Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2023

MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA

 

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đổi mới theo hướng hiện đại và hội nhập sâu rộng, khi con đường phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao đã được xác định rõ, các vấn đề về giá trị, hệ giá trị văn hoá được đặt ra và nói tới hằng ngày trong các diễn ngôn chính trị, văn hoá, xã hội, đặc biệt là xuất hiện thường xuyên và liên tục trong các văn kiện, nghị quyết quan trọng của Đảng trong hơn hai thập kỷ qua.
1. Giá trị, hệ giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên, xã hội, sự sáng tạo này là liên tục và đến lượt mình - hệ giá trị văn hoá - lại trở thành yếu tố cơ sở, nền tảng, chuẩn mực chi phối phương châm, triết lý sống cũng như từng hành vi của con người. Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hệ giá trị văn hoá.
Giá trị, hệ giá trị văn hoá được hình thành trên cơ sở học (văn hoá hoá), con người được dạy bằng nhiều con đường khác nhau và thông qua trải nghiệm trực tiếp của các cá nhân. Các cá nhân nhập tâm hoá hệ giá trị thông qua việc học/trải nghiệm này và các giá trị khi được nhập tâm trở thành tập tính (hành động, lựa chọn…) mà không phản tư tại sao lại hành động/lựa chọn như vậy, ví dụ như thắp hương ngày rằm, mùng một; mời nhau trước khi ăn cơm, dùng đũa khi ăn...
Với cách hiểu như vậy, giá trị, hệ giá trị văn hoá có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiện thực hoá mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; “Xây dựng hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” mà Đảng ta đã đề ra.
2. Hệ giá trị được xem là cốt lõi, là nền tảng tạo nên diện mạo một nền văn hoá, bản sắc văn hoá. Chính vì vậy, hiểu về các đặc điểm, tính chất của hệ giá trị văn hoá là cần thiết và giúp nhìn nhận rõ hơn về bản chất cùng những chiều tương tác của hệ giá trị trong các bối cảnh, môi trường cụ thể.
Một là, hệ giá trị văn hoá luôn tồn tại là một hệ thống hay tạo nên hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành. Bản thân hệ giá trị đã là sự kết nối, tổng hoà của nhiều giá trị, ví dụ hệ giá trị nhân ái bao gồm một chuỗi các yếu tố/giá trị cấu thành như đoàn kết, tương trợ, yêu thương, cảm thông, chia sẻ,… hay hệ giá trị vạn vật hữu linh là sự kết hợp của nhiều yếu tố/giá trị như niềm tin, đa thần, linh hồn, thiêng, hồn, vía, thờ cúng,… Trong hệ thống này, các yếu tố/giá trị không tồn tại riêng rẽ nhau mà luôn gắn kết với nhau, bổ trợ nhau tạo nên những mối quan hệ, những chiều tương tác trong một tổng thể hệ giá trị.
Tính hệ thống khiến cho hệ giá trị vừa có những liên kết nội tại song cũng vừa có những sự kết hợp với những hệ giá trị khác để cấu thành nên những tổng thể lớn hơn. Ví dụ, hệ giá trị nhân ái kết hợp với hệ giá trị anh hùng, dũng cảm, yêu nước tạo nên hệ giá trị ở quy mô lớn hơn, của cả một cộng đồng tộc người hay quốc gia...
Hai là, hệ giá trị mang tính tương đối khi chúng ta trải nghiệm một thực tế là mỗi một nền văn hoá đều có hệ giá trị riêng. Theo đó, mỗi cộng đồng, tộc người, mỗi nhóm xã hội đều có hệ giá trị riêng mà những hệ giá trị ấy được hình thành và duy trì, phát triển trong điều kiện cụ thể và đặc thù của chính cộng đồng tộc người hay nhóm xã hội đó. Vì vậy, khi nhìn nhận, đánh giá về bất cứ một giá trị, hệ giá trị nào cũng cần đặt nó trong bối cảnh sinh thái, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nó.
Mỗi cá nhân có thể lựa chọn giá trị hay chính là lựa chọn phương châm sống, triết lý sống cho mình hoàn toàn khác với cá nhân khác hoặc khác với số đông. Do điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khác nhau nên quá trình sáng tạo văn hoá ở mỗi cộng đồng, quốc gia là khác nhau và hệ giá trị được hình thành và vận hành trong các cộng đồng, quốc gia đó cũng theo các quá trình và phương thức khác nhau. Kết quả là những giá trị hệ giá trị được biểu hiện ra không giống nhau. Ví dụ, giá trị làng Việt truyền thống Bắc bộ là khép kín kiểu “trong họ ngoài làng”, cố kết, co cụm trong khi làng Việt Nam bộ lại mở, phóng khoáng, năng động; giá trị canh tác nông nghiệp truyền thống Bắc bộ là thâm canh, trong khi ở Nam bộ là quảng canh. Giá trị ứng xử của người Việt vùng châu thổ Bắc Bộ là coi trọng mồ mả, ngày giỗ trong khi nhiều dân tộc thiểu số bỏ mồ mả, không làm giỗ...
Chính vì hệ giá trị văn hoá mang tính tương đối, nên khó có thể có một hệ giá trị văn hoá nào có thể thống trị và trở thành hệ giá trị mang tính định hướng cho toàn bộ xã hội. Sự khác nhau, sự mở rộng, bổ sung, thay thế hay mâu thuẫn, trái ngược nhau trong sự tồn tại của hệ giá trị văn hoá đều là bình thường và hợp quy luật.
Ba là, mỗi vùng sinh thái, vùng văn hoá, mỗi địa phương, tộc người, nhóm người sáng tạo và duy trì các hệ giá trị văn hoá khác nhau tạo nên tính đa dạng của hệ giá trị văn hoá ở Việt Nam. Sự đa dạng luôn thể hiện ở đủ các góc cạnh, phương diện của hệ giá trị văn hoá, cả trong điều kiện hình thành và trong quá trình sáng tạo, duy trì, phát triển, bổ sung, bồi đắp, làm mới các hệ giá trị, trong các mối quan hệ tương tác, tiếp nối, kế thừa của các hệ giá trị và trong cả sự giao lưu, tiếp biến văn hoá giữa các hệ giá trị qua các thời kỳ.
Hệ giá trị văn hoá được hình thành và bồi đắp từ nhiều nguồn khác nhau (từ truyền thống văn hoá, từ truyền thông đại chúng, từ những cá nhân trong vai trò là những biểu tượng,…) và bằng nhiều con đường khác nhau (qua môi trường gia đình, xã hội, qua giáo dục trong nhà trường và qua các trải nghiệm cá nhân...). Vì vậy, hệ giá trị văn hóa luôn đa dạng, đa chiều và đa ý nghĩa.
Hệ giá trị luôn tồn tại trong sự đa dạng khi một nhóm, một cộng đồng, một tộc người, một quốc gia có thể tồn tại nhiều hệ giá trị khác nhau tạo ra nhiều chuẩn mực, triết lý sống khác nhau mà mỗi chuẩn mực, triết lý lại có cách vận hành riêng để tồn tại và chi phối cuộc sống con người...
Có thể khẳng định rằng, đa dạng giá trị, đa dạng nguồn hình thành giá trị, đa dạng cách vận hành giá trị, đa dạng ý nghĩa, đa dạng hình thức thể hiện giá trị là những đặc điểm nổi bật khi nhìn vào hệ giá trị văn hoá.
Bốn là, do hệ giá trị là tương đối và đa dạng nên không có một hệ giá trị nào tồn tại mãi mãi mà luôn có sự thay đổi, thay thế, bổ sung hay sáng tạo mới; cũng không có sự đồng nhất trong hệ giá trị mà các hệ giá trị luôn tồn tại đa dạng, đan cài nhau trong các mối quan hệ tương tác, tương liên, với những sự kết nối chặt chẽ và đa chiều.
Vì hệ giá trị văn hoá luôn thay đổi theo sự thay đổi của lịch sử, của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội nên các hệ giá trị đã từng tồn tại trong truyền thống có thể không còn tồn tại trong hiện tại hoặc vẫn tồn tại nhưng đã có sự thay đổi về nội hàm hay sự mở rộng về trường nghĩa, sự thay thế về cách biểu đạt. Ví dụ, giá trị chuẩn mực của người phụ nữ truyền thống là “công, dung, ngôn, hạnh”, trong xã hội đương đại đã có sự thay đổi theo những giá trị chuẩn mực mới như: trí tuệ, năng động, sáng tạo, khéo léo, linh hoạt,… Giá trị chuẩn mực của mối quan hệ con cái với cha mẹ trong gia đình truyền thống là: quyền của cha mẹ, bổn phận của con cái, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, trong xã hội đương đại chuẩn mực này đã thay đổi theo hướng quyền của con cái, bổn phận của cha mẹ, cha mẹ không áp đặt mà tôn trọng lựa chọn của con cái,… Giá trị yêu nước, theo thời gian và đặc thù lịch sử, đã luôn được tích hợp, thay đổi, bổ sung những trường nghĩa mới, khi đất nước bị xâm lược, yêu nước là tham gia chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm, thời kỳ tái thiết đất nước, yêu nước là dốc sức xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, thời kỳ đổi mới yêu nước là làm giàu cho đất nước và hiện nay giá trị yêu nước được bổ sung nhiều trường nghĩa mới như: “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là yêu nước, hay trong cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19 “ở nhà là yêu nước”...
Hệ giá trị không bất biến mà luôn thay đổi, song sự thay đổi này không triệt để theo hướng là thay thế, xoá bỏ mà các hệ giá trị có thể song song tồn tại, vừa duy trì các giá trị truyền thống, vừa sáng tạo các giá trị mới, các giá trị mới có thể kế thừa, hội nhập, tích hợp các giá trị truyền thống. Chính vì thế, các hệ giá trị không đồng nhất mà mỗi hệ giá trị có “toạ độ” riêng trong đời sống xã hội, chuyển tải những trường nghĩa của cộng đồng, nhóm, tộc người, quốc gia sản sinh ra và nuôi dưỡng nó. Hiện nay, nhiều hệ giá trị truyền thống đã thay đổi theo hướng thích ứng với bối cảnh mới, nhiều hệ giá trị mới đang được hình thành và vận hành trong xã hội như dân chủ, bình đẳng, hội nhập, khoan dung, cạnh tranh...
Năm là, vì hệ giá trị văn hoá rất đa dạng, mang tính tương đối, không bất biến, không đồng nhất nên hệ giá trị văn hoá tồn tại ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau, có hệ giá trị mang tính chung, tính phổ quát, có hệ giá trị mang tính riêng, tính đặc thù của từng nhóm, từng cộng đồng, từng tộc người, từng quốc gia, có hệ giá trị tồn tại trong một không gian rộng, một thời gian dài với số đông người lựa chọn nhưng cũng có hệ giá trị lại chỉ tồn tại trong một không gian hẹp, một thời gian ngắn với chỉ một nhóm người lựa chọn.
Các hệ giá trị mang tính phổ quát thường được nhắc tới là chân, thiện, mỹ, là yêu nước, nhân ái, đoàn kết, khoan dung, sáng tạo... Những hệ giá trị này thường được đông đảo các nhóm, cộng đồng, tộc người, quốc gia chia sẻ, điều đó có nghĩa những hệ giá trị này có ở nhiều nền văn hoá song nội hàm, trường nghĩa cùng sự sắp đặt theo tầm quan trọng của các hệ giá trị này lại có sự khác nhau giữa các nhóm, cộng đồng, tộc người, quốc gia và đây chính là tính đặc thù của hệ giá trị văn hoá.
Tính phổ quát của hệ giá trị khiến cho văn hoá Việt Nam có thể chia sẻ, hội nhập, đối thoại dễ dàng với nền văn hoá thế giới, trong khi đó tính đặc thù của hệ giá trị lại khiến cho văn hoá Việt Nam “hội nhập mà không hoà tan”, giữ được hồn cốt dân tộc, làm giàu bản sắc văn hoá. Tính phổ quát và tính đặc thù của hệ giá trị không tạo ra mâu thuẫn mà cùng tồn tại như hai mặt của một vấn đề, một giá trị riêng lẻ cũng có thể vừa có tính phổ quát, vừa có tính đặc thù và chính thuộc tính này lại thúc đẩy mạnh mẽ hơn tính đa dạng và tương đối của hệ giá trị văn hoá.
3. Hệ giá trị văn hoá hình thành trong tư duy của con người, thể hiện ra bằng triết lý, chuẩn mực, phương châm sống và có chức năng cơ bản là định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi cũng như những quan hệ xã hội, theo đó hệ giá trị là một hệ thống phức tạp của những chiều tương tác, quan hệ, tác động, ảnh hưởng, du nhập, giao lưu...
Trong bối cảnh xã hội đương đại với sự gia tăng của toàn cầu hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, hệ giá trị văn hoá ở Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp với sự cùng tồn tại của hệ giá trị truyền thống, hệ giá trị mới, hệ giá trị phổ quát, hệ giá trị đặc thù, hệ giá trị cốt lõi, hệ giá trị phái sinh... Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, xung đột giá trị, thậm chí khủng hoảng giá trị, “sốc” giá trị cũng đã xảy ra càng làm gia tăng thêm tính phức tạp nhưng cũng làm lộ rõ sự cần thiết nhìn nhận lại việc xây dựng hệ giá trị văn hoá hiện nay.
Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII với Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (1998) đã ghi dấu mốc quan trọng khi đề cập đến giá trị văn hoá, khẳng định sự cần thiết phải “sáng tạo nên những giá trị văn hoá mới”. Từ đây, vấn đề giá trị, hệ giá trị văn hoá luôn được đề cập trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng - từ Đại hội IX đến Đại hội XIII.
Qua văn kiện của các kỳ Đại hội và Cương lĩnh xây dựng đất nước qua các thời kỳ, Đảng ta đã từng bước định hình rõ nhiệm vụ sáng tạo, hoàn thiện, đúc kết, nghiên cứu, triển khai xây dựng hệ giá trị văn hoá. Theo đó, hệ giá trị văn hoá mang tính khái quát được đề cập là: Dân tộc, Nhân văn, Dân chủ, Pháp quyền và Khoa học và 7 đặc tính cơ bản được xác định là những chuẩn mực giá trị của con người Việt Nam: Yêu nước, Nhân ái, Nghĩa tình, Trung thực, Đoàn kết, Cần cù, Sáng tạo.
Hệ giá trị văn hoá là một phương diện quan trọng của một nền văn hoá và thể hiện rõ nhất bản sắc văn hoá. Hệ giá trị văn hoá đã và đang được thực hành đa dạng, sống động trong đời sống xã hội, việc gọi tên, đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hoá là vô cùng quan trọng, giúp cho chúng ta có những nhìn nhận bao quát hơn, đầy đủ hơn và phát huy được hiệu quả hơn chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh của hệ giá trị văn hoá. Hơn nữa, việc xây dựng hệ giá trị văn hoá còn thể hiện mong muốn, khát vọng của chúng ta về những hệ giá trị tốt đẹp sẽ được thực hành phổ biến tạo nên sự phát triển phồn vinh và bền vững cho xã hội.
Từ góc độ nghiên cứu về văn hoá và con người Việt Nam, đã có nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam. Các giá trị, hệ giá trị được các nhà nghiên cứu xem là những giá trị, hệ giá trị truyền thống, đã có sẵn trong văn hoá, con người Việt Nam mà họ chỉ tổng kết lại, chỉ rõ ra và phân tích những biểu hiện của chúng.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hệ giá trị cần xây dựng để phù hợp với bối cảnh xã hội đương đại. Chẳng hạn như, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh hệ giá trị định hướng cốt lõi hiện nay gồm: Dân chủ và Pháp quyền; Nhân ái và Yêu nước; Trung thực và Bản lĩnh; Trách nhiệm và Hợp tác. Trong công trình xuất bản gần đây, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện và Từ Thị Loan đề xuất hai phương án xác định hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam, phương án thứ nhất gồm 5 giá trị (Yêu nước, Trách nhiệm, Kỷ luật, Sáng tạo, Trung thực); phương án thứ hai gồm 7 giá trị (Yêu nước, Trách nhiệm, Kỷ luật, Sáng tạo, Trung thực, Đoàn kết, Nhân ái)...
Có thể nhận thấy, cả tên gọi các hệ giá trị văn hoá, con người Việt Nam được xem là đã có sẵn và các hệ giá trị được xác định là cần xây dựng đều là các mỹ từ, nghe rất hay, rất quen thuộc, tạo cảm giác như chúng ta đã có hết rồi song thực tế lại không hẳn như vậy. Dường như những khái quát này vẫn chưa ghi nhận/phản ánh được những hệ giá trị văn hoá đa dạng mà các nhóm địa phương, tộc người trên cả nước đang thực hành trong thực tế cuộc sống thường ngày của họ. Điều này khiến cho các hệ giá trị văn hoá được xác định vẫn chưa thực sự gắn với thực tiễn, chưa đi vào cuộc sống mà chủ yếu tồn tại trên sách vở, trong các văn bản chính sách, trên các diễn đàn và các diễn ngôn truyền thông, tuyên truyền.
Hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam mà Đảng ta xác định chính là xác định việc xây dựng để có được những hệ giá trị đó, là khát vọng, là mục tiêu muốn đạt được mà không phải là những hệ giá trị có sẵn hay đang được thực hành phổ biến trong cả xã hội.
Nếu hiểu rõ hệ giá trị văn hoá mang tính hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành và các yếu tố cấu thành này luôn gắn kết với nhau theo những trật tự nhất định và những tương tác đa chiều thì chúng ta sẽ hiểu không thể “nhặt” riêng một hệ giá trị nào ra khỏi tổng thể để đưa nó lên thành hệ giá trị phổ quát hay cốt lõi mà bỏ qua các giá trị có tính tương liên với nó. Ví dụ, muốn xây dựng hệ giá trị nhân ái, hài hoà với tự nhiên nhưng lại muốn xoá bỏ cúng rừng, chống mê tín dị đoan, bê tông hoá đồng loạt hệ thống tưới tiêu, xây dựng các công trình chặn dòng chảy của các con sông hoặc xả thải thẳng ra sông...
Nếu hiểu rõ hệ giá trị văn hoá mang tính tương đối, tính đa dạng thì việc xây dựng hệ giá trị văn hoá sẽ luôn phải tôn trọng tối đa bối cảnh đặc thù và sự lựa chọn giá trị của các chủ thể văn hoá ở các nền văn hoá khác nhau và không có hệ giá trị nào được xem là thống trị, lấn át hoàn toàn các hệ giá trị khác.
Nếu xem hệ giá trị văn hoá là không bất biến, không đồng nhất thì chúng ta xác định được việc xây dựng hệ giá trị cho một giai đoạn lịch sử nhất định và các hệ giá trị chúng ta đang xây dựng không phủ nhận hay xoá bỏ các hệ giá trị đã và đang có. Ngay cả khi hệ giá trị chúng ta đang xây dựng đã định hình và duy trì trong đời sống đương đại thì cũng không nên tuyệt đối hoá hệ giá trị ấy, cũng không áp đặt một mô hình hệ giá trị ấy cho tất cả và luôn cần tôn trọng sự đa dạng các hình thức và phương thức thực hành hệ giá trị ấy của các nhóm, cộng đồng, tộc người.
Nếu quan tâm đúng mức hơn đến tính thực tiễn của hệ giá trị văn hoá thì chúng ta sẽ khắc phục được sự chung chung, hô hào, hình thức trong xây dựng hệ giá trị văn hoá. Tính thực tiễn ở đây là hệ giá trị văn hoá phải được xây dựng từ thực tiễn và rồi phải được thực hành sâu rộng trong thực tiễn, trở thành lối sống, thói quen, tập tính hàng ngày của con người. Chỉ như vậy, việc xây dựng hệ giá trị văn hoá mới được xem là đạt hiệu quả.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐÁNG BUỒN CHO MỘT DÂN TỘC DŨNG MÃNH!

         Nhật Bản là một dân tộc xưa kia có truyền thống dũng mãnh, cứng cỏi có số má ở châu Á, với những samurai, ninja trung thành, võ thuật cao siêu! NHƯNG kể từ sau thế chiến II, với thất bại nặng nề, họ phải đầu hàng vô điều kiện và đặc biệt là phải chịu sự thống trị, đô hộ trá hình dưới vỏ bọc "đồng minh" của đế quốc Mỹ!

Cả thế giới đều biết, người dân Nhật Bản càng thấu tận xương tủy kẻ ném bom nguyên tử hủy diệt, gây tội ác với người dân vô tội Nhật Bản CHÍNH LÀ ĐẾ QUỐC MỸ! Có thế nói trong lịch sử của Nhân loại, của dân tộc Nhật, chưa từng có vụ thảm sát nào lại khủng khiếp, man rợ như vụ ném bom này, với 2 quả "dân chủ" bự, mấy chục vạn sinh mạng bị tan nát trong vòng tích tắc, sau đó là hậu quả đau đớn, dai dẳng của phóng xạ, chết chóc, đổ nát...

Trên thế giới, duy nhất chỉ có dân tộc Nhật Bản trực tiếp bị vũ khí nguyên tử tấn công. Và cũng duy nhất chỉ có đế quốc Mỹ là nước duy nhất từng sử dụng vũ khí hủy diệt man rợ này. Vậy ai mới là kẻ thù, là thủ phạm gây ra thảm sát hạt nhân tại Nhật Bản? Ai mới là mối đe dọa của hòa bình thế giới? Kẻ nào đang thực sự đè đầu, cưỡi cổ dân tộc Nhật Bản? Tôi nghĩ một người Nhật bình thường, đủ hiểu biết cũng sẽ dễ dàng trả lời được những câu hỏi này!

Nhưng, than ôi! Thật đáng buồn cho một dân tộc dũng mãnh của châu Á! Khi hiện nay, các quan chức chóp bu của họ lại không dám hé răng chỉ mặt kẻ đã ném bom hủy diệt, tàn hại tổ tiên mình! Cam chịu thân phận chư hầu đầy tủi nhục, làm gì, nói gì, yêu ai, ghét ai cũng phải theo ý ông chủ, không dám trái!

Nhìn về Nhật Bản hiện nay chúng ta thấy gì? Giàu đấy, xa hoa đấy nhưng chả có độc lập, tự chủ! Giàu đấy, xa hoa đấy nhưng sự kiêu hùng, truyền thống văn hóa dân tộc có còn không? Nhật nổi tiếng với các hãng xe, khoa học, công nghệ, nhưng Nhật cũng khét tiếng bởi JAV cho cả thế giới xem...! Cái giá phải trả cho việc làm "đồng minh" của Mỹ là quá đắt. Tên đế quốc sừng sỏ luôn tìm mọi cách để thống trị thế giới, nô dịch các dân tộc. Chúng ta phải luôn cảnh giác, đừng mải mê hội nhập, phát triển kinh tế mà bị ru ngủ, bị bọn đế quốc và tay sai đầu độc, dùng "diễn biến hòa bình" để biến dân tộc ta trở thành nô lệ, thành con chó cho chúng bóc lột, sai khiến!

Yêu nước ST.

BẠN CẦN BIẾT: KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY MỸ NÉM 02 QUẢ BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG NHẶT BẢN!

NGÀY NÀY NĂM XƯA, THẾ GIỚI CÓ QUÊN
(06 VÀ 09/8/1945)!
         Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima của Nhật với sức công phá 13 kiloton, khiến 90.000 người thiệt mạng sau đó, 90% nhà cửa ở thành phố bị phá hủy.

3 ngày sau, Mỹ ném thêm một quả xuống Nagasaki (21 kiloton, 140.000 người thiệt mạng năm 1950).

Cộng với việc Liên Xô tiêu diệt đạo quân Quan Đông, Nhật Bản chính thức đầu hàng Đồng Minh. Chớp thời cơ, ở Việt Nam, Cụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân giành chính quyền trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Nhưng có những nhận định rằng Mỹ ném bom nguyên tử là không cần thiết về mặt chiến thuật, người Nhật chắc chắn đầu hàng và ném bom như vậy gây thương vong lớn cho dân thường là trái đạo đức.

- Lãnh tụ Liên Xô Stalin:

"Chiến tranh là một điều man rợ, nhưng việc sử dụng bom nguyên tử - nó là sự điên cuồng! Hơn nữa, nó là không cần thiết. Nhật Bản đã cam chịu thất bại rồi".

- Szilárd, người tham gia tích cực trong Dự án Manhattan, lý luận:

"Hãy để tôi đề cập chủ yếu về vấn đề đạo đức: Giả sử nước Đức phát triển thành công hai quả bom nguyên tử trước chúng ta. Và giả sử nước Đức thả hai quả bom đó, ví dụ, xuống Rochester và Buffalo (hai quận nhỏ ở tiểu bang New York), rồi sau đó họ bại trận. Liệu có ai băn khoăn không khi chúng ta cho đó là tội ác chiến tranh và sẽ kết tội người Đức về hành vi đó trước tòa án Nürnberg rồi treo cổ họ?"

- Tổng thống Dwight D. Eisenhower viết trong hồi ký The White House Years:

"Năm 1945, Bộ trưởng Chiến tranh Stimpson, khi đó đến thăm tổng hành dinh của tôi ở Đức, thông báo cho tôi rằng chính phủ chúng ta đang chuẩn bị thả bom nguyên tử xuống Nhật. Tôi là một trong những người cảm thấy rằng có những lý do vững vàng để nghi vấn sự sáng suốt của hành động đó.

Trong khi ông ta kể về những sự việc liên quan, tôi cảm thấy buồn chán và đã nói với ông ta về những sự hoài nghi của tôi, thứ nhất, tôi tin rằng Nhật Bản thực sự đã bị đánh bại và việc ném bom là không hoàn toàn cần thiết, và thứ hai, tôi cho rằng việc sử dụng vũ khí đó là không bắt buộc nhằm hạn chế thương vong cho lính Mỹ bởi đất nước chúng ta nên tránh một ý tưởng làm thế giới rung chuyển bằng cách sử dụng vũ khí đó."

- Năm 1946, trong bản báo cáo của Tổ chức nhà thờ liên bang với tên Chiến tranh nguyên tử và niềm tin Thiên Chúa có đoạn như sau:

"Là những người Thiên chúa Hoa Kỳ, chúng ta hối tiếc về sự lạm dụng thiếu trách nhiệm vũ khí nguyên tử. Chúng ta đều đồng cảm rằng, trên nguyên tắc, dù là sự nhìn nhận của bất kỳ người nào đối với chiến tranh, việc ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki là không thể biện hộ được về mặt đạo đức."

Nhận định mọi người như nào ạ? Mình nghĩ Mỹ không cần thiết phải ném bom, Đế quốc Nhật cũng đầu hàng./.


Môi trường ST.

CHA, ANH TA ĐÁNH GIẶC: CHIẾN SĨ PHI CÔNG CUỐI CÙNG HY SINH TRONG TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG!

MỘT MÌNH CHIẾN ĐẤU VỚI 12 MÁY BAY ĐỊCH, TIÊU DIỆT 2 CHIẾC VÀ ANH DŨNG HY SINH!
Trung úy phi công Hoàng Tam Hùng sinh ra trong một dòng họ nổi tiếng của tỉnh Thừa thiên - Huế, đó là họ Hoàng, dòng họ mà suốt từ cuộc kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ đã cống hiến cho Tổ quốc những người con ưu tú.

Trong kí ức của mọi người anh là một chàng trai cao lớn, nhanh nhẹn, giỏi cả bóng rổ, bơi lội và thể dục dụng cụ, từng là thành viên đội tuyển bơi lội thiếu niên Hà Nội. Đặc biệt nữa là giọng nói Hà Nội vẫn còn một chút âm sắc Huế ấm cúng của Hùng luôn làm say mê các bạn nữ sinh Hà Nội.

Năm 1965 không quân Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt , khiến thế hệ sinh viên ấy hừng hực khí thế " Xếp bút nghiên " lên đường bảo vệ Tổ Quốc . Hoàng Tam Hùng không chọn trở thành một Công Binh hay một Pháo Thủ là vì hồi đó anh bị bộ phim về không quân " Bầu Trời Ban Tích " của Liên Xô làm say mê , anh rất hâm mộ phi công Maresev , cùng với những chiếc máy bay mỹ đầu tiên của Mỹ bị bắn rơi bởi Phạm Ngọc Lan và Trần Hanh khiến anh càng quyết tâm chọn nghành không quân

Năm 1965 Hoàng Tam Hùng đã đăng kí tham gia khám sức khỏe tuyển phi công để bảo vệ vùng trời Tổ Quốc . Năm 1966 anh được điều sang Liên Xô học lái máy bay . Năm 1969, sau 3 năm học tập tại Trường Không quân Liên Xô, Hoàng Tam Hùng về nước và tham gia chiến đấu trên máy bay MiG-17.

Tháng 9/1972, anh được lựa chọn lên học lái MiG-21 và điều về Trung đoàn Không quân 927 . Chỉ sau 5 vòng bay, Hoàng Tam Hùng đã có thể bay đơn. Chàng phi công trẻ tuổi thể hiện năng khiếu đặc biệt, tiếp thu rất nhanh các bài bay tập và chỉ sau hơn 1 tháng Hùng đã đủ điều kiện để tham gia trực ban chiến đấu cùng các phi công nổi tiếng của Trung đoàn. Khi Mỹ bắt đầu chiến dịch Linebacker II (18/12/1972) thì phi công trẻ tuổi Hoàng Tam Hùng đã có thể xuất kích trong đội hình chiến đấu của các máy bay MiG-21.

Trưa ngày 28/12, Không lực Mỹ đã sử dụng 60 lần chiếc B-52 từ căn cứ Andersen và U-tapao chia thành 4 đợt, có sự hộ tống của 99 lần chiếc máy bay chiến thuật tổ chức đánh lớn vào Hà Nội và Hải Phòng. Tại Chỉ huy sở Binh chủng, Tướng Trần Hanh chủ trì kíp trực nhận định: Địch sẽ đánh lớn và quyết định giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 927 do Trung đoàn trưởng - Phi công anh hùng Nguyễn Hồng Nhị chỉ huy tổ chức chặn đánh đội hình máy bay của Hải quân Mỹ bay vào từ hướng đông. Biên đội Lê Văn Kiền, Hoàng Tam Hùng được phân công trực chiến, sẵn sàng cất cánh.

Lúc 11h20', đội bay Kiền - Hùng cất cánh. Khi Chỉ huy sở thông báo mục tiêu phía trước, bên phải, phi công Hoàng Tam Hùng đã nhanh chóng phát hiện biên đội hỗn hợp gồm chiếc máy bay trinh sát vũ trang RA-5C(Vigilanter) và 2 chiếc F-4J của Hải quân Mỹ bay hộ tống. Mặc dù xung quanh các máy bay F-4 vây quanh rất đông, nhưng bằng một động tác cơ động chính xác, Hoàng Tam Hùng đã kịp bám theo chiếc RA-5C . Viên Thiếu tá - phi công Hải quân kỳ cựu -Alfred Howard Agnew trên chiếc RA-5C đã phát hiện có MiG-21 bám theo, cơ động đan chéo để thoát ra, nhưng bằng động tác kỹ thuật điêu luyện, Hoàng Tam Hùng đã nhanh chóng bám sát chiếc máy bay RA-5C, đưa nó vào vòng ngắm. Lúc này chiếc RA-5C tiếp tục cơ động đan chéo để lẩn tránh, nhưng Tam Hùng đã bám sát và tìm ra quy luật cơ động của chiếc RA-5C, chờ khi nó vừa cải bằng để chuẩn bị vòng sang hướng ngược lại, anh lập tức ổn định vòng ngắm và ấn nút phóng tên lửa. Chiếc MiG-21 rung nhẹ, quả tên lửa chìm xuống rồi lao thẳng vào chiếc máy bay RA-5C, khiến nó bốc cháy như quả cầu lửa và rơi thẳng xuống chân núi Tản Viên.

Hai phi công điều khiển chiếc RA-5C bị trúng tên lửa của phi công Hoàng Tam Hùng là Thiếu tá phi công Hải quân Alfred Howard Agnew và Đại úy Michael Firestone Haifley - thuộc Phi đoàn trinh sát vũ trang RVAH-13, tàu sân bay chạy năng lượng nguyên tử USS Enterprise. Agnew nhảy dù bị bắt sống, còn Haifley không kịp nhảy dù, chết tại chỗ. Alfred Agnew, phi công cuối cùng của Hải quân Mỹ bị bắn rơi trong chiến tranh Việt Nam, sau Hiệp định Paris cũng là viên phi công cuối cùng được trao trả cho phía Mỹ tại Sân bay Gia Lâm.

Sau khi bắn rơi chiếc RA-5C, Hoàng Tam Hùng nhận lệnh về hạ cánh. Nhưng lúc đó, các máy bay F-4 bay hộ tống phát hiện ra chiếc RA-5C bị bắn rơi đã quay lại vây quanh chiếc MiG-21 của Tam Hùng. Hùng một mình quần nhau với 12 chiếc F-4 và sau nhiều vòng quần thảo, anh đã bình tĩnh đưa một chiếc F-4 vào vòng ngắm. Biết có các máy bay F-4 bám phía sau nhưng anh vẫn bình tĩnh bám sát và ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai, chiếc F-4E đã bị trúng tên lửa và rơi tại chỗ. Sau đó, Hùng tiếp tục quần thảo với đám F4 và đã anh dũng hy sinh.

Vậy là ngay trong trận xuất kích đầu tiên trên máy bay tiêm kích MiG-21, chàng trai Hà Nội cùng với phi công Vũ Xuân Thiều, cũng là học sinh Hà Nội, là những người chiến sĩ cuối cùng hy sinh trong trận chiến bảo vệ bầu trời thủ đô.
XIN CẢM ƠN NGƯỜI CHIẾN SĨ TRẺ VÌ NỀN HÒA BÌNH HÔM NAY!
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CẦN HỦY BỎ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC 2018 VÀ CHỈ SỬ DỤNG MỘT BỘ SÁCH GIÁO KHOA TRONG CẢ NƯỚC!

         Chương trình 2018 được làm bằng 80 triệu USD vay của TB. Họ chỉ cho vay với điều kiện phải để cho NMT làm chủ biên, các thành viên phải được sự kiểm soát của họ? Ôi thôi! Còn gì là sự tự chủ của một nền giáo dục!
Dù tốn kém bao nhiêu cũng phải hủy bỏ chương trình 2018 và sách giáo khoa của những tên phản cách mạng ,chống CNXH và sự độc quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam!

MỘT CÂU HỎI KHÔNG LỜI ĐÁP!
Mỗi ngày, tôi lại tự hỏi và đi tìm câu trả lời. Nhưng cứ mịt mù, không thể giải đáp nổi câu hỏi này: Tại sao Việt Nam mang danh là một nước XHCN, đi theo con đường Bác Hồ đã lựa chọn lại học theo chương trình giáo dục của những tên phản Đảng, chống lại sự lãnh đạo của Đảng, chống CNXH như Đỗ Ngọc Thoòng, Trần Đình Sử, Nguyễn Minh Thuyết? Thậm chí có Đảng viên còn cho con sang Mỹ, Anh học, mua nhà ở Mỹ, kết hôn với người Mỹ? Tiền ấy lấy đâu ra với đồng lương 17 triệu đồng/tháng? Họ rắp tâm phản bội con đường Bác Hồ đã lựa chọn hay cài cắm "hạt giống đỏ" vào Mỹ và NATO, chuẩn bị cho một cuộc "đại cách mạng XHCN" ở Mỹ và NATO? Hay họ lừa bịp, coi đại đa số người dân là những con bò bị dắt mũi?
Mà Mỹ là ai? Kẻ kích động và gây chiến tranh khắp thế giới từ trước đến nay. Kẻ đã đem quân xâm lược Việt Nam, rải chất độc hóa học lên cơ thể Việt Nam,bắn chết mấy triệu người Việt Nam?
Tha thiết mong các bạn quan tâm đến Giáo dục, đến tương lai của chế độ, đến vận mệnh dân tộc ủng hộ, chia sẻ và lên tiếng mạnh mẽ./.

Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2023

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MỘT BÀI PHÁT BIỂU ĐÁNG ĐỂ CHÚNG TA, ĐẶC BIỆT NHỮNG THẦY CÔ GIÁO CÙNG SUY NGẪM!

     Trích bài phát biểu của người thầy vô cùng đáng kính, thầy giáo, Giáo sư Nguyễn Văn Minh, Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội:

"Các em sinh viên K69 yêu quý của thầy,
...
Lúc này đây, trong sự ngổn ngang của biết bao cung bậc cảm xúc, có niềm vui, có nỗi lòng, có cái nghẹn ngào và cũng có những giọt nước mắt chia xa. Nhưng đây là thời khắc tuyệt vời của cuộc sống đời người. Còn gì ngày mai để nhớ, để yêu thương, để vỗ về mỗi khi lòng người ấm lạnh, đó chính là khung trời kỉ niệm, đó chính là thời khắc hôm nay, đó chính là cuộc sống mà các em ban đầu lạ lẫm và rồi sẽ đáng yêu.

Hôm nay, thầy sẽ không dặn dò các em về những điều xa xôi, cũng không dám nói nhiều về những thành tựu của công nghệ. Vì thầy tin rằng, thế hệ các em có nhãn quan quãng đại hơn, nắm bắt và hiểu biết hơn thế hệ của thầy về nhiều thành tựu mà loài người mang đến. Thầy muốn nhắn nhủ các em về lẽ sống và bản lĩnh.
...
Điều đau đáu, điều trăn trở, có khi đau xót trong thầy là về lẽ sống, về yêu thương, về sự biết ơn và về những điều dường như ta đang vô tình dần đánh mất. Có thể thầy chưa đúng hết, cũng có thể cuộc sống chuyển động quá nhanh, cũng có thể vòng xoáy của cuộc đời cuốn ta vào cuộc, rồi ta không còn thời gian dành cho những điều tưởng chừng bé nhỏ nhưng rất đỗi đáng yêu. Có xót xa không khi có học sinh phải chịu đựng trong cô đơn và đơn độc giã biệt cuộc đời? Có đau đớn không khi con cái trưởng thành rồi chỉ biết sống cho riêng mình, mặc cho mẹ cha trong cảnh cùng khốn khó? Có đáng suy ngẫm không khi ai đó dắt tay bà cụ sang đường như là biểu tượng của việc làm tử tế, mà lẽ ra đó là việc bình thường của một con người tử tế? Lẽ nào thiếu vắng đến thế chăng? Và lẽ nào chúng ta bình tâm khi những đồng nghiệp của chúng ta hằng ngay đi qua những cung đường hiểm trở, đánh cược cuộc đời vì những trẻ thơ? Và chúng ta nghĩ gì, khi những đứa trẻ chen nhau trong những mái tôn ngày hè oi bức, đường đến trường với bước chân trần? Có nặng lòng không khi trẻ đến trường như một sự sợ hãi, lo âu?... Xin đừng lý luận rằng, đó là cá biệt, mà hãy nhớ rằng, mỗi con người là một thế giới để yêu thương và phải được yêu thương; hãy nhớ rằng giáo dục là để mỗi người được lớn lên theo những gì họ có; và làm một việc tốt như là lẽ tự nhiên của mỗi con người chứ không phải là chờ người ta quay phim, chụp ảnh, chờ người ta biểu dương, khen thưởng; và hãy nhớ rằng, cháy rừng có thể chỉ bắt đầu bằng một đốm lửa nhỏ nhoi... Thầy mong muốn các em hãy đi đến tận cùng của cuộc sống, chạm đến đáy sâu tâm can của những kiếp người để không thờ ơ và trở thành vô cảm, để những gì chân chính trội lên. Thấu hiểu không phải để rồi bi lụy mà để nhen nhóm dần cái tốt đẹp bằng việc mình làm và đừng bao giờ để con tim mình nguội lạnh.

Các em yêu quý, chính các em là lẽ sống của cuộc đời thầy. Thầy cũng là một con người bình thường như mọi người, cũng có lúc vui, lúc buồn, có trăn trở và cũng có những giây phút suy tư, thậm chí có cả bi quan. Nhưng hơn cả, mỗi khi nghĩ về các em, những nhọc nhằn, trăn trở, những nỗi lòng đều trở nên dịu lại và ấm áp để vượt qua.
...
Có hôm, đi bộ ngoài đường thầy được một bạn làm xe ôm chào và nói rằng, ngoài giờ học em chạy Grab. Thầy cảm phục các em và rất tôn trọng các em, và còn nhiều điều nữa... Các em đã cho thầy nhiều bài học giá trị của cuộc đời.
...
Tiếc rằng, hôm nay không có đủ những đấng sinh thành của các em để thầy nói lời tri ân với họ. Thầy và Nhà trường này biết ơn họ, và các em hãy tri ân họ. Dù mẹ cha, có khi không phải ai cũng được học hành đến nơi đến chốn, nhưng đức hi sinh và cái tâm của họ thì đáng trân trọng đến nhường nào! Không phải học thật cao mới trở thành người tử tế. Các em hãy trân quý, nâng niu những bàn tay thô ráp, những lời nói vụng về và thật thà như đất, những lam lũ vì con mà chẳng biết nói thành lời. Cha mẹ nhiều em có khi chưa từng biết bánh ga-tô, không biết thắp nến cho các em ngày sinh nhật, nhưng họ lặng thầm thức trắng đêm, vỗ về khi con trái gió trở trời. Đằng sau thành công dù nhỏ bé của mỗi con người là mồ hôi, nước mắt và nhọc nhằn của cha, của mẹ. Hãy biết ơn mẹ cha thì mới ân nghĩa với cuộc đời này được.

Những căn cốt tốt đẹp vốn có trong các em đã cho bà con từ thị thành đến miền biên ải, cho thầy cô, và cá nhân thầy có niềm tin về các em khi rời xa mái trường này và chắc chắn sẽ là người tử tế và gieo mầm, lan tỏa sự tử tế đến với muôn người.

Nơi đây, dù còn điều này, điều khác, có điều làm các em chưa hài lòng, nhưng hơn cả là nơi vun đắp tình yêu thương, nơi định hình chân giá của một con người, cùng với nó là tri thức để ngày mai các em đem đến với những trẻ thơ đang chờ đón các em.
...
Nơi đây, không cho thêm các em tiền bạc hay cái ăn, cái mặc, vì các em biết rằng, chúng ta là những người đồng cảnh ngộ. Nhưng nơi đây, mái trường này, thầy cô đang thầm lặng bồi đắp những giá trị con người, những hiểu biết dần dà theo năm tháng với các em để tình yêu thương và trách nhiệm lớn dần trong trái tim của mỗi em.

Thiếu vắng tình yêu thương thì thì sống ở đời đã khó, làm nghề giáo thì khó biết nhường nào. Thầy mong rằng, mai kia ra đời, hãy dạy cho trẻ biết thương cha thương mẹ, biết ơn những đồng chua nước mặn, những nhọc nhằn để có bát cơm; biết sẻ chia với những phận đời không may mắn và vị tha với những lỗi lầm. Rồi sau đó mới dạy trẻ những tình yêu lớn lao hơn thế.

Chúng ta không thể thờ ơ với những thành công của công nghệ. Nếu không ta mãi mãi đi sau, nhưng xin nhớ rằng, một con người thiếu đi tình yêu thương thì tương lai trở thành bất định. Trước hết, dạy cho trẻ cách ứng xử trong môi trường số sao cho đúng mức và văn minh trước khi dạy các em làm những điều cao siêu hơn thế. Đừng để tiến bộ của công nghệ trở thành nỗi sợ hãi ám ảnh trong mỗi gia đình và trong hoảng loạn của mỗi con người.

Các em hãy là người bảo vệ tuổi thơ cho trẻ. Đừng để việc học đánh mất sự ngây thơ của trẻ; nhắn với phụ huynh rằng, tuổi thơ là tuổi thần tiên; hãy hỏi trẻ đi học có vui không thay vì hỏi hôm nay con được bao nhiêu điểm? Đừng để trẻ con mơ ước chúng trở thành chiếc điện thoại thông minh vì cha mẹ chúng dành nhiều thời gian cho màn hình điện thoại hơn dành cho chúng. Thêm một nhúm kiến thức không trở thành người nổi tiếng, bồi đắp thêm tình yêu thương với con người, với thiên nhiên, làng xóm là bệ phóng của tương lai. Đánh mất sự hồn nhiên, trong sáng của trẻ thơ là có tội. Nguyên sơ là gốc thánh thiện của con người. Hãy cố giữ cho trẻ thơ cánh diều vút cao trên đồng làng ngập gió, giữ cho sự vô tư choán năm tháng tuổi thơ ngây. Hãy gạt bỏ cái tư tưởng biến đứa trẻ thành chuyên gia xuất sắc, mà luôn nhớ rằng giáo dục trẻ để chúng biết yêu thương, biết quan tâm, biết sẻ chia với những người gần gũi. Nhắn với phụ huynh rằng, đừng bắt con cái mình chín ép và trở thành công cụ thực hiện tham vọng của mình.

Các em sẽ là người đi tạo dựng niềm tin. Niềm tin không đến từ những lời hoa mỹ, phô trương; không đến từ sách vở đơn thuần. Niềm tin phải được bắt đầu từ cách ứng xử và việc làm. Sức mạnh của giáo dục là cảm hóa và phải bắt đầu từ cảm hóa chứ không phải bắt đầu bằng trừng phạt, hành hình. Cảm hóa bắt đầu bằng tình yêu thương và tha thứ; bằng những thấu hiểu để chạm đến con tim, để khơi lên gốc sâu của lòng trắc ẩn. Một cái nắm tay khi người ta bất lực hơn vạn lần những buổi liên hoan.

Các em sẽ là những người tạo ra một nhà trường đầy ắp yêu thương, để mỗi trẻ cảm nhận bình yên và ước mong được đến. Các em cũng nhắn với phụ huynh rằng, gia đình là nơi thường xuyên và nơi cuối cùng che chở cho mỗi trẻ thơ và mỗi con người, nơi mỗi người biết lắng nghe, thấu hiểu và sẻ chia. Không phải chỉ cứ nhiều tiền của, cứ ăn uống đủ đầy là có đủ yêu thương. Dẫu biết rằng, nghèo khó cũng khó để làm tốt hơn hơn những điều mình muốn. Thầy cũng hiểu rằng, mai ngày ra đời, thu nhập của các em vẫn rất khiêm tốn, vẫn phải lo cái ăn, cái mặc, phải chạy vạy sớm hôm. Ai cũng biết, khi người thầy sống trong điều kiện thiếu thốn giữa một môi trường có mức sống trung bình cao hơn thì làm sao mà toàn tâm toàn ý cho công việc của mình. Nhưng ngày một, ngày hai cũng khó lòng có được. Chúng ta mong rằng, thay vì rầm rộ tuyên dương, thay vì những lời ngợi ca cao quý, hãy có những quyết sách sát sườn với nhà giáo để họ dành hết tâm sức cho công việc mà họ đau đáu cả đời.

Ngày mai các em ra với cuộc đời. Đừng bao giờ ảo tượng đó là nơi của bình yên, là nơi thỏa sức để mình làm tất cả. Nơi đó có những điều tốt đẹp, nhưng nơi đó cũng có những đố kỵ, nhỏ nhen; nơi đó cũng không thiếu những gì cạm bẫy, nhưng đó là cuộc sống, không ai chạy trốn được cả mà hãy đối diện với nó. Chỉ làm việc tốt thì mới đẩy lùi cái xấu, chứ không thể lập tức xóa đi cái xấu. Nơi đó cần bản lĩnh, cần kiên trì và cần cả thời gian. Nhưng thầy tin các em, những sinh viên của thầy, những người có ý chí, có tình cảm và trách nhiệm sẽ sẵn sàng dấn thân và làm được.
...

Các em yếu quý.

Nơi đây sẽ mãi mãi là chốn đi về của các em. Có thể xa mặt nhưng không bao giờ cách lòng vì thầy trò chúng ta đã cùng nhau trải qua những năm tháng đáng nhớ, đáng yêu, và là những người trọng nghĩa, trọng tình.

Những sinh viên tuyệt vời của Trường ĐHSP Hà Nội, những sinh viên yêu quý của thầy, hãy biết yêu lấy cây lúa, nhưng cũng biết mơ về những ngôi sao xa xôi; hãy mang bầu máu nóng trong con tim ngập tràn yêu thương, hãy mang tri thức trong cái đầu thông minh của mình, với những đức tính khiêm tốn, cầu thị nhưng đầy khát vọng và bản lĩnh, dám vượt qua những cản trở, can đảm dấn thân vì những điều cao đẹp.
Hãy đi để đến! Tương lai phải do chính mình tạo dựng. Thầy tin các em.
Chúc các em thành công..."./.
Yêu nước ST.

THÊM NIỀM TIN VÀO CUỘC CHIẾN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG!

     Phiên tòa xét xử 54 bị cáo trong vụ án “chuyến bay giải cứu” vừa kết thúc sau 18 ngày xét xử và nghị án. Đây là vụ án thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế. Đại đa số nhân dân đều đồng tình với phán quyết của phiên tòa xét xử sơ thẩm, với hình phạt dành cho 54 bị cáo, trong đó có 4 án chung thân. Các đối tượng đưa và nhận hối lộ bị xét xử đúng người, đúng tội, thể hiện tinh thần nghiêm minh của luật pháp. Đồng thời, thể hiện rõ quyết tâm chính trị trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những người không đủ tư cách phẩm chất và đạo đức.

Trong 54 bị cáo, nhiều người đã từng là công chức Nhà nước, có người giữ chức vụ cao (thứ trưởng, vụ trưởng, phó chủ tịch UBND cấp tỉnh…), tất cả đều bị đưa ra xét xử. Điều đó chứng tỏ rằng, chúng ta đấu tranh phòng, chống tham nhũng không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Cũng phải khẳng định rằng, việc tổ chức các “chuyến bay giải cứu” là một chủ trương đúng đắn, nhân văn của Đảng và Nhà nước ta. Sau khi tổ chức giải cứu 30 công dân Việt Nam ở Vũ Hán, Trung Quốc về Việt Nam vào tháng 2/2020, với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, đến tháng 4/2020, Chính phủ cho phép thực hiện các chuyến bay giải cứu theo hình thức công dân thuộc diện ưu tiên được về trên các chuyến bay do cơ quan Nhà nước phối hợp tổ chức thực hiện và cách ly. Sau khi tổ chức các chuyến bay thí điểm thành công, Chính phủ tiếp tục cho phép tổ chức các chuyến bay “combo” song song với các “chuyến bay giải cứu” đến hết tháng 1/2022. Chủ trương kịp thời này đã nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế và sự ủng hộ của đồng bào trong và ngoài nước, ghi dấu ấn ngoại giao của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện tính nhân đạo của Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, từ chính chính sách tốt đẹp, mang ý nghĩa nhân đạo, nhân văn đó lại xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên - những người mang trong mình trọng trách là “công bộc” của dân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, móc ngoặc với nhau để đưa và nhận hối lộ, tư lợi cá nhân với số tiền lớn, phạm vi rộng.

Thành công lớn nhất của phiên tòa xét xử 54 bị cáo trong vụ án “chuyến bay giải cứu”, theo ý kiến của các chuyên gia pháp luật, đó là tính công khai, tính rõ ràng và sự tham gia rộng rãi của công luận, của báo chí và mạng xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình bày tỏ ý kiến thì cũng có nhiều chiều. Bên cạnh những ý kiến chân thành, mang tính xây dựng, đã xuất hiện một số ý kiến mang tính công kích, hoặc đả phá, nói xấu cá nhân hoặc cơ quan mà không có chứng cứ, quy kết, để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc sự thật.

Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, tinh thần chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Những thành tựu to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, nhận được sự đồng tình, tin tưởng của quần chúng nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đối với Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đó bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”, là “thanh trừng, triệt hạ”…
Từ phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử 54 bị cáo trong vụ án “chuyến bay giải cứu” cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Qua phiên tòa cũng gợi nên nhiều vấn đề để chúng ta cùng xem xét, tìm cách “bịt lỗ hổng” vào cơ chế phòng, chống tham nhũng. Ví dụ như việc cấp phép cho các chuyến bay phải qua 5 bộ. Mỗi bộ đều phải báo cáo, đều phải có một quy trình rất dài. Đấy chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng phát triển. 

Vụ án cũng chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu của kẻ xấu. Chúng ta đã thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra, thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị.

Vụ án cũng cho thấy tính chất phức tạp của vấn nạn tham nhũng, tiêu cực hiện nay, nếu không được kiểm soát tốt có thể lây lan thành căn bệnh nguy hiểm với sự tham gia của nhiều cán bộ có chức quyền ở nhiều bộ, ngành, địa phương. Với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “viên đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, biến thành những con rối.

Việc xét xử tại tòa hình sự sơ thẩm vụ án “chuyến bay giải cứu” trong những ngày qua là minh chứng rõ ràng cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của chúng ta ngày càng quyết liệt hơn, mở ra niềm tin lớn trong phòng, chống tham nhũng./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM ĐỂ ĐÁNH GIÁ ĐÚNG NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ!

         Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị là một nội dung đổi mới rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta và được tiến hành bài bản, hiệu quả từ nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng đến nay. Kết quả và chủ trương của Đảng nhận được sự đồng thuận rất cao của đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng.

Các quy định về lấy phiếu tín nhiệm ngày càng được hoàn thiện chặt chẽ và tiệm cận đồng bộ với các quy định khác trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhất là các quy định về công tác cán bộ.

Cách đây hơn 10 năm, Bộ Chính trị khóa XI ban hành Quy định số 165-QĐ/TW ngày 18-2-2013 về việc lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội. Đây là quy định đặt nền móng cho việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị. Tiếp đó, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 262-QĐ/TW ngày 8-10-2014 (thay thế Quy định số 165-QĐ/TW) cũng về nội dung này.

Với tinh thần không ngừng đổi mới và quyết tâm chính trị rất cao, Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Quy định số 96-QĐ/TW ngày 2-2-2023 (thay thế Quy định số 262-QĐ/TW) về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị. Đây là quy định có nhiều điểm mới, phát triển về cả phạm vi, nội dung, phương thức lấy phiếu tín nhiệm.

Theo đó, lấy phiếu tín nhiệm là nội dung quan trọng trong đánh giá cán bộ, được thực hiện định kỳ và kết quả phiếu tín nhiệm được sử dụng để đánh giá cán bộ. Đây là điểm mới rất đáng chú ý vì theo quy định trước đó, phiếu tín nhiệm là một trong những kênh thông tin tham khảo quan trọng cho việc đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ.

Quy định số 96-QĐ/TW thể hiện rõ tinh thần đồng bộ, liên thông với Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ và Thông báo kết luận số 20-TB/TW ngày 8-9-2022 của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật...

Cụ thể, Quy định số 96-QĐ/TW nêu rõ: “Những trường hợp có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên thì cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện miễn nhiệm chức vụ đang đảm nhiệm và bố trí công tác khác (thấp hơn) mà không chờ đến hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm”. Trong khi đó, theo Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị: “Miễn nhiệm là việc cấp có thẩm quyền quyết định cho cán bộ thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút, có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức”.

Như vậy, quy định về lấy phiếu tín nhiệm ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ và không chỉ dừng lại ở mục đích nhằm đánh giá cán bộ. Phát biểu khai mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm là để thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn các chủ trương, đường lối, nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ...

Với quyết tâm của Đảng trong lãnh đạo đổi mới, nâng cao hiệu quả việc lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ trong thời gian qua, chắc chắn phần việc này sẽ đạt hiệu quả ngày càng thực chất, góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ của Đảng./.
Yêu nước ST.

YÊU CẦU TRUNG QUỐC TÔN TRỌNG CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOÀNG SA!

     Chiều 3-8, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị Bộ Ngoại giao cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc nhà chức trách Trung Quốc ngày 28-7, thông báo nước này sẽ tiến hành một cuộc huấn luyện quân sự trên Biển Đông từ ngày 29-7 đến ngày 2-8, khu vực thông báo tập trận bao trùm một phần Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết:

"Việc Trung Quốc đưa một phần của quần đảo Hoàng Sa vào khu vực tập trận quân sự ở Biển Đông từ ngày 29-7 đến ngày 2-8 đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này và đi ngược lại tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và gây phức tạp tình hình, không có lợi cho quá trình đàm phán hiện nay giữa Trung Quốc và ASEAN về Bộ quy tắc ứng xử giữa các bên tại Biển Đông (COC), việc duy trì môi trường hòa bình ổn định và hợp tác ở Biển Đông.

Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và không tái diễn vi phạm tương tự".
Theo TTXVN./.
Yêu nước ST.

CÓ VỐN MỚI LÀM RA LÃI!

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”.
Liên hệ với sự nghiệp cách mạng hiện nay, như lời Bác dạy, muốn không “lỗ vốn” thì người cán bộ phải đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm. Chỉ khi nào người cán bộ mạnh mẽ loại cái cũ, dám đứng mũi chịu sào, dám làm những việc chưa có tiền lệ, việc mới, việc khó thì mới tạo ra sự chuyển biến tích cực.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó nhấn mạnh người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung…
Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW, cụ thể hóa chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Kết luận số 14-KL/TW cũng chỉ rõ những nguyên tắc bất biến trong vận hành, hiện thực hóa ý tưởng, đột phá mới, táo bạo của cán bộ. Sẽ không có bất kỳ ý tưởng mới nào được ghi nhận, nếu nó nằm ngoài tổ chức và sẽ không có bất kỳ cán bộ nào được tổ chức bảo vệ nếu ý tưởng phi thực tế, nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, mang nặng chủ nghĩa cá nhân hoặc làm liều, làm ẩu.
Điều ấy cho thấy, tinh thần bảo vệ cán bộ là rất quyết liệt, mạnh mẽ, nhưng cán bộ phải thật sự vì lợi ích chung.
Việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm sẽ tạo bứt phá, thay đổi về chất đối với đội ngũ cán bộ của Đảng, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới; trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của các ngành, địa phương.
Đó cũng chính là điểm tựa quan trọng để cán bộ tự tin hơn nữa trong việc đột phá thực thi công vụ. Để từ đó cái vốn là cán bộ sẽ làm ra cái lãi là sự thành công của sự nghiệp chung và hạnh phúc của Nhân Dân./.
Yêu nước ST.

BẠN CẦN BIẾT: NHỮNG LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI LÀM CÁCH MẠNG!

- Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.
- Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.
Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.
- Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi, phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh. Học cái xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu.
- Cần với Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.
Cần mà không Kiệm, "thì làm chừng nào xào chừng ấy". Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.
Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.
- Không có đạo đức cách mạng thì tài cũng vô dụng.
Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai.
- Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.
- Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang.
- Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng, không được lười biếng, ai lười biếng không làm được việc. Phải tiết kiệm, không xa xỉ, vì xa xỉ hoá ra tham lam, nhất là đối với tiền bạc của đoàn thể phải rất phân minh.
- Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần - Kiệm - Liêm - Chính thì dễ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.
- Công trạng của cá nhân chủ yếu là nhờ tập thể mà có. Vì vậy người có công trạng không nên tự kiêu mà cần khiêm tốn. Khiêm tốn và rộng lượng, đó là hai đức tính mà người cách mạng nào cũng phải có.
- Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra đòi hỏi hưởng thụ, đãi ngộ. Người ta ai cũng muốn ăn ngon mặc đẹp, nhưng muốn phải cho đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp, như vậy là không có đạo đức.
- Trong cuộc đấu tranh to lớn, lâu dài, gay go, ít nhiều đảng viên, ít nhiều nơi không tránh khỏi những khuyết điểm như: chủ quan, hẹp hòi, mạo hiểm, hủ hoá, xa quần chúng, chủ nghĩa địa phương, không giữ kỷ luật, làm việc luộm thuộm, tự kiêu, tự mãn v.v.
- Dù đó là những chứng bệnh thành niên, nhưng từ nay, Đảng đòi hỏi các đảng viên phải kiên quyết tẩy cho kỳ sạch những bệnh ấy. Vì nếu không trị cho khỏi hết, thì nó có thể lây ra mà trở nên rất nguy hiểm cho Đảng.
- Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.
Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.
Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.
Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình.
- Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:
+ Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.
+ Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.
+ Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.
+ Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư.
- Dao có mài, mới sắc.
  Vàng có thui, mới trong.
   Nước có lọc, mới sạch.
  Người có tự phê bình, mới tiến bộ.
- Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống cái thói "cả vú lấp miệng em", ngăn cản quần chúng phê bình./.
Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐÔI LỜI VỀ SÁCH GIÁO KHOA HIỆN NAY!

     Giải trình trước Đoàn Giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới đây, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cho biết "mức chiết khấu phát hành sách giáo khoa theo chương trình phổ thông mới từ năm 2020 đến nay là 23% cho sách giáo khoa lớp 1, 2, 6; 22,5% cho sách giáo khoa lớp 3, 7, 10. Còn sách giáo khoa lớp 4, 8 và 11 có mức chiết khấu 21%. Xin có đôi lời như sau:
Khoảng năm 700 trước Công nguyên, Quản Di Ngô, vị quân sư lỗi lạc của nước Tề, người đã giúp Tề Hoàn Công đứng đầu Ngũ bá đã có tư tưởng về giáo dục cực kỳ tiến bộ, đúng với mọi thời đại. Quản Trọng cho rằng: nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc; thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân. Nghĩa là, kế sách trong một năm là trồng lúa, mười năm là trồng cây và trọn đời là trồng người. Sinh thời Bác Hồ rất quan tâm đến giáo dục, mong muốn đào tạo ra những thế hệ "vừa hồng, vừa chuyên". Bác dạy: "vì lợi ích mười năm, trồng cây. Vì lợi ích trăm năm, trồng người".
Câu chuyện loạn sách giáo khoa như hiện nay là vấn đề cả xã hội hết sức quan tâm. Đất nước thống nhất hơn 48 năm nhưng sách giáo khoa vẫn mạnh ai người ấy làm, đủ loại nhà xuất bản, đủ loại sách khiến cho người ta liên tưởng đến nồi canh rau tập tàng. Bộ trưởng giải trình rằng: "“Nhiều sách giáo khoa góp phần làm phong phú nguồn học liệu để giáo viên và học sinh được tiếp cận” nhưng liệu có thuyết phục? Nếu nói như vậy thì tại sao không thống nhất một bộ sách giáo khoa và cho phép xuất bản các bộ sách tham khảo khác nhau. Điều này cho phép phụ huynh, nhà trường chủ động sách giáo khoa và sách tham khảo thì tùy điều kiện chứ không bắt buộc...Như hiện này, thầy cô giáo cũng khó khăn trong việc nghiên cứu để giảng cho học sinh, phụ huynh khó khăn khi chuẩn bị sách cho con vì không biết trường sẽ dùng loại sách gì. Người nghèo, yếu thế trong xã hội khó khăn vì giá sách cao mà nguyên nhân chính là mức chiết khấu cao.

Mức chiết khấu đối với sách giáo khoa, sách tham khảo hiện nay quá cao, là nguyên nhân đẩy giá lên cao? Đề nghị làm rõ vấn đề này để rộng đường dư luận! Phải kiểm soát giá trần để sách giáo khoa không bị đẩy giá cao, ảnh hưởng đến phụ huynh. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) đã tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Thế nhưng nhân dân luôn phải lo lắng khôn nguôi khi mà chương trình cải cách chưa mang lại hiệu quả cao. Sách giáo khoa thay đi, đổi lại kiểu đẽo cày giữa đường, gây lãng phí ngân sách nhà nước và khó khăn cho phụ huynh. 

Sách tăng giá, gây áp lực cho phụ huynh, đặc biệt là những hộ gia đình chẳng khá giả gì. Giáo dục XHCN phải mang tính nhân bản như nội hàm vốn có của nó. Nhiều nước trên thế giới đã xoá bỏ học phí và hỗ trợ cho phụ huynh, học sinh rất nhiều nhằm ươm mầm những thế hệ tương lai. Triều Tiên, Cu Ba hay nhiều nước phát triển trên thế giới đều thực hiện theo hướng đó. Chúng ta chẳng những không miễn giảm mà còn tăng thêm Gánh nặng ngàn cân đối với những phụ huynh khó khăn liên quan đến sách giáo khoa. Bản chất ưu việt của Chủ nghĩa xã hội nhất định không phải như vậy./.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2023

🌹 HẬU!

Mỗi kỳ hoa hậu qua đi

Không nhiều thì ít thị phi ở đời

Để làm gì? Là những lời 

Hỡi nhà tổ chức đương thời có hay?


Nàng hậu có gì trong tay?

Nhan sắc ư? Mỗi điều này đủ chưa?

Rình rang kẻ đón người đưa

Màu mè lắm chỗ dư thừa khó coi.


Đến hồi rung chuông, tuýt còi

Hạn chế mấy kiểu đua đòi chạy theo

Nhuận sắc nhưng mà trí teo

Ngàn năm đời vẫn đói nghèo thế thôi 😂😂😂


(Ảnh mạng minh họa cho bài.

Vài câu chắp nối dông dài mua vui 🤣🤣🤣)


NGƯỜI THẬT - CHUYỆN THẬT.

Cù Huy Hà Vũ là con trai của cụ Cù Huy Cận, một trong những vị cách mạng tiền bối của đất nước ta. Cụ Cù Huy Cận, Nguyễn Lương Bằng và Trần Huy Liệu thay mặt cho chính quyền cách mạng đã tiếp nhận ấn kiếm từ tay vua Bảo Đại vào ngày 30.8.1945 tại lầu Ngũ Phụng cửa Ngọ Môn (Huế) sau khi nhà vua đọc chiếu thoái vị. Cù Huy Hà Vũ được sinh ra trong cái nôi cách mạng, được tạo điều kiện để học tập đến tiến sĩ. Thế nhưng chỉ vì hám danh, hám lợi, bất mãn vì không được leo cao mà trở cờ, bội phản. Cù Huy Hà Vũ được các tổ chức phản động ở hải ngoại đặt ống đu đủ vào ruột cùng và bơm thổi y thành "kẻ sĩ', thành "nhân sĩ trí thức", "nhà đấu tranh dân chủ". Cứ thế, anh ta trượt rất dài trên đường băng khốn nạn và tội lỗi.


 

Đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh

Phản biện xã hội là một biện pháp để mở rộng dân chủ, tranh thủ trí tuệ xã hội, từ đó hoàn thiện chính sách, tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội. Thế nhưng hiện nay đang có một số cá nhân, tổ chức đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, càn quấy. Do đó cần phân biệt rõ thế nào là phản biện xã hội mang tính xây dựng và thế nào là đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, từ đó ngăn chặn hiện tượng nguy hiểm này.

Phản biện xã hội khác với phá bĩnh xã hội. Phản biện xã hội để tìm ra và góp ý tìm cách sửa chữa cái sai, góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng chính sách, quyết định, giải pháp cho vấn đề cần giải quyết, vì lợi ích chung, sự tiến bộ. Ngược lại, phá bĩnh xã hội về bản chất là hành vi và lời nói mang tính phá hoại vì lợi ích riêng, lợi ích nhóm, song giả danh phản biện, giả danh cái tốt, cái tiến bộ để cố ý gây rối, phá phách trực tiếp cốt làm hỏng công việc hoặc mất trật tự xã hội chung, vùi dập con người, phủ nhận chính sách, phủ nhận sự phát triển của tập thể và đất nước... 

Phá bĩnh xã hội là công cụ sở trường của nhiều trang mạng, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, cơ hội chính trị, luôn tìm mọi cách tán phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu khống và chụp mũ, đả kích, nói xấu mang tính chống đối, lật đổ, xuyên tạc sự thật nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ đoàn kết, phá hoại lòng tin, sự đồng thuận xã hội trong nước, trong Đảng và bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước hoặc của doanh nghiệp Việt Nam cả trong nước và trên trường quốc tế.

Đặc điểm chung nổi bật của việc phá bĩnh xã hội là nhân danh phản biện xã hội để bình luận tùy tiện, suy diễn, xỏ xiên, quy kết với quan điểm cá nhân, tựu trung lại là nói xấu Đảng, phản đối chế độ và chính sách hiện hành, phủ nhận thành tựu và sự phát triển của đất nước; thậm chí, nhiều kẻ còn cài cắm ngụ ý, qua đó khoe khoang và khéo thể hiện mình là người thông minh, cấp tiến, vì dân, vì nước...

Tiêu biểu cho các lực lượng chuyên hoạt động theo cách thức này là những tổ chức, cá nhân ở nước ngoài như: “Liên minh dân tộc Việt Nam” do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu; “Đảng Vì dân” do Nguyễn Công Bằng và Trịnh Thị Ngọc Anh cầm đầu, v.v...

Có thể thấy, việc nhận diện và ngăn chặn sự lợi dụng phản biện xã hội để phá bĩnh xã hội, chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội, phản động, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... là cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng Đảng cũng như giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Để làm việc đó, cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26-10-2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội.

Cần chủ động công khai, minh bạch thông tin và giải trình nhanh, đúng đắn, chính xác về những chủ trương, chính sách, bảo đảm thông tin chính thống giữ vai trò chủ đạo, làm căn cứ thẩm định và định hướng dư luận, phản bác kịp thời thông tin từ những kẻ phá bĩnh, càn quấy. Khi nhận thấy trường hợp đội lốt phản biện có dụng ý xấu, cần phải làm rõ động cơ, mục đích để có biện pháp xử lý phù hợp; có chế tài xử lý việc lợi dụng góp ý, phản biện nhằm gây rối xã hội.

Đồng thời cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, đấu tranh và xử lý đối với biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, phẩm chất, năng lực, uy tín giảm sút, thiếu gương mẫu, gây mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, cơ hội...

Mỗi người dân cần tỉnh táo, thận trọng, trang bị cho mình “bộ lọc” và thông tin cần thiết giúp nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng phản biện xã hội để gây nhiễu thông tin, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động. Đặc biệt, cần chú ý trước những thông tin không rõ nguồn, được viện dẫn rất vu vơ, mơ hồ, xuất phát từ các ý kiến của những người mượn danh phản biện, các “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến” vốn có thành kiến, có âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước./.

TMT 03.8

 

 

Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Cách đây 78 năm, vào mùa Thu lịch sử năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất”. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đây là một trong những thắng lợi nổi bật vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng.Không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với dân tộc Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 đã cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Đồng thời ảnh hưởng trực tiếp và rất to lớn đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào.

Đánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập, tự do; đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân và biết tranh thủ sức mạnh của thời đại thì dân tộc đó nhất định thắng lợi. Vì thế, trong diễn văn kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Người khẳng định: “Suốt trong 80 năm nước ta bị Pháp chiếm, Nhân dân ta từ Nam đến Bắc đã nhiều lần nổi dậy chống giặc ngoại xâm. Nhưng vì bọn vua quan hèn mạt, câu kết với địch, phản nước hại dân, cho nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Cách mạng Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, dạy cho họ cách tổ chức, đấu tranh và giành thắng lợi. Nhờ vậy mà ta có Đảng tiên phong, có Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do, làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi. Lần đầu tiên trong lịch sử Nhân dân ta được hoàn toàn giải phóng: Đã phá tan cái xiềng xích nô lệ thực dân, đã đập đổ cái chế độ thối nát của vua quan phong kiến, đã lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đó dân ta làm chủ nước ta”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã chứng minh tính cách mạng, khoa học của học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; là sự tiếp nối và là thắng lợi tất yếu sau thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại năm 1917: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh sự đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa, đã chứng minh sự đúng đắn của con đường của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã vạch ra”.Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc mà ý nghĩa của những tư tưởng đó vẫn còn giá trị lâu dài.

Kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhớ Bác kính yêu, chúng ta không khỏi tự hào về những năm tháng hào hùng của dân tộc dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Bác Hồ. Phát huy tinh thần và những giá trị của cách mạng tháng Tám, mùa Thu năm nay, toàn đảng, toàn quân và toàn dân đang tích cực triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người với chủ đề “Về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. 

 

 

 

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - MỘT CỘT MỐC ĐÁNH DẤU LỊCH SỬ DÂN TỘC, NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ

TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã giành thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Không chỉ khẳng định nền độc lập dân tộc của dân tộc Việt Nam mà “Tuyên ngôn độc lập” còn phản ánh bước ngoặt con đường phát triển tất yếu của dân tộc Việt Nam đó là giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám thành công, giành độc lập dân tộc, “Tuyên ngôn độc lập” được công bố, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực sự là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam trên con đường phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”. Đồng thời, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám được khẳng định trong Tuyên ngôn là cơ sở thực tiễn quan trọng, là tiền đề có ý nghĩa quyết định đến thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định, giành chính quyền mới chỉ là bước đầu của cách mạng, sử dụng chính quyền của giai cấp vô sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới là nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, những nội dung trong “Tuyên ngôn độc lập” phản ánh bước ngoặt trong con đường phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội” . Đồng thời, “Tuyên ngôn độc lập” là bản anh hùng ca trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Nếu các cuộc kháng chiến chống quân Tống ở thế kỷ thứ XI và chống Mông - Nguyên ở thế kỷ XIII là bản anh hùng ca bất hủ, là sự thể hiện sâu sắc và rực rỡ lòng yêu nước, khí phách anh hùng, trí thông minh, sáng tạo và sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta và tài thao lược của vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, thì “Tuyên ngôn độc lập” là kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta và là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca mở đầu cho một kỷ nguyên mới của dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển, đảo, biên giới đất liền ở nhiều nơi giữa các nước, nhất là trên Biển Đông như hiện nay, những tư tưởng của Tuyên ngôn độc lập vẫn còn nguyên giá trị, là ngọn đuốc soi đường sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Trước hết, phải kiên định lập trường trước sau như một trong đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là mục tiêu chủ yếu, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó là sự kế thừa và tiếp nối ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Quán triệt tinh thần độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập, Đảng ta xác định mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”.  Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ hiện nay không chỉ là chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ vùng trời, vùng biển, đảo, lòng đất của Tổ quốc mà còn gắn liền với việc bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ nhân dân; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ, thách thức, an ninh phi truyền thống, xử lý có hiệu quả mọi tình huống liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, độc lập dân tộc không chỉ xác định trong biên giới quốc gia, mà còn thể hiện thông qua vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, trong việc hợp tác giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu, an ninh phi truyền thống và đấu tranh, bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc bên ngoài biên giới. Vận dụng những tư tưởng về độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập, Đảng ta đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nhất là về mối quan hệ giữa hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Theo đó, Đảng ta đã đổi mới mạnh mẽ tư duy đối ngoại với phương châm “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Như vậy, “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ phản ánh ý chí khát vọng tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam trong suốt lịch sử mấy nghìn năm lịch sử mà còn là cột mốc đánh dấu lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, là ngọn đuốc soi đường sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./