong đơn vị. Phải quan tâm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có lòng tự trọng, giữ gìn danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ, có thái độ đúng đắn với bản thân và các mối quan hệ trong quân đội, quan hệ với nhân dân, xã hội và gia đình; xây dựng kỷ cương, trách nhiệm, tình thương yêu đồng chí, đồng đội trong tập thể quân nhân. Đặc biệt, cần coi trọng tạo lập môi trường văn hóa dân chủ, cởi mở trong các mối quan hệ; chống mọi biểu hiện, hành vi, thái độ quân phiệt, gia trưởng, xâm phạm đến nhân cách của cán bộ, chiến sĩ.
Để xây dựng nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh cho cán bộ, chiến sĩ, các đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới; tích cực đấu tranh ngăn ngừa những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, quá trình hội nhập đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của bộ đội...

“…CHI BỘ LÀ MỘT TỔ CHỨC LÃNH ĐẠO CHÍNH TRỊ, CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH”

 


Đó là lời được trích trong bài viết“Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Nhân Dân số 176 ra từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 4 năm 1954, nêu lên nhiệm vụ phát huy vai trò “chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan” để đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất thắng lợi.
Nhận rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chi bộ theo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm cụ thể hóa và không ngừng bổ sung, phát triển chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng phù hợp với từng loại hình, qua các kỳ Đại hội. Điều 27, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII xác định: “Chi bộ là nơi trực tiếp nối liền Đảng với quần chúng, được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên. Chi bộ có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công và kiểm tra công tác của đảng viên, kết nạp đảng viên mới và thi hành kỷ luật đảng viên, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi đơn vị”.
Với chức năng là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chi bộ phải có trách nhiệm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị; tiến hành tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông qua thực tiễn lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, chi bộ lắng nghe những kiến nghị, góp ý, phản ánh và tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng về đường lối, chính sách đã ban hành để Đảng nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách cho đúng đắn, phù hợp. Chi bộ tuyệt đối không làm thay, lấn sang các công việc điều hành, quản lý của chính quyền, của đoàn thể.
Học tập và làm theo lời Bác dạy về phát huy đúng chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chi bộ trong Quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trọng tâm là chất lượng sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo; thực hiện quy chế dân chủ, công khai; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát... thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong cơ quan, đơn vị.
Nguồn: QĐND.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM Chiền But'