Thứ Tư, 23 tháng 8, 2023

BẠN CẦN BIẾT: BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRƯỚC NGUY CƠ "CÁCH MẠNG MÀU" Ở VIỆT NAM!

         “Cách mạng màu” đã và đang có những nguy cơ tiềm tàng tác động đến chính trị và đời sống xã hội Việt Nam. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên, cùng với những tồn tại, hạn chế của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội đất nước... đã tạo điều kiện để các thế lực thù địch, phản động mưu đồ thực hiện “sắc màu chính trị”. Từ những nguy cơ tiềm tàng này đặt ra những thách thức cần kịp thời có các giải pháp nhằm nâng cao công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam.

Những thách thức có thể dẫn đến nguy cơ “cách mạng màu” diễn ra

Để thực hiện được “cách mạng màu”, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình quốc tế, khu vực và trong nước để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trong đó, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng một số vấn đề xã hội và thổi phồng lên để xuyên tạc, chống phá. Hiện nay, ở Việt Nam nổi lên một số vấn đề chính trị, xã hội được đặt ra là những thách thức tạo điều kiện để các đối tượng trong và ngoài nước có thể móc nối, kích động dẫn đến nguy cơ “cách mạng màu” có thể diễn ra.

Trước hết, vấn đề chính trị đang được các đối tượng lợi dụng để tấn công xuyên tạc đó là công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và một số vấn đề như dân chủ, nhân quyền… Đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động hướng đến để “tấn công” rất đa dạng, trong đó trực diện hướng vào một bộ phận nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hệ thống chính trị ở Việt Nam.

Đơn cử, trong thời gian vừa qua, một số đơn vị, địa phương thực hiện thi hành kỷ luật một số tập thể và một số cá nhân do buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để xảy ra sai phạm mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ ra trong các kỳ họp. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, những vụ việc này “đều cần phải được điều tra một cách triệt để và minh bạch”. Một số vụ việc chúng còn quy chụp cho rằng là bao che cán bộ sai phạm, không xử lí nghiêm minh mà chỉ mang hình thức “kỷ luật mềm”… Với các thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động đang cố gắng tạo ra những bất ổn về chính trị. Chúng tạo ra những thông tin xấu độc để lan truyền, gây tò mò, hoang mang và dễ gây hiểu nhầm đối với sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước...

Thứ hai, thách thức về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để thực hiện “cách mạng màu”. Như thông tin đã phân tích ở các bài trước, các cuộc "cách mạng màu" dẫn đến sự sụp đổ chế độ chính trị ở một số nước SNG và các nước Trung Đông, Bắc Phi cho thấy nguyên do sâu xa từ sự suy thoái, biến chất, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ban lãnh đạo đương nhiệm khiến nhân dân mất lòng tin, chống đối. Ở Việt Nam, chúng tận dụng "sức mạnh" của dư luận, mạng xã hội, những trang thông tin cá nhân chưa được kiểm soát để ráo riết tung tin về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Mục tiêu của chúng là làm cho nhân dân mất niềm tin với cán bộ, đảng viên và từ đó, tìm mọi thủ đoạn để thổi bùng lên những mâu thuẫn, nhằm gây bất ổn xã hội, tạo cơ hội cho thực hiện "cách mạng màu".

Có thể thấy rõ trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng những vụ việc được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, như vụ án: Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, Công ty Việt Á, Công ty AIC, Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, FLC… để xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng. Chúng rêu rao công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là không hiệu quả; xuyên tạc và cho rằng công cuộc “đốt lò” lúc cháy lúc không, chỉ đốt được "củi nhỏ", còn "củi gộc" thì bao che, dung túng. Các thế lực phản động, thù địch rêu rao rằng ở Việt Nam tham nhũng là “quốc nạn” và việc phòng, chống tham nhũng chỉ là “chữa ung thư bằng thuốc nhức đầu”. Chúng tìm mọi cách ngụy biện rằng muốn cho đất nước minh bạch và phát triển thì phải có nhiều đảng chính trị giám sát lẫn nhau, phải thực hiện “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực. Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động này nhằm mục tiêu giảm uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng để cổ xúy và hướng lái cho sự hình thành chế độ đa đảng, tam quyền phân lập.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động đã cấu kết với lực lượng trong nước thực hiện những thủ đoạn có quy mô ngày càng rộng, phức tạp, kéo dài, có tổ chức tinh vi và chuyên nghiệp. Một mặt, chúng cố thổi phồng lên những yếu kém, sai phạm của cán bộ, đảng viên, mặt khác, chúng không ngừng rêu rao rằng chế độ xã hội chủ nghĩa không có dân chủ, mà có chăng thì chỉ là “dân chủ giả hiệu”.

Mới đây, vụ “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” diễn ra vào rạng sáng 11/6/2023 khi một nhóm đối tượng trang bị v.ũ kh.í tấn công vào trụ sở UBND xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk bằng các hành vi mất nhân tính đã làm 9 ng.ười ch.ết, 2 người bị thương, nhiều tài sản bị đốt phá. Sau khi vụ án xảy ra, trên nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng cá nhân của các đối tượng thù địch, chống đối đã tung ra nhiều thông tin sai sự thật, các hình ảnh được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Từ vụ việc này cho thấy, các thế lực thù địch, phản động sẽ không từ mọi thủ đoạn để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại nền tảng cách mạng, gây ra sự bất ổn chính trị, đồng thời tạo cớ để kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhằm mưu đồ thực hiện “cách mạng màu”. Các thế lực thù địch, phản động dùng chiêu bài phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm của tư bản, là tự do cạnh tranh bị chi phối bởi một “bàn tay vô hình” của những tập đoàn kinh tế lớn, hướng người ta đến các quyết định về các vấn đề kinh tế cơ bản không cần đến sự can thiệp của nhà nước. Nhất là từ sau đại dịch COVID-19, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam gặp khó khăn do biến động chung của thị trường thế giới, những hội nhóm “núp bóng yêu nước” này điên cuồng đăng tải những thông tin về kinh tế ảm đạm, lạm phát tăng cao, độc quyền giá điện, độc quyền xăng dầu… Những thủ đoạn đê hèn, dơ bẩn của chúng không thể chấp nhận được xét cả về phương diện chính trị, kinh tế và đạo đức; là cái nhìn phiến diện của những kẻ cố tình xuyên tạc Việt Nam, đi ngược lại lợi ích dân tộc, quốc gia, cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật. Mục đích những quan điểm sai lệch, phiến diện nhằm phủ nhận thành tựu phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong trạng thái “bình thường mới”, phủ nhận kết quả thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh COVID-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta... để cố hướng kinh tế nước ta theo con đường kinh tế tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế.

Những năm vừa qua, ở nước ta đã xuất hiện một số vụ việc cho thấy rằng, thế lực thù địch và phản động không ngừng sử dụng các chiêu thức "cách mạng màu" để tấn công vào công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng mạng xã hội, Internet cùng những hạn chế trong nhận thức, hiểu biết của một bộ phận không nhỏ quần chúng để xúi giục nhân dân biểu tình. Đơn cử như, lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường để thực hiện cái gọi là “cách mạng cây”; kêu gọi “xuống đường tổng biểu tình” năm 2018 tại một số tỉnh, thành phố liên quan đến việc Quốc hội nước ta chuẩn bị thông qua và ban hành Luật An ninh mạng và Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt...

Mặt khác, chúng lợi dụng nguy cơ xảy ra lợi ích nhóm trong các vấn đề chính trị, xã hội như công tác cán bộ, bổ nhiệm, sắp xếp cán bộ…, vấn đề trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công, quản lý đất đai, tài sản, bất động sản, trong quản lý việc cấp các loại giấy phép, tham mưu đường lối, chính sách… để nhằm làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa theo con đường “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, rất nguy hiểm cho sự phát triển của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp, chống lại mọi âm mưu “cách mạng màu” ở Việt Nam

Những cái gọi là “luận cứ” và những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra với quy mô và tính chất ngày càng phức tạp hơn. Chúng không bao giờ từ bỏ dã tâm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước những thách thức về nguy cơ "cách mạng màu" đặt ra yêu cầu cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay.

Thứ nhất cần phải nhận diện đầy đủ và sâu sắc, kiên quyết đấu tranh phòng, chống các biểu hiện thúc đẩy "cách mạng màu" ở Việt Nam. Trong đó, nâng cao khả năng nhận diện của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân về chủ thể, phương thức, bản chất, mục đích, nguy cơ và hệ quả của "cách mạng màu". Cụ thể hơn là chủ động nắm bắt, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài "cách mạng màu" để chống phá cách mạng nước ta. Trong đó, cần thiết phải nhận diện và đưa ra âm mưu “cách mạng màu” từ những đặc điểm, ngôn từ, cách diễn đạt, nguồn địa chỉ thông tin, video, so sánh kiểm chứng đúng - sai, thật - giả trên các trang mạng khác nhau, xác định đường liên kết tên miền của Việt Nam hay nước ngoài… giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá chính xác được vấn đề, nhất là mạng xã hội mà các thế lực thù địch dùng làm phương tiện triển khai "cách mạng màu".

Giải pháp đặt ra là phải giáo dục rộng rãi trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” của các thế lực thù địch, phản động. Thông qua các kênh thông tin đại chúng để nâng cao cảnh giác cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, chú trọng chất lượng thông tin và truyền thông xã hội giúp cho người dân hiểu rõ, nhận diện đúng bản chất, nguy cơ và thủ đoạn của "cách mạng màu". Quản lý phát huy hiệu quả vai trò của báo chí và các binh chủng thông tin, tuyên truyền góp phần thông tin nhanh nhạy, chính xác, đầy đủ đến nhân dân và định hướng đúng dư luận, tích cực trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Cần chú ý tập trung đến công tác giáo dục, bồi dưỡng và tập huấn cho đội ngũ phóng viên báo chí, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và nhất là thế hệ trẻ như học sinh, sinh viên được trang bị kiến thức cần thiết về nhận diện "cách mạng màu", về kỹ năng xử lý và tham gia đấu tranh phòng, chống những nguy cơ "cách mạng màu" cũng như những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội hiện nay. Các cơ quan báo chí, truyền thông tích cực, thường xuyên đấu tranh phòng, chống, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, đẩy mạnh phòng ngừa “từ sớm, từ xa” trước những thách thức và nguy cơ về "cách mạng màu" ở Việt Nam. Đồng thời, cần nghiêm khắc đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trong một bộ phận nhân dân, học sinh, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của "cách mạng màu"...
  
Thứ hai, cùng với việc nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của "cách mạng màu" là việc trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần sâu sắc nền tảng tư tưởng của Đảng; tin tưởng, kiên định, giữ vững con đường cách mạng và thành tựu đổi mới, hội nhập, phát triển của đất nước ta. Trong đó, phải thường xuyên nắm bắt và bồi dưỡng công tác tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là vấn đề có ý nghĩa căn cơ lâu dài, mang tầm chiến lược trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi nguy cơ gây tổn thất cho cách mạng. Cụ thể, tiếp tục thực hiện Kết luận 01-KL/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và quán triệt, triển khai, thực hiện hiệu quả các Nghị quyết Trung ương; tiếp tục lan tỏa việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thường xuyên và thiết thực; thúc đẩy việc rèn luyện đạo đức, bản lĩnh, “tự soi” và “tự sửa” hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, bền bỉ rèn luyện hằng ngày trong công việc cũng như trong cuộc sống…

Theo GS.TS. Hoàng Chí Bảo (Giảng viên cao cấp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh): “Mỗi cán bộ, đảng viên và nhất là thế hệ trẻ cần học Bác Hồ là học nói đi đôi với làm, học đạo đức cách mạng, học nêu gương, học phong cách quần chúng, học tác phong làm việc khoa học và dân chủ… Học đi đôi với thực hành đều đặn để trở thành cán bộ liêm chính, đời tư trong sáng”.

Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận chính trị. Các cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị chủ động học tập, quán triệt, trau dồi, nghiên cứu và thấm nhuần sâu sắc nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nhằm xây dựng luận cứ khoa học, bồi dưỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, đặc biệt là thế hệ trẻ trong việc củng cố niềm tin và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; đồng thời, chủ động, tích cực phê phán quan điểm lệch lạc, đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái và thù địch. Đây cũng là biện pháp ngăn ngừa đối với những biểu hiện xa rời lý tưởng cách mạng của cán bộ, đảng viên, của thế hệ trẻ; đồng thời qua đó góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị và trách nhiệm với Đảng, với đất nước.

Cùng với việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, cần chú trọng công tác tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận sáng tạo, đáp ứng đúng quy luật phát triển của dân tộc và thời đại. Trọng tâm, tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, sâu rộng, thiết thực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân theo hướng gợi mở những giá trị vận dụng, phát triển sáng tạo hiện nay.

Theo TS. Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, cần phải "thực hiện đồng bộ 4 kiên định mà Đại hội XIII của Đảng nói đến là: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Phải thực sự đổi mới tư duy, mở tầm viễn kiến, nắm lấy quy luật và hợp lòng dân”. Cụ thể, tăng cường công tác nghiên cứu, phát triển lý luận góp phần “kiến tạo nền móng” dẫn đường cho sự phát triển thực tiễn, nâng cao niềm tin của nhân dân vào sự tất thắng của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, thực hiện đồng bộ giải pháp thường xuyên là ổn định và an sinh xã hội, nâng cao đời sống và trình độ dân trí, gắn liền với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Điều này trở thành “liều thuốc” hữu hiệu và căn cơ trong việc chống lại mọi âm mưu và thách thức "cách mạng màu" ở Việt Nam. Trong đó, chú trọng hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, quan tâm thúc đẩy ba động lực tăng trưởng phát triển là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng... Như PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng: “Chú trọng các chính sách kích thích phát triển kinh tế gắn với quan tâm đặc biệt đến chính sách xã hội, chính sách đối với con người, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững; phát triển hài hòa giữa kinh tế với xã hội, không vì tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ tiến bộ, công bằng xã hội, phải tạo điều kiện cho con người được thụ hưởng mọi thành tựu của phát triển, cuộc sống của con người được cải thiện đồng thời với tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế”. Việc bảo đảm an sinh xã hội, sinh kế cho người dân, thúc đẩy sản xuất, giải quyết thất nghiệp sẽ kiểm soát nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn xã hội và những thách thức an ninh phi truyền thống, phòng ngừa được kích động tâm lý xã hội gây mất an ninh, trật tự xã hội, qua đó góp phần chống lại âm mưu "cách mạng màu".

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền đa kênh, đa phương tiện, chú trọng chất lượng thông tin và truyền thông xã hội giúp cho người dân hiểu rõ, nhận diện đúng bản chất và nguy cơ về "cách mạng màu "- Ảnh: Phạm Cường. 
Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ gắn với việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta xác định công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt của vấn đề then chốt”; cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, ý thức được những nguy cơ và thách thức lớn đối với Đảng cầm quyền là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị, Đảng ta đã đặt ra yêu cầu phải thường xuyên đổi mới công tác cán bộ theo quy trình chặt chẽ, có đánh giá tín nhiệm; chú trọng đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý; khuyến khích cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần chỉ rõ: Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm đủ các tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức vào đội ngũ cán bộ đương chức và cán bộ quy hoạch cấp chiến lược. Xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật của Nhà nước đối với cán bộ vi phạm, những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ và cũng không để bị lợi ích nào cám dỗ, không để bị chi phối bởi quan hệ cá nhân, thân quen không trong sáng. Kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, gây mất đoàn kết nội bộ, kể cả khi đã chuyển công tác.

Vì vậy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ, kết hợp nhiều hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng thông qua thực tiễn công tác, học tập, rèn luyện... của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đánh giá cán bộ, sử dụng những cán bộ đủ tiêu chuẩn với việc kiên quyết đưa ra khỏi cương vị lãnh đạo, quản lý những cán bộ không đáp ứng về phẩm chất và năng lực ở những nơi trì trệ, yếu kém, mất đoàn kết kéo dài. Đồng thời, thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, chú trọng thực hiện tốt Quy định số 110-QĐ/TW ngày 06/7/2023 của Ban Bí thư về luân chuyển cán bộ trong ngành Kiểm tra Đảng; cùng với đó thực hiện hiệu quả Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Đặc biệt, tiếp tục quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về 8 bài học quý báu, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, 5 nhiệm vụ, giải pháp để công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt những bước tiến mới, quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Phát huy cao độ trách nhiệm chính trị của Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo các ban, ngành, địa phương về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp hướng tới mục tiêu “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực.

Thứ năm, cùng với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, cần phải không ngừng chú trọng xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại), xây dựng vững mạnh lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở. Đây vừa là lực lượng trực tiếp, vừa là một bộ phận của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, do Đảng lãnh đạo, là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Trong thời gian qua, chúng ta “Tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang”. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XII của Đảng xác định. Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; nỗ lực ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ứng phó có hiệu quả với các tình huống, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế sự gia tăng tội phạm..., góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao tiềm lực, uy tín, vị thế quốc tế của đất nước.

Có thể khẳng định rằng, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, luôn đề cao cảnh giác và thực hiện các giải pháp nhằm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn để tiến hành “cách mạng màu” ở Việt Nam, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa nguyên nhân, thách thức từ sớm, từ xa. Trong đó, cần loại bỏ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xử lý các cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Khi làm tốt việc này, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; giữ vững bản lĩnh chính trị, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên; học và làm theo Bác ở những điều thiết thực nhất, việc gì có lợi cho dân hết sức làm; rèn luyện lối sống giản dị, đời tư trong sáng, cống hiến hết mình, vượt qua mọi cám dỗ vật chất, danh lợi, kiên quyết, bản lĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao... Đặc biệt, cán bộ, đảng viên cũng như mỗi người dân Việt Nam tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.
Theo báo ĐCS Việt Nam.
Yêu nước ST.

TIN BUỒN: PHÓ THỦ TƯỚNG LÊ VĂN THÀNH TỪ TRẦN!

     Phó Thủ tướng Lê Văn Thành từ trần vào hồi 20h20 ngày 22/8 tại nhà riêng ở Hải Phòng, hưởng thọ 61 tuổi.
Theo tin từ Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, ông Lê Văn Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, sau thời gian lâm bệnh, mặc dù được Đảng, Nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sỹ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do bệnh nặng, ông đã từ trần vào hồi 20h20 ngày 22/8 tại nhà riêng, số 217 phố Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Lễ viếng, Lễ truy điệu, Lễ an táng Phó Thủ tướng Lê Văn Thành sẽ được thông báo sau./.
Yêu nước ST.

CHỈ CÓ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MỚI ĐEM LẠI ẤM NO, TỰ DO, HẠNH PHÚC THỰC SỰ CHO CON NGƯỜI!

     Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Đến hôm nay, chủ nghĩa xã hội mới đang trong quá trình xây dựng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như C.Mác khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản là hình thức kiên quyết của tương lai sắp đến”. “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Bởi đó là con đường duy nhất đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân lao động và cả xã hội loài người./.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM: LÀ BẠN, LÀ ĐỐI TÁC TIN CẬY CỦA TẤT CẢ CÁC NƯỚC TRÊN CƠ SỞ TÔN TRỌNG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA NHAU VÌ HÒA BÌNH - THỊNH VƯỢNG - ĐỘC LẬP DÂN TỘC, TIẾN BỘ CỦA NHÂN LOẠI!

     Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa trả lời báo chí về việc nâng cấp mối quan hệ với Mỹ rằng: "Hai bên đang trao đổi các biện pháp để tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Việt - Mỹ theo hướng ổn định, thực chất, lâu dài, hướng tới tầm quan hệ mới khi điều kiện phù hợp, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực cũng như trên thế giới". 

Tới đây Việt Nam dự kiến sẽ đón Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9/2023; đón Tổng thống Mỹ Joe Biden từ 10 đến 11/9/2023 và Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng sẽ dự kiến ghé thăm Việt Nam vào khoảng tháng 10 hoặc tháng 11/2023. 

Việt Nam luôn hoan nghênh các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo Trung - Mỹ - Nga và đó là niềm vinh dự của Việt Nam khi được đón các cường quốc hàng đầu thế giới đến thăm và tăng cường ngoại giao.

Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia. Việt Nam luôn hướng theo lẽ phải của nhân loại: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều phải được Hòa Bình - Thịnh vượng - Độc lập dân tộc.

Đặc biệt Việt Nam không liên minh quân sự với bất kỳ quốc gia nào và cũng không theo nước này để chống lại nước khác! Ai, quốc gia nào chấp nhận điều đó đều đủ điều kiện là đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, là những người bạn đúng nghĩa của Việt Nam!./.

Yêu nước ST.

BẠN CẦN BIẾT: CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM!

     Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do". Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện...

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển. Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).

Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hoá nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo./.
Theo Báo nhân dân.
Môi trường ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 23 THÁNG 8 NĂM 1925!

     “Nghĩa vụ một người dân là phải yêu Tổ quốc”!
     Lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong bài “Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết”, Người viết tại Quảng Châu, Trung Quốc, đăng trên Báo Thanh niên, số 9, ngày 23 tháng 8 năm 1925. Đây là giai đoạn phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân đang diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp trên thế giới cũng như ở Đông Dương.
     Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua những chặng đường đầy gian lao thử thách, nhưng vẫn trường tồn và phát triển bởi đã rèn đúc nên bản lĩnh vững vàng, mang đậm tính cách và khí phách của dân tộc, hình thành và hun đúc nên truyền thống yêu nước Việt Nam. Truyền thống ấy đã thấm sâu vào trong mỗi người dân, tạo nên tâm hồn, bản lĩnh và trí tuệ của các thế hệ người Việt và sức mạnh to lớn của dân tộc để chiến đấu, chiến thắng thiên tai, địch họa. Lời kêu gọi của Hồ Chí Minh đã tập hợp, quy tụ người Việt Nam không phân biệt đàn ông, đàn bà, già, trẻ, đảng phái, tôn giáo, dân tộc… đoàn kết, đấu tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
     Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn mài sắc lý tưởng chiến đấu, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; đề cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; đoàn kết nội bộ tốt, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, gắn bó máu thịt với nhân dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy phản ánh bản chất cách mạng và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân./.
Môi trường ST.

TRỊ TẬN GỐC CĂN BỆNH SỢ TRÁCH NHIỆM!

     Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ. Muốn cho Đảng được vững bền, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đến thắng lợi phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Tuy nhiên, để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, diệt trừ tận gốc căn bệnh cá nhân chủ nghĩa là vấn đề không đơn giản bởi lẽ căn bệnh này rất dễ nhiễm, dễ lây lan và khó chữa trị, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay. Do đó cần quyết tâm rất lớn của cả hệ thống chính trị cũng như mỗi cá nhân trong xã hội.

Bệnh sợ trách nhiệm là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, có nguồn gốc từ chính chủ nghĩa cá nhân. Thực chất của căn bệnh này chính là sợ bị liên lụy, sợ bị quy trách nhiệm, sợ bị ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân. Những người mắc căn bệnh này đã “để chủ nghĩa cá nhân chớm nở”, “họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng”.

Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo “bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh, thiếu hẳn “tinh thần trách nhiệm nghiêm túc”, không dám đương đầu trước khó khăn, không dám nghĩ, không dám làm, làm việc cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn; rụt rè, do dự khi giải quyết công việc, không quyết đoán những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình.

Vì sợ bị liên lụy, sợ bị gánh trách nhiệm, sợ bị ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân nên những cán bộ mắc căn bệnh này sẽ tìm đủ mọi cách, viện đủ mọi lý do hợp lý nhất để né tránh, đùn đẩy công việc, thoái thác trách nhiệm cho người khác. Cũng vì sợ trách nhiệm nên thậm chí nhiều cán bộ còn có suy nghĩ làm ít sai ít, làm nhiều sai nhiều, không làm không sai; hoặc, thà không làm và bị phê bình do không nhiệt tình, không có trách nhiệm với công việc còn hơn làm rồi bị gánh trách nhiệm, bị kỷ luật, xét xử, mất cả địa vị và lợi ích, cho nên chọn giải pháp an toàn là không làm, không đề xuất, không quyết, hoặc “đá bóng”, đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, bộ phận khác, cơ quan khác,...

Điều đáng lo ngại là căn bệnh sợ trách nhiệm đang có chiều hướng diễn ra khá phổ biến và ngày càng gia tăng trong đội ngũ cán bộ, lan rộng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trên phạm vi cả nước, khiến nhiều công việc bị trì trệ, ách tắc, nhiều nguồn lực của đất nước không được phát huy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế-xã hội, kìm hãm tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta.

Chấn chỉnh, khắc phục tình trạng cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm
Ở nhiều nơi, tình trạng cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám làm, không dám quyết, đùn đẩy trách nhiệm qua lại giữa các bộ phận khiến nhiều công việc bị đình trệ, người dân và doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Hàng loạt các dự án, công trình đầu tư bị kéo dài tiến độ hoặc bị ngưng trệ chỉ vì chậm được duyệt, cấp phép. Trong lĩnh vực đầu tư công, nhiều công trình trọng điểm bị chậm tiến độ, tốc độ giải ngân tại một số địa phương, bộ, ngành rất thấp...

Cũng do cán bộ sợ trách nhiệm, chần chừ, né tránh, không quyết, không làm nên dẫn tới tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhiều địa phương, ngành, lĩnh vực, kể cả những nơi được đánh giá là có thế mạnh, mũi nhọn kinh tế gần như đứng im, thậm chí âm trong quý I/2023 trong khi các nguồn lực, tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước hiện còn rất lớn.

Đơn cử như trong lĩnh vực y tế, do sợ trách nhiệm, sợ làm sai, sợ bị kỷ luật nên nhiều tỉnh, thành phố, địa phương, cơ sở y tế đã không dám đấu thầu, đấu giá mua sắm thiết bị máy móc, trang thiết bị, vật tư y tế, sinh phẩm, thuốc, dẫn đến tình trạng rất nhiều cơ sở y tế, bệnh viện, kể cả ở những bệnh viện lớn tuyến đầu bị thiếu thuốc, thiếu trang thiết bị khám chữa bệnh, nhiều bệnh nhân nặng phải chờ chực dài ngày để được phẫu thuật, chữa bệnh.

Có thể thấy căn bệnh sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ hiện nay đã ở mức đáng báo động, nguy cơ gây nên những hệ lụy rất đáng lo ngại, không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, kìm hãm tiến trình phát triển đất nước mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống, tâm tư, tình cảm và niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nhận thấy được tính chất nghiêm trọng và mức độ nguy hại của sự gia tăng căn bệnh sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, quy định nhằm chỉ đạo xử lý mạnh hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, nhanh chóng đẩy lùi, khắc phục căn bệnh sợ trách nhiệm, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và đòi hỏi của công cuộc phát triển đất nước.

Ngày 19/4/2023, Thủ tướng Chính phủ có Công điện số 280/CĐ-TTg về chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương, trong đó yêu cầu rõ, phải kiên quyết khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong xử lý công việc, không dám làm, không dám tham mưu, đề xuất, không dám chịu trách nhiệm ở các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, đồng thời tăng cường khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, chủ động sáng tạo vì lợi ích chung theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị trong Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung nhằm đẩy lùi căn bệnh sợ trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, công chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành, xử lý, giải quyết công việc.
Nhờ những chỉ đạo tích cực, quyết liệt của Đảng và Nhà nước, đến nay hầu khắp các tỉnh, thành phố, địa phương, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị trong cả nước đã tích cực vào cuộc, triển khai nhiều biện pháp để ngăn chặn, xử lý tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm khi giải quyết công việc, bước đầu đã ghi nhận những chuyển biến tích cực, đặc biệt là đã có những kết quả mới trong việc xem xét, xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu, trong đó có những lãnh đạo cấp cao đã xin từ chức và được Đảng xem xét cho từ chức vì lý do trách nhiệm, nhiều cán bộ đã dần thoát khỏi tâm lý e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm,... khi thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa qua, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn là vấn đề rất đáng lo ngại, diễn biến phức tạp” gây nhiều hệ lụy xấu. Do đó vẫn cần thiết phải tiếp tục tăng cường tập trung chấn chỉnh, khắc phục nhanh tình trạng này, cho dù để làm được điều đó không phải là việc dễ dàng, đòi hỏi không chỉ sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước mà cả sự đồng lòng, quyết tâm hợp sức của cả hệ thống chính trị, của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương và nhân dân.

Để chữa trị tận gốc căn bệnh sợ trách nhiệm nhất thiết phải hướng vào căn nguyên, nguồn gốc của chính nó là chủ nghĩa cá nhân, tăng cường phê phán, đấu tranh, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân, tiêu diệt triệt để tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao, phụ trách những lĩnh vực nhạy cảm, có nhiều cám dỗ vật chất,…

Muốn vậy, ngoài việc phải đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững bản lĩnh chính trị, nhân cách, đạo đức cách mạng liêm chính, chí công vô tư,… của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên; đổi mới chế độ chính sách lương thưởng, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức để họ không cần, không muốn phải tham ô, tham nhũng, trục lợi, tư lợi;... thì rất cần thiết phải hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ cán bộ, công chức tùy theo vị trí công tác và chức vụ đảm nhiệm, đồng thời có chế tài cụ thể, rõ hơn để xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ có những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, luôn đặt lợi ích của bản thân lên trên, lên trước lợi ích của tập thể, cộng đồng, quốc gia; vì lợi riêng mà né tránh trách nhiệm, không tích cực thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, bê trễ công việc, đùn đẩy trách nhiệm,...

Phải quán triệt tinh thần cán bộ càng nắm giữ chức vụ cao càng phải nghiêm khắc, càng đòi hỏi trách nhiệm cao, càng phải nêu gương về sự chủ động tích cực gánh vác trách nhiệm, dám nghĩ dám làm, phát huy cao nhất năng lực, tính sáng tạo, nhiệt huyết vì công việc chung, vì lợi ích và mục tiêu chung của dân tộc...

Tăng cường kiểm tra, rà soát, phát hiện và kiên quyết xử lý mạnh tay hơn, thậm chí cho thôi chức vụ, điều chuyển, thay thế đối với những trường hợp cán bộ cố tình né tránh, sợ trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm, không hoàn thành trách nhiệm được giao theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư: Ai không làm được, không dám làm thì đứng sang một bên để người khác làm. Bên cạnh đó, cũng cần tích cực hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật... để triển khai một cách hiệu quả chủ trương bảo vệ cán bộ năng động, chủ động, tích cực, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm... nhằm loại bỏ triệt để tâm lý e ngại, sợ sai, sợ vi phạm quy định, sợ bị kỷ luật mà không dám làm, không dám quyết trong đội ngũ cán bộ. Có như vậy mới góp phần tích cực khai thông được các điểm nghẽn, ách tắc, trì trệ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội hiện nay ở nước ta, tăng cường niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp, tạo thêm nhiều điểm sáng mới trong tiến trình phát triển đất nước theo những mục tiêu tốt đẹp mà chúng ta đã đặt ra./.
Theo Báo Nhân dân.
Yêu nước ST.

GIÁM SÁT CÁN BỘ SAU QUY HOẠCH!

     Hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương đang tổ chức hội nghị giới thiệu nhân sự quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031. Từ nay đến Đại hội XIV của Đảng không còn dài, đây là khoảng thời gian để từng tổ chức đảng và nhân dân giám sát chặt chẽ về phẩm chất, năng lực công tác của cán bộ sau quy hoạch. Từ đó, giúp Đảng sàng lọc, lựa chọn thật kỹ đội ngũ cán bộ chiến lược, đủ tâm, đủ tầm gánh vác trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó.

Đảng ta luôn xác định công tác cán bộ là “công việc gốc” trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Quy hoạch cán bộ là khâu quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng nhằm phát hiện sớm nguồn cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, có triển vọng phát triển để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ. Trên cơ sở các quy định, kế hoạch của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ và khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, các địa phương, cơ quan, đơn vị đã khẩn trương, nghiêm túc triển khai thực hiện giới thiệu nhân sự quy hoạch với tinh thần trách nhiệm, quyết tâm cao nhất.

Tuy nhiên, quy hoạch là “mở”, “có vào, có ra”. Hằng năm, từng cấp ủy, tổ chức đảng phải đánh giá, rà soát để kịp thời đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời bổ sung vào quy hoạch những nhân tố mới từ nguồn nhân sự tại chỗ hoặc nguồn nhân sự từ nơi khác đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có triển vọng phát triển; tránh bài học đau xót về công tác cán bộ thời gian qua.

Làm được như vậy, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và nhân dân cần phát huy tinh thần, trách nhiệm, giám sát chặt chẽ cán bộ sau quy hoạch; có tiếng nói mạnh mẽ đưa ra ngoài quy hoạch những cán bộ phai nhạt lý tưởng cách mạng, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt đảng.

Thông qua thực tiễn công tác, sinh hoạt, nhân dân và cả hệ thống chính trị cần có “con mắt tinh đời”, không để lọt vào Trung ương những cán bộ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Mặt khác, sàng lọc thật kỹ, đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ có tư tưởng thỏa mãn, dừng lại, trông chờ bổ nhiệm; né trách nhiệm, sợ sai; không dám nói, không dám làm, nín thở chờ thời. Song song với đó, phải kiên quyết bảo vệ những người thật sự có đức, có tài, luôn nghĩ vì nước, vì dân; năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung./.
Theo Báo QĐND.
Yêu nước ST.

 

Kết quả và kinh nghiệm từ thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Đồng Tháp

(LLCT) -  Đồng Tháp là tỉnh giàu tiềm năng, thế mạnh về nông nghiệp, du lịch. Tính đến ngày 1-4-2019, tỉnh Đồng Tháp có 1.599.504 người, mật độ dân số 495 người/km², trong đó dân số sống tại nông thôn là 1.309.303 người, chiếm 81,9%. Tỉnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 3 thành phố và 9 huyện với 143 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 9 thị trấn, 19 phường và 115 xã. Qua 10 năm triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trên tinh thần “Tự lực, chăm chỉ, hợp tác”, nông thôn Đồng Tháp đã có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên đáng kể. 


Tính đến tháng 9-2020, đã có 78/117 xã đạt chuẩn nông thôn mới, vượt 17 xã so với chỉ tiêu giai đoạn 2016-2020; có 29 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí và 10 xã đạt 14 tiêu chí, không còn xã đạt 13 tiêu chí. Thành phố Cao Lãnh, thành phố Sa Đéc, thành phố Hồng Ngự hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và huyện Tháp Mười đạt chuẩn huyện nông thôn mới. Như vậy, Đồng Tháp đã vượt 3 đơn vị so với chỉ tiêu giai đoạn 2016-2020. Trong số 14 xã đăng ký thực hiện xã nông thôn mới nâng cao, có 5 xã đạt từ 17 - 18 tiêu chí, 6 xã đạt từ 15 - 16 tiêu chí và 3 xã đạt từ 12 - 14 tiêu chí.

Để đạt được kết quả trên, Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động toàn hệ thống chính trị, các ngành, địa phương, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi nguồn lực, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực.

Công tác tư tưởng được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Các cấp đã tổ chức tuyên truyền với nhiều hình thức như: xây dựng chuyên mục, bài viết về xây dựng nông thôn mới trên các phương tiện thông tin truyền thông và trên Trang điện tử nông thôn mới, tổ chức hội thi về xây dựng nông thôn mới, lồng ghép với các phong trào, mô hình do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phát động, góp phần lan tỏa đến từng hộ gia đình nông thôn, nâng cao ý thức tự lực, hợp tác của người dân, cộng đồng dân cư. Các phong trào nổi bật như: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; phong trào thi đua Dân vận khéo; phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững; phong trào cộng đồng dân cư quản lý xây dựng nông thôn mới theo phương châm “3 tự - 1 nhờ”, Nhà nước cấp vật tư, người dân đóng góp ngày công lao động trong xây dựng cầu đường nông thôn.

Cụ thể như: từ mô hình Nhà nước cấp vật tư, người dân đóng góp ngày công lao động khi người dân chủ động, tích cực bỏ công sức, tiền của để thực hiện công trình; huy động khối lượng lớn hội viên, đoàn viên, các tổ chức tình nguyện, từ thiện, cùng gắn kết, hướng đến mục tiêu chung xây dựng nông thôn mới.

Sổ tay hộ gia đình thi đua “Chung sức xây dựng nông thôn mới” do Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo, với sự vào cuộc của cấp ủy, tổ chức chính trị xã hội các cấp. Từ kết quả thí điểm tại xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh và xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, mô hình được nhân rộng đến 37 xã điểm xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 của tỉnh, với tổng số 95.220 hộ gia đình nông thôn tham gia, đăng ký thực hiện. Mô hình được nhân rộng trên tất cả các xã, nội dung bao gồm chung sức xây dựng nông thôn mới và cả tiêu chí nông thôn mới nâng cao.

Phong trào xây dựng điểm vui chơi cho thanh thiếu nhi xã nông thôn mới, cụm dân xanh - an toàn, biến bãi rác thành vườn hoa của Đoàn Thanh niên; “Nhà sạch, Đường sạch, Đồng ruộng sạch” của Hội Nông dân tỉnh triển khai tại xã Tân Phú, huyện Châu Thành; “Đoạn đường 3 sạch”, “Gia đình 5 không 3 sạch” của Hội Phụ nữ tỉnh.

Cùng với các phong trào, là những mô hình nổi bật:

Mô hình “Cây xoài nhà tôi”: Hợp tác xã xoài Mỹ Xương tổ chức bán hàng trên website, góp phần đưa thương hiệu xoài Cao Lãnh vươn xa, đồng thời tạo nguồn vốn ban đầu cho nhà vườn. Sau 2 năm hoạt động, đã bán được 224 cây xoài, với số tiền 830 triệu đồng. Hợp tác xã tiếp tục triển khai công nghệ Blockchain trên cây xoài.

Mô hình “Ruộng nhà mình”: Hợp tác xã Thuận Tiến thực hiện liên kết với Công ty Lương thực Đồng Tháp cung cấp gạo cho thị trường Hà Nội.

Mô hình Hội quán: trên toàn tỉnh có 83 Hội quán, với hơn 4.000 thành viên là người dân tham gia, gắn với từng ngành hàng đặc trưng của địa phương. Mô hình đã góp phần vào phát triển kinh tế, phát huy tính tự quản cộng đồng, thay đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, phát huy tính chủ động, sáng tạo, cách làm hay trong sản xuất, trong đời sống ở cơ sở; tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, rút ngắn khoảng cách người dân và Nhà nước. Mô hình trở thành nền tảng để hình thành và phát triển các hợp tác xã mới. Đến nay, thành lập 17 hợp tác xã trên cơ sở các hội quán, góp phần hoàn thành tiêu chí 13 về tổ chức sản xuất trong xây dựng nông thôn mới.

Mô hình du lịch cộng đồng: Homestay cá linh huyện Tam Nông, ngôi nhà hoa - ếch, ngôi nhà tre, ngôi nhà hoa hồng tại thành phố Sa Đéc,... Các mô hình đưa du khách đến với thiên nhiên, sinh hoạt với gia đình và có những trải nghiệm thực tế về cuộc sống của người dân Đồng Tháp và trồng hoa, nuôi ếch, bắt cá.

Mô hình sinh thái cam, quýt Bá Chuốt: giúp du khách ngắm màu xanh của vườn quýt xứ Lai Vung với đài quan sát cao 6m, xem quýt đường trĩu quả bằng xuồng ba lá. Ngoài ra, đây còn là nơi bán các đặc sản cam quýt đạt chuẩn VietGap.

Mô hình tình nguyện vì cộng đồng: bà Trần Thị Kim Thia đã có 15 năm gắn bó với công việc phổ cập bơi lội cho trẻ em vùng lũ, đã dạy cho trên 2.000 trẻ em biết bơi.

Các phong trào đã lan tỏa rộng khắp đến từng hộ gia đình nông thôn, ý thức tự lực, hợp tác của người dân, cộng đồng dân cư ngày càng được nâng cao. Cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội đã đóng góp nhiều vật chất, công sức vào chương trình xây dựng nông thôn mới. Giai đoạn 2016 - 2020, nhân dân đã tham gia với hơn 500.000 ngày công, hiến hơn 650.000m2 đất... Tổng giá trị đóng góp xây dựng nông thôn mới đạt hơn 840 tỷ đồng. Đóng góp vào nâng cấp, sửa chữa hơn 450km đường nông thôn, gần 600 cầu; sửa chữa, xây mới hơn 3.300 căn nhà, thắp sáng hơn 200km đường.

Kết quả lớn nhất từ những mô hình này mang lại chính là sự khơi dậy tinh thần cộng đồng, tự lực, chăm chỉ, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác làm ăn của mỗi người dân nông thôn. Qua 10 năm xây dựng nông thôn mới, từ chỗ còn thụ động, trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân Đồng Tháp đã nhận thức rõ việc xây dựng nông thôn mới là công việc của chính mình, cùng với sự đồng hành của các ngành, các cấp.

Đã có sự thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Tỉnh ủy chủ trương thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chính quyền tập trung chỉ đạo thực hiện trên cơ sở những thành quả đạt được, bài học kinh nghiệm. Trong đó chú trọng chấn chỉnh, đổi mới phương thức thực hiện các nhiệm vụ, nội dung của Chương trình, hướng đến xây dựng nông thôn mới thực chất và bền vững. Gắn kết nhiều chương trình, dự án, đề án trong xây dựng nông thôn mới, như: Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, trật tự 8 xã biên giới”,... tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân. Thực hiện cơ chế Nhà nước cấp vật tư, người dân đóng góp ngày công lao động trong xây dựng các công trình nông thôn gắn với nhu cầu sản xuất, dân sinh từ ý nguyện của người dân theo phương châm “dân bàn, dân làm, dân thụ hưởng” trong xây dựng nông thôn mới.

Bên cạnh những ưu điểm, thành công, trong chỉ đạo, triển khai thực hiện, còn một số địa phương cơ sở chưa chủ động, vẫn trông chờ sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, không chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; cấp huyện, xã chưa bố trí được cán bộ chuyên trách thực hiện Chương trình nông thôn mới, từ đó việc theo dõi, tham mưu, báo cáo kết quả thực hiện Chương trình chưa kịp thời, chặt chẽ; một số lãnh đạo được phân công phụ trách các xã chưa dành thời gian đi thực địa để nắm thông tin và hỗ trợ tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các chương trình. Việc duy trì, nâng chất tiêu chí nông thôn mới ở các xã đạt chuẩn ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức, có tình trạng tự bằng lòng sau khi xã đạt chuẩn; một số địa phương chưa quan tâm đúng mức công tác tuyên truyền vận động, chưa tập trung vận động người dân thực hiện các tiêu chí.

Công tác triển khai và nhân rộng các mô hình hay, hiệu quả đã được các địa phương chỉ đạo thực hiện. Tuy vậy, chưa có sự gắn kết chặt chẽ trong phối hợp thực hiện; thiếu tính chủ động, do đó, chưa tạo được phong trào thi đua giữa các địa phương để Cuộc vận động đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn.

Việc giám sát, đánh giá, theo dõi thực hiện các chính sách, dự án, các giải pháp giảm nghèo triển khai chưa kịp thời. Một số địa phương họp xét đưa nhiều hộ thoát nghèo nhưng thực tế hộ thoát nghèo vẫn còn nhiều khó khăn (do mức chuẩn nghèo thấp) và nguy cơ tái nghèo cao nếu có biến cố, thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Chưa phát huy được nội lực trong dân, tiềm năng thế mạnh của địa phương và chính người nghèo.

Môi trường nông thôn tuy có sự cải thiện thông qua các mô hình bảo vệ môi trường, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp nhưng việc duy trì còn nhiều khó khăn do phong tục, tập quán, văn hóa và thói quen của một bộ phận dân cư, chưa có những giải pháp hiệu quả để khắc phục; việc quản lý về môi trường vẫn còn nhiều bất cập (thống kê, kiểm soát số lượng, hồ sơ đăng ký, thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường).

Nguồn vốn đầu tư của Trung ương (vốn trung hạn 2016-2020 là 741,127 tỷ đồng), trong giai đoạn 2016-2019 chỉ được phân bổ 417,867 tỷ đồng, năm 2020 còn lại 323,26 tỷ đồng, chiếm 43,62% tổng vốn, nhưng các mục tiêu, chỉ tiêu giai đoạn 2016-2020 phải hoàn thành trong năm 2019. Do đó, nhiều địa phương gặp khó khăn trong việc hoàn thiện các tiêu chí về hạ tầng.

Từ thực tiễn tổ chức triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, tỉnh Đồng Tháp đúc kết những kinh nghiệm bước đầu:

Một là, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt cùng sự quyết tâm, sâu sát và tính gương mẫu của người đứng đầu trong chỉ đạo thực hiện thì sẽ đạt kết quả tốt trong xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp.

Hai là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tạo nhận thức đúng đắn về nội dung, mục đích ý nghĩa, giải pháp thực hiện Chương trình, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng, đặc biệt sự đồng thuận, chia sẻ về lợi ích, trách nhiệm của người dân để người dân tự nguyện, hăng hái tham gia thực hiện; khơi dậy sức mạnh cộng đồng (doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân) là yếu tố then chốt để thực hiện hiệu quả, bền vững Chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp; xây dựng nông thôn mới cần khởi đầu từ từng con người đến gia đình, thôn xóm, tạo nền tảng vững chắc để tiến lên xây dựng xã, huyện nông thôn mới; tạo sự đồng thuận trong cộng đồng để tập trung giải quyết những vấn đề căn cơ nhất ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người dân; phải tạo phong trào thi đua, tạo sự cạnh tranh thực sự, thường xuyên, liên tục trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khu vực nông thôn, nuôi dưỡng ngọn lửa nông thôn mới (nông thôn mới có điểm bắt đầu, nhưng không có điểm kết thúc).

Ba là, sự giúp đỡ của Nhà nước chỉ là yếu tố đầu vào, tạo nền tảng (xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ xây dựng mô hình thí điểm, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thị trường,...), tạo động lực cho người dân tham gia xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp, từ đó khơi dậy tinh thần cộng đồng, sự chung tay góp sức của người dân; nơi nào có sự đồng thuận, nhiệt tình, tự giác của người dân trong xây dựng nông thôn mới thì kết quả thực hiện Chương trình mới bền vững, hiệu quả. Tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt động của các tổ nhân dân tự quản, Hội quán trong xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp.

Bốn là, nông thôn mới, tái cơ cấu nông nghiệp, giảm nghèo bền vững có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau, cùng phát triển, trong đó giải quyết 3 vấn đề mấu chốt ở nông thôn là nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm, ổn định an ninh trật tự xã hội.

Trên cơ sở những thành tựu đạt được và những bài học kinh nghiệm qua 10 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, tỉnh Đồng Tháp xác định mục tiêu giai đoạn 2021-2025 là tiếp tục thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới theo hướng nâng cao vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trên tinh thần tự lực, chăm chỉ và hợp tác; cơ sở hạ tầng được quy hoạch, phát triển đồng bộ, hiện đại theo hướng chủ động, thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo đảm an toàn trước thiên tai; tài nguyên thiên nhiên được quản lý, sử dụng hợp lý; đa dạng sinh học và truyền thống văn hóa lịch sử được duy trì và tôn tạo, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao; tiếp tục gắn kết chặt chẽ Chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp và giảm nghèo bền vững, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thành công Chương trình trong giai đoạn 2021-2025.

Mục tiêu cụ thể:

- Phấn đấu đến năm 2025, có ít nhất 90% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 30% số xã đạt chuẩn nâng cao, 5% xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, có thêm 6 huyện đạt chuẩn nông thôn mới;

- Thu nhập bình quân của người dân nông thôn cao gấp 1,6 lần so với năm 2020;

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hằng năm (ứng với tiêu chuẩn nghèo mới) 1,5%;

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 78,6%;

- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95%;

- Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt 100%;

- Phấn đấu đến năm 2030 có 100% đơn vị huyện hoàn thành hoặc đạt chuẩn nông thôn mới, 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 50% xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 10% xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu.

Để đạt mục tiêu đó, Đồng Tháp tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

- Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, phát triển nông nghiệp bền vững, phù hợp với điều kiện thích ứng biến đổi khí hậu.

- Rà soát, bổ sung các cơ chế, chính sách về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông thôn, hỗ trợ người dân phát triển kinh tế nông thôn, sản xuất nông nghiệp bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường.

- Đẩy mạnh công tác chuyển giao các ứng dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Đồng Tháp.

- Triển khai có hiệu quả Kế hoạch mô hình cộng đồng dân cư quản lý xây dựng nông thôn mới. Trong đó, phát triển tinh thần cộng đồng, tinh thần tự lực, chăm chỉ, hợp tác của chính người dân tự vươn lên với khát vọng khởi nghiệp, làm giàu, xây dựng nông thôn mới tại địa phương trên cơ sở đổi mới phương thức vận hành Chương trình xây dựng nông thôn mới, nhân rộng mô hình “Hộ gia đình thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới”, tạo sự cạnh tranh, thi đua giữa các ấp, các xã trong quá trình thực hiện mô hình; dựa trên sự phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần và mức độ hài lòng của người dân, cộng đồng làm cơ sở để đánh giá hiệu quả của mô hình.

- Phát huy hiệu quả hoạt động của các Hội quán, tạo sự gắn kết giữa các hộ gia đình, giữa người dân với chính quyền địa phương nhằm chủ động phát huy, nhân rộng những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong phát triển sản xuất giúp nâng cao thu nhập, tạo việc làm và giảm nghèo bền vững; tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò người dân trong thực hiện mô hình cộng đồng dân cư tham gia quản lý xây dựng nông thôn mới và cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp.

- Huy động, lồng ghép các nguồn vốn để hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, nhu cầu dân sinh trong điều kiện biến đổi khí hậu.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, khơi dậy phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới từ gia đình đến ấp, xã; xây dựng và phát triển các xã nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu.

- Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình quốc gia mỗi xã một sản phẩm r

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2021

Tài liệu tham khảo:

1. UBND tỉnh Đồng Tháp: Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

2. Quyết định số 1287/QĐ-UBND-HC ngày 22-10-2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Nguồn: TS NGUYỄN PHƯỚC DŨNG

Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp

 

Nâng cao đời sống văn hóa đồng bào dân tộc Hà Nhì trong bối cảnh hiện nay (từ thực tiễn xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai)

(LLCT) - Hiện nay, những giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì ở Lào Cai đang đứng trước nguy cơ bị mai một, nguy cơ bị biến mất khỏi đời sống. Do vậy, cần phải có những giải pháp đồng bộ để giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì, để văn hóa tộc người thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của nền văn hóa dân tộc.


Huyện Bát Xát, Lào Cai hiện có 4.661 người Hà Nhì sinh sống, chiếm 99,2% tổng số người Hà Nhì của tỉnh. Riêng địa bàn xã Y Tý có 2.491 người, chiếm gần 51,1% tổng số dân toàn xã và 50% tổng số người Hà Nhì toàn tỉnh(1).

Về đặc điểm cư trú,người Hà Nhì ở Y Tý thường chọn những nơi địa hình hiểm trở, núi cao, sườn dốc để sinh sống. Họ cư trú tập trung thành các làng, bản chủ yếu với người cùng dân tộc, ít có sự cộng cư với các dân tộc khác, nên bản sắc văn hóa vẫn được bảo tồn. Nhà trình tường của người Hà Nhì được xây dựng bằng đất, đá dày từ 30-45 cm, mái phủ rơm hoặc lợp cỏ gianh do những người đàn ông Hà Nhì làm hoàn toàn thủ công, thiết kế đặc biệt theo hình vuông, bảo đảm đông ấm, hè mát.

Đặc điểmkinh tế - xã hội,đời sống kinh tế của người Hà Nhì ở Y Tý chủ yếu vẫn tự cấp tự túc, dựa vào ruộng nương. Kinh tế chủ yếu là nghề trồng lúa nước trên các thửa ruộng bậc thang và trồng một số cây hoa màu như lạc, ngô, đậu tương, bí đỏ, su su… Những năm gần đây, người dân đã biết tận dụng đất trong mùa khô hạn để trồng các loại rau, hoa màu, cây dược liệu...

Chăn nuôi gia súc, gia cầm của người Hà Nhì khá ổn định, gồm các loại: trâu, bò, ngựa, làm sức kéo và lợn, gà, ngan, ngỗng... làm thực phẩm. Do đặc điểm của địa hình đồi dốc, khó khăn trong sản xuất, người Hà Nhì sử dụng trâu, bò làm sức kéo trong quá trình canh tác trên ruộng bậc thang.

Người Hà Nhì cũng có một số nghề thủ công truyền thống như: dệt, rèn, chạm khắc bạc, đan lát, mộc... Đến nay, những nghề này đã bị mai một, chỉ còn nghề đan lát được duy trì và có khả năng phát triển.

Người Hà Nhì có đời sống văn hóa tinh thần phong phú với rất nhiều lễ hội, nghi lễ gắn liền với quan điểm “vạn vật hữu linh” - vạn vật đều có linh hồn ngự trị. Người Hà Nhì rất chú trọng đời sống tâm linh, các khu rừng và nơi nguồn nước sinh hoạt của cả làng được chọn làm nơi thờ cúng. Ngày nay, trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, giao lưu văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì đang đứng trước những nguy cơ bị mai một...

Hiện nay, người dân Hà Nhì đa phần thích làm nhà ống hoặc có sự hiện đại hóa trong cách làm, cách bố trí, sắp xếp, bài trí không gian trong nhà trình tường, nhiều người dân sử dụng bê tông thay thế cho vật liệu truyền thống là đất sét; mái nhà lợp gianh được thay thế bằng những tấm lợp, hoặc tôn có giá trị sử dụng lâu hơn. Hay, trong nhà đã được bố trí phòng khép kín, không gian sinh hoạt bên trong có sự bài trí khác biệt, phối hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại…

 Một số ngành nghề thủ công truyền thống đã không còn, một số khó có khả năng khôi phục lại như nghề dệt vải, chạm bạc, mộc. Phụ nữ Hà Nhì không còn trồng bông, dệt vải, nhuộm chàm để tự may trang phục truyền thống. Thay vào đó là những bộ quần áo được may sẵn. Trang phục truyền thống chủ yếu được những người trung tuổi, người già sử dụng trong các dịp hội hè, lễ tết. Trong lễ cưới, ngoài những bộ trang phục truyền thống, cô dâu, chú rể còn sử dụng trang phục như vest, váy cưới theo phong cách hiện đại.

Cơ cấu bữa ăn cũng có nhiều thay đổi. Các món ăn truyền thống vẫn được dùng trong các ngày lễ hội, còn lại ngày thường các món ăn cũng khá đa dạng, có nhiều “màu sắc” của các dân tộc khác.Thức uống truyền thống của người Hà Nhì là rượu thóc và các loại cây giải nhiệt nhưng nay đã có các loại nước uống công nghiệp trong sinh hoạt cộng đồng hoặc bữa cơm gia đình.

Những năm gần đây một số tín ngưỡng dân gian, nghi thức cúng tế, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nghi thức trong lễ cưới, tang ma… đang dần bị biến đổi, mai một. Nhu cầu vui chơi giải trí và hưởng thụ các giá trị văn hóa cũng có nhiều biến đổi. Trong các dịp lễ tết, trai gái ít hát đối, hát giao duyên bằng các làn điệu dân ca, dân vũ của dân tộc.

          Để nâng cao đời sống văn hóa của người Hà Nhì cần xác định và giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra, trong đó có bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóatruyền thống. Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì, gắn với bảo vệ và bảo đảm các giá trị đó phù hợp với xu hướng thẩm mỹ hiện đại; đưa các sản phẩm văn hóa đặc sắc của người Hà Nhì thành sản phẩm kinh tế có giá trị; phát triển du lịch. Bảo tồn không có nghĩa là đóng khung; phát huy, phát triển không có nghĩa là học theo cái mới, xóa bỏ cái cũ. Do đó, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy, phát triển các di sản văn hóa của người Hà Nhì để văn hóa tộc người thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của nền văn hóa dân tộc.

Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao đời sống văn hóacủa người Hà Nhì:

Thứ nhất, phát huy vai tròlãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương cơ sở trong xây dựng đời sống văn hóa

Tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền trong xây dựng đời sống văn hóa của các dân tộc. Nâng cao năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hóacho phù hợp, hiệu quả, theo hướng chú trọng duy trì văn hóa truyền thống, phát huy những giá trị văn hóa mới trong bối cảnh hội nhập và tăng cường giao lưu.

Đẩy mạnh và thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc, nhất là các chương trình xóa đói giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào.

Cấp uỷ, chính quyền địa phương tiếp tục quán triệt sâu rộng và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóaViệt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và các chỉ thị, nghị quyết, đề án, kế hoạch khác của địa phương về văn hóa. Tăng cường phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy vai trò của Ban công tác Mặt trận, các chi hội làng, bản trong vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ hai, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác văn hóa

Quan tâm đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã nói chung, cán bộ là người tại chỗ nói riêng, bởi họ là những người am hiểu phong tục, tập quán, tâm lý của dân tộc mình nên sẽ có những đề xuất, kiến nghị sát hợp nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy, phát triển bản sắc văn hóacủa người Hà Nhì phù hợp với truyền thống văn hóadân tộc. Chính quyền các cấp cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để những người làm công tác văn hóa gắn bó lâu dài với công việc.

Thứ ba, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng

Phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng người Hà Nhì để thông qua họ vận động đồng bào xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ trên cơ sở giữ gìn các nét đẹp trong phong tục tập quán, văn hóa truyền thống. Thường xuyên quan tâm, thăm hỏi, chia sẻ về cuộc sống với những người có uy tín trong cộng đồng.

Thứ tư, củng cố, hoàn thiện môi trường giáo dục, nâng cao nhận thức, trình độ học vấn cho người HàNhì

Tập trung đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các trường và cơ sở vật chất trường học trên địa bàn nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy và học cho đồng bào. Thực hiện tốt những chính sách đãi ngộ để đội ngũ giáo viên yên tâm bám trường, bám lớp, gắn bó lâu dài với địa phương.

Đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo để thu hút con em đồng bào người dân tộc trên địa bàn xã đến trường, trong đó có người Hà Nhì. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục; thường xuyên tổ chức giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm để nâng cao trình độ nhận thức của người dân, nâng cao ý thức tự tôn dân tộc cũng như ý thức cao về những giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì.

Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cán bộ địa phương, cán bộ người Hà Nhì học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị để có những đóng góp thiết thực, hiệu quả trong nâng cao đời sống văn hóa của người dân nói chung và của người Hà Nhì.

Thứ năm, phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người Hà Nhì

Chính quyền địa phương bám sát chủ trương, chính sách của Nhà nước để cụ thể hóa thành các biện pháp nhằm nâng cao đời sống vật chất của người dân. Đa dạng hóa các loại hình sinh kế, xác định và xây dựng ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Làm tốt công tác quy hoạch trên địa bàn, xác định rõ tiềm năng, lợi thế của từng vùng để có chiến lược phát triển phù hợp như quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, tạo thương hiệu, uy tín trên thị trường tỉnh và trong nước. Phát triển kinh doanh du lịch cộng đồng theo hướng bền vững gắn với bảo đảm vệ sinh và bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên…

Thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành kinh tế là thế mạnh trên địa bàn, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng cơ sở, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên canh tăng năng suất, tăng sản lượng và chuyên môn hóa; vận động đồng bào ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất; liên kết, làm cầu nối trung gian để giúp đồng bào thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm một cách ổn định, bền vững. Khuyến khích phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hộ gia đình. Chủ động thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ nhằm tạo việc làm cho người Hà Nhì. Đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho người lao động. Hỗ trợ giống, cây trồng, vật nuôi, vốn và kỹ thuật để người dân yên tâm phát triển sản xuất.

Trong phát triển kinh tế, cần chú trọng tới các sản phẩm văn hóađặc trưng. Với truyền thống văn hóa phong phú, người Hà Nhì có những sản phẩm từ nghề thủ công truyền thống như trang phục, các sản phẩm từ đan lát… Đây là những sản phẩm văn hóacần được bảo tồn và phát triển. Bên cạnh những chủ trương, chính sách chung về phát triển kinh tế, chính quyền địa phương cần tập trung phát triển các nghề thủ công truyền thống. Người dân Hà Nhì biết tận dụng lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng để trồng các loại dược liệu như xuyên khung, đương quy, hoàng sin cô, thảo quả…Tuy nhiên, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa có sự đầu tư theo hướng phát triển thành vùng chuyên canh cho năng suất và sản lượng lớn. Vì vậy, cần mở rộng diện tích trồng, tăng sản lượng, tăng cường giới thiệu hình ảnh, quảng bá các sản phẩm mang tính văn hóađặc trưng để xây dựng thành ngành kinh tế mang đậm dấu ấn địa phương.

Thứ sáu, đẩy mạnh quảng bá,giới thiệu giá trị văn hóa truyền thống, tăng cường giao lưu văn hóa giữa người Hà Nhìvới cộng đồng các dân tộc khác.

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người Hà Nhì về văn hóa dân tộc trước những đòi hỏi của đời sống xã hội thông qua những hình thức phong phú, phù hợp với tâm lý, trình độ nhận thức của người dân. Qua đó, người Hà Nhì có thể nhận thức một cách sâu sắc hơn việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, hướng đến trao truyền, bảo lưu các giá trị văn hóa, để văn hóa người Hà Nhì là một thành tố quan trọng làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam trong đa dạng và thống nhất.

Phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, các cơ quan thông tấn trong quảng bá,giới thiệu về hệ thống giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nhì đến với những dân tộc khác, địa phương khác. Phát huy vai trò của giao lưu văn hóa giữa người Hà Nhì ở Y Tý với cộng đồng bên ngoài để những tinh hoa văn hóa của người Hà Nhì có điều kiện lan tỏa và không ngừng phát triển.

__________________

(1) Cục Thống kê tỉnh Lào Cai: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Lào Cai, Nxb Thống kê, 2019.

nguồn: TRẦN VIỆT HÀ