Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

Cần tiếp tục tư duy đột phá, quyết liệt trong nói và làm để phát triển đất nước

 


            Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta đã thu được kết quả tích cực nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực được xử lý nghiêm. Kết quả ấy đã ít nhiều tác động đến tâm lý cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu thiếu bản lĩnh sợ sai, sợ trách nhiệm không dám làm. Tình trạng này là rất "nóng" đáng báo động. Do vậy rất cần những cá nhân có tư duy đột phá và hành động, quyết liệt trong nói và làm để phát triển đất nước.

Biểu hiện sợ sai lầm, sợ trách nhiệm

Trong cuộc sống, việc chúng ta phạm sai lầm hoặc đưa ra những quyết định khiến chúng ta hối hận là điều bình thường và không thể tránh khỏi. Vậy sai lầm là việc chúng ta đưa ra quyết định hoặc hành động một cách thiếu chính xác. Việc đưa ra quyết định sai lầm này sẽ khiến chúng ta hoặc người thân thiết và những người có liên quan gặp phải rắc rối. Thậm chí trong một số trường hợp, sai lầm sẽ đưa chúng ta đến những hậu quả nghiêm trọng.

Còn giải thích về từ “Trách nhiệm”, trong Từ điển tiếng Việt nêu:“Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”. Điều này có thể hiểu là người cán bộ, lãnh đạo là người được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phải thực hiện công vụ trên cương vị, chức trách của mình. Nếu họ không dám hoặc không thể thực hiện trách nhiệm đó thì phải có biện pháp xử lý theo qui định. Nhiều tập thể, cá nhân bị xử lý kỷ luật thời gian qua do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm trái quy định, độc đoán, chuyên quyền, tham ô, tham nhũng... Hệ quả của vấn đề này đã dẫn đến tâm lý cán bộ sợ sai lầm, sợ trách nhiệm. Bên cạnh đó, có một thực tế, hiện nay, đội ngũ cán bộ các cấp trong bộ máy của chúng ta ở nhiều nơi vẫn còn nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại, qua loa, đại khái, không dám làm, không dám đổi mới, tính năng động, sáng tạo còn hạn chế.

Hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu cho rằng:“Bây giờ làm việc gì cũng sợ sai, làm xong rồi cũng không biết có sai hay không, sai cũng không biết sai chỗ nào và thậm chí không làm gì cũng có thể dẫn đến sai phạm”.

Đây là câu chuyện không mới, cán bộ biết sợ sai lầm là tốt, như vậy sẽ tránh được thất bại; cán bộ tránh bị kỷ luật, bị khởi tố; nhưng sợ đến mức không dám làm, không dám hành động gì vì sợ sai, sợ trách nhiệm và không biết làm như thế đúng hay sai là không thể chấp nhận được và cần phải xem lại trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên đó. Các cơ quan chức năng cũng cần vào cuộc để đánh giá lại cán bộ của mình xem còn đủ năng lực và trình độ hay không để xử lý trách nhiệm, thậm chí đưa ra khỏi bộ máy của Đảng và Nhà nước.

Trong thực tế khi nhận nhiệm vụ, không có vị lãnh đạo nào là không hứa hẹn sẽ tận tâm, tận lực mang hết khả năng và tinh thần trách nhiệm để cống hiến. Thậm chí khi vào Đảng là lời tuyên thệ trước Đảng: Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác...

Rồi Luật Cán bộ công chức và các luật chuyên ngành cũng quy định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức nói chung, vậy mà cán bộ nói sợ trách nhiệm, nói “không làm gì cũng có thể dẫn đến sai phạm”, hay “không biết làm sai ở chỗ nào” là không thể chấp nhận được và câu hỏi đặt ra là cán bộ đó có còn đủ tư cách để ngồi vào chiếc ghế đó nữa không?.

Quy trình của cán bộ đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chí, quy định trước khi được đề bạt, bổ nhiệm làm lãnh đạo, quản lý và họ đều đã được thử thách trong thực tiễn công tác; học hành bài bản đủ bằng cấp, chứng chỉ, thậm chí có những người được học ở những bậc cao. Như vậy, cán bộ, đảng viên vô tư trong sáng là “đầy tớ” của nhân dân thì sao có thể làm sai được...

Trong công tác phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng tuyên bố rất rõ:“Ai cảm thấy cản trở, nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”. “Nếu anh nào làm không tốt thì thay luôn, chúng ta không thiếu người…Tiền bạc chết có mang theo được đâu, danh dự mới là điều thiêng liêng cao quý nhất”. Như vậy đặt ra yêu cầu của công tác cán bộ và thực thi công vụ cần quán triệt sâu sắc quan điểm này của Tổng Bí thư.

Cán bộ không dám làm hay im lặng, nghĩa là thiếu trách nhiệm, có thể hiểu là anh không làm hoặc làm không đúng quy định của pháp luật chứ không phải không hiểu luật. Luật ở đây là những quy định về chức năng, nhiệm vụ, trình tự, thủ tục và những nhiệm vụ phải làm được thể hiện trong văn bản quy phạm pháp luật chứ không tách rời với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ. Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật đều có quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng chức danh.

Căn nguyên của câu chuyện này là xuất phát từ chuyện cán bộ, công chức đạo đức công vụ kém, lợi dụng chức vụ quyền hạn để thu vén, lợi ích nhóm, làm những việc không đúng pháp luật. Cái gốc của vấn đề là sân sau, lợi ích nhóm. Câu trả lời là anh làm sai nên anh mới sợ.

Không ai có thể hiểu biết hết tất cả nhưng điều đó không có nghĩa là không có luật quy định điều chỉnh và không có bộ phận chuyên môn giúp việc. Trong nhiều vụ án vì vụ lợi, lợi ích nhóm mà các cơ quan "nhắm mắt" cho qua chứ đâu phải ở năng lực trình độ cán bộ, nếu động cơ trong sáng thì họ đâu có sai phạm.

Một nguyên nhân nữa là không dám làm và sợ sai lầm, cho thấy tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ không đáp ứng nhưng vì ham quyền lực, háo danh đến mức "chạy chọt" để đạt được chức danh đó, cho nên đến khi được bổ nhiệm, đề bạt vào vị trí đó không biết làm gì và dẫn tới bị cấp dưới thao túng tham nhũng, tiêu cực.

Tình trạng lãnh đạo sợ sai không dám làm gì là rất đáng báo động. Điều đó sẽ làm mất đi động lực, cơ hội làm ăn, kìm hãm sự phát triển, nhất là ở những cơ quan đơn vị, địa phương có vị trí quan trọng chiến lược quốc gia mà cán bộ nào cũng sợ sai không dám làm thì tương lai đất nước sẽ về đâu?. Thực tế đã có, tuy không phải tất cả nhưng cũng có không ít cán bộ khi đi luân chuyển về địa phương 2-3 năm không làm gì “án binh, bất động”, cố gắng không đụng chạm với ai, không quyết liệt xử lý những vi phạm, không đề xuất cái mới, qua loa, dĩ hòa vi quí, lấy lòng nhau “cả làng đều vui” để rồi rút về an toàn.

Tâm lý sợ sai lầm, sợ trách nhiệm, làm việc cầm chừng trong thực thi công vụ là một thực tế. Rõ nhất hiện nay là việc xem xét phê duyệt các dự án, đầu tư mua sắm công, giải ngân vốn đầu tư công, tình trạng có tiền mà không dám tiêu... Tình trạng “thận trọng quá mức” dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm sang các cơ quan, đơn vị khác và xin ý kiến cấp trên, cộng với tâm lý sợ trách nhiệm trong quá trình phê duyệt hồ sơ dự án ở địa phương đang là một thực tế ảnh hưởng lớn đến tiến độ công việc và quá trình phát triển.

Có ý kiến cho rằng, sở dĩ cán bộ sợ sai không dám làm là vì cơ chế. Ở thời điểm này cơ chế có thể đúng, nhưng ở một thời điểm khác có thể sai?. Bản chất cơ chế, chính sách là đúng nhưng cái không đúng là người ta lợi dụng cơ chế “lách luật” để làm những việc khuất tất phục vụ cho lợi ích sân sau, lợi ích nhóm. Vì thế không thể đổ lỗi cho cơ chế. Nếu là cơ chế, tại sao nhiều cán bộ công chức chấp nhận nghèo chứ không tham nhũng? Không thể nói số đó không hiểu luật, mà họ có đạo đức, có tự trọng, có danh dự, nhân cách. Trong khi đó, có những vị chức to, quyền lớn lại không có liêm sỉ thì làm sao có thể làm đúng được...

Thực tế cho thấy một khi làm đúng chức trách, phận sự của mình trong công việc thì không phải sợ gì cả. Rõ ràng sợ sai không dám làm là do năng lực yếu kém, có vấn đề nên làm gì cũng sợ. Nếu anh có tài, có năng lực thật thì không phải sợ gì cả…

Nguyên nhân của tình trạng trên cho thất yếu tố chủ quan vẫn là chính, trong đó “nhiều cán bộ sợ, không dám chịu trách nhiệm” đang tồn tại. Có người cho rằng: “Bây giờ cán bộ làm việc gì cũng sợ sai. Nhiều cán bộ “suy tư, lo lắng”, khiến tinh thần làm việc giảm sút. Sự cẩn trọng của cán bộ, công chức, viên chức diễn biến theo chiều hướng trì trệ….”. Việc khởi tố một loạt cán bộ, đảng viên, kể cả những cán bộ cấp cao có thể tạo ra khủng hoảng nhất định, có thể gây ra xáo trộn cán bộ của cả một bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng cũng là cơ hội tốt để mỗi cán bộ, đảng viên nhìn lại mình, công việc mình làm, “tự soi, tự sửa” để hành động đúng đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân.

Cơ chế là động lực khắc phục tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm

Bài học quan trọng công cuộc đổi mới đất nước cho chúng ta thấy trong lúc đất nước đang gặp vô vàn khó khăn, thách thức của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì xuất hiện những con người của lịch sử dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình đó là: “nói và làm”, “những việc cần làm ngay”… cùng với đó là ra đời của Chỉ thị 100 CT/TW  ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5/4/1988, Bộ chính trị (hay còn gọi là Khoán 10) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp là “cú hích” mạnh mẽ cho sản xuất nông nghiệp. Đây thực sự là cuộc cách mạng về tư duy trước hết là tư duy về kinh tế góp phần đưa đất nước ta ra khỏi khủng khoảng. Và trong tình hình hiện nay thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là: "Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao". Để có thể thực hiện được những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước nêu trên, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã có bước đột phá về chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ, đó là: “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”[1]. Đây là quan điểm nổi bật, mang tính đột phá chiến lược, nhận được sự đồng tình và đánh giá cao của đông đảo cán bộ, đảng viên và dư luận quần chúng nhân dân.

Chúng ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một mô hình chưa có tiền lệ, bởi thế quá trình hoàn thiện nó gặp phải muôn vàn khó khăn, vướng mắc là dễ hiểu. Chúng ta luôn khuyến khích mọi cá nhân, tập thể có những việc làm đột phá, đổi mới, sáng tạo để đưa đất nước đi lên. Các chính sách bao giờ cũng phải song hành để cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhưng không thể làm sai và không dám làm sai.

Cùng với công tác “khuyến khích cán bộ”, thì Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh:“Có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”[2]

Tinh thần và thái độ “bảo vệ cán bộ” trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng chính là giải phóng sức sáng tạo và giảm bớt gánh nặng trách nhiệm cho những“công bộc” thật sự tâm huyết, trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây là vấn đề đặt ra rất cấp thiết và cần được giải nhanh chóng trong tình hình hiện nay./.

 Để thể chế hóa quan điểm về bảo vệ cán bộ của và khắc phục tâm lý sợ sai lầm, sợ trách nhiệm, ngày 22-9-2021, Bộ Chính trị Bộ Chính trị ban hành Kết luận 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ. Theo đó, Kết luận số 14 cũng chỉ rõ những quan điểm mới trong bảo vệ cán bộ, khuyến khích cán bộ có tư duy sáng tạo, cách làm đột phá, tháo gỡ, giải quyết những điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế, chính sách, tập trung vào những vấn đề chưa được quy định hoặc đã có quy định nhưng không phù hợp với thực tiễn khi giải quyết công việc.

Kết luận nêu rõ: “Khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng, hết sức vì nhân dân phục vụ của đội ngũ cán bộ”[3].

Chủ trương trên đã thể hiện sự tiếp tục kế thừa và phát triển trong tư duy của Đảng ta về cán bộ tạo thêm động lực rất lớn để cán bộ có thêm bản lĩnh dấn thân, mạnh dạn trong tư duy sáng tạo và đổi mới trong triển khai các phương pháp tổ chức quản lý để kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn có tính cấp bách dám bước qua những lối mòn, những thách thức, có thêm những cơ hội để cống hiến cho đất nước, cho nhân dân.

Dám nghĩ, dám làm, dám đột phá không có nghĩa là làm liều, không có tính toán, các ý tưởng, giải pháp, đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ phải được báo cáo với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị nơi công tác; được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cho thực hiện hoặc thực hiện thí điểm. Ý tưởng, sự đột phá ấy phải bảo đảm không trái với Hiến pháp và Điều lệ Đảng

Bên cạnh đó tổ chức Đảng sẽ thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo. Chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế. Đặc biệt, khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hay chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại, thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp; nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm.

Một trong những yêu cầu rất quan trọng nữa chính là nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu. Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không thì vai trò nêu gương của người đứng đầu có ý nghĩa quyết định. Dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám đổi mới không chỉ là việc của người đứng đầu mà người đứng đầu còn phải tạo mọi điều kiện, khuyến khích và bảo vệ các sáng kiến, cái mới có lợi cho cơ quan, đơn vị và đất nước. Người đứng đầu phải tăng cường trách nhiệm nêu gương luôn là người hướng dẫn, định hướng, tạo mọi điều kiện để phát huy tìm kiếm người tài, phát huy sức mạnh của nhân dân. Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương. Người đứng đầu càng gương mẫu thì càng có uy tín và khi đó vai trò lãnh đạo, dẫn rắt phong trào càng có ý nghĩa to lớn, hiệu quả công việc càng cao.

Từ đó, đặt ra vấn đề nêu gương luôn phải được quan tâm đúng mức, trở thành lý tưởng và lẽ sống của cán bộ đảng viên và người đứng đầu. Bởi đảng lãnh đạo bằng sự nêu gương, nêu gương ở đây chính là tấm gương sáng về đạo đức lối sống, nói đi đôi với làm, hành động quyết liệt vì dân vì nước đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, trước hết. Trách nhiệm nêu gương phải có nhận thức đúng trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, hiệu quả của cán bộ đảng viên nhất là những người đứng đầu. Phát huy trách nhiệm nêu gương trong khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung chính là củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Có thể nói, tinh thần bảo vệ cán bộ là rất quyết liệt, mạnh mẽ, nhưng nó chỉ hiện thực khi và chỉ khi cán bộ thật sự đề xuất đổi mới, sáng tạo“vì lợi ích chung”, chứ không phải sự sáng tạo vì lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân. Có nghĩa là những cán bộ sáng tạo, đột phá, “xé rào” vì nước, vì dân, vì lợi ích của tập thể, cộng đồng thì mới được Đảng, Nhà nước và khuôn khổ pháp lý, pháp luật bảo vệ đến tận cùng. Còn ngược lại, Đảng sẽ nghiêm khắc xử lý mạnh mẽ đúng như Kết luận số 14: “Xử lý nghiêm việc lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.

Như vậy, Kết luận 14-KL/TW chính là một định hướng chỉ đạo dẫn đường, là cơ sở quan trọng để Chính phủ ban hành Nghị định khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung tự tin trong việc dám đổi mới, dám đột phá vượt qua những khó khăn cản trở trong quá trình thực thi công vụ mở đường cho sự phát triển./.

          V3.

 

Bảo đảm thực thi quyền bình đẳng – cốt lõi đoàn kết các dân tộc Việt Nam

 


Đại đoàn kết toàn dân tộc là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác dân tộc. Bình đẳng để đoàn kết là vấn đề cốt lõi trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam.

 

Bác Hồ đã khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau".

          Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (hơn 14 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước). Quy mô dân số của các dân tộc không đồng đều, có 6 dân tộc trên 1 triệu người, 14 dân tộc dưới 10.000 người, 5 dân tộc dưới 1.000 người.

         Hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số sống tại miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa, tập trung ở 463 huyện thuộc 51 tỉnh tại Đông và Tây Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

         Hiến pháp năm 2013 quy định: "Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc".

         Văn kiện Đại hội Đảng Khóa XIII nêu rõ mục tiêu "bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển", đồng thời "chống kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc".

          Đảng và Nhà nước ta thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc theo hướng:

        Về chính trị, việc đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ người dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được chú trọng. Quốc hội khóa XV có 17,84% tổng số đại biểu là người dân tộc thiểu số, cao nhất từ trước đến nay. Đây cũng là lần đầu tiên Quốc hội nước ta có thêm đại diện của hai dân tộc thiểu số rất ít người là Lự và Brâu. Như vậy, trong tổng số 54 dân tộc, hiện chỉ còn hai dân tộc là Ơ Đu và Ngái là chưa có đại diện tham gia Quốc hội.

       Về kinh tế, Nhà nước tăng cường ưu tiên các nguồn lực để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Ủy ban Dân tộc, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2022 được đầu tư 626.229 tỷ đồng từ ngân sách.

        Về văn hóa - xã hội, Nhà nước có chính sách bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số, bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.

        Ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn 1: 2021-2025. Trong Chương trình có Dự án "Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch".

        Dự án có mục tiêu khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ văn hóa; hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị văn hóa cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để nâng cao mức thụ hưởng về văn hóa cho đồng bào các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

      Về quyền tiếp cận giáo dục, Nhà nước ta ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Báo cáo của Ủy ban Dân tộc cho biết, nhiều địa phương thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thực hiện hiệu quả Đề án 522 của Thủ tướng Chính phủ về "Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025"; Đề án xây dựng xã hội học tập; quan tâm công tác dạy học tiếng dân tộc thiểu số.

       Về việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Nhà nước quan tâm phát triển mạng lưới y tế, hệ thống bệnh viện tỉnh - huyện và trạm y tế xã. Nhờ đó, đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kết quả Chương trình xây dựng nông thôn mới tại vùng đặc biệt khó khăn, cho biết: Hơn 50% số xã trong vùng có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, 100% đồng bào dân tộc thiểu số có bảo hiểm y tế miễn phí.

       Đảng và Nhà nước ta luôn ưu tiên đầu tư toàn diện đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc.

      Tuy nhiên, một thực tế khách quan là do các yếu tố lịch sử, địa lý, nhận thức mà trình độ phát triển kinh tế- xã hội của các dân tộc ở nước ta chưa đồng đều.

      Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2022 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022- 2025 trên phạm vi toàn quốc do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội công bố, cho thấy: Khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có số hộ nghèo đa chiều cao nhất cả nước, chiếm 21,92% với 701.461 hộ; khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 10,04% với 571.251 hộ; Tây Nguyên là 15,39% với 236.766 hộ; trong khi con số này tại khu vực Đông Nam Bộ là 0,34% với 15.787 hộ; Đồng bằng sông Hồng là 2,45% với 169.566 hộ; Đồng bằng sông Cửu Long là 5,73% với 277.936 hộ.

       Du khách tìm hiểu, trải nghiệm đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Để thu hẹp, tiến tới xóa nhòa khoảng cách giàu - nghèo, trình độ phát triển giữa các dân tộc và các vùng miền, Việt Nam cần nhiều thời gian cùng với những chính sách thiết thực của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực vươn lên của bản thân đồng bào dân tộc thiểu số.

       Song các thế lực thù địch đã và đang ra sức lợi dụng sự chênh lệch về sự phát triển giữa các vùng miền, về trình độ sản xuất - kinh doanh giữa các dân tộc để chống phá, gây chia rẽ, hận thù. Chúng phủ nhận toàn bộ những thành tựu giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong nhiều chục năm qua ở nước ta.

      Nhà nước ta đã từng thực hiện chính sách vận động di dân có kế hoạch (sau năm 1954 và năm 1975) từ vùng đồng bằng lên khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên để xây dựng vùng kinh tế mới. Tiếp đó là hiện tượng di dân ngoài kế hoạch của đồng bào các dân tộc từ miền núi phía Bắc, Trung Bộ vào các tỉnh Tây Nguyên (trong giai đoạn 1980 – 1990). Việc di dân này làm thay đổi sự phân bố dân cư, cơ cấu dân số và làm gia tăng mật độ dân số. Kinh tế phát triển, song lại nảy sinh vấn đề đất đai, rừng và các nguồn tài nguyên khác bị chia sẻ, môi trường thiên nhiên bị ảnh hưởng.

      Lợi dụng những mặt phát sinh từ việc di dân, các thế lực thù địch cố tình phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc ở Việt Nam, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đòi để một số dân tộc thiểu số lập ra "vương quốc" riêng mà không dựa trên bất cứ cơ sở lịch sử - địa chính trị nào. Chúng đòi xét lại lịch sử, thậm chí là bóp méo lịch sử để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

       Chính vì vậy, cần tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, giúp đồng bào các dân tộc hiểu rõ và cùng thực thi các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, không mơ hồ nghe theo kẻ xấu xúi giục, kích động; đồng thời kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

      Vụ việc xảy ra tại xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vừa qua là một ví dụ đau lòng, các đối tượng đã dùng súng tấn công trụ sở UBND hai xã, làm 9 người chết, 2 người bị thương.

         Các lực lượng chức năng đã nhanh chóng vào cuộc, truy bắt các đối tượng phạm tội, ổn định đời sống nhân dân. Đáng chú ý, lực lượng chức năng đã xử lý hơn 100 trường hợp đăng tải các thông tin xấu, độc liên quan đến vụ việc. Các đối tượng vi phạm chủ yếu là với mục đích câu like, đã chia sẻ lại thông tin chưa được kiểm chứng từ các trang facebook, tiktok… của các cá nhân. Họ không ý thức được hậu quả của việc lan truyền những thông tin không đúng sự thật trên các trang mạng xã hội. Khi được giải thích, các trường hợp này đều đã nhận ra hành vi sai phạm, tự gỡ bỏ bài đăng và cam kết không tái phạm.

         Công an tỉnh Đắk Lắk khuyến cáo mỗi người dân khi sử dụng mạng xã hội cần kiểm tra nguồn tin, tính chính xác, tránh "sập bẫy" các đối tượng xấu, đặc biệt là trước các luồng thông tin, hình ảnh từ các trang cá nhân hoặc tổ chức chống Nhà nước. Việc đăng tải thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin bịa đặt, sai sự thật sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

        Để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về ưu tiên phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đi vào hiện thực cuộc sống, đồng bào các dân tộc chính là chủ thể thực thi và đối tượng thụ hưởng. Khơi dậy và phát huy tinh thần đại đoàn kết, lấy chủ nghĩa yêu nước là hạt nhân, chính là động lực để triển khai hiệu quả các chính sách tốt đẹp đó, để cộng đồng các dân tộc Việt Nam ngày càng đoàn kết, gắn bó, không thể tách rời.

          V3.

Dấu ấn trong xây dựng Quân đội vững mạnh, tiến lên hiện đại- Bài 2: Chủ động tham mưu chiến lược, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 

Trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn kiên định, vững vàng, đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao...

Tại các cuộc làm việc với Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòngTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã đánh giá: Trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn kiên định, vững vàng, đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng (QS, QP), xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, nhất là những thời điểm nhạy cảm, phức tạp, không để bị động, bất ngờ.

Đây là điều rất quý, vì giữ được “trong ấm ngoài êm” trước bối cảnh cạnh tranh chiến lược diễn ra gay gắt như hiện nay, không phải quốc gia nào cũng làm được.

Tham mưu, thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân (QĐND) và Công an nhân dân là nòng cốt”; đồng thời, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”.

Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, QUTƯ, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của đất nước.

Trước hết, QUTƯ, Bộ Quốc phòng luôn làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định và thực hiện các chủ trương, chiến lược quan trọng về QS, QP. Nổi bật là: Tham mưu với Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 08-NQ/TW về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng; Nghị quyết số 22-NQ/TW về phòng thủ dân sự; các kết luận về tăng cường tiềm lực quốc phòng kết hợp phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH). Xây dựng dự thảo Luật Phòng thủ dân sự (đã được Quốc hội thông qua); Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự...

Tiểu đoàn 24, Sư đoàn Phòng không 377, Quân chủng Phòng không - Không quân tham gia diễn tập bắn đạn thật năm 2022. Ảnh: XUÂN SANG/qdnd.vn
Tiểu đoàn 24, Sư đoàn Phòng không 377, Quân chủng Phòng không - Không quân tham gia diễn tập bắn đạn thật năm 2022. Ảnh: XUÂN SANG/qdnd.vn

Không chỉ chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng các chủ trương, chiến lược quan trọng về QS, QP trong tình hình mới bảo đảm sát thực, theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, QUTƯ, Bộ Quốc phòng còn chủ trì tham mưu xây dựng và triển khai thực hiện Đề án tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) trong tình hình mới bảo đảm chặt chẽ, chất lượng; sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược BVTQ trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia; đề xuất các chủ trương, quan điểm BVTQ từ sớm, từ xa; các nội dung về quốc phòng gắn với phát triển KT-XH trong 6 nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển vùng trên cả nước... Việc tổng kết, sơ kết các chiến lược được triển khai thực hiện nghiêm túc, chất lượng, rút ra những bài học kinh nghiệm quý, là cơ sở để QUTƯ, Bộ Quốc phòng tiếp tục tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, định hướng lớn nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ QS, QP, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời gian tới.

Cùng với đó, Bộ Quốc phòng đã tham mưu, giúp Chính phủ, Hội đồng Quốc phòng và An ninh (QPAN) thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về quốc phòng; nhất là tham mưu ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách về quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), kế hoạch phòng thủ đất nước, động viên quốc phòng và bảo đảm cho hoạt động quốc phòng, LLVT nhân dân; tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về biên giới quốc gia; duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hải đảo, vùng biển và vùng trời Tổ quốc...

Trong xây dựng nền QPTD, Quân đội đã thực hiện tốt vai trò nòng cốt, bảo đảm xây dựng nền QPTD cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, gắn nền QPTD với nền an ninh nhân dân. Chăm lo xây dựng, phát huy mạnh mẽ, hiệu quả vai trò nền tảng của "thế trận lòng dân" đối với nhiệm vụ BVTQ. Công tác giáo dục QPAN có nhiều đổi mới, sáng tạo, đạt kết quả tốt. Nhận thức và trách nhiệm về nhiệm vụ QS, QP của hệ thống chính trị và toàn dân được nâng lên rõ rệt. Tiến hành điều chỉnh quy hoạch tổng thể thế bố trí quốc phòng phù hợp với quyết tâm BVTQ. Xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các cấp và phòng thủ dân sự bảo đảm tính cơ động, linh hoạt, liên hoàn, vững chắc, làm cho thực lực, tiềm lực và thế trận quốc phòng được tăng cường, sức mạnh BVTQ được nâng lên, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

QUTƯ, Bộ Quốc phòng cũng phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho quốc phòng. Chủ động phối hợp với các lực lượng giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm an toàn các sự kiện trọng đại của Đảng, Nhà nước. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KT-XH với QPAN và đối ngoại; điều chỉnh quy hoạch và xây dựng một số khu kinh tế-quốc phòng trên địa bàn chiến lược. Tập trung nguồn lực phát triển công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, hiện đại, đẩy mạnh nghiên cứu phát triển, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật, bước đầu đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa Quân đội và lần đầu tiên tổ chức Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022 thành công tốt đẹp.

Việc thực hiện chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trước mắt là tinh, gọn, mạnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nhất là Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17-1-2022 của Bộ Chính trị, QUTƯ đã ban hành Nghị quyết số 230-NQ/QUTW với mục tiêu đến năm 2025, Quân đội được xây dựng cơ bản tinh, gọn, mạnh; tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. 

Theo đó, QUTƯ, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai toàn diện các mặt công tác xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; quyết liệt thực hiện việc điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh, bảo đảm bài bản, chặt chẽ, bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng tổng hợp ngày càng cao; lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng vững mạnh, rộng khắp. Điều chỉnh thế bố trí chiến lược lực lượng quân sự phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ phòng thủ đất nước và tác chiến. Rà soát, bổ sung hệ thống văn kiện tác chiến và tổ chức luyện tập, diễn tập sát thực tiễn. Chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu" có chuyển biến tiến bộ; đăng cai tổ chức và tham gia các hội thi, hội thao khu vực, quốc tế đạt nhiều thành tích cao; chính quy và kỷ luật Quân đội được củng cố ngày càng vững chắc. Hệ thống nhà trường Quân đội được quy hoạch xây dựng theo hướng hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu quả, chính quy, mẫu mực theo mô hình nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; từng bước thực hiện hiệu quả phương châm “chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng SSCĐ của đơn vị”.

Trong nửa nhiệm kỳ qua, các mặt công tác: Hậu cần, kỹ thuật, tài chính, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, khoa học-công nghệ quân sự... cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ QS, QP, BVTQ.

Luôn chủ động, vững vàng vượt thử thách

Thành công nổi bật nhất về công tác QS, QP trong nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là Quân đội luôn chủ động nghiên cứu, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, tham mưu cho Đảng, Nhà nước những chủ trương, đối sách hợp lý trong xử lý các tình huống phức tạp, nhạy cảm liên quan đến QPAN. Qua đó, nước ta đã chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, thực hiện tốt phương châm BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Thực tế cho thấy, từ cuối năm 2020 đến nay, tình hình thế giới có nhiều biến động, diễn biến bất ngờ và khó đoán định, đặc biệt là đại dịch Covid-19 và cuộc xung đột quân sự Nga-Ukraine đã tác động rất lớn đến mọi quốc gia. Khu vực Đông Nam Á vẫn là trọng điểm cạnh tranh giữa các cường quốc. Biển Đông tiềm ẩn nhiều bất trắc. Ở trong nước, bên cạnh những thành tựu quan trọng cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức do những tác động không tránh khỏi của tình hình thế giới; các thế lực thù địch, phản động không ngừng chống phá với những âm mưu, thủ đoạn ngày càng thâm độc, gay gắt...

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, QUTƯ, Bộ Quốc phòng đã chủ động chỉ đạo toàn quân tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, nắm chắc tình hình mọi mặt liên quan, có tác động đến công tác QS, QP và an ninh, BVTQ. Từ đó, Quân đội kịp thời làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước phương án, đối sách xử trí phù hợp, hiệu quả, giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ, nhất là trong những vấn đề, tình huống phức tạp, nhạy cảm; đồng thời duy trì nghiêm chế độ SSCĐ, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng; chuẩn bị đầy đủ các phương án, kế hoạch, lực lượng, vũ khí, trang bị, phương tiện, xử trí có hiệu quả tình huống tác chiến và ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống; xứng đáng là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Dù tình hình thế giới, khu vực và Biển Đông có những lúc rất căng thẳng, phức tạp, cạnh tranh giữa các nước lớn gay gắt, gia tăng lôi kéo lực lượng...; song Quân đội đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan, tham mưu cho Đảng, Nhà nước xử lý phù hợp, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống (nhất là trước những vấn đề nảy sinh từ xung đột quân sự Nga-Ukraine và các diễn biến phức tạp trên Biển Đông...).

Cùng với đó, Quân đội luôn chủ động tham mưu và thực hiện các biện pháp bảo đảm không để xảy ra xung đột vũ trang; tích cực tham gia hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương, song phương và gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ khắc phục hậu quả động đất... Qua đó củng cố lòng tin, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và QĐND Việt Nam; bảo đảm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, thực hiện tốt phương châm BVTQ từ sớm, từ xa. Thành tựu này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Đây là điều rất quý, vì giữ được “trong ấm ngoài êm” trước bối cảnh cạnh tranh chiến lược diễn ra gay gắt như hiện nay, không phải quốc gia nào cũng làm được.

Đặc biệt, đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2021 đã tác động sâu sắc, tiêu cực đến mọi lĩnh vực trên toàn thế giới, khiến nhiều cường quốc cũng rơi vào khủng hoảng. Ở nước ta, mặc dù Đảng, Nhà nước, toàn dân và toàn quân đã chung sức, đồng lòng, nỗ lực phòng, chống dịch với nhiều giải pháp hiệu quả, được bạn bè quốc tế đánh giá cao nhưng đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư đã gây thiệt hại nặng nề về KT-XH, sức khỏe và tính mạng của nhân dân, tác động trực tiếp đến thực hiện nhiệm vụ QS, QP.

Trong bối cảnh đó, QUTƯ, Bộ Quốc phòng và toàn quân đã đoàn kết, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của Quân đội; chủ động khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu, vừa thực hiện tốt chức năng tham mưu, vừa là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống đại dịch.

Trong lúc dịch Covid-19 gây ra nhiều khó khăn, nguy hiểm nhất, Quân đội đã xung kích tham gia nhiều nhiệm vụ, từ kiểm soát, ngăn chặn trên biên giới; điều phối, tiếp nhận, cách ly y tế tập trung; xây dựng bệnh viện dã chiến; vận chuyển, xét nghiệm, tiêm vaccine đến cả công tác hậu sự cho người dân, bảo đảm đời sống, an sinh xã hội, hỗ trợ nhân dân vùng dịch thu hoạch, vận chuyển nông sản... được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, đánh giá cao.

Tinh thần chủ động, sẵn sàng ứng phó của Quân đội cũng thể hiện rất rõ trong những lần xảy ra thiên tai, sự cố nghiêm trọng. Các đơn vị Quân đội luôn làm nòng cốt, xung kích trong công tác phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả... Vì thế, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khen ngợi: Quân đội của chúng ta ngày càng nâng cao uy tín, vị thế và danh dự; thực sự là Quân đội anh hùng của nhân dân Việt Nam anh hùng, là Bộ đội Cụ Hồ, được nhân dân rất tin yêu, kính trọng.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh

 

Sáng 3-7, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức khai mạc lớp tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên dạy học giáo dục quốc phòng và an ninh (GD QPAN) năm 2023. Thiếu tướng, TS Trần Ngọc Thanh, Vụ trưởng Vụ GD QPAN, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì khai mạc.

Phát biểu chỉ đạo tập huấn, Thiếu tướng, TS Trần Ngọc Thanh nhấn mạnh: Những năm qua, GD QPAN đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo các cơ sở giáo dục trong cả nước. Cùng với đó, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên đã góp phần đưa công tác giảng dạy GD QPAN đi vào nền nếp, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Học sinh, sinh viên đã được trang bị tốt kiến thức cơ bản, nâng cao tinh thần yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, có những kỹ năng quân sự cần thiết, có ý thức trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ QPAN và bảo vệ Tổ quốc.

 Thiếu tướng, TS Trần Ngọc Thanh phát biểu chỉ đạo tập huấn.

 Thiếu tướng, TS Trần Ngọc Thanh phát biểu chỉ đạo tập huấn.

Thông qua tập huấn nhằm thống nhất với các giáo viên, giảng viên về mặt phương pháp dạy học GD QPAN, bổ sung, cập nhật một số kiến thức mới, từ đó tiếp tục nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn này.

Trong chương trình tập huấn, hơn 360 học viên đến từ các sở giáo dục và đào tạo, cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng từ tỉnh Thừa Thiên Huế trở ra phía Bắc sẽ được tiếp cận, tìm hiểu một số chuyên đề cơ bản, như: Những vấn đề cơ bản về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; phòng, chống một số loại tội phạm và vi phạm pháp luật trong học sinh, sinh viên; tổ chức phương pháp thực hành huấn luyện bài điều lệnh đội ngũ tiểu đội (phần từng người không có súng); tổ chức, phương pháp thực hành huấn luyện kỹ thuật cấp cứu chuyển thương; hướng dẫn, thống nhất một số nội dung của sách giáo khoa GD QPAN lớp 11...

Quang cảnh khai mạc tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên dạy học giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2023.

Quang cảnh khai mạc tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên dạy học giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2023.

Bên cạnh đó, học viên sẽ tham gia thực hành và kiểm tra bắn đạn thật súng tiểu liên AK nội dung nằm bắn có bệ tì, bia số 4 cố định, cự ly 100m; viết chuyên đề thu hoạch theo yêu cầu.

Theo kế hoạch, tập huấn sẽ kết thúc vào ngày 5-7. Dự kiến, từ ngày 11 đến 14-7, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục tổ chức lớp tập huấn giảng dạy môn GD QPAN đối với các cơ sở giáo dục phía Nam.

Sư đoàn 316, Quân khu 2 diễn tập đối kháng cấp trung đoàn

 

Sáng 3-7, Quân khu 2 chỉ đạo tổ chức diễn tập chỉ huy-cơ quan 2 bên 1 cấp trên bản đồ cho Trung đoàn 98 và Trung đoàn 148 thuộc Sư đoàn 316. Đây là cuộc diễn tập đối kháng cấp Trung đoàn lần đầu tiên được Quân khu chỉ đạo. Tới dự và chỉ đạo có Thiếu tướng Nguyễn Đăng Khải, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu, Trưởng Ban chỉ đạo diễn tập.

Cuộc diễn tập được Quân khu 2 chỉ đạo tập trung vào 2 giai đoạn gồm: Tổ chức chuẩn bị chiến đấu và thực hành chiến đấu. Điểm mới cuộc diễn tập là đầu bài diễn tập không được biết trước. Tại sở chỉ huy đạo diễn, Ban chỉ đạo và Tổng đạo diễn, Phó tổng đạo diễn chỉ đạo, phát các tình huống và điều hành cuộc diễn tập thông qua lực lượng đạo diễn.

Thiếu tướng Nguyễn Đăng Khải, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu, Trưởng ban chỉ đạo diễn tập theo dõi chỉ huy Trung đoàn 98 công bố tư tưởng chỉ đạo, ý định chiến đấu cho cơ quan. 
Thiếu tướng Nguyễn Đăng Khải, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu, Trưởng ban chỉ đạo diễn tập theo dõi chỉ huy Trung đoàn 98 công bố tư tưởng chỉ đạo, ý định chiến đấu cho cơ quan. 

Ngay sau tình huống được phát ra, các đơn vị triển khai hành động theo đúng thứ tự các bước. Diễn tập đối kháng đòi hỏi các đơn vị tham gia diễn tập phải tích cực học tập, ôn luyện, nâng cao trình độ lý luận và thực tiễn; sự đồng bộ của cả hệ thống chỉ huy, cơ quan Trung đoàn trong xử lý các tình huống.

Qua đó, Ban chỉ đạo diễn tập đánh giá được thực chất trình độ, năng lực của người chỉ huy; khả năng tham mưu của cơ quan và cán bộ cấp Trung đoàn; khả năng vận dụng lý luận, nguyên tắc, nghệ thuật quân sự của Quân đội ta trong quá trình diễn tập 2 bên 1 cấp trên bản đồ trong địa hình trung du, miền núi; kịp thời rút kinh nghiệm, chỉ đạo tiếp tục đổi mới tổ chức, phương pháp, nâng cao chất lượng diễn tập trong toàn Quân khu, đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Một số hình ảnh tại diễn tập:

 Đại tá Nguyễn Thế Hải, Phó tham mưu trưởng Quân khu 2 chỉ đạo cơ quan thường trực tăng cường theo dõi chỉ đạo diễn tập.
 Đại tá Nguyễn Thế Hải, Phó tham mưu trưởng Quân khu 2 chỉ đạo cơ quan thường trực tăng cường theo dõi chỉ đạo diễn tập.
Chỉ huy và cơ quan Trung đoàn 98 nghiên cứu, đánh giá tình hình trên bản đồ. 
Chỉ huy và cơ quan Trung đoàn 98 nghiên cứu, đánh giá tình hình trên bản đồ. 
 Ban chỉ đạo và lực lượng đạo diễn theo dõi Trung đoàn 98 nghiên cứu, đánh giá tình hình trên bản đồ.
 Ban chỉ đạo và lực lượng đạo diễn theo dõi Trung đoàn 98 nghiên cứu, đánh giá tình hình trên bản đồ.
 Ban chỉ đạo diễn tập chỉ đạo Trung đoàn 98 làm rõ kết quả trong nghiên cứu, đánh giá tình hình trên bản đồ.
 Ban chỉ đạo diễn tập chỉ đạo Trung đoàn 98 làm rõ kết quả trong nghiên cứu, đánh giá tình hình trên bản đồ.

THÁNG BẢY TRI ÂN: ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ 🇻🇳🙏 ưu

 

Tháng 7 về bất chợt mưa ngâu

Như nỗi nhớ ở hai đầu gặp lại

Tiếng vọng xưa đồng đội ơi gọi mãi

Giữa đại ngàn-b.om đ.ạn- ở Trường Sơn


Tháng 7 về xin thắp nén hương thơm

Phút tưởng niệm những anh hùng Liệt sĩ

Đã một thời lên đường đi đ.ánh M.ỹ

Hiến tuổi xuân cho đất nước thanh bình.


Tháng 7 về vang khúc hát Thương binh

Đời để lại"dấu chân tròn trên cát'

Dáng liêu xiêu nghiêng khoảng trời nắng nhạt

Lối đi về khập khiễng bước đường quê.


Tháng 7 về còn nhớ kỷ niệm xưa

Dòng Thạch Hãn nước hòa trong máu đỏ

Bao đồng đội nằm lại nơi Thành Cổ

Cầu Hiền Lương chia nỗi nhớ hai đầu.


Tháng 7 về bạn đang ở nơi đâu?

Tây Nguyên xanh hay Trường Sơn hùng vĩ

Tôi đứng lặng trước tượng đài Liệt sĩ

Nghe nhạc chiêu hồn lệ thấm ướt bờ mi.


Tháng 7 về ai có nhớ Người đi

Khi đất nước chao nghiêng miền Đông hải

Nửa vầng trăng một khoảng trời còn mãi

Sài gòn ơi?chung nhịp bước quân hành.


Tháng 7 về biết không có bóng anh

Trong đội ngũ điệp trùng hoa chiến thắng

Ngôi sao sáng giữa bầu trời tỏa nắng

Lời tri ân xin thắp nén hương lòng.


Tháng 7 về triệu triệu ngọn nến hồng

Thắp sáng nghĩa trang trải dài theo đất nước

Viếng các Anh linh thiêng hồn Tổ Quốc

Đất Tiên rồng vững bước mãi ngàn năm.


Thơ : Thu Hương & Ngọc Mai YDTVN

St# Trường Tồn 

TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT - NGA THẬT TUYỆT VỜI!

 

Một chút video ghi lại hình ảnh của một cụ già người Nga hát ca khúc “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng"  trong ngày  khánh thành tượng đài của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Saint Petersburg hôm 30/6 nhân dịp kỷ niệm 100 năm Người đặt chân đến Petrograt. Nghe xong thật sự rất xúc động với tấm lòng của người dân nước bạn.

Thế mới thấy dân nước người ta dành tình cảm cho lãnh tụ mình như nào. Chứ không giống như mấy thằng xanh vàng kia, đã ngấm đủ tư tưởng Ph.át x.ít quay ra x.é quốc kỳ nước ta, kéo đổ tượng hữu nghị, tước danh hiệu công dân danh dự cố Tổng bí thư Trường Chinh mà luôn mồm gào bắt chọn bên😌

Những giá trị truyền thống và cốt lõi thì người Nga họ không bao giờ quên. Bảo sao người dân Nga luôn 1 thứ tình cảm đặc biệt với người dân Việt Nam.

#St. Trường Tồn