Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

Phê phán quan điểm lợi dụng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để xuyên tạc, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các thành tựu kỹ thuật và các vấn đề về xã hội đã làm nảy sinh những nội dung liên quan đến sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động đã điên cuồng chống phá, hòng bác bỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần tỉnh táo phản bác những luận điệu đó, góp phần bảo vệ nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong bối cảnh mới. Trên các diễn đàn hiện nay, ít có vấn đề nào được luận bàn sôi nổi như cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tìm kiếm bằng Google, thống kê vào tháng 3 - 2023 có hơn 51 triệu kết quả bằng tiếng Việt và hơn 55 triệu kết quả bằng tiếng Anh về vấn đề này... Về đại thể, một mặt, các nghiên cứu gần đây đề cập đến những thay đổi mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống nhân loại nhờ ứng dụng các công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; mặt khác, các nghiên cứu cũng đề cập đến khá nhiều thách thức cũng như vấn đề mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra. Có nhiều vấn đề mới mẻ (chẳng hạn sở hữu tư liệu sản xuất là dữ liệu) hoặc là những vấn đề cũ, nhưng mang sắc thái mới (bóc lột, áp bức, bất công trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư). Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là phát kiến khoa học vĩ đại của chủ nghĩa Mác Nội dung cơ bản của học thuyết này là: Giai cấp công nhân (GCCN) là sản phẩm và là chủ thể của các cuộc cách mạng công nghiệp. Phương thức sản xuất công nghiệp, phương thức bóc lột giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản, môi trường đấu tranh giai cấp hiện đại với giai cấp tư sản đã rèn luyện cho GCCN những phẩm chất cách mạng, như GCCN là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất đại diện cho lực lượng sản xuất (LLSX) hàng đầu của nhân loại; được “đại công nghiệp” và đấu tranh giai cấp hiện đại rèn luyện nên GCCN có tác phong lao động hợp tác, kỷ luật, sáng tạo, tính tổ chức. Là giai cấp gắn liền với quá trình sản xuất mang tính chất xã hội hóa, nhưng trong quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, họ bị bóc lột giá trị thặng dư. Phần dôi ra từ lao động sống của người công nhân bị chủ tư bản chiếm không chính là bản chất kinh tế - xã hội của phương thức bóc lột giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa. Đại diện cho LLSX tiên tiến, lãnh đạo các giai cấp bị bóc lột, áp bức đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản để xác lập một xã hội mới với các giá trị công bằng, bình đẳng, dân chủ và tự do là sứ mệnh mà lịch sử trao cho GCCN hiện đại. Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là phát kiến khoa học vĩ đại của chủ nghĩa Mác _Nguồn: Tư liệu Cho đến nay, lịch sử đã chuẩn bị các điều kiện, tiền đề vật chất cho sự nghiệp giải phóng GCCN và các giai cấp bị áp bức bóc lột, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó là sự phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự trưởng thành của GCCN. Dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản - chính đảng của GCCN, GCCN cùng nhân dân lao động thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa hoặc cách mạng giải phóng dân tộc để tiến hành xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa. Sự nghiệp giải phóng giai cấp, dân tộc, nhân loại; sự nghiệp giúp cho con người được phát triển trong một xã hội lao động, hòa bình, công bằng, bình đẳng, dân chủ và tự do đã có những cơ sở hiện thực. Lý tưởng ấy, với sứ mệnh lịch sử của GCCN lần đầu tiên đã xuất hiện khả năng hiện thực và có thể hiện thực hóa(1). Sứ mệnh lịch sử của GCCN, theo V.I. Lê-nin, được coi là “điểm trung tâm, nội dung chủ yếu của học thuyết Mác” và là cơ sở lý luận cho chủ nghĩa xã hội hiện đại. Đáng lưu ý là, từ các thành tựu kỹ thuật và các vấn đề về xã hội đặt ra trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đã có một số luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN. Nhận diện một số luận điểm mơ hồ, sai lệch liên quan đến sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Thứ nhất, một số luận điểm mơ hồ về nền sản xuất hiện đại trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Phải chăng những yếu tố, như trí tuệ nhân tạo (AI), robot, tự động hóa... sẽ thay thế hoàn toàn lao động của con người? Đã có những dự đoán về tỷ lệ công việc hiện nay dễ bị tự động hóa. Các con số khác nhau đôi chút, nhưng thông điệp chung là tự động hóa sẽ thay thế nhiều công việc có quy trình, thao tác có tính lặp lại và thâm dụng nhiều lao động... Cuối năm 2015, Ngân hàng Anh đưa ra một dự báo rằng, sẽ có khoảng 95 triệu lao động truyền thống ở Anh và Mỹ bị mất việc làm trong khoảng 20 năm tới (chiếm khoảng 50% số lao động ở hai nước này)(2). Nhà tương lai học Thomas Frey(3) dự báo, khoảng 2 tỷ việc làm (50% số công việc hiện nay) sẽ “biến mất” vào năm 2030. Theo đó, các nghề luật sư/tư vấn pháp lý, tư vấn du lịch, lái xe taxi, công nhân khai thác than, kiểm soát không lưu... sẽ bị robot, dữ liệu lớn (Big data) thay thế. Một số lao động trình độ cao cũng có thể bị tự động hóa can thiệp; trên thực tế, hiện nay đã xuất hiện một số dạng thức công việc của một số nghề được thay thế bằng robot, chẳng hạn luật sư, bác sĩ, phóng viên... Kèm theo đó là những dự báo trong tương lai gần (thời điểm năm 2030 thường được lựa chọn) về tốc độ tự động hóa nhanh chóng và các biến đổi nghề nghiệp do AI và robot tham gia vào sản xuất, dịch vụ... Theo đó, cũng có những suy đoán rằng, phải chăng máy móc sẽ có thể thay thế hoàn toàn lao động của con người? Thậm chí, trước khả năng tự động hóa công việc do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, một số nghiên cứu gần đây đã đưa ra một dự báo về xuất hiện khả năng thừa lao động. Học giả Y.N. Harari (năm 2019) gọi đó là “sự vô dụng” của số đông. Hàm ý diễn đạt của Harari là khi ứng dụng AI, robot, thành tựu sinh học... của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các cuộc cách mạng công nghiệp nối tiếp sau nữa, rất có thể sẽ xuất hiện hiện tượng có nhu cầu về lao động mà không cần sử dụng nhân công. Nhiều quá trình sản xuất và dịch vụ vẫn có thể hoạt động bình thường mà không cần thuê mướn nhân công, vì robot và AI đã có thể thay thế. Từ đó, những người này suy đoán rằng nhân loại sẽ chứng kiến “một bất bình đẳng mới”. Thực ra, lao động của con người, đặc biệt là mảng lao động có tính phức tạp, đòi hỏi sự hợp tác xã hội trong công việc, rất cần đến những “kỹ năng mềm”, chẳng hạn như liên kết ý chí, xác lập sự đồng thuận xã hội, giải quyết những khác biệt về lợi ích, tìm kiếm các giải pháp mới hoặc cân nhắc giữa kết quả công việc với hệ quả về đạo đức, nhân tính,... Những tính chất lao động phức tạp này đều hiện diện ở hầu hết lĩnh vực, ngành, nghề và đều mang có những yêu cầu riêng. Hiện nay, AI và robot chưa thể có được những phẩm chất này. Sự khác biệt chính là ở chỗ: Trong khi con người có năng lực ứng biến, sáng tạo, xử lý công việc một cách linh hoạt thì các thiết bị, máy móc lại được thiết lập để hoạt động theo quy trình “cứng nhắc”. Theo đó, lao động của con người mang tính sáng tạo, nhân bản và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, là những phẩm chất rất cần thiết, mà máy móc không thể thay thế cho những phẩm chất này của con người. Câu hỏi ở đây là: Có còn sự bóc lột trong sản xuất hiện nay? Đây cũng là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Trên bình diện hiện tượng, người ta thấy nhiều doanh nghiệp rất ít công nhân, cùng làm việc với họ là một hệ thống tự động bao gồm khá nhiều máy móc, thiết bị quan sát, cảm ứng để kiểm tra, hỗ trợ điều tiết và thay thế cho hoạt động của con người. Nhiều công đoạn đã do robot đảm nhiệm; vì vậy, có một số người biện bạch rằng, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang “bóc lột máy móc” (!?) chứ không phải là bóc lột công nhân như trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây. Thực ra, bản chất của bóc lột giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa là “phần dôi ra từ lao động sống của người công nhân bị nhà tư bản chiếm không”. Đây là nhận thức khoa học đã được C. Mác luận chứng trong học thuyết của mình. Những hoạt động của máy móc đều là những hoạt động dựa trên thành quả của lao động quá khứ, nó không tạo ra giá trị thặng dư. Giá trị thặng dư chỉ được tạo ra từ lao động sống của người công nhân. Hiện nay, trong những dây chuyền sản xuất hiện đại, tuy có ít công nhân, nhưng họ có vai trò rất lớn. Và, chính họ là người quyết định quy trình, hiệu quả sản xuất. Lao động sống của người công nhân trong sản xuất hiện đại có khi chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong dãy công việc, nhưng lại là nơi tạo ra giá trị lớn cho sản xuất hàng hóa. Cuối cùng, vấn đề mấu chốt đặt ra trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cũng giống như trong lịch sử của các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây) là: Giá trị thặng dư của sản xuất được phân phối như thế nào? Hiển nhiên, nhà tư bản vẫn là người chiếm hữu phần lớn nhất và công nhân vẫn là người bị bóc lột giá trị thặng dư. Chỉ có sự khác biệt là, cùng với quá trình toàn cầu hóa mang đậm tính chất tư bản chủ nghĩa hiện nay, quy mô bóc lột lao động đã mở rộng ra toàn cầu (thông qua sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia - TNC); trình độ bóc lột đã được “nâng cấp” thông qua độc quyền công nghệ, qua sự bất bình đẳng trong thương mại quốc tế (do các nước giàu áp đặt với các nước nghèo)(4). Thứ hai, một số luận điểm sai lệch phủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Giai cấp công nhân có còn là giai cấp tiên tiến nhất trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư? Từ hiện trạng của GCCN trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, có thể thấy, tuy họ có thể bị phân hóa thành nhiều tầng lớp gắn liền với các trình độ công nghệ khác nhau, nhưng tất cả đều hợp thành LLSX của nhân loại hiện đại. Họ là giai cấp có vai trò quyết định quá trình sản xuất vật chất và dịch vụ bằng phương thức công nghiệp. Sự phát triển của từng quốc gia tùy thuộc vào năng lực sản xuất, trình độ dịch vụ khi so sánh. Năng lực sản xuất và trình độ dịch vụ lại phụ thuộc vào công nghệ và quy mô sản xuất. Cả hai lĩnh vực đó lại phụ thuộc vào trình độ sáng tạo và làm chủ công nghệ của công nhân. Chính GCCN là chủ thể của nền sản xuất hiện đại, vì công nghệ phải luôn gắn liền với công nhân. Phát triển luôn gắn liền với các cuộc cách mạng công nghiệp, chính công cụ sản xuất và quy trình sản xuất hiện đại đã và sẽ tạo ra GCCN - “sản phẩm” xã hội của nó. Kinh nghiệm của lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây cho thấy, mỗi khi công nghệ mới ra đời thì chính nó sẽ tạo ra những thế hệ mới của GCCN phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Vì vậy, luận điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen: “Giai cấp công nhân là sản phẩm của đại công nghiệp” chính là một tổng kết có tính phương pháp luận. Các nghiên cứu hiện đại về nhu cầu nhân lực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng cho thấy: “Việc làm sẽ tăng đối với loại công việc trí tuệ, sáng tạo với mức lương cao và loại công việc chân tay thu nhập thấp, nhưng sẽ giảm đáng kể đối với các loại công việc đều đặn, lặp đi lặp lại với thu nhập trung bình”(5). Tại Cộng hòa Liên bang Đức, “ước tính đến năm 2025, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo thêm khoảng 350.000 việc làm, tăng 5% so với lực lượng lao động 7 triệu người trong 23 ngành sản xuất hiện đang tham gia nghiên cứu. Việc phổ biến robot và công nghệ máy tính sẽ làm giảm khoảng 610.000 công việc lắp ráp và sản xuất, nhưng sẽ có 960.000 công việc bổ sung. Các lĩnh vực công nghệ thông tin, phân tích và R&D đòi hỏi thêm 210.000 nhân sự có tay nghề cao”(6). Theo đó, GCCN ngày càng đa dạng về nghề nghiệp và hiện đại hóa cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một số nghề nghiệp mới xuất hiện vài thập niên gần đây cho thấy điều đó. Chẳng hạn như: lập trình viên, quản trị dữ liệu, phân tích “pháp y” dữ liệu điện tử, quản lý khí thải carbon, kỹ sư phần cứng thông minh, nhân viên vận hành và bảo trì hệ thống “thị giác” công nghiệp, kỹ sư mạch tích hợp, nhân viên tư vấn bán hàng trực tuyến, dạy học trực tuyến... Giai cấp công nhân có còn đại diện cho tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất? Hiện nay, tuy mới chỉ ở giai đoạn đầu, nhưng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thể hiện trình độ xã hội hóa khá cao của sản xuất và dịch vụ. Các biểu hiện của nó là liên kết sản xuất toàn cầu thông qua các công cụ, như “kết nối vạn vật” (IoT), sử dụng dữ liệu lớn (Big data) và cùng với đó là các điều ước quốc tế về thương mại với các quy mô khác nhau tạo nên chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Ngày nay, GCCN hiện đại tham gia vào nhiều lĩnh vực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tính chất xã hội hóa của lao động hiện đại không chỉ thể hiện ở những liên kết rộng lớn và nhiều chiều, mà hiện nay một số khía cạnh của yêu cầu phát triển bền vững, nhân bản, hài hòa... cũng đều thể hiện ra trong yêu cầu về công việc và đạo đức nghề nghiệp của công nhân. Gắn liền với phương thức sản xuất công nghiệp, là LLSX hàng đầu của nhân loại, vì thế tính chất xã hội hóa của GCCN là một tính chất hữu cơ của giai cấp này. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một trình độ mới của sản xuất vật chất và cung cấp những tiền đề mới cho tiến bộ xã hội Nguồn: shutterstock.com Sứ mệnh lịch sử đối với quá trình phát triển của thế giới vẫn thuộc về giai cấp công nhân Sứ mệnh hàng đầu của GCCN là bằng phương thức lao động công nghiệp để sản xuất ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, tốt hơn cho quá trình phát triển của nhân loại; từ đó, tạo ra các tiền đề, điều kiện vật chất cho sự tồn tại, phát triển của xã hội hiện đại. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và từ thực tiễn hiện nay, có thể thấy GCCN ở tất cả quốc gia với trình độ phát triển khác nhau vẫn đang tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình với nhiều trình độ, cách thức khác nhau. Thậm chí, dưới góc nhìn của chủ nghĩa duy vật lịch sử, hiện nay, chính GCCN ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, bằng việc làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại, với năng suất lao động cao... lại đang đóng góp tích cực cho việc thực hiện nội dung kinh tế - kỹ thuật của sứ mệnh lịch sử ấy. Những phân tích sau đây có thể góp phần làm rõ hơn nhận thức liên quan đến vấn đề này. Một là, cho dù tri thức, kiến thức khoa học có vai trò to lớn, nhưng xã hội phát triển hiện đại không vì thế mà không cần đến sản phẩm vật chất để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của mình (chẳng hạn ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, xây dựng, chữa bệnh,...). Tất cả nhu cầu ấy lại chỉ có thể được thỏa mãn thông qua sản xuất vật chất, mà chủ yếu là thông qua sản xuất công nghiệp. Chỉ có sản xuất vật chất bằng phương thức công nghiệp mới có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của gần 8 tỷ con người trên trái đất hiện nay. Theo đó, nhân loại vẫn cần tới sản xuất vật chất và lao động của GCCN để tồn tại và phát triển. Hai là, GCCN hiện đại đang được trí thức hóa, trí tuệ hóa trong các cuộc cách mạng công nghiệp gần đây. Yêu cầu khách quan của sản xuất hiện đại và vận hành nền sản xuất công nghiệp hiện đại buộc GCCN không ngừng nâng cao năng lực lao động, làm chủ khoa học và công nghệ. Hiện nay, khoảng 40% công nhân của các nước G7 có trình độ đại học; thậm chí, thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO, năm 2002) chỉ ra rằng, gần 70% công nhân Nhật Bản có trình độ đại học. Với trình độ như vậy, trên thực tế, người ta đã dùng khái niệm “công nhân - trí thức” để chỉ nhóm lao động trình độ cao này. Theo đó, quan niệm coi công nhân “là người lao động thừa hành, trình độ học vấn thấp” đã lạc hậu và bất cập với thực tế. Ba là, sứ mệnh lịch sử của GCCN tự nó đã mang một hàm lượng tri thức rất lớn và bản thân GCCN cũng đang trí tuệ hóa, đang tạo ra một lớp trí thức - công nhân trong lực lượng lao động của mình. Họ là các chuyên gia, các nhà khoa học và công nghệ đang hằng ngày hoàn thiện và phát triển công nghệ để tăng năng suất lao động, bảo đảm các yêu cầu ngày càng cao về kinh tế, xã hội và môi trường. Xã hội gọi nhóm lao động này là trí thức - công nhân hay nguồn nhân lực trình độ cao. Theo đó, cả về lý luận và thực tiễn, sứ mệnh lịch sử của GCCN không xa lạ gì với kho tàng tri thức, tầng lớp trí thức, nền khoa học hiện đại. Vì thế, việc tách rời tri thức với quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN là một cách tiếp cận, cái nhìn phiến diện. Bốn là, trí thức là nhóm lao động sản xuất ra các giá trị tinh thần; còn công nhân là nhóm trực tiếp lao động sản xuất vật chất. Sản xuất vật chất, các quá trình kinh tế, xét đến cùng, bao giờ cũng là yếu tố quyết định nhất. Tầng lớp trí thức và lao động của họ có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển hiện đại, nhưng bao giờ cũng cần đến việc chuyển hóa những giá trị tinh thần đó vào thực tế sản xuất xã hội. Những công thức, ý tưởng sáng tạo, phần mềm (software), hay nói chung là phát kiến khoa học, đều cần tới công nghệ để thể hiện ra giá trị của mình. Trên thực tế, nhiều sản phẩm tinh thần chỉ có thể bộc lộ giá trị thông qua việc “hóa thân” vào những ứng dụng công nghệ. Khoa học cần đến công nghệ để thể hiện ra, công nghệ cần khoa học để tiến hóa. Hai quá trình thực tiễn này hiện nay đã “xích lại gần nhau” trong một lĩnh vực hoạt động thường được gọi là “Cách mạng khoa học và công nghệ”. Thông qua thực tiễn đó, có thể nhận định: Sản xuất vật chất là cái quyết định, cùng với sản xuất tinh thần là để phục vụ cho quá trình tồn tại của xã hội. Tuy sáng tạo tinh thần như khoa học, văn hóa... cũng có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội hiện đại, nhưng rõ ràng, nếu chỉ riêng yếu tố tinh thần thì chưa tạo đủ nền tảng cho sự phát triển. Năm là, sứ mệnh lịch sử thực chất là sự nghiệp của một giai cấp đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo xã hội xây dựng một hình thái kinh tế - xã hội mới. Để làm tròn trách nhiệm ấy, buộc giai cấp có sứ mệnh lịch sử phải đạt được những yêu cầu, đặc điểm riêng, cụ thể là: 1- Phải là giai cấp đại diện cho LLSX tiến bộ xã hội, bao gồm cả về kinh tế (xu thế phát triển sản xuất) và chính trị (đại diện cho xu thế dân chủ hóa); 2- Phải là đại diện cho lợi ích chung của xã hội, các giai tầng xã hội và cả dân tộc; 3 - Phải có một hệ tư tưởng riêng, vừa phản ánh nhận thức về quy luật vận động đương thời, vừa thể hiện tính tiền phong về lý luận; 4 - Phải có kết cấu, tổ chức chặt chẽ với một hạt nhân là chính đảng của giai cấp(7). Một giai cấp muốn đảm nhận sứ mệnh lịch sử là xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới phải đáp ứng các điều kiện trên. Trí thức không hội đủ các điều kiện ấy. Ngộ nhận về sự tăng lên của vai trò trí thức trong phát triển hiện đại đôi khi khiến người ta lãng quên những mối quan hệ, các đặc điểm và vị thế của trí thức trong xã hội. Trí thức có đóng góp trong việc khái quát những tri thức lý luận và nâng cao trình độ nhận thức của phong trào công nhân. Trí thức có thể cùng với GCCN và nhân dân làm nên lực lượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, GCCN cần đến sự hợp tác của trí thức và tự mình nâng cao tri thức, kỹ năng lao động hiện đại... Nhưng chỉ GCCN mới có đầy đủ năng lực đảm nhận vai trò lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Một vài kết luận bước đầu Thứ nhất, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một trình độ mới của sản xuất vật chất và cung cấp những tiền đề mới cho tiến bộ xã hội. Các cuộc cách mạng công nghiệp nối tiếp nhau là thành tựu của văn minh nhân loại; qua đó, nâng tầm vóc của con người và tăng thêm khả năng, năng lực giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường, sinh thái. Cho dù ở trình độ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhân loại vẫn tiếp tục phải sản xuất ra của cải vật chất với phương thức sản xuất công nghiệp ở các trình độ xã hội hóa cao hơn. Đây là quy luật của cuộc sống, của nền văn minh trên trái đất. Có một vấn đề có tính quy luật là: Mỗi bước tiến trên quá trình chinh phục tự nhiên, chẳng hạn các cuộc cách mạng công nghiệp, thì tuy có thể không đồng thời và “đồng dạng”, nhưng tiếp theo nó, và được nó cung cấp cơ sở hoặc tiền đề, sẽ là những tiến bộ xã hội. Đây là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người. Những quan hệ này được chủ nghĩa Mác - Lê-nin khái quát thành quy luật: Quan hệ sản xuất phải phụ thuộc và phù hợp với trình độ của LLSX. Khi LLSX ở trình độ xã hội hóa cao thì quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trở thành vật cản cho phát triển. Và, nó sẽ bị thay thế bởi một quan hệ sản xuất có hình thái tương ứng với LLSX xã hội hóa. Đó là quan hệ sản xuất công hữu do sứ mệnh lịch sử của GCCN xác lập. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay đang hoạt động trong môi trường tư bản chủ nghĩa; theo đó, nhiều công nghệ mới và nhiều thành tựu của văn minh nhân loại đang bị chủ nghĩa tư bản lợi dụng. Và cũng như những cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra giữa giai cấp đang sở hữu tư liệu sản xuất và đại diện cho thế giới cũ với giai cấp đang sở hữu lao động sống, đang đại diện cho một thế giới mới. Chừng nào còn giai cấp, còn sở hữu tư nhân thì vẫn còn vấn đề bóc lột, áp bức và cuộc đấu tranh cho công bằng, bình đẳng, dân chủ và tự do vẫn còn tiếp diễn và cần đến sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư không phải là liều thuốc vạn năng để chữa các căn bệnh xã hội, nhưng nó cũng không thuần túy chỉ là tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật. Nó có thể tạo ra những hiệu ứng 2 chiều về tiến bộ xã hội, như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây. Vấn đề là ở chỗ, làm sao tận dụng được mặt tích cực, tiến bộ và hạn chế, khắc phục những hiệu ứng tiêu cực, phản phát triển của nó mà thôi. Thứ hai, cần có nhận thức đầy đủ hơn về tính hai mặt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo, robot... vẫn có những giới hạn. Trí tuệ nhân tạo và tự động hóa có thể mô phỏng các thao tác hoạt động của con người và có thể lựa chọn giải pháp (mà nó cho là tối ưu) trong nhiều phương án đã được nạp vào dữ liệu. Song, nó không có kỹ năng giao tiếp xã hội, kỹ năng phản biện những tri thức hiện có, kỹ năng phát hiện các vấn đề, giải quyết vấn đề và đưa ra những tri thức mới. Đây lại là những kỹ năng cần cho cuộc sống và là một trong những nội dung của giáo dục - đào tạo hiện đại cho tất cả loại hình lao động. Trí tuệ nhân tạo thể hiện sự “máy móc”, vô cảm trong một số trường hợp, khi chỉ biết đưa ra những quyết định duy lý, thậm chí phi đạo đức, phi nhân tính... Trái lại, yêu cầu đạo đức, mục tiêu nhân bản trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ chính là điều mà các nhà khoa học, các nhà quản lý xã hội vì con người đã quan tâm từ rất lâu. Một số nghiên cứu của các học giả thường quá nhấn mạnh đến những thách thức, vấn đề về kinh tế - kỹ thuật và những hậu quả xã hội tiêu cực mà chưa đề cập đến khả năng giải quyết những vấn đề này của con người trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Họ cũng thường quá nhấn mạnh đến vấn đề từ hiện tại mà không soi chiếu vào kinh nghiệm quá khứ và những đúc kết lý luận từ lịch sử. Họ cũng chưa thấy được tác động tích cực của tiến bộ xã hội, các cuộc cách mạng xã hội trong khi giải quyết các vấn đề của sự phát triển. Đây rõ ràng là sự phiến diện trong nhận thức của một bộ phận người nghiên cứu về vấn đề này. Vì về lô-gíc, thì đúng như C. Mác đã viết: “... nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được, vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành... những lực lượng sản xuất phát triển trong lòng xã hội tư sản đồng thời cũng tạo ra những điều kiện vật chất để giải quyết đối kháng ấy”(8). Thứ ba, khi đề cập đến những tiến bộ của khoa học và công nghệ, thì không bao giờ được quên khát vọng vĩ đại của con người là được phát triển tự do. Được sống trong công bằng, bình đẳng, dân chủ và tự do là lý tưởng của nhân loại. Các cuộc cách mạng công nghiệp nối tiếp nhau đã lần lượt cung cấp thêm cơ sở thực tiễn, tạo thêm những tiền đề cho lý tưởng đó. Những tiến bộ xã hội đồng hành với các cuộc cách mạng công nghiệp ấy, mà điển hình là cách mạng xã hội chủ nghĩa, cũng đang từng bước hiện thực hóa nó. Đó là kinh nghiệm của lịch sử. Và, cũng thật phi lý, khi văn minh đã tiến những bước ngày càng dài hơn và nhanh hơn, sự nghiệp giải phóng con người đã đạt được nhiều thành tựu lớn hơn, mà vẫn giữ lại nếp tư duy rằng, lao động sản xuất ra của cải vật chất mãi mãi chỉ mang tính chất cực nhọc cổ truyền, coi “bất công, áp bức là định mệnh” của nhân loại,... Theo đó, hiện nay cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng góp phần tạo thêm tiền đề để giải phóng nhân loại khỏi bất công áp bức và giúp con người tiến gần đến tự do; như cách diễn đạt gần đây của một nhà khoa học, là khiến cho con người từ “homo sapiens” (con người thông minh) dần trở thành “homo deus” (con người “thần thánh”)(9). C. Mác và Ph. Ăng-ghen từng dự báo rằng: Xã hội “sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(10). Đó là xã hội cộng sản văn minh. Xây dựng xã hội ấy thông qua các cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng xã hội chủ nghĩa là sứ mệnh lịch sử của GCCN hiện đại./. ------------------------- (1) Xem thêm: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Chuyên đề: “Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và ý nghĩa thời đại ngày nay”, Nxb. Lý luận Chính trị, 2021, tr. 36 - 64 (2) Xem: Trương Thị Thanh Quý: “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với việc phát triển nguồn nhân lực quản lý giáo dục Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 15-12-2017, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/48441/cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-voi-viec-phat-trien-nguon-nhan-luc-quan-ly-giao-duc-o-viet-nam.aspx22:28 (3) Thomas Frey là tác giả các cuốn sách: Communicating with the Future (Giao tiếp với tương lai, năm 2011) và Epiphany Z: 8 Radical Visions for Transforming Your Future (Tạm dịch: Hiển thị 8 hình ảnh cơ bản về những thay đổi trong tương lai của bạn, năm 2017). (4) Xem thêm: Hoàng Ngọc Hải - Hồ Thanh Thủy: “Học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 10-5-2020, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/hoc-thuyet-gia-tri-thang-du-van-con-nguyen-gia-tri-trong-boi-canh-moi (5) Klaus Schwab: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr. 72 (6) Điệp Lưu - Lê Mỹ: “Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra nhiều ngành nghề mới”, báo điện tử Vietnamnet, ngày 3-9-2021, https://vietnamnet.vn/cach-mang-cong-nghiep-40-tao-ra-nhieu-nganh-nghe-moi-771523.html (7) Xem thêm: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Chuyên đề: “Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và ý nghĩa thời đại ngày nay”, Sđd, tr. 62 - 64 (8) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, t. 13, tr. 16 (9) Yuval Noah Harari với bộ ba cuốn sách được chú ý trong thời gian gần đây: Sapiens: Lược sử loài người (năm 2014), Homo Deus: Lược sử tương lai (năm 2016) và 21 bài học cho thế kỷ XXI (năm 2018) đã đề cập đến vấn đề này. (10) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 628 (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm trong đường lối đổi mới của Đảng ở từng giai đoạn phát triển của đất nước

Trong giai đoạn phát triển mới của cách mạng, một trong những vấn đề quan trọng là phải giải quyết đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm trong chủ trương, đường lối của Đảng. Đó cũng là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa “Điểm” và “Diện”, giữa tổng thể và cụ thể, giữa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn và ngắn hạn trong mọi lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm trong đường lối đổi mới của Đảng Kinh nghiệm phong phú được tổng kết trong hơn 93 năm lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam đã chứng minh rõ rằng, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ với lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm trong xây dựng đường lối, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thì sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, thậm chí còn dẫn tới tổn thất làm chậm sự phát triển của đất nước. Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều có bối cảnh, điều kiện cụ thể, xuất hiện những thuận lợi, thách thức và những yêu cầu đặt ra cần được giải quyết. Điều đó đòi hỏi Đảng ta có sự đổi mới sáng tạo để có thể đề ra được những quyết sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Nhiệm vụ đặt ra là phải đổi mới toàn diện, đồng bộ, vì xét về mặt tổng thể với mục tiêu lâu dài thì chúng ta đang hướng tới xây dựng một hình thái kinh tế - xã hội mới, thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ. C. Mác đã chỉ rõ về vấn đề này như sau: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình”(1). Như vậy, rõ ràng sự đổi mới của chúng ta không phải là vô định, mà phải có mục tiêu, đó là làm thay đổi về lượng, dẫn tới sự thay đổi về chất của một hệ thống xã hội, chuyển từ cái cũ sang cái mới, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa cộng sản. Dĩ nhiên, đổi mới phải toàn diện và đồng bộ, song việc lựa chọn trọng tâm, trọng điểm cũng lại là nhiệm vụ rất cần thiết. Bởi lẽ, trong cả một hệ thống xã hội bao giờ cũng có những “hạt nhân” quyết định sự thống nhất, sự phát triển của cả hệ thống, như cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; đồng thời, quá trình phát triển luôn phát sinh những “điểm nghẽn”, những “nút thắt” cần được giải phóng, khai thông. Hoặc, quá trình này luôn cần có những “Đầu tầu”, những “Động lực” đi trước để kéo theo sự phát triển của cả hệ thống. Đó cũng là một lô-gíc hợp lý của sự phát triển. Không có sự phát triển nào diễn ra theo lối “dàn hàng ngang”, mà đều phải có những “mũi nhọn”, những lĩnh vực “tiên phong” đi trước. Do vậy, trong sự đổi mới toàn diện và đồng bộ, yêu cầu đặt ra là phải tìm được trọng tâm, trọng điểm, động lực của sự phát triển để tập trung thúc đẩy chúng đi trước. Mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định trọng tâm, trọng điểm là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết. Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ này trong thực tiễn phát triển kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay. Xét từ đặc điểm, có thể chia làm nhiều giai đoạn cụ thể như sau: - Giai đoạn 1986 - 2000: Đây là giai đoạn mở đầu, đặt nền móng cho công cuộc đổi mới cả về kinh nghiệm và tư duy lý luận, và cũng đạt được những thành tựu to lớn, mang ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tổng sản phẩm trong nước sau 10 năm (1991 - 2000) đã tăng gấp đôi, quan hệ sản xuất đã có sự đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã được cải thiện rõ rệt; Việt Nam đã xóa bỏ được tình trạng bị bao vây, cấm vận, tạo thế và lực cho giai đoạn mới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm dây chuyền sản xuất các sản phẩm điện tử tại Công ty Điện tử Samsung Việt Nam Thái Nguyên_Ảnh: TTXVN Giai đoạn này diễn ra qua 3 kỳ đại hội của Đảng, mở đầu là Đại hội VI. Có thể thấy, tình hình trước Đại hội VI là rất phức tạp: “Kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng”(2). Đại hội VI cũng thẳng thắn chỉ rõ nguyên nhân của tình hình trên là: “Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, cụ thể là: “đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp”(3). Cùng với đó là tình trạng “chủ quan nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm những sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông”(4). Đại hội cũng nghiêm túc kiểm điểm: “Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện”(5). Từ việc thẳng thắn nhận ra những sai lầm trong chủ trương và chính sách, Đại hội VI đã có những quyết sách, chủ trương đổi mới, đi sát thực tế cuộc sống với mục tiêu: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Ổn định tình hình kinh tế - xã hội bao gồm ổn định và phát triển sản xuất, ổn định phân phối, lưu thông, ổn định và cải thiện từng bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, tăng cường hiệu lực tổ chức quản lý, thiết lập trật tự, kỷ cương và thực hiện công bằng xã hội”(6). Đại hội cũng nêu những mục tiêu cụ thể: “sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh”(7). Đại hội cũng yêu cầu: 1- “Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”(8); 2- “Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất”(9); 3- “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế... Kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp”(10); 4- “Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông... Giải phóng năng lực sản xuất... mở rộng giao lưu hàng hóa, bãi bỏ các biện pháp cấm đoán, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính”(11). Như vậy, Đại hội VI đã chỉ ra nhiệm vụ bao trùm, tổng quát mang tính toàn diện là ổn định kinh tế - xã hội trong điều kiện phức tạp, có nhiều rối ren trong sản xuất và lưu thông. Khi đất nước lâm vào khủng hoảng thì vấn đề ổn định kinh tế - xã hội là rất quan trọng; mặc dù vậy, Đại hội VI cũng không quên nhiệm vụ lâu dài là tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho đẩy mạnh công nghiệp hóa. Đại hội đã xác định được các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm là thực hiện ba chương trình kinh tế để thúc đẩy sản xuất và giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống nhân dân. Đại hội VI đã tìm ra “nút thắt” kìm hãm sức sản xuất là sự không phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đây là căn cứ để Hội nghị Trung ương 6 khóa VI đưa ra chủ trương thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, thể chế hóa đồng bộ chính sách đối với các thành phần kinh tế, xóa bỏ những cấm đoán và ràng buộc vô lý. Quyền sở hữu, sử dụng và thừa kế tài sản, quyền kinh doanh và hưởng thụ các thu nhập chính đáng cũng như nghĩa vụ với Nhà nước phải được quy định thành luật để mọi người dân yên tâm bỏ vốn sản xuất, kinh doanh... Chính xuất phát từ quan điểm đổi mới toàn diện, đồng bộ và chỉ ra được những “nút thắt”, “điểm nghẽn”, những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần tập trung giải quyết, nên những quyết sách của Đại hội VI đã trở thành những quyết sách quan trọng, mang tính lịch sử, mở đầu cho công cuộc đổi mới. Các quyết sách này tiếp tục được Đảng ta tổng kết, điều chỉnh, bổ sung tại Đại hội VII và Đại hội VIII; trong đó đặc biệt quan trọng là xây dựng được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Với đường lối đúng đắn, Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua khủng hoảng ở trong nước ngay cả trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự sụp đổ này có ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến toàn hệ thống chính trị, cũng như tâm tư của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Song, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, vững vàng của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử trong giai đoạn 1986 - 2000. Chính trong giai đoạn này, trải qua 3 kỳ Đại hội, Đảng ta đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm phong phú về đổi mới, đó là: 1- Phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; 2- Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và đời sống của xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình có sẵn nào. Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Có những điều chỉnh, bổ sung và phát triển cần thiết về chủ trương, phương pháp, biện pháp. Tìm và lựa chọn những giải pháp mới, linh hoạt, sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời cơ, khắc phục sự trì trệ, làm chuyển biến tình hình(12). Như vậy, sau 3 kỳ Đại hội Đảng, vấn đề đổi mới phải toàn diện, đồng bộ và triệt để đã được nêu ra, cùng với những giải pháp, biện pháp, bước đi dựa trên thực tế để giải quyết mối quan hệ giữa tổng thể và cụ thể, giữa mục tiêu và bước đi, giữa cái phổ biến và cái đặc thù, giữa cái đa dạng có thể đổi mới với những nguyên tắc bất di bất dịch để tránh chệch hướng XHCN trong sự nghiệp đổi mới. - Giai đoạn 2001 - 2015: Đây là giai đoạn đất nước bước vào thế kỷ mới - thế kỷ thứ XXI, một thế kỷ có nhiều biến đổi, khoa học - công nghệ đạt được bước tiến nhảy vọt chưa từng thấy. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Thành tựu sau 15 năm đổi mới đã tạo thế và lực mới, làm cho đất nước ta lớn mạnh lên rất nhiều. “Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta từng chỉ rõ - tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra - ... vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp”(13). Trong bối cảnh đó, Đảng ta khẳng định: “Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(14). Đại hội IX của Đảng khẳng định: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ của sự đổi mới đồng bộ và toàn diện, hướng tới mục tiêu CNXH; đồng thời, Đại hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ “Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm”(15). Đến Đại hội X, vấn đề đổi mới toàn diện, đồng bộ và lựa chọn, xác định trọng tâm, trọng điểm trong sự nghiệp đổi mới đã được chỉ rõ hơn: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội(16). Nhờ những kết quả quan trọng đạt được trong giai đoạn 2001 - 2015, cùng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 30 năm đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, đang nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đại hội XII rút ra 5 bài học kinh nghiệm sau 30 năm đổi mới, trong đó có bài học rất quan trọng là: “đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra”(17). - Giai đoạn từ năm 2016 đến nay, toàn Đảng, toàn dân tộc ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; song, trước những mục tiêu đặt ra, nhiệm vụ còn lại phải thực hiện là rất nặng nề. Trước yêu cầu, thử thách đó, Đại hội XIII của Đảng vẫn khẳng định phải đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, với các nhiệm vụ toàn diện, nhưng cũng xác định sáu nhiệm vụ trọng tâm, cùng ba đột phá chiến lược là: 1- Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; 2- Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội... Qua thực tiễn hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã rút ra được bài học mang tính lý luận là: Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với thực tiễn, phải giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra. Từ đó, chúng ta có thể rút ra được những nguyên tắc cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định trọng tâm, trọng điểm, cụ thể là: 1- Phải bám sát mục tiêu CNXH, phải dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm “kim chỉ nam” cho mọi hành động, luôn luôn tránh nguy cơ chệch hướng. 2- Phải xuất phát từ thực tiễn, giải quyết cho được những vấn đề thực tiễn đặt ra, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm nghiệm sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách. Phải đổi mới tư duy, song tránh rập khuôn, sao chép một cách máy móc, hoặc áp đặt ý chí chủ quan lên trên quy luật khách quan. 3- Phải có cái nhìn tổng thể trong hoàn cảnh cụ thể; đồng thời, cần biết lựa chọn vấn đề mang tính quyết định, then chốt, tháo gỡ được “điểm nghẽn”, “nút thắt” để xử lý nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trên phương diện toàn cục. 4- Phải đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Cái gì có lợi cho dân thì cương quyết làm, cái gì có hại cho dân thì cương quyết tránh. Sự hài lòng, đồng tình của nhân dân là “điểm cộng” cho sự đúng đắn trong đường lối, chính sách của Đảng; song, cũng phải tuyệt đối tránh tư tưởng “mỵ dân”, “theo đuôi quần chúng”, vì nếu thế thì sẽ dẫn tới chỗ có thể đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng. Thành phố Hồ Chí Minh sau hơn 36 năm đổi mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới toàn diện, đồng bộ và xác định các trọng tâm, trọng điểm theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm sắp tới, xác định rõ tầm nhìn và định hướng phát triển. Quan điểm, mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể chia theo ba giai đoạn phát triển đến năm 2045. Đại hội chỉ ra 12 định hướng chiến lược phát triển của đất nước giai đoạn 2021 - 2030. Đó là những định hướng cho sự phát triển toàn diện, đồng bộ; đồng thời, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ ra 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược cần thực hiện trong nhiệm kỳ của Đại hội. Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ ra các nguyên tắc đã được phân tích ở trên, thì câu hỏi đặt ra ở đây là: Chúng ta cần giải quyết mối quan hệ giữa bảo đảm định hướng phát triển với các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược như thế nào? Những đột phá sau nhiệm kỳ Đại hội XIII là gì? Xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, cần phải khẳng định, kinh tế quyết định đến sự phát triển. Kinh tế không phát triển, xã hội không ổn định, thì đất nước không thể phát triển bền vững. Điều đó đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy, Đảng ta luôn xác định phát triển kinh tế là trung tâm. Việc xác định 3 đột phá chiến lược kéo dài qua 3 kỳ đại hội liên tiếp (Đại hội XI, XII, XIII) cũng chính là tập trung cho mục tiêu phát triển kinh tế. Các “điểm nghẽn”, “nút thắt” kìm hãm sự phát triển cần xử lý cũng tập trung chủ yếu ở lĩnh vực kinh tế, đó là thể chế về kinh tế chưa hoàn thiện, nguồn nhân lực chưa đáp ứng, hạ tầng thiếu đồng bộ. Đảng ta cũng coi lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của các cấp ủy, được đặt lên hàng đầu trước các nhiệm vụ khác. Nói như vậy để thấy, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm của trọng tâm. Xét đến cùng, một phương thức sản xuất mới được hình thành bởi một lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại với một quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đó, sẽ quyết định cho một hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời với một hệ thống nội tại vững chắc, từ kinh tế đến xã hội, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng, từ văn hóa, nghệ thuật, khoa học - công nghệ đến pháp luật... Tuy nhiên, trong kinh tế, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN có nội dung cốt lõi là phải hoàn thiện thể chế về tài chính trong cơ chế thị trường, như hệ thống tài chính quốc gia cả công và tư, cả vi mô và vĩ mô, như ngân sách nhà nước, ngân hàng nhà nước, thị trường tài chính (tín dụng, chứng khoán, bảo hiểm...). Tài chính doanh nghiệp (quốc doanh, tư doanh, có vốn đầu tư nước ngoài), thậm chí đến tài chính gia đình cũng phải được hoàn thiện. Hoặc, vấn đề phân cấp, phân quyền, tự chủ tài chính cũng phải tập trung làm rõ. Đây có thể nói là “điểm nghẽn”, “nút thắt” lớn nhất cần được tập trung giải quyết kịp thời, nếu không sẽ dẫn tới hệ lụy khó lường. Nói cách khác, khơi thông hệ thống tài chính quốc gia chính là khơi thông “mạch máu” cho nền kinh tế. Trong phát triển nguồn nhân lực, thì trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, quan điểm này đã được xác định rõ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Nếu không đào tạo được nguồn lao động có chất lượng cao, nguồn lao động có tri thức đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức thì đất nước ta sẽ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, khi nền kinh tế đạt đến một giới hạn thu nhập nào đó. Một mặt, trong khi mục tiêu đến năm 2030, số lao động qua đào tạo, có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35% - 40% như Đại hội XIII của Đảng đề ra là khá cao; tuy nhiên, tỷ lệ này có thể nói là vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Mặt khác, chất lượng giáo dục - đào tạo hiện nay đang là “điểm nghẽn” ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực, nếu không khắc phục những mặt yếu, không có sự thay đổi mang tính cách mạng thì việc xây dựng một nền kinh tế tri thức, tạo nên sự phát triển bền vững cho đất nước, sẽ gặp nhiều khó khăn. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng hiện nay, giao thông là khâu đột phá của đột phá, trong đó giao thông đường thủy, đường sắt, giao thông đô thị, tính kết nối liên thông, logistics là các “điểm nghẽn” cần tập trung tháo gỡ sau khi hệ thống cao tốc Bắc - Nam, Đông - Tây được triển khai, cơ bản hoàn thành vào năm 2025. Sau năm 2030, khi Việt Nam là một nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thì trước đó, các vấn đề đột phá chiến lược được xác định trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nếu tiếp tục sang nhiệm kỳ Đại hội XIV, đều cơ bản phải hoàn thành, và sẽ là các nhiệm vụ mang tính thường xuyên, liên tục. Các đột phá chiến lược về kinh tế cần được chuyển mục tiêu cho các trọng tâm khác, như vấn đề bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, tình trạng xâm nhập mặn, sụt lún ven sông, ven biển và rác thải, nước thải đang là nguy cơ hiện hữu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước; vấn đề phát triển khoa học - công nghệ, tập trung cho đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp then chốt, như cơ khí chế tạo, công nghiệp biển, công nghiệp quốc phòng - an ninh, nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình thế giới, khu vực có biến động khó lường và không thể coi nhẹ; cùng với đó là vấn đề phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, nhất là trong giáo dục và y tế, nhằm bảo đảm công bằng xã hội, hướng tới hạnh phúc của nhân dân theo mục tiêu CNXH. Như vậy, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều đòi hỏi có sự đổi mới toàn diện, đồng bộ và lựa chọn, xác định cho được trọng tâm, trọng điểm, giải quyết tốt mối quan hệ này trong đường lối của Đảng. Sự đổi mới này phải phù hợp với sự phát triển mau lẹ của thời đại, nhất là trong điều kiện bùng nổ của khoa học - công nghệ, cùng với diễn biến khó lường và phức tạp của tình hình quốc tế, khu vực. Trong bối cảnh nước ta sẽ vượt mức 100 triệu dân vào năm 2023 và những thay đổi về kinh tế - xã hội đặt ra một yêu cầu mới cao hơn của quản trị quốc gia thì “chìa khóa vạn năng” cho giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đổi mới đồng bộ, toàn diện và xác định trọng tâm, trọng điểm là phải đổi mới tư duy về kinh tế nói riêng, tư duy lãnh đạo của Đảng nói chung trên tất cả các mặt, đặc biệt là về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ, để có thể phát triển đất nước nhanh, bền vững trong thời kỳ mới./. ----------------------------- (1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 187 (2), (3), (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 211 - 212, 212, 212 (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sđd, tr. 213, 214 - 215, 215, 215, 217 - 218, 218, 220 (12), (13), (14), (15) Xem: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 631, 619, 632 - 633, 639 (16) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 70 - 71 (Nguồn: Tạp chí Cộng sản) (17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 69

Một số xu hướng phát triển của thế giới hiện nay

Thế giới đang trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đa cực hóa về trật tự chính trị; đa dạng hóa về phát triển kinh tế - văn hóa; số hóa và tin học hóa trong đời sống xã hội, gia tăng hóa sự phụ thuộc vào nhau và chuyển hóa lẫn nhau, phức tạp hóa sự hợp tác và đấu tranh vì lợi ích. Bối cảnh đó ẩn chứa nhiều chuyển biến lớn lao, phức tạp, khó lường, vừa mang đến thời cơ, vừa đặt ra không ít thách thức, với sự xuất hiện của một số xu hướng phát triển, nhất là trong khoảng từ một đến hai thập niên tiếp theo. Sự chuyển dịch và thăng trầm quyền lực Xu thế chuyển dịch quyền lực thế giới đang có sự chuyển biến và dần định hình trên ba bình diện: giữa các khu vực, giữa các nước lớn và giữa nhà nước với người dân. Sự chuyển dịch quyền lực này bắt nguồn từ sự thay đổi tương quan lực lượng kinh tế giữa các nước dưới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quy luật phát triển không đồng đều giữa các quốc gia. Tương quan sức mạnh kinh tế thay đổi dẫn tới những thay đổi về tương quan sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhất là sự gia tăng sức mạnh tổng hợp của các “quốc gia mới nổi”. Với sự tiếp sức của Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đối với U-crai-na, cuộc xung đột Nga - U-crai-na theo nhận định của nhiều chuyên gia, đã thể hiện sự thay đổi quyền lực dẫn tới hình thành thế giới đa cực, đánh dấu sự suy giảm sức mạnh của Mỹ và NATO, làm gia tăng quyền lực và vai trò của Trung Quốc. Tổng thống Mỹ Joe Biden với nguyên thủ các quốc gia thành viên tại Hội nghị thượng đỉnh NATO ở Vilnius, Litva, ngày 11-7-2023 _Ảnh: AFP/TTXVN Sự chuyển dịch quyền lực ngày càng rõ nét từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Trong những thập niên tới, vị thế của châu Á ngày càng gia tăng, đặc biệt là khu vực châu Á - Thái Bình Dương với vai trò đầu tàu là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới. Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đứng đầu thế giới về quy mô kinh tế và các nguồn lực phát triển kinh tế (như tài nguyên thiên nhiên, dự trữ ngoại hối, nguồn lực con người/thể chế), tốc độ tăng trưởng và tiềm năng phát triển kinh tế (độ lớn thị trường và hội nhập kinh tế khu vực). Đây cũng là khu vực có nhiều cường quốc nhất, tập trung ba(1) trong năm Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; các quốc gia có ảnh hưởng lớn về chính trị khác, như Ấn Độ, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a - là các quốc gia đi đầu trong Phong trào Không liên kết; là khu vực có tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang đóng vai trò trung tâm trong các thể chế chính trị/an ninh khu vực. Bên cạnh đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương là nơi tập trung nhiều cường quốc quân sự nhất (7/10(2) cường quốc quân sự hàng đầu thế giới). Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có, khu vực này đã lôi cuốn sự tham gia của các nước lớn và định hình trục quan hệ, xu hướng quan hệ quốc tế mới giữa các cường quốc, gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế của châu Á, cùng với những thế mạnh về vốn, dự trữ ngoại tệ, lao động rẻ, tính năng động và sự trỗi dậy mạnh mẽ của các quốc gia, như Trung Quốc, Ấn Độ đã nâng cao vị thế của khu vực châu Á - Thái Bình Dương trên thế giới. Bên cạnh vai trò chủ đạo của các nước lớn trong lĩnh vực kinh tế đang suy giảm, các nước vừa và nhỏ ngày càng vươn lên giành vị trí tương xứng. Sự thay đổi trong quan hệ Bắc - Nam, trong đó vai trò của các nước vừa và nhỏ đã tăng lên đáng kể. Độ lớn về địa lý, quy mô kinh tế và triển vọng phát triển là những nhân tố quyết định để khu vực châu Á - Thái Bình Dương vươn lên trở thành trung tâm địa - chính trị toàn cầu. Khả năng xuất hiện một cuộc “chiến tranh lạnh mới”? Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự tùy thuộc và lệ thuộc lẫn nhau đang tăng lên, với tư duy mới về an ninh và phát triển, cùng sự phổ biến của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt và những bài học sau chiến tranh, khả năng xảy ra đụng độ lớn về quân sự giữa các cường quốc trong những thập niên tới là rất thấp. Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn nhằm định hình lại trật tự thế giới diễn ra ngày càng phức tạp và căng thẳng dưới nhiều hình thức, như cuộc xung đột Nga - U-crai-na hiện nay làm cho nguy cơ diễn biến trở thành cuộc chiến tranh lạnh kiểu mới ngày càng rõ nét. Điều này thể hiện thông qua những chính sách chạy đua vũ trang chưa từng có giữa Mỹ, NATO với Trung Quốc, Nga và các quốc gia khác. Bên cạnh đó, chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn diễn ra gay gắt, khó có điểm dừng. Một số nước lớn vẫn coi chiến tranh là biện pháp và vũ lực là công cụ quan trọng trong chính sách đối ngoại nên không ngừng tăng cường vũ trang, cạnh tranh ảnh hưởng ở khu vực “ngoại vi” và tại các điểm nóng trên thế giới. Điều này không nằm ngoài quy luật trong quan hệ quốc tế là các nước lớn chi phối quan hệ quốc tế và cạnh tranh chiến lược với nhau dựa trên sự thay đổi trong tương quan lực lượng như đã nêu trên... Do đó, xu hướng cạnh tranh quyền lực giữa các cường quốc tại vị, đại diện là Mỹ và các cường quốc mới nổi, đại diện là Trung Quốc và Nga ngày càng thể hiện rõ nét, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ tìm cách đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc nhằm duy trì vị trí dẫn dắt trật tự thế giới và bảo vệ các lợi ích toàn cầu của Mỹ. Cạnh tranh trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc và Mỹ - Nga tăng lên là do: 1- Các bên đều không cho phép bên nào đứng trên mình và đứng đầu để chi phối thế giới; 2- Tương tác giữa hai nước bị chi phối bởi vòng xoáy “hành động - phản ứng” theo hướng leo thang do tình trạng mất lòng tin và nghi kỵ lẫn nhau ngày càng trầm trọng; 3- Mỹ, Trung Quốc và Nga đều theo đuổi lập trường “cứng rắn”; chủ nghĩa dân tộc cực đoan và dân túy làm nổi rõ hơn các khác biệt và vì vậy xuất hiện những va chạm quyền lợi về kinh tế (thâm hụt thương mại), chiến lược (vấn đề Biển Đông, biển Hoa Đông), trật tự khu vực (các thể chế, kiến trúc khu vực) và giá trị (dân chủ, quyền con người, tự do tôn giáo); 4- “Mô hình quan hệ nước lớn kiểu mới” do Trung Quốc đề xướng không trở thành hiện thực do nhiều yếu tố từ cả hai phía. Trong thời gian tới, dự báo Mỹ và Trung Quốc đều mở rộng cạnh tranh chiến lược và tranh giành ảnh hưởng. Cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc chủ yếu xoay quanh hai chủ đề: Một là, cạnh tranh vùng ảnh hưởng, nhất là can dự vào các “điểm nóng” tranh chấp trên Biển Đông và biển Hoa Đông; hai là, cạnh tranh quyền “tạo dựng luật chơi” về kinh tế, chính trị - an ninh trong các hiệp định, cơ chế, tổ chức thương mại do Mỹ và Trung Quốc dẫn dắt, như Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Ngân hàng Đầu tư kết cấu hạ tầng châu Á (AIIB), Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) do Trung Quốc khởi xướng; Luật chơi về chính trị - an ninh (giữa cơ chế hợp tác an ninh “trục - nan hoa” do Mỹ ở vị trí trung tâm với các cơ chế hợp tác, như Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), Hội nghị về phối hợp hành động và các biện pháp xây dựng lòng tin ở châu Á (CICA) do Trung Quốc đóng vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc dù diễn ra rất quyết liệt trên nhiều phương diện, nhưng sẽ không dẫn đến xung đột trực tiếp và không gây đổ vỡ quan hệ bởi Mỹ vẫn có lợi ích và nhu cầu hợp tác với Trung Quốc, vì: thứ nhất, Mỹ cần duy trì hòa bình và ổn định khu vực để tập trung theo đuổi các mục tiêu đối nội; thứ hai, tình trạng lệ thuộc lẫn nhau giữa hai quốc gia là khá lớn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế; thứ ba, Mỹ vẫn cần sự hỗ trợ của Trung Quốc để giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực. Một số chuyên gia phân tích dự báo đến năm 2030 và tiếp nữa là năm 2045, ít có khả năng xuất hiện một cường quốc có thể thay thế vai trò của Mỹ, mặc dù thế và lực của Mỹ đã bị suy giảm đáng kể. Mỹ vẫn sẽ là tác nhân quan trọng nhất trong số các cường quốc trên thế giới dựa vào ưu thế vượt trội về tiềm lực sức mạnh của Mỹ, bởi: Một là, Mỹ vẫn đang dẫn trước các nước khác một khoảng cách lớn về kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ; hai là, những điều chỉnh của Mỹ về cơ cấu kinh tế và quân sự trên cơ sở cách mạng khoa học - công nghệ tạo nên một nền tảng khá vững chắc để Mỹ duy trì vị trí dẫn đầu về tiềm lực kinh tế và quân sự - hai nhân tố cơ bản để tạo nên sức mạnh Mỹ trong quan hệ quốc tế. Có thể nói, cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra không có sự đối đầu trực tiếp như cuộc chiến giữa Mỹ và Liên Xô trong thế kỷ XX, nhưng cũng không kém phần quyết liệt. Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc cũng kéo theo cuộc chạy đua vũ trang vô cùng mạnh mẽ, tốn kém, gây ra những hệ lụy đối với trật tự thế giới, tác động tiêu cực đến quá trình hội nhập quốc tế của nhiều quốc gia. Ủy viên Quốc vụ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị và Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken tại cuộc gặp bên lề Hội nghị Ngoại trưởng G20 tại Bali, Indonesia, tháng 11-2022 _Ảnh: Tư liệu Xu hướng dân túy gia tăng Trào lưu dân túy ở các nước phát triển có nguyên nhân trực tiếp từ khủng hoảng kinh tế - tài chính. Đại dịch COVID-19 cùng với cuộc xung đột Nga - U-crai-na đã dẫn đến suy thoái, lạm phát nghiêm trọng ở nhiều nước phát triển, làm dấy lên tâm lý bất mãn, thất vọng, mất niềm tin của người dân với chính quyền. Đặc biệt, xu hướng dân túy diễn ra gần đây bắt nguồn sâu xa từ các hệ lụy tiêu cực của tiến trình toàn cầu hóa đã và đang tác động mạnh mẽ đến các nước phát triển khiến sự phân tầng trong xã hội ngày càng sâu sắc, bất bình đẳng xã hội tăng cao và nỗi lo lắng về mất bản sắc văn hóa, dân tộc nổi lên ngày một rõ nét. Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa dân túy có xu hướng hữu khuynh hoặc cực hữu, tập trung phê phán các chính sách ủng hộ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, mở cửa biên giới, mở cửa xã hội, được cho là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kinh tế trong nước suy giảm, mất việc làm (do hàng xuất khẩu và cạnh tranh từ nước ngoài), mất bản sắc văn hóa dân tộc và mất an ninh (do người nhập cư). Hiện nay, chủ nghĩa dân túy đang gây ra một số tác động khá tiêu cực. Ở trong nước, dân túy ở phương Tây cổ vũ việc xây dựng một xã hội đồng nhất, một nhà nước mạnh mẽ và chuyên chế, đủ năng lực kiểm soát chặt chẽ lãnh thổ biên giới quốc gia và bảo vệ được lợi ích của người dân trước mối đe dọa từ bên ngoài. Nhưng kết quả lại làm gia tăng các mâu thuẫn nội bộ, đẩy tình trạng bất mãn lên cao, từ đó dẫn đến môi trường chính sách đối nội và đối ngoại trở nên bất định. Đối với bên ngoài, xu hướng dân túy thúc đẩy chống liên kết, hội nhập quốc tế và khu vực, giảm sự ưu tiên, thậm chí là rời khỏi các thể chế đa phương (như trường hợp Anh rút khỏi Liên minh châu Âu, Mỹ và nhiều đảng cánh hữu ở Pháp muốn giảm thiểu vai trò của NATO), hạn chế và kiểm soát chặt dòng người nhập cư bằng các biện pháp cực đoan, thắt chặt viện trợ quốc tế, thiên về áp dụng các biện pháp bảo hộ cứng rắn để bảo vệ nền sản xuất và việc làm trong nước. Điều này đã làm suy giảm mức độ hợp tác, gia tăng cạnh tranh, xung đột, dẫn đến những căng thẳng mới trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, xu hướng dân túy thường không bền lâu do các nguyên nhân chủ yếu sau: 1- Với lập trường cực đoan, xu hướng dân túy khó tạo ra đồng thuận xã hội đối với chính sách mà dân túy đề xuất. Mâu thuẫn chính trị - xã hội thường tăng lên sau khi phái dân túy thắng cử và lên nắm quyền; 2- Các nhà lãnh đạo dân túy thường chạy theo đám đông, thậm chí đưa ra những tiêu chí “mị dân” (hứa hẹn những điều khó thực hiện, chủ yếu phục vụ mục tiêu thắng cử). Do đó, khi không giữ được lời hứa, các nhà lãnh đạo dân túy sẽ đánh mất niềm tin của người dân; 3- Với lập trường chống lại chính trị dòng chính, phái dân túy rất khó tập hợp được sự ủng hộ và tận dụng kinh nghiệm lãnh đạo của tầng lớp tinh hoa chính trị truyền thống. Không ít trường hợp sau khi nắm quyền, các nhà lãnh đạo dân túy dần từ bỏ cam kết đã hứa, quay lại đường lối chính trị truyền thống, từ đó mất đi cơ sở xã hội - chính trị của mình; 4- Một số ý kiến cho rằng, dân túy về cơ bản là “phái sinh” của các trường phái chính trị truyền thống, chỉ đại diện cho các “hệ tư tưởng mỏng”, cực đoan và không chính thống, do đó khó có sức hấp dẫn lâu bền. Xu hướng bảo hộ ngày càng trỗi dậy Bảo hộ là một trong những xu thế luôn tồn tại trong lịch sử kinh tế thế giới, thường gia tăng sau những chu kỳ khủng hoảng kinh tế. Trong những năm qua, chủ nghĩa bảo hộ đã trỗi dậy mạnh mẽ với các biểu hiện mới như: Một là, bảo hộ có xu hướng phát triển mạnh ở các nước phát triển - vốn cổ vũ cho tự do hóa và toàn cầu hóa; hai là, số lượng biện pháp bảo hộ tăng mạnh, lĩnh vực bảo hộ mở rộng với nhiều biện pháp phức tạp, tinh vi hơn, trong đó việc sử dụng các biện pháp bảo hộ “phía sau biên giới” tăng nhanh. Bảo hộ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, mà còn bao gồm cả tài chính, bảo hộ đầu tư, sở hữu trí tuệ, dịch chuyển tự do lao động...; ba là, chính sách bảo hộ mang nặng tính dân túy. Các chính sách, biện pháp hạn chế thương mại gần đây được dựng lên ở một số nước thường dựa trên những đánh giá, nhận định phiến diện, thiếu cân bằng, thậm chí cực đoan của các lực lượng chính trị dân túy về thương mại, đầu tư, di chuyển lao động quốc tế. Xu hướng bảo hộ quay trở lại là do: Thứ nhất, kinh tế toàn cầu và kinh tế ở nhiều nước, nhất là ở các nước phát triển đang gặp khó khăn. Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia đã lựa chọn chính sách kích thích kinh tế, tăng cường hỗ trợ sản xuất trong nước với tâm lý hướng nội nhiều hơn để tập trung khắc phục khó khăn trong nước, từ đó làm giảm động lực tự do hóa và mở cửa kinh tế; thứ hai, tác động “nghịch” ngày càng lớn của toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy trào lưu chống toàn cầu hóa phát triển mạnh ở nhiều nước phát triển; thứ ba, sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, bất ổn chính trị - xã hội và an ninh đã góp phần thổi bùng chủ nghĩa bảo hộ. Chủ nghĩa bảo hộ cùng với xu hướng dân túy đang và sẽ ảnh hưởng mạnh đến tiến trình phục hồi kinh tế khu vực và thế giới; đồng thời, tác động tiêu cực đến liên kết kinh tế toàn cầu và khu vực, ảnh hưởng trực tiếp, nhiều mặt đến quá trình hội nhập quốc tế. Việc quay trở lại chủ nghĩa bảo hộ, đóng cửa thị trường, hạn chế liên kết kinh tế, giảm thiểu sự ủng hộ đối với tự do thương mại đa phương, dẫn đến cản trở thương mại và đầu tư quốc tế đã và đang tạo ra hệ lụy tiêu cực, tác động đến tiến trình tăng trưởng kinh tế thế giới và làm chậm lại quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng. Bên cạnh đó, xu hướng bảo hộ quay trở lại ở một số nền kinh tế lớn có thể làm tăng thêm mâu thuẫn, bất đồng vốn tích tụ trong một số vấn đề kinh tế - thương mại, do đó làm gia tăng các va chạm về lợi ích, tất yếu dẫn đến chiến tranh thương mại. Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc hiện nay là một minh chứng rõ nét nhất. Công nhân kiểm tra chip tại một nhà máy ở Hợp Phì, tỉnh An Huy (Trung Quốc) _Nguồn: global.chinadaily.com.cn Suy giảm vai trò của các cơ chế đa phương Sự nổi lên của làn sóng dân túy và chủ nghĩa bảo hộ kết hợp với việc đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc đã và đang tác động lớn đến các cơ chế hợp tác đa phương. Nhiều quốc gia đã giảm cam kết với các thể chế đa phương, tăng cường tiếp cận với các thể chế song phương, thậm chí đơn phương. Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ tác động rất lớn đến trật tự quốc tế và các cơ chế hợp tác đa phương. Khuôn khổ chính sách đối ngoại được xây dựng với phương châm “Nước Mỹ trên hết” dựa trên hai thành tố cơ bản là “hòa bình dựa trên sức mạnh” và “giao dịch” đã cho thấy sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Đó là: 1- Ưu tiên các cơ chế hợp tác song phương, giảm can dự vào các thể chế đa phương về kinh tế và ngoại giao; 2- Ưu tiên cách tiếp cận “hòa bình dựa trên sức mạnh” thông qua việc gia tăng chi phí quân sự, tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực, kể cả “quân sự hóa” bộ máy hoạch định chính sách an ninh, coi việc sử dụng vũ lực là một công cụ quan trọng của chính sách đối ngoại; 3- Cách tiếp cận là ưu tiên đối nội, giảm nhẹ đối ngoại theo chủ trương “quay vào bên trong” (tập trung xử lý các vấn đề trong nước, nhất là liên quan đến tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, xử lý các mâu thuẫn nội bộ). Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ kéo theo sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn khác, nhất là Trung Quốc, Nga, Nhật Bản..., đã làm phức tạp và gia tăng biến động trong quan hệ quốc tế. Quan hệ giữa các nước ngày càng có xu hướng “cá nhân hóa” dựa trên những ưu tiên lựa chọn trong chính sách đối ngoại của từng nước; xu hướng mặc cả, thỏa hiệp ngầm giữa các nước, nhất là các nước lớn tăng lên. Các nước, nhất là các nước nhỏ, một mặt, vẫn tiếp tục dựa vào các cơ chế đa phương và luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia của mình; mặt khác, vẫn phải chuẩn bị các biện pháp ứng phó trước những biến động khó lường trong cuộc cạnh tranh và thỏa hiệp của các nước lớn. Xu hướng suy giảm quyền lực của nhà nước Chuyển dịch, phân tán và thăng trầm quyền lực trong quan hệ giữa nhà nước và người dân đang diễn ra. Dưới tác động của phát triển kinh tế, nhất là ảnh hưởng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phân tầng xã hội đã và đang diễn ra mạnh mẽ, làm cho xu thế dân chủ hóa, đặc trưng bởi sự phân tán quyền lực và phi tập trung hóa quyền lực ngày càng mạnh mẽ hơn. Sự gia tăng tầng lớp trung lưu tại các nước đang phát triển thúc đẩy xu hướng phân tán quyền lực. Cùng với sự thành công trong phát triển kinh tế và các chương trình xóa đói, giảm nghèo của các nước đang phát triển, tỷ lệ người nghèo và cực nghèo trên toàn cầu sẽ tiếp tục giảm. Chương trình nghị sự của Liên hợp quốc về phát triển bền vững đã đặt mục tiêu đến năm 2030 xóa bỏ tình trạng nghèo đói trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu với chất lượng cuộc sống (giáo dục, y tế, văn hóa...) ngày càng được cải thiện; công nghệ mới trong lĩnh vực chế tạo và viễn thông được ứng dụng rộng rãi, góp phần gia tăng vai trò và quyền lực của người dân. Theo một số dự báo, trong thời gian tới, số dân thuộc tầng lớp trung lưu sẽ tăng từ mức 1 tỷ người hiện nay lên 2 - 3 tỷ người, chủ yếu ở khu vực châu Á, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Những tiến bộ xã hội và dân chủ hóa cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm đa dạng hóa chủ thể (doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân) và hình thức tham gia xã hội (tham gia trực tuyến, mạng xã hội, công dân toàn cầu, cư dân mạng...), tạo nên sự kết hợp giữa thế giới thực và thế giới ảo. Sự phát triển của các phương tiện thông tin, như mạng xã hội(3), điện thoại thông minh... tạo điều kiện để người dân bày tỏ quan điểm cá nhân, qua đó nâng cao vai trò và ảnh hưởng của mình đối với xã hội. Cách mạng khoa học - công nghệ cũng làm gia tăng tính bình đẳng và dân chủ trong quan hệ giữa đối tượng quản lý và đối tượng chịu quản lý dưới tác động của sự phân tán quyền lực và phi tập trung hóa quyền lực. Sự thay đổi vai trò của người dân dẫn đến những thay đổi trong quan hệ giữa người dân với chính phủ, nhà nước. Mối quan hệ này không còn đơn thuần một chiều, có tính mệnh lệnh, mà trở thành quan hệ tương tác giữa các chủ thể tương đối bình đẳng. Trong một số trường hợp, mỗi cá nhân hoặc một nhóm các cá nhân có thể dẫn dắt, định hướng chủ đề và buộc chính phủ phải hành động. Nói cách khác, sức ép cải cách thể chế đã gia tăng khi công nghệ thông tin làm thay đổi phương thức liên hệ, giao tiếp của tất cả các quan hệ trong xã hội, đặc biệt là giữa chính phủ với người dân, hoặc giữa người dân với nhau. Tuy nhiên, phần lớn chính phủ vẫn chưa thay đổi cách tương tác với người dân và quản lý xã hội để thích ứng với các thay đổi trên. Một số học giả cho rằng: Chúng ta phải ứng xử với thế giới trong thế kỷ XXI, nhưng hệ thống chính trị vẫn dừng ở thế kỷ XVIII và XIX. Đây là xu hướng còn tiếp tục trong thời gian tới, mặc dù thực tế cho thấy là ngày càng có nhiều nền chính trị tăng cường thích nghi với hoàn cảnh mới để hướng tới mối quan hệ hài hòa hơn với người dân. Mô hình chính phủ điện tử, chính phủ kiến tạo và liêm chính đang là hướng đi của nhiều nước nhằm thích ứng với tình hình. Có thể nói, những xu hướng phát triển trên thế giới đang diễn ra sẽ tác động không nhỏ đến các quốc gia và khu vực, tạo ra cơ hội để phát triển, nhưng cũng mang đến không ít thách thức, đòi hỏi mỗi quốc gia lựa chọn phương thức ứng phó phù hợp trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi khó lường./. ------------------- (1) Gồm: Trung Quốc, Nga, Mỹ (2) Gồm: Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc (3) Hiện nay, trung bình mỗi người sử dụng internet trên thế giới có đến 5,54 tài khoản mạng xã hội; cứ mỗi 12 giây lại có một tài khoản mạng xã hội mới được kích hoạt, trong đó đứng đầu là Facebook với 1,55 tỷ lượt người sử dụng. (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Bệnh viện Quân y 175 quan tâm thúc đẩy phong trào tuổi trẻ sáng tạo, bồi dưỡng điển hình tiên tiến

 

Sáng 22-8, đoàn khảo sát Ban Thanh niên Quân đội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam do đồng chí Đại tá Trần Hữu Dũng, Phó trưởng ban Thanh niên Quân đội làm trưởng đoàn, tổ chức khảo sát thực hiện Thông tư, Quy chế của Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị tại Bệnh viện Quân y 175 (Bộ Quốc phòng).

Chủ trì tiếp và làm việc với đoàn khảo sát có đồng chí Đại tá Nguyễn Văn Tuấn, Chủ nhiệm Chính trị Bệnh viện Quân y 175.

Nội dung khảo sát của đoàn công tác Ban Thanh niên Quân đội tập trung về kết quả thực hiện Thông tư số 164/2018/TT-BQP ngày 1-12-2018 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong quân đội (gọi tắt Thông tư 164); Quyết định số 294/QĐ-CT ngày 3-3-2014 của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam về ban hành Quy chế bình chọn Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân (gọi tắt là Quyết định 294).

 
Bệnh viện Quân y 175 quan tâm thúc đẩy phong trào tuổi trẻ sáng tạo, bồi dưỡng điển hình tiên tiến
Đại diện Bệnh viện Quân y 175 báo cáo kết quả thực hiện Thông tư 164 và Quyết định 294.  
 

Tại buổi khảo sát, đối với Thông tư 164, Bệnh viện Quân y 175 đề nghị bổ sung nên bảo đảm quyền lợi là cả tập thể tác giả thay vì chỉ một đồng chí chủ nhiệm công trình và đề nghị tăng thêm tỷ lệ giải thưởng lên không quá 70%. Đối với Quyết định 294, bệnh viện đề nghị bổ sung quyền lợi cho đối tượng quân nhân chuyên nghiệp khi được công nhận là gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân sẽ là một trong những điều kiện để cấp ủy xem xét đề nghị bổ nhiệm đầu vào đội ngũ cán bộ.

Bệnh viện Quân y 175 quan tâm thúc đẩy phong trào tuổi trẻ sáng tạo, bồi dưỡng điển hình tiên tiến
Đại tá Trần Hữu Dũng, Phó trưởng ban Thanh niên Quân đội phát biểu tại buổi khảo sát. 

Phát biểu tại buổi khảo sát, Đại tá Trần Hữu Dũng, Phó trưởng ban Thanh niên Quân đội cho biết: “Thông qua khảo sát, đoàn công tác Ban Thanh niên Quân đội có thêm cơ sở để tiếp tục tham mưu cho Thủ trưởng Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Quốc phòng xây dựng nội dung thay thế, bổ sung Thông tư 164 và Quyết định 294 sát thực tiễn trong thời gian tới”.

Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về biển, đảo và “Quỹ vì biển, đảo Việt Nam” năm 2023

 

Sáng 22-8, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với Cục Chính trị Quân chủng Hải quân, Cục Chính trị Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt nam tổ chức Hội nghị thông tin, tuyên truyền về biển, đảo và “Quỹ vì biển, đảo Việt Nam” năm 2023 cho các cơ quan, đơn vị phía Bắc. Trung tướng Nguyễn Văn Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn dự và phát biểu khai mạc hội nghị.

Cùng dự hội nghị có Thiếu tướng Đỗ Thanh Phong, Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn.

Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về biển, đảo và “Quỹ vì biển, đảo Việt Nam” năm 2023
 Trung tướng Nguyễn Văn Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn phát biểu khai mạc hội nghị.

Về dự hội nghị lần này, 156 đồng chí báo cáo viên là chỉ huy phòng, ban, ngành tuyên huấn và báo cáo viên các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng; Chỉ huy Ban Tuyên huấn sư đoàn đủ quân, Bộ Chỉ huy quân sự, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Vùng Hải quân, Vùng Cảnh sát biển sẽ được nghe giới thiệu 3 chuyên đề gồm: Tình hình Biển Đông hiện nay, kết quả bảo vệ chủ quyền biển, đảo 6 tháng đầu năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới; một số kết quả chính sau 5 năm hoạt động “Quỹ vì biển, đảo Việt Nam” và phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới; vấn đề gỡ thẻ vàng của Liên minh châu Âu đối với hải sản của Việt Nam; kết quả chính Chương trình Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân vươn khơi bám biển.

Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về biển, đảo và “Quỹ vì biển, đảo Việt Nam” năm 2023
 Các đại biểu dự hội nghị.

Đây là những nội dung rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực giúp đội ngũ báo cáo viên các cấp trong Quân đội có được những thông tin đầy đủ, hệ thống về những vấn đề liên quan trực tiếp đến kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 36- NQ-TW, khóa XII ngày 22-10-2018 về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thực thi pháp luật trên biển; kết quả triển khai thực hiện “Quỹ vì biển, đảo Việt Nam” để tuyên truyền sâu rộng trong bộ đội, dân quân tự vệ và nhân dân trong thời gian tới.

Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về biển, đảo và “Quỹ vì biển, đảo Việt Nam” năm 2023
 Đại biểu Cục Chính trị Quân chủng Hải quân giới thiệu khái quát kết quả bảo vệ chủ quyền biển, đảo 6 tháng đầu năm 2023.

Phát biểu tại hội nghị, Trung tướng Nguyễn Văn Đức, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam nhấn mạnh: Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc luôn đặt ra nhiều yêu cầu mới; các nội dung được tuyên truyền, phổ biến tại hội nghị lần này là những nội dung quan trọng, thiết thực. Do đó, Trung tướng Nguyễn Văn Đức yêu cầu các đồng chí báo cáo viên tham dự hội nghị lần này cần quán triệt và tiếp thu nghiêm túc, từ đó làm nòng cốt cùng cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị mình thực hiện tốt các nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về biển, đảo; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tích cực xây dựng nhiều nội dung, biện pháp tổ chức vận động nhân dân, mọi tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp, xây dựng “Quỹ vì biển, đảo Việt Nam” và hoàn thành tốt các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội. Từng báo cáo viên cần chủ động, tích cực học tập, nắm vững nội dung, làm cơ sở tuyên truyền sâu rộng, hiệu quả trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc trong tình hình mới...

Trước đó, chiều 21-8, các đại biểu dự hội nghị đã đến tham quan thực tế các hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng chính quy tại Lữ đoàn 170, Vùng 1, Quân chủng hải quân.

Cảnh sát biển Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

 

Sáng 22-8, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển tổ chức Tọa đàm “Xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đây là hoạt động chính trị trọng điểm hướng tới chào mừng kỷ niệm 25 năm Ngày truyền thống Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam (28-8-1998/28-8-2023). Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Tư lệnh Cảnh sát biển chủ trì tọa đàm.

Tham dự tọa đàm có Trung tướng Bùi Quốc Oai, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Cảnh sát biển; đại biểu các cơ quan: Cục Khoa học quân sự (Bộ Quốc phòng), Phòng Khoa học Quân sự (Tổng cục Chính trị), Phòng Tổ chức biên chế, Cục Quân lực (Bộ Tổng Tham mưu), Viện Khoa học xã hội và nhân văn Quân sự (Học viện Chính trị); thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng có mặt tại hội trường và các điểm cầu.

Cảnh sát biển Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
 Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Tư lệnh Cảnh sát biển phát biểu khai mạc tọa đàm. 

Báo cáo đề dẫn tại tọa đàm, thay mặt Đảng ủy, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, Đại tá Lê Đình Cường, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Cảnh sát biển Việt Nam cho biết, trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình an ninh, chủ quyền biển đảo, Đảng và Nhà nước ta xác định chủ trương, đối sách để giải quyết các xung đột, tranh chấp trên biển là đấu tranh bằng biện pháp mang tính dân sự, trên cơ sở pháp luật. Trước tình hình đó, việc xây dựng và phát triển lực lượng Cảnh sát biển thành lực lượng chuyên trách, nòng cốt để thực thi pháp luật và đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cảnh sát biển Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
 Các đại biểu tham dự tọa đàm. 

Ngày 28-8-1998, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ban hành Quyết định số 1069/QĐ-BQP về việc thành lập Cục Cảnh sát biển Việt Nam trực thuộc Quân chủng Hải quân. Trải qua 25 năm xây dựng và trưởng thành, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam đã được giao và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quản lý an ninh, chủ quyền gần 1 triệu km2 thuộc vùng biển Việt Nam.

Với những chiến công và thành tích đạt được, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam vinh dự được Đảng, Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao và trao tặng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý như: Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới (năm 2015); Huân chương Chiến công hạng Nhất (năm 2013); Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất (năm 2014); Huân chương Quân công hạng Nhất (năm 2018); 5 Cờ Thi đua và 5 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ...

Cảnh sát biển Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
 Quang cảnh tọa đàm. 

Trong những năm qua, quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam đã luôn phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng, làm tốt công tác tham mưu giúp Quân ủy Trung ươngBộ Quốc phòng đề ra chủ trương, đối sách xử lý linh hoạt, hiệu quả các tình huống trên biển, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì, đấu tranh với các hoạt động của tàu nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia. Đồng thời, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng và phương tiện, tăng cường tuần tra, kiểm soát, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động tội phạm trên biển, làm tốt công tác tìm kiếm, cứu nạn…

Tại tọa đàm, các phát biểu tham luận đều khẳng định ý nghĩa quan trọng về sự ra đời và phát triển của lực lượng Cảnh sát biển, Luật Biển Việt Nam. Đồng thời cũng làm rõ nhiều giải pháp nhằm xây dựng lực lượng Cảnh sát biển xứng tầm là lực lượng chuyên trách, đủ mạnh trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, duy trì thực thi pháp luật trên biển, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Theo đó, Cảnh sát biển Việt Nam tiếp tục thực hiện tốt công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ trương, đối sách bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển. Chú trọng nâng cao năng lực trinh sát, dự báo đúng diễn biến, tình hình trên biển, không để bị động, bất ngờ; tiếp tục nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực thi pháp luật trên biển trong mọi tình huống.

Đồng thời, thực hiện tốt vai trò chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, lực lượng chức năng và chính quyền địa phương ven biển đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, ngăn chặn, xử lý các hoạt động vi phạm vùng biển nước ngoài, khai thác hải sản bất hợp pháp; sẵn sàng tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ nhân dân và chống cướp biển, cướp có vũ trang, bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển.

Cảnh sát biển Việt Nam tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng; nâng cao chất lượng huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu; đảm bảo công tác huấn luyện tàu và công tác nghiên cứu sản xuất, quản lý, khai thác, làm chủ phương tiện tàu thuyền, vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đạị.

Phát biểu kết luận tọa đàm, Thiếu tướng Lê Quang Đạo đánh giá cao những nội dung đã thảo luận, đó là những vấn đề có tính khoa học, lý luận và thực tiễn cao nhằm hướng tới xây dựng lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Ngay sau buổi tọa đàm, Ban Thường vụ Đảng ủy, thủ trưởng Bộ tư lệnh Cảnh sát biển sẽ giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan liên quan của Bộ tư lệnh nghiên cứu, tổng hợp các ý kiến đóng góp của các đại biểu, làm cơ sở để tiếp tục tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, xác định đến năm 2030 lực lượng Cảnh sát biển hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.