Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ SAU VỤ KHỦNG BỐ Ở ĐẮK LẮK

Thêu dệt, bóp méo sự thật

Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, Người Phát ngôn Bộ Công an cũng như các cơ quan chức năng đã có các thông tin chính thức với báo chí và tại một số hội nghị, diễn đàn có liên quan. Việc thông tin đảm bảo tính chính xác, kịp thời, giúp người dân trong nước và dư luận quốc tế nắm được thông tin, bản chất vụ án, ủng hộ cơ quan chức năng tích cực điều tra, làm rõ để xử lý trước pháp luật; đồng thời lên án các cá nhân, tổ chức đứng sau vụ án, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu gây bất ổn tại khu vực Tây Nguyên.

Ngày 23/6/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố vụ án “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm và tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép”; ra các quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với 75 bị can.

Tuy nhiên, sau khi vụ án xảy ra, trên nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng cá nhân của các đối tượng chống đối đã tung ra thông tin sai sự thật, các hình ảnh được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên.

Báo điện tử BBC Tiếng Việt ngày 23/6 đăng bài “Câu chuyện Tây Nguyên và người dân sắc tộc của núi rừng trong lòng tôi” đã đưa nhiều thông tin sai sự thật, có các bình luận mang tính chụp mũ, suy diễn. Bài viết cố tình hướng lái sai mục đích, ý nghĩa của vấn đề di dân, phát triển kinh tế ở Tây Nguyên, từ đó quy chụp “không gian của các sắc tộc bị tan vỡ”! Người viết đưa ra những câu từ vừa trái bản chất, vừa mang tính kích động như “Sau biến cố 30/4/1975, Tây Nguyên bước vào kỷ nguyên bị phá vỡ”.

Ngay như khái niệm “đồng bào” vốn là câu chữ thân thuộc, thiêng liêng với cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam thì bài viết cũng cố tình bẻ lệch ý nghĩa, cho rằng “việc gọi các sắc tộc Tây Nguyên bằng từ “đồng bào” không che giấu được toan tính chính trị”, đả kích thành “đây là cách áp đặt văn hóa và mị dân”! Bằng thủ đoạn vờ “đặt vào miệng” của một người không rõ thực hư ở đâu, bài viết này vu cáo “Người Kinh đang đối xử với các sắc tộc Tây Nguyên hơn cả thực dân, bởi thực dân không muốn chiếm đoạt và đồng hóa như thế”; “có quá nhiều người sắc tộc ở Tây Nguyên nói họ không được phép thực hành niềm tin tôn giáo họ chọn”…

Bằng những thủ đoạn đánh tráo bản chất dưới dạng hồi ức, kể lại, nhớ lại, tự bịa ra lời nói của những cá nhân không có thật, bài viết cố tình vẽ ra bức tranh với gam màu xám xịt ở Tây Nguyên rồi quy kết rằng “việc tấn công vào trụ sở Công an tại hai xã vừa qua rất có thể là phản ứng của sự phẫn nộ, phản kháng khi người sắc tộc bị dồn vào đường cùng”! Đây là thủ đoạn vu cáo hết sức nguy hiểm nhằm kích động chống phá từ bên trong và gây sự hiểu lầm, tạo sức ép từ bên ngoài.

Đài Á châu tự do (RFA) đưa bài mang rõ tính kích động, xuyên tạc chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta khi nói rằng, giải pháp cho các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo ở Tây Nguyên đều lặp lại điệp khúc cách đây hàng chục năm. Từ đó bôi nhọ: “Không chỉ nguội mà còn cuội. Cuội là vì trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc và giờ đây lại còn đổ vấy trách nhiệm về biến cố xả súng ở huyện Cư Kuin”!

Trong một bài viết khác, đài này dùng những ngôn từ xảo trá để bóp méo bản chất vụ án khủng bố ở Đắk Lắk, “đánh lái” thành vấn đề xung đột, mâu thuẫn trong các dân tộc ở Tây Nguyên, vu cáo người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên “không chịu được sự áp đảo hiện nay bởi sự thống trị của người Việt đến từ đồng bằng”. Với cách dẫn dắt sai trái này, bài viết nhắm vào chỉ trích Đảng, Nhà nước: “Chính quyền của Đảng Cộng sản bị cáo buộc đàn áp các nhóm sắc dân này, những người đã từng chiến đấu với họ trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, Mỹ…”; “đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên đã bị truất sở hữu đất đai của tổ tiên, nơi mà nhà nước áp dụng chính sách thuộc địa”!

Đài này cũng đưa nhiều phỏng vấn những đối tượng tự xưng là người dân tộc HMong, người Thượng tự nhận là “nạn nhân bị đàn áp tôn giáo” phải bỏ chạy lưu vong hoặc dẫn lời những trường hợp không rõ địa chỉ cụ thể để bôi nhọ tình hình thực tế tại Đắk Lắk. Những đối tượng này cho rằng vụ việc ở Đắk Lắk là “hành động phản kháng của người Tây Nguyên theo đạo Tin lành bị áp bức về đức tin”, là “mâu thuẫn sắc tộc” âm ỉ từ lâu; xuyên tạc bản chất vấn đề bằng chiêu bài “người Kinh áp bức người Thượng”, “người Kinh chiếm đất của người Thượng”…

Cũng với giọng điệu bịa đặt, đả kích, Đài VOA đưa nhiều bài viết đánh lừa người đọc dưới dạng người Thượng ở Tây Nguyên kể chuyện. Trong bài viết “Người Thượng tấn công chính quyền vì tức nước vỡ bờ”, bằng việc dẫn lời của hai trường hợp ở Hoa Kỳ có tên là Y Phíc và Aga - thành viên của tổ chức phản động “Người Thượng vì công lý”, bài viết trích dẫn những nội dung sai trái nhắm vào miệt thị chính quyền, quy cho nguyên nhân vụ khủng bố là “họ đã bị đẩy đuổi đến bước đường cùng”!

Từ việc bịa chuyện mâu thuẫn trong làm ăn, lao động sản xuất giữa người Kinh với người Thượng, bài viết vu cáo “chính quyền không bao giờ cho người dân tự do bày tỏ niềm tin tôn giáo mà họ lựa chọn”; “người Thượng cũng đem những bức xúc của mình đi khiếu nại với chính quyền nhưng không những không được giải quyết mà còn bị bắt bớ, đánh đập”. Từ đó, bài viết đánh tráo bản chất, bôi nhọ thành “chính quyền cộng sản Việt Nam gần như không quan tâm gì đến đồng bào Tây Nguyên”; biện hộ cho hành vi của những kẻ khủng bố rằng “khi bị đẩy vào bước đường cùng thì người dân không còn cách nào khác là sẵn sàng đối diện với cái chết để làm liều”; “khi họ không còn con đường để sống thì họ phải chấp nhận cái chết”…

Thậm chí, VOA còn dẫn lời Y Phic nói rằng, hơn 70 trường hợp bị bắt giữ trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk thì “đa số là người vô tội”, vu cáo “chính quyền nghi ai, ghét ai thì họ đều bắt hết”! Đài VOA dẫn lời Nguyễn Đình Thắng, đối tượng cầm đầu Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) - một tổ chức phản động lưu vong có trụ sở ở bang Virginia (Mỹ) đứng sau vụ tấn công ở Đắk Lắk, xuyên tạc chính quyền buộc người Thượng ở Tây Nguyên phải bỏ đạo, người thiểu số không quy thuận người Kinh...

Lợi dụng vụ án để công kích, miệt thị Đảng, Nhà nước

 

Theo dõi những bài viết nói trên cho thấy, thủ đoạn của các đối tượng là thông qua ngôn ngữ kể chuyện của những nhân vật tự xưng “người Thượng ở Tây Nguyên” để đánh vào tâm lý người đọc, người nghe, người xem rằng đây là chuyện thật do người trong cuộc kể ra. Sự thực, người mà những đài báo này dẫn lời, nếu là “người Thượng ở Tây Nguyên” thì đó là những cái tên không rõ địa chỉ, con người cụ thể mà chỉ mang tính hư cấu.

Còn với “người Thượng ở hải ngoại” thì các bài viết dẫn ra tên người thật, thậm chí cả ảnh thật nhưng là lời của những kẻ chống đối, tham gia các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, như hai trường hợp của tổ chức “người Thượng vì công lý” kể trên. Lời của những đối tượng luôn rắp tâm chống phá đất nước thì lấy gì để nói khách quan ở đây khi cứ hễ nói đến đất nước thì luôn kèm theo những câu từ đầy tính kích động, hằn học kiểu như “chính quyền đàn áp”, “bỏ rơi người Thượng”, “bị trói, bịt miệng”, “đẩy vào đường cùng”, “cùng quẫn nên liều mạng”…

Nội dung trong các bài viết, lời nói dù bằng cách này hay cách khác thì số này đều nhắm vào xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, cho rằng đồng bào bị bỏ rơi, bị chèn ép, đẩy vào khốn cùng. Cùng với đó là xuyên tạc tình cảm, đời sống của đồng bào Tây Nguyên, đưa ra những nội dung sai trái để gây chia rẽ giữa người Kinh với người Thượng, giữa các đồng bào dân tộc thiểu số. Một số bài viết còn xuyên tạc việc chính quyền “lợi dụng vụ việc để đàn áp, truy bức người Thượng”, từ đó đưa ra cái nhìn sai lệch, nhất là gây hiểu lầm đối với dư luận ở nước ngoài, cố tình tạo ra những mâu thuẫn, bất ổn từ bên trong để kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế vào công việc nội bộ của Việt Nam…


 

BÓC MẼ CHIÊU THỨC BÔI ĐEN HÌNH ẢNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ NHẰM MƯU ĐỒ “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI”

     Thời gian gần đây, lợi dụng một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, các thế lực thù địch, phản động ra sức rêu rao, vu cáo "Quân đội ta đã thoái hóa, biến chất...". Từ đó, chúng ra sức tuyên truyền rằng, “không cần phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ vì vô nghĩa”!

Đây là một trong những chiêu thức nguy hiểm được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” trong Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội.

Đủ chiêu trò xuyên tạc, bôi nhọ danh hiệu cao quý của Quân đội ta
Trong tâm thức Bộ đội Cụ Hồ và người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi, thân thương. Bác không chỉ là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mà còn là lãnh tụ tinh thần, niềm tin yêu, biểu tượng cao quý, thiêng liêng, nguồn cội của sự quy tụ, tập hợp, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; dẫn dắt quân và dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhờ có Bác, nhân dân ta có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc; đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay.

Bộ đội ta rất vinh dự, tự hào được mang tên Bác kính yêu. Quân đội ta được thừa hưởng những tài sản đồ sộ và vô giá, được Bác trao truyền, để lại, luôn mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, được cô đọng, kết tinh trong danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ trọn đời vì nước, vì dân. Vì lẽ đó, phẩm chất và hình tượng Bộ đội Cụ Hồ mang giá trị biểu trưng độc đáo, đặc sắc, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của Quân đội và nhân dân ta.

Với tầm ảnh hưởng sâu rộng và sự lan tỏa ngày càng to lớn của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, điều đó đã làm cho các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lo sợ, bất an. Họ hiểu rằng, chừng nào ở nước ta còn có Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thì chừng ấy, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội không thể thực hiện được.

Vì vậy, để bảo tồn “sự sống” của mình, các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta đã cấu kết với nhau, tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ, xóa bỏ vai trò, sức mạnh và tầm ảnh hưởng to lớn của Quân đội ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những chiêu thức xảo quyệt nhất mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện là xuyên tạc, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Mục đích của chiêu trò này nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.

Đây là chiêu thức họ đã và đang rắp tâm thực hiện nhằm hủy hoại thanh danh, uy tín, vị thế của Bộ đội Cụ Hồ; làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, tước bỏ công cụ bạo lực sắc bén, chỗ dựa vững chắc nhất, tin cậy, trung thành nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Chiêu thức nguy hiểm này được các thế lực thù địch ưu tiên khai thác, triệt để sử dụng nhằm tấn công trực diện để hạ bệ “thần tượng Hồ Chí Minh” thông qua mưu đồ “phi đảng hóa” Quân đội-một sự biến dạng đầy gian xảo của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội đã xuất hiện cuối những năm 90 của thế kỷ 20 ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Về bản chất, “phi đảng hóa” hay “phi chính trị hóa” Quân đội chỉ là tên gọi khác nhau nhưng cùng mục đích là tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội ta từ xa lạ đến xa lìa nhân dân, trở nên cô lập, bị vô hiệu hóa bởi mắc mưu “diễn biến hòa bình”.

Điều đó cho thấy, "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai hiện tượng có chung bản chất, thể hiện sự công khai chống phá trắng trợn với tính chất nguy hại vô cùng to lớn của việc thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, hướng lái Quân đội ta chỉ “tuân theo pháp luật”, chỉ phục vụ Tổ quốc, không phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội ta cũng giống như quân đội Liên Xô rơi vào tình trạng “lầm đường lạc lối”, mất sức chiến đấu, trở thành đội quân vô dụng, cho dù có đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại nhưng không thể bảo vệ được Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, không thể bảo vệ thành quả cách mạng của Liên Xô.

Để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, đối lập phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ngày nay với phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Chúng rêu rao rằng, sau khi Cụ Hồ đi vào “thế giới vĩnh hằng”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiếm thế thượng phong”, trở nên “độc quyền, toàn trị”, thì theo đó, hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cũng dần bị “biến dạng, méo mó, không còn thiêng liêng như trước đây”. Thậm chí có kẻ xuyên tạc rằng, ngày nay, Bộ đội Cụ Hồ “chỉ còn lại là cái bóng không hồn”, “một cái tên gọi hồi tưởng của quá khứ” vì Quân đội nhân dân Việt Nam “bị nền kinh thế thị trường nuốt chửng, lợi ích vật chất chi phối và chủ nghĩa cá nhân đã bao phủ bóng đen lên Bộ đội Cụ Hồ”(?!).

Những kẻ xấu đã “vơ đũa cả nắm”, lấy hiện tượng quy về bản chất, lấy ví dụ cụ thể để đơm đặt, thêu dệt thành sự việc phổ biến, cố tình thổi phồng, khoét sâu khuyết điểm của một số quân nhân cấp tá, cấp tướng bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, để vu cáo, nói xấu Quân đội ta...

Giải quyết song hành hai nhiệm vụ “xây” và “chống” để giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ
Với những chiêu thức nêu trên, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta muốn thực hiện mục tiêu kép đó là: Làm suy yếu bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta; dọn đường cho âm mưu bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu”, thực hiện “diễn biến hòa bình”; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều ảo tưởng của họ chỉ có thể diễn ra và đạt được mục đích khi họ thực hiện thành công thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội, xuyên tạc, bôi đen phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội ta. Bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội trên thế giới kể từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ 20 luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta hãy đề cao cảnh giác, không cho phép các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ dưới mọi hình thức; không được phép để xảy ra hiện tượng “phi đảng hóa”, "phi chính trị hóa" Quân đội trước mọi tình huống.  

Việc đấu tranh, làm thất bại âm mưu "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch nhất thiết phải gắn chặt với việc bền bỉ giữ vững, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. Điều đó đặt ra vô cùng cấp bách, cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; đặc biệt quan tâm hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Đây là nhiệm vụ “xây” trong mối quan hệ mật thiết với “chống”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự khẳng định “còn Đảng còn mình”, “còn Bộ đội Cụ Hồ là còn chân lý, niềm tin và lẽ phải”, bởi nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia, dân tộc và uy tín, vị thế, danh dự Bộ đội Cụ Hồ.

Đây cũng là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ bức thiết hàng đầu của công tác tham mưu, đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” được hiện thực hóa trong cuộc sống. 

Có thể nói rằng, “xây” đi đôi với “chống” vừa là áp lực, đồng thời là động lực để Quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả thực hiện nhiệm vụ này được quy định bởi chất lượng, hiệu quả phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội trong tình hình mới. Sự non kém của mặt này sẽ làm suy giảm mặt kia và ngược lại.

Cho nên, giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và đấu tranh phòng, chống "phi đảng hóa", “phi chính trị hóa” Quân đội là hai nhiệm vụ song hành, chung một mục tiêu, làm cho Quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cái gốc vững chắc nhất, vũ khí sắc bén nhất, tạo nên sức mạnh nội sinh vô cùng mạnh mẽ để Quân đội ta bách chiến, bách thắng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp trong tình hình mới./.
Yêu nước ST.

ĐEN -HỒNG VÀ CUỘC TRANH LUẬN NẢY LỬA!

         Sau hai đêm diễn, nhóm nhạc nước ngoài rút đi, để lại ồn ào tranh luận từ bàn trà đến hè phố. Người ủng hộ có, nhưng phần đông thì cho rằng việc thần tượng thái quá ban nhạc đó là chưa phù hợp. Tại nhà anh Hùng cũng có cuộc tranh luận nảy lửa giữa hai vợ chồng sau làn sóng “đen-hồng” (Blackpink):
- Anh không chấp nhận được cách suy nghĩ của em! Không phải anh tiếc gì số tiền gần chục triệu đồng mua vé cho con mà anh thấy, sự thái quá của con khi đóng cửa khóc một mình với ảnh thần tượng sau khi dự đêm nhạc về. Đó là dấu hiệu bị ảnh hưởng không tốt bởi văn hóa ngoại lai, tư tưởng sùng ngoại. Nguyên nhân có cả do anh xa nhà, mải kiếm tiền chu cấp cho gia đình, ít có thời gian quan tâm đến con. Nhưng chính sự nuông chiều, tư tưởng của em đã tiếp tay!
- Em không phủ nhận, em chi tiền cho con đi xem Blackpink là chưa phù hợp. Nhưng quan điểm của anh về việc sính ngoại thì em không chấp nhận được!
- Không chấp nhận được, vì sao?
Cô vợ “phản pháo” không hề kiêng dè:
- Đây, anh xem, bạn bè em ra nước ngoài sinh sống sung sướng, suốt ngày nghỉ ngơi, du lịch, hưởng thụ. Còn anh, đi nhiều, biết nhiều, cũng ra nước ngoài nhiều mà bảo thủ, hà khắc với vợ, con. Tiền thì nhà mình có thiếu đâu. Em nói thật nhé, nếu không vì anh, em sẽ đưa con ra nước ngoài định cư, chứ ở mình vừa nghèo, vừa lạc hậu, làm sao con em có môi trường để phát triển tốt! Hơn nữa, nam-nữ bình đẳng, em cũng có quyền định hướng cho con những gì em thấy cần!

Lúc này, ông Thanh, bố vợ anh Hùng ngồi trong phòng nghe được câu chuyện, bước ra, giận dữ tiến thẳng đến trước mặt con gái:
- Chồng con nói không sai đâu! Bây giờ thì bố đã hiểu vì sao con không muốn đưa cháu về quê chơi. Các cháu nghỉ hè mà con cũng nấn ná không đưa về thăm ông bà, để bố phải lên tận đây thăm cháu. Mấy hôm nay, có bố ở đây mà con và con gái của con cứ nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt khiến bố cảm thấy mình như người thừa. Bố nghĩ, chính con là người có tư tưởng sính ngoại, thậm chí coi thường các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bố không ngờ con lại chỉ vì bản thân, chỉ muốn hưởng thụ, không coi gia đình, bố mẹ, quê hương ra gì. Vì sao hả con gái? Hay do bố dạy dỗ con chưa đến nơi, đến chốn?
- Dạ, thì con... con thấy bạn bè ra nước ngoài sinh sống đều như vậy. Hơn nữa, con thấy điều đó có gì sai đâu bố?
- Bố phải nói để con hiểu thế này nhé. Bố mẹ và các con đều sinh ra ở làng quê. Biết bao giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, truyền thống của cha ông thì con không học, không dạy các cháu. Giờ con trưởng thành lại xa rời truyền thống, thậm chí tiêm nhiễm vào suy nghĩ của bọn trẻ. Con thử nghĩ xem, đến một ngày, chúng quên mất nguồn cội, quên cả ông bà, cha mẹ, quê hương, bản quán, thậm chí quên cả tiếng mẹ đẻ thì có đau lòng không? Hơn nữa, chính con đang tiếp tay cho những kẻ có dã tâm tiêm nhiễm vào lớp trẻ lối sống thực dụng, tôn thờ vật chất, coi thường các giá trị đạo đức và văn hóa truyền thống. Làm vậy là phá vỡ nền nếp gia đình, xa hơn là phá vỡ trật tự xã hội và chính đất nước này. Con coi văn hóa ngoại lai là màu hồng, coi gia phong, truyền thống là màu đen. Suy nghĩ của con đang "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thế là rất sai, con gái ạ!

Thấy bố vừa nói, vừa rưng rưng, vợ anh Hùng tỉnh ngộ, ôm lấy bố rồi đưa mắt nhìn chồng khóc:
- Con xin lỗi bố, con sai rồi! Con sẽ suy nghĩ lại và bảo ban cháu không như vậy nữa ạ!
Yêu nước ST.

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU “NHÂN QUYỀN CAO HƠN CHỦ QUYỀN”, “QUYỀN CON NGƯỜI LÀ PHI GIAI CẤP”!

Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế. Thực chất, không có quốc gia nào trên thế giới chấp nhận “nhân quyền cao hơn chủ quyền” và trong từng quốc gia luôn có giai cấp đóng vai trò trung tâm. Thế nên, những ai cổ xúy cho quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền con người là phi giai cấp” là hoàn toàn sai trái, cần phải bác bỏ!

Sự phi lý của luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”
Quyền con người (nhân quyền) là tổng hợp các quyền và tự do cơ bản để đánh giá địa vị pháp lý của cá nhân. Quyền con người và pháp luật luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, quyền con người là vấn đề quan trọng của mọi hệ thống pháp luật; khi thực tiễn lịch sử đã minh chứng quyền con người chỉ có thể ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật.

Quyền con người vốn là vấn đề thuộc lĩnh vực đạo đức, song trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng, quyền con người luôn bị một số quốc gia phương Tây chính trị hóa. Lâu nay, các nước phương Tây thường rêu rao cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền lực nhà nước ở một quốc gia không được đàn áp nhân quyền”. Về thực chất, quan điểm này đã đối lập quyền con người với chủ quyền quốc gia. Họ lập luận một cách phi lý rằng, vấn đề quyền con người không thuộc công việc nội bộ của một nước.

Thậm chí, một số nước phương Tây còn quy chụp rằng: “Việc Việt Nam nhấn mạnh chủ quyền quốc gia cao hơn tất cả, trên thực tế là lấy danh nghĩa duy trì chủ quyền quốc gia để duy trì quyền lực thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!).

Việc cho rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là hoàn toàn phi lý. Bởi lẽ, muốn hiện thực hóa được các quyền con người phải có các tiền đề, điều kiện nhất định. Điều kiện tiên quyết là đất nước phải được độc lập, chủ quyền quốc gia phải được tôn trọng theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam và nhiều nước trên thế giới trải qua đấu tranh giành độc lập, giữ vững chủ quyền dân tộc đã chứng minh, đất nước bị nô lệ thì người dân không có tự do, các quyền con người sẽ bị chà đạp nghiêm trọng. Do vậy, các dân tộc bị áp bức đã quyết tâm giành và giữ nền độc lập.

Tất yếu, chủ quyền quốc gia không tách khỏi nhân quyền và nhân quyền không thể cao hơn chủ quyền. Cho nên có thể khẳng định: Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để bảo đảm quyền con người.

Mặt khác, để bảo đảm quyền con người, trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm có tính chất pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện nhân quyền quốc tế, chẳng hạn như: Nghị quyết 2625 của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24-10-1970 đã đưa ra Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó khẳng định các nguyên tắc, như nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào những vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác.

Chính Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh: “Không quốc gia nào, kể cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia”. Xét cho cùng, trong luật pháp quốc tế, quốc gia giữ vị trí quan trọng nhất. Do vậy, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là một đòi hỏi phi lý.

Trên thế giới đã có nhiều nước lớn nhân danh “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, dẫn đến nhiều hệ lụy như bất ổn chính trị, xáo trộn sự ổn định xã hội, kinh tế không phát triển. Điều đó chỉ nhằm phục vụ lợi ích cho các thế lực cường quyền.

Hơn ai hết, mỗi người dân Việt Nam đều thấu hiểu độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người. Bản chất của Nhà nước Việt Nam là nhà nước vì con người và bảo vệ quyền con người. Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, ngay sau khi giành được độc lập, quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp năm 1946 ghi nhận và sau đó tiếp tục được củng cố, mở rộng trong các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013.

Điều 3 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện cơ bản các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”.

Do vậy, quyền con người luôn cần phải được bảo vệ bằng chủ quyền quốc gia. Thực tiễn và cơ sở pháp lý đó không một ai, không một thế lực nào có thể bác bỏ được.

Không có cái gọi là “quyền con người là phi giai cấp” trên thế giới
Hiện nay, có một số nhà khoa học nhân danh “tự do học thuật” đã lớn tiếng rêu rao luận điểm “quyền con người là phi giai cấp” làm cho không ít người mơ hồ về vấn đề này. Thực chất, những người đưa ra luận điểm này cố tình đánh tráo khái niệm, đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xa rời bản chất giai cấp công nhân; phá vỡ sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu khoa học. Ý đồ sâu xa hơn, các “học giả” đưa ra luận điểm “quyền con người là phi giai cấp” nhằm phủ nhận quan điểm của Đảng ta về quyền con người.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, bản chất quyền con người và thực hiện quyền con người luôn mang tính giai cấp sâu sắc. Bởi lẽ, con người sinh ra vốn đã có đặc quyền, đó là quyền tự nhiên.

Các quyền này tồn tại dưới dạng những nhu cầu, do chính phẩm giá con người quy định. Nhưng để trở thành quyền, những nhu cầu ấy cần phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Song, pháp luật luôn gắn liền với nhà nước, luôn bị chi phối bởi các thể chế chính trị cụ thể. Cho nên, nội dung của pháp luật luôn nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội. Khi pháp luật thừa nhận quyền của giai cấp thống trị cũng đồng thời hạn chế quyền của giai cấp đối lập, không thể có quyền trừu tượng siêu giai cấp, quyền con người phi giai cấp chỉ là ảo tưởng.

Bên cạnh đó, sự tồn tại của giai cấp thống trị luôn gắn liền với sự tồn tại của xã hội. Nhằm bảo vệ địa vị thống trị và do kết quả đấu tranh giai cấp nên bất kỳ giai cấp thống trị nào cũng đều buộc phải thừa nhận những mức độ nhất định về quyền của các giai cấp khác. Sự phát triển của lịch sử nhân loại luôn khẳng định sự kế thừa và phát triển của các giai đoạn lịch sử về sau đối với giai đoạn trước, luôn vận động theo quy luật tiến tới những giá trị tiến bộ, văn minh, nhân đạo, nhân văn. Do vậy, tính giai cấp luôn gắn liền với tính nhân loại của quyền con người.

Trong phạm vi quốc gia, quan điểm giai cấp thể hiện ở các chính sách bảo vệ hệ thống chính trị và chế độ xã hội hiện hữu, bảo vệ lợi ích giai cấp cầm quyền và các giai cấp, tầng lớp xã hội đã đấu tranh bảo vệ xã hội đó. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản động, phản tiến bộ.

Trong thế kỷ 20, tính giai cấp của quyền con người được biểu hiện bằng cuộc đấu tranh giữa hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN). Hiện nay, cuộc đấu tranh này biểu hiện dưới hình thức thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và đấu tranh chống lại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của thế lực phản động đối với các nước đi theo con đường XHCN và độc lập dân tộc.

Trong xã hội Việt Nam, tính giai cấp của quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ cập của quyền con người. Điều đó đã được thể hiện rõ trong các văn kiện pháp lý quan trọng như: Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013, cùng với hơn 13.000 văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã dành hẳn chương II để hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp năm 2013 là dấu mốc quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, vì Hiến pháp đề cập toàn diện các quyền con người và cách thức tổ chức, bộ máy bảo đảm và bảo vệ quyền con người.

Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của hầu hết điều ước quốc tế chủ yếu về quyền con người, trong đó có hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966. Theo quy định của Luật Nhân quyền quốc tế, khi điều ước quốc tế có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên thì quốc gia phải tận tâm thực hiện điều ước, theo nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện điều ước quốc tế.

Như vậy, ở Việt Nam, quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không có sự phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, giới tính. Điều 16 Hiến pháp năm 2013 hiến định: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Thực chất bảo đảm quyền con người ở Việt Nam nằm trong mục tiêu xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định nhất quán phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cốt lõi của việc thực hiện và bảo đảm quyền con người là trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước luôn "lấy dân làm gốc”.

Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Xã hội XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng trong xã hội”.

Như vậy có thể khẳng định rằng, quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là giá trị chung của các dân tộc. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, quyền con người là một phạm trù lịch sử và biến đổi trong lịch sử; là kết tinh của xã hội loài người trên 5 phương diện: Tái sản xuất vật chất, tinh thần, con người, nhu cầu và ý thức.

Suy cho cùng, quyền con người gồm các quyền sống, quyền lao động và quyền tự do. Các quyền này thể hiện 3 phương diện cơ bản nhất của đời sống xã hội của con người: Con người trước hết phải được tồn tại (quyền sống); con người phải được hoạt động (quyền lao động) và con người phải được khẳng định, được phát triển (quyền tự do). Quyền con người gắn với nhà nước và pháp luật, giành lấy quyền con người là mục tiêu cơ bản của cách mạng XHCN.

Ngày nay, quyền con người được xem là thước đo sự tiến bộ và trình độ văn minh của các xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa. Đồng thời, quyền con người chứa đựng những giá trị chung toàn nhân loại, nhưng chỉ trong điều kiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; các quyền sống, quyền lao động, quyền mưu cầu hạnh phúc mới bảo đảm cho mỗi người và cho mọi dân tộc.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định bảo đảm quyền con người thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN ở nước ta, là trách nhiệm của hệ thống chính trị. Bảo đảm quyền con người của nhân dân Việt Nam, đồng thời tôn trọng quyền con người của các dân tộc khác nhằm thúc đẩy hòa bình, phát triển ở mỗi quốc gia và trên thế giới thông qua đối thoại, hợp tác quốc tế./.
Yêu nước ST.

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG KHÔNG PHẢI LÀ " SỰ ĂN MAY"!

         Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả tất yếu của một quá trình chuẩn bị lâu dài, trải qua 3 cuộc vận động cách mạng lớn để khi tình thế trực tiếp xuất hiện, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, toàn thể nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân!
Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, tạo thế, tạo lực và nắm bắt đúng thời cơ mà chỉ trong vòng hai tuần (từ ngày 14 đến 28-8-1945), cuộc tổng khởi nghĩa đã nổ ra và giành thắng lợi trên phạm vi cả nước. Sự thật lịch sử là như vậy. Ấy thế mà gần 8 thập niên trôi qua kể từ khi diễn ra sự kiện này, vẫn còn có những ý kiến cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam bùng nổ và thành công nhanh chóng chẳng qua là một “sự ăn may” do khách quan mang lại, nhờ vào cái gọi là “khoảng trống quyền lực” và nhờ vào việc “quân đội Nhật Bản đã đầu hàng quân Đồng minh”... Trong số đó, có người chưa hiểu thấu đáo, nhưng cũng có người cố tình không hiểu nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, hạ thấp vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc cách mạng vĩ đại này, làm lu mờ ý nghĩa to lớn của nó. Vậy đâu là sự thật lịch sử?

Trước hết, cần phải khẳng định, trong khoảng thời gian từ khi quân Nhật làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp (9-3-1945) đến ngày Hà Nội tổng khởi nghĩa thành công (19-8-1945), ở Việt Nam không hề tồn tại một “khoảng trống quyền lực” nào cả.

Như nhiều người đã biết, ngay sau cuộc đảo chính lật đổ quân Pháp, Tập đoàn quân 38 của Nhật đã nhanh chóng thiết lập bộ máy thống trị giành quyền kiểm soát trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và Đông Dương. Các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng... đều đặt dưới sự kiểm soát của quân Nhật. Chính phủ Trần Trọng Kim-một bộ máy chính quyền do Nhật dựng lên-tuy không nắm thực quyền nhưng vẫn là một chính phủ đầy đủ ban bệ. Chính phủ này cho đến ngày 17-8 vẫn còn cử người liên lạc, “mặc cả” với Việt Minh đòi chia sẻ quyền lực.

Trước đó, ngày 14-8, một ngày sau khi Ủy ban khởi nghĩa phát đi bản Quân lệnh số 1, Chính phủ Trần Trọng Kim còn ra tuyên bố “Nhất quyết không chịu lùi một bước trước một khó khăn nào để làm tròn sứ mệnh...” và họ cam đoan “vẫn hợp tác chặt chẽ với nhà đương cục Nhật”(1). Ngay trong ngày 19-8, tại Hà Nội vẫn còn diễn ra một cuộc “dàn xếp thỏa hiệp” giữa chính phủ Trần Trọng Kim với chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật. Tuy nhiên sự thỏa hiệp đó bất thành.

"Mau lẹ, kịp thời nổ ra đúng lúc phải nổ. Đó là đặc điểm nổi bật của Cách mạng tháng Tám năm 1945" - Đồng chí Trường Chinh
Để tăng thêm phần thuyết phục, có người lý giải nguyên nhân dẫn đến “khoảng trống quyền lực” ở Việt Nam thời điểm này là do “Chính sách của đồng minh đối với Đông Dương trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8-1945 là ngu dốt và quên lãng; còn chính sách của Pháp thì bối rối và bất lực”(2). Thực tế có phải vậy?

Qua các nguồn tư liệu cho thấy, lúc bấy giờ cả Anh, Mỹ và Pháp đều thừa hiểu sớm muộn gì thì phát xít Nhật cũng lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương. Mặc dù vậy, họ đều không thể làm gì được để xoay chuyển tình thế vì lúc bấy giờ cả Anh và Mỹ còn có những tính toán và theo đuổi mục tiêu khác quan trọng hơn. Vào thời điểm này (sau ngày 9-3) trên thực tế đồng minh chưa đủ sức để có thể đánh bại được đạo quân Nhật ở Đông Dương. Còn phía Pháp thì “lực bất tòng tâm”. Sau đảo chính, phần lớn quân Pháp bị Nhật bắt và giải giáp, một số chạy thoát được sang Lào thì rệu rã, giảm sút nhuệ khí. Pháp gần như không còn có vai trò đáng kể ở Việt Nam kể từ sau sự kiện ngày 9-3. Đến tận ngày 17-8, Pháp mới quyết định bổ nhiệm D’Argenlieu làm Cao ủy và Leclerc làm Tổng chỉ huy chuẩn bị đưa quân trở lại Đông Dương và tới ngày 12-9, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời được 10 ngày thì đơn vị quân Pháp đầu tiên mới theo gót quân Anh tới Sài Gòn. Có thể nói, đối tượng chính của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là phát xít Nhật và bộ máy chính quyền tay sai do Nhật dựng lên chứ không phải là Pháp.

Chưa dừng lại ở những luận điểm nêu trên, một số người còn cho rằng Cách mạng Tháng Tám đã bùng nổ sau khi Nhật Bản chấp nhận đầu hàng không điều kiện các lực lượng Đồng minh chống phát xít và quân đội Nhật ở Việt Nam đã mất nhuệ khí, không còn chống cự.

Sự thật không phải như vậy, mà thực tế là: 12 giờ ngày 15-8, qua đài Tokyo, Nhật hoàng Hirohito đọc chiếu chỉ “xin chấp nhận bản Tuyên bố Postdam ngày 26-7”. Điều đáng nói đây chưa phải là một tuyên bố chấp nhận “đầu hàng vô điều kiện”, mà mới chỉ là một đề nghị ngừng bắn. Hơn nữa, bản chiếu chỉ đó cũng chưa được chuyển đạt tới cho Tập đoàn quân 38 của Nhật ở Đông Dương.

Theo ông Lê Trọng Nghĩa (Ủy viên Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội năm 1945, sau này là Cục trưởng Cục Quân báo), người được giao trực tiếp đi gặp Đại sứ Nhật Bản Tsukamoto vào tối 19-8-1945 thì phải đến ngày 21-8, tức là hai ngày sau khi Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội, chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật ở Việt Nam mới nhận được lệnh “đình chỉ chiến tranh”. Khi chiếc máy bay chở Thiếu tá Patti, chỉ huy đội “tiền trạm” của quân đồng minh vừa vào tới vùng trời Hà Nội định đáp xuống sân bay Bạch Mai thì bị lực lượng phòng không của Nhật nã đạn buộc phải quay trở lại Côn Minh.

Ngày 22-8, chiếc máy bay này tiếp tục đáp xuống sân bay Gia Lâm trong khi các sĩ quan Nhật tại đây vẫn chưa nhận được chỉ thị gì cả. Trước đó, trong các ngày 17, 18-8, tại Hà Nội, quân Nhật vẫn rất hung hăng, xe tăng, các chốt kiểm soát vẫn luôn sẵn sàng nã đạn gây tình hình rất căng thẳng. Tại nhiều địa phương đã nổ ra những cuộc đụng độ giữa các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân và LLVT cách mạng Việt Nam với quân Nhật...

Điểm qua một số sự kiện như trên để thấy rằng Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam nổ ra và thành công trong bối cảnh quân đội Nhật Bản ở Đông Dương vẫn chưa đầu hàng các lực lượng Đồng minh chống phát xít và đạo quân phương Nam của Nhật ở Đông Dương tuy có suy giảm về tinh thần nhưng thực lực vẫn còn đang sung sức.

Thời cơ tổng khởi nghĩa chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng đó là “thời cơ vàng” mà Đảng ta, đứng đầu là Bác Hồ đã kịp thời chớp lấy, lãnh đạo toàn dân dốc toàn lực tung ra đòn quyết định giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh nhất. Tổng khởi nghĩa nổ ra vào thời điểm khi mà ở trong nước, cao trào kháng Nhật, cứu nước đã phát triển lên đến đỉnh cao, chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật tuy chưa nhận được lệnh ngừng bắn nhưng tỏ ra bối rối trước diễn biến của tình hình; chính quyền tay sai hoang mang và tỏ ra bất lực; quân Nhật ở Đông Dương tuy còn đông và trang bị mạnh nhưng nhuệ khí và tinh thần chiến đấu đã suy giảm; quân đội Anh, Pháp, Tưởng thì chưa kịp kéo vào.

Phải một tuần sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, ngày 9-9 phái đoàn tiền trạm của Trung Hoa Dân quốc do Tiêu Văn dẫn đầu mới tới Hà Nội, sau đó, ngày 14-9 là bộ sậu của Lư Hán và tới ngày 28-9-1945, lễ đầu hàng của quân đội Nhật Bản mới chính thức diễn ra tại Hà Nội. Đây là thời cơ ngàn năm có một cho Tổng khởi nghĩa. Bởi nếu Tổng khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, khi Nhật chưa chấp nhận bản Tuyên bố Postdam của đồng minh thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Nhưng nếu nổ ra muộn hơn, khi quân Anh, Pháp và Tưởng đã kéo vào núp dưới cái ô “giải giáp quân Nhật” thì thời cơ thuận lợi nhất có thể sẽ trôi qua. Không phải ngẫu nhiên mà lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh mặc dù đang ốm nặng vẫn cố gượng dậy căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.

"Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cách mạng của những người Việt Nam nổi lên như là một trong những cuộc cách mạng có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất"-Stein Tonnesson, học giả người Na Uy.
Cách mạng Tháng Tám diễn ra và kết thúc nhanh gọn trên phạm vi cả nước. Có được điều kỳ diệu đó “căn bản là do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy cơ hội thuận lợi nhất, khởi nghĩa giành chính quyền nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng LLVT và thành lập các khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị, và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi, không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng không thể mau chóng giành được thắng lợi”(3).

Quá trình tạo thế, tạo lực để đón thời cơ đã được Đảng ta chuẩn bị từ rất sớm, ngay từ Hội nghị Trung ương 6 (1939), Hội nghị Trung ương 7 (1940) và đặc biệt là Hội nghị Trung ương 8 (1941)-hội nghị hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Với nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trở thành nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng và toàn dân Việt Nam. Mặt trận Việt Minh ra đời. Việc xây dựng LLVT được định hình cụ thể cùng với việc xây dựng và mở rộng các căn cứ địa cách mạng... Tất cả đều nhằm sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của tình thế, để không bỏ lỡ thời cơ chiến lược một khi nó xuất hiện.

Như vậy, có thể khẳng định, nhờ có một quá trình chuẩn bị chu đáo, tạo thế, tạo lực cho cách mạng, khi tình thế biến chuyển, thời cơ xuất hiện, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời nắm bắt thời cơ, phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa mới là nhân tố chính đưa đến thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chứ tuyệt nhiên không phải là một “sự ăn may”, “do yếu tố khách quan mang lại” như một số ý kiến đã ngộ nhận./.
(1) Trần Quang Huy: “19/8-Cách mạng Tháng Tám là sáng tạo”, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, H.1995.
(2) Stein Tonnesson: The Vietnamese Revolution à 1945: Roosevell, Ho Chi Minh and De Gaulle in a world at War (Cách mạng Việt Nam năm 1945-Roosevell, Hồ Chí Minh và De Gaulle trong một thế giới chiến tranh), Nxb London-New Delhi 1991.
(3) Văn kiện quân sự của Đảng, NXB Quân đội nhân dân, H.1969.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 24 THÁNG 8 NĂM 1958!

         “Giữ gìn trật tự, trị an tốt thì dân mới an cư lạc nghiệp. Muốn giữ gìn trật tự, an ninh tốt, phải dựa vào nhân dân để ngăn ngừa bọn làm trái phép”!
     Lời huấn thị của Bác tại buổi nói chuyện với cán bộ và đại biểu nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai, ngày 24/8/1958.
     Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội, môi trường hoà bình, hợp tác, tạo thế và lực cho sự phát triển của đất nước, cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu xuyên suốt của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác. Do vậy, cần phải phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; vai trò làm chủ, sức mạnh tiềm tàng của Nhân dân, thực sự là “tai mắt”, là chỗ dựa tin cậy để các lực lượng chức năng (nòng cốt là Công an Nhân dân) đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch và tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, cuộc sống của Nhân dân.
     Thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh việc quán triệt và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đã chủ động, tích cực phối hợp với Công an Nhân dân giữ vững an ninh chính trị, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống theo đúng tinh thần Nghị định số 03/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phong; tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển ổn định, bền vững đất nước; giữ gìn cuộc sống bình yên của Nhân dân. Cán bộ, chiến sỹ toàn quân luôn khắc ghi và làm đúng lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với Nhân dân; hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả Phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, Phong trào “Quân đội chung tay vì người nghèo- không để ai bị bỏ lại phía sau”; tích cực giúp dân xóa đói, giảm nghèo… thiết thực góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC


Công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS); cổ vũ, động viên họ thực hiện chính sách; đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội...
Trong bối cảnh hiện nay, công tác này càng cần được quan tâm và có những giải pháp kịp thời để nâng cao chất lượng nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống đồng bào nhanh và hiệu quả hơn nữa.
1. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta luôn chú trọng đến vùng đồng bào các dân tộc, miền núi và đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối về vấn đề dân tộc. Những chủ trương, đường lối mới về vấn đề dân tộc được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội, nhất là vùng đồng bào DTTS, được đồng bào các dân tộc đón nhận, ủng hộ và tích cực tổ chức thực hiện; đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng. Đặc biệt, giai đoạn từ năm 2001 đến nay, công tác thông tin, tuyên truyền được đầu tư mạnh mẽ, có nhiều lực lượng tham gia từ đội ngũ cán bộ cơ sở đến đội ngũ già làng, trưởng bản, người uy tín, chức sắc, chức việc tôn giáo; từ bộ đội, công an đến giáo viên, nhân viên y tế ở cơ sở…
Trong các loại hình tuyên truyền, báo chí là một trong những phương thức quan trọng nhất. Với việc cấp phát báo in và radio miễn phí cho đồng bào ở một số vùng, lắp đặt các trạm phát thanh, phát sóng truyền hình, mạng Internet... hầu hết người dân ở vùng đồng bào DTTS có điều kiện tiếp cận với các loại hình báo chí, đọc sách, nghe đài, xem tivi, đọc báo điện tử, trang thông tin điện tử trên máy tính hoặc điện thoại thông minh. Hệ thống đài truyền thanh cấp huyện và cấp xã bên cạnh việc tiếp sóng đài trung ương, đài tỉnh còn có chương trình phát thanh riêng, phát ngày 2 đến 3 lần vào sáng sớm, trưa và chiều tối, cung cấp nhiều thông tin thiết yếu đến đồng bào; phát huy vai trò là phương tiện, công cụ hữu hiệu phục vụ hoạt động thông tin, tuyên truyền ở cơ sở; góp phần phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương.
Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền miệng đã thực sự trở thành một trong những kênh thông tin quan trọng, có hiệu quả trong công tác tuyên truyền. Các báo cáo viên, tuyên truyền viên ở vùng đồng bào DTTS đã bám sát cơ sở, từng bước đổi mới phương thức thông tin phù hợp với trình độ nhận thức và nhu cầu của người dân. Các sự kiện chính trị, những vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở thông tin một cách đổi mới, sáng tạo, có tính thuyết phục hơn đối với người dân.
Hình thức chiếu phim lưu động vẫn đang là một kênh thông tin, tuyên truyền mang lại hiệu quả truyền thông tích cực ở vùng đồng bào DTTS. Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chính sách đặc thù hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến phim tới vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn”; các đội chiếu phim lưu động của các địa phương đã thực hiện 1.176 buổi chiếu phim trên màn hình rộng; bình quân mỗi đội chiếu phim lưu động phục vụ gần 120 buổi/năm với nội dung phim đa dạng, phong phú, nguồn phim được đổi mới, thuyết minh bằng cả tiếng kinh và tiếng đồng bào DTTS (Mường, Mông, Khmer…).
Nhiều địa phương, nhất là ở vùng Tây Bắc đã triển khai thực hiện Ðề án Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng. Các dịch vụ thư viện đã được đổi mới đa dạng hóa, liên kết với trung tâm văn hóa, thể thao, trung tâm học tập cộng đồng, điểm bưu điện - văn hóa xã. Hệ thống thư viện lưu động được mở rộng, một số nơi có xe ô tô thư viện lưu động đa phương tiện tới các điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng trên địa bàn. Trung bình mỗi tháng thư viện lưu động triển khai phục vụ sách báo và thông tin lưu động tới một điểm, đã thu hút hàng nghìn lượt người tới đọc sách và truy cập thông tin trên Internet thông qua xuất bản phẩm, nhiều chính sách, pháp luật cũng như các mô hình phát triển sản xuất hay đã đến gần hơn với đồng bào.
Chính sách hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng mạng lưới viễn thông hiện đại và cung cấp các dịch vụ Internet công ích đến với người dân, hỗ trợ đầu thu kỹ thuật số cho các hộ nghèo, cận nghèo... đã góp phần đẩy mạnh công tác truyền thông và nâng cao mức thụ hưởng văn hóa cho đồng bào DTTS. Các cơ quan truyền thông đại chúng tổ chức sản xuất nhiều phim tài liệu, chuyên đề, in băng đĩa về phong tục, tập quán, lễ hội, bản sắc văn hóa của các dân tộc; xuất bản phẩm, tờ rơi, tờ gấp... được phát hành tới thư viện huyện, các xã đặc biệt khó khăn vùng biên giới, các trường phổ thông dân tộc bán trú, nội trú.
2. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về dân tộc vẫn còn một số khó khăn, hạn chế như:
Hiệu quả cung cấp, phổ biến thông tin đến vùng đồng bào DTTS của cơ quan báo chí, truyền thông hiện nay chưa cao. Các tin, bài, chương trình phát thanh, truyền hình phản ánh về đồng bào DTTS tăng về số lượng nhưng chất lượng nội dung còn nhiều hạn chế. Hình ảnh đồng bào DTTS xuất hiện trên báo chí, truyền thông đa số là những hình ảnh nghèo đói, lạc hậu, thiếu hiểu biết về pháp luật. Còn có những bài viết theo khuynh hướng thần bí hóa, lãng mạn hóa hoặc bi kịch hóa, dẫn đến việc hiểu sai lệch về phong tục, tập quán của đồng bào. Trong khi đó, những tấm gương đồng bào DTTS năng động vươn lên trong cuộc sống, thoát nghèo, làm giàu chưa được khai thác nhiều.
Các chương trình phát thanh, truyền hình về đồng bào DTTS nhiều về số lượng, nhưng nội dung nặng về tuyên truyền chính sách, khô cứng, dài dòng, ít chọn lọc, chưa biên tập lại cho phù hợp với trình độ nhận thức, nhu cầu thông tin của đồng bào DTTS. Nhiều ảnh báo chí còn thiếu tính thời sự, chất lượng chưa cao, chưa thực sự đặc sắc và phong phú; các chuyên trang, chuyên mục cũng chưa thể hiện được bản sắc của đồng bào dân tộc; thể loại trình bày còn đơn điệu, chủ yếu là dạng bài phản ánh, rất hiếm bài bình luận, điều tra, phóng sự...
Việc không nắm bắt, hiểu rõ, sâu sắc đời sống văn hóa của người DTTS, cản trở ngôn ngữ, nguồn tin hạn chế, địa bàn xa xôi, hiểm trở… là những nguyên dodẫn đến tác nghiệp báo chí khó khăn trong việc thu thập, khai thác thông tin từ thực tế cuộc sống, sinh hoạt của đồng bào DTTS. Công tác định hướng thông tin, tuyên truyền trong các chương trình chưa được chú trọng, một số vấn đề trong đời sống xã hội của đồng bào DTTS như y tế, giáo dục chưa được đề cập nhiều. Công tác thông tin, tuyên truyền trực tiếp chưa phát huy được hết vai trò, tầm quan trọng. Điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, nhiều nơi thiếu nhà văn hóa, sân chơi thể thao, trang thiết bị cần thiết để phát triển sinh hoạt cộng đồng nên các cuộc họp thôn, bản, ấp phải họp ở nhà riêng, không theo định kỳ, làm cho các sinh hoạt cộng đồng thưa dần. Một số nhà văn hóa thôn, bản ít thu hút được người dân đến do công tác quản lý, sử dụng không tốt, sách, báo không được cấp đầy đủ, không cập nhật thường xuyên. Việc tuyên truyền, thuyết phục của một số già làng, trưởng bản, người có uy tín, tuyên truyền viên cơ sở chưa phát huy được hiệu quả. Các hình thức tuyên truyền cổ động trực quan như panô, áp phích, khẩu hiệu, băng đĩa, phim ảnh… còn ít được áp dụng.
Tỉ lệ tin, bài trên các báo của Trung ương về đồng bào DTTS còn ít (chỉ chiếm khoảng 5 đến 10%); trong đó những bài phản ánh về nguồn lực, tiềm năng của địa phương, thu hút đầu tư, du lịch, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của đồng bào còn thiếu chiều sâu. Các tin, bài, hình ảnh về người DTTS khai thác còn đơn giản, mờ nhạt; bài viết về di sản văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của đồng bào chưa sâu, chưa có tính định hướng cho cộng đồng trong việc nhận thức về gìn giữ tinh hoa văn hóa và những vấn đề cần phát huy trong điều kiện mới. Có rất ít bài viết phản ánh giá trị của luật tục, nhất là những nội dung văn hóa răn dạy con người sống tu dưỡng đạo đức, thương yêu nhau... Những bài viết về bảo vệ môi trường, chống nạn khai thác bừa bãi tài nguyên, phá rừng... chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Việc quảng bá tiềm năng, cơ hội hợp tác, đầu tư mới chỉ ở dạng đưa tin, ít đi vào phân tích, bình luận, so sánh về lợi thế của vùng đồng bào DTTS. Quảng bá du lịch địa phương đã xuất hiện nhiều trên báo chí, truyền thông, nhưng chất lượng chưa cao, nội dung còn đơn điệu. Bên cạnh đó, những bài viết phân tích chính sách, phản biện và tư vấn chính sách, hiến kế phát triển kinh tế - xã hội của các chuyên gia, nhà khoa học, nhất là liên quan đến phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS chưa nhiều.
3. Để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác tuyên truyền, quán triệt, triển khai và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với vùng đồng bào DTTS. Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách; chính vì vậy, mọi quyết định lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống của đồng bào DTTS, phù hợp nguyện vọng chính đáng của đồng bào DTTS thì chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc mới đi vào cuộc sống một cách thiết thực, hiệu quả.
Thứ hai, công tác tuyên truyền cần bám sát thực tiễn đời sống, diễn biến tư tưởng, tâm trạng của đồng bào; các cơ quan báo chí, truyền thông cần tăng cường đưa phóng viên, biên tập viên, cán bộ làm truyền thông xuống cơ sở, thâm nhập thực tế để tìm hiểu, khai thác thông tin, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, phát hiện những mô hình hay, nhân tố mới, điển hình tiên tiến để tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng, hướng dẫn đồng bào học hỏi, vận dụng linh hoạt trong lao động, sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, làm tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân. Có như vậy mới có thể làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đồng bào các DTTS.
Thứ ba, nội dung tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng đến đồng bào DTTS cần phải ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với trình độ nhận thức của đồng bào, phù hợp bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của từng DTTS để đồng bào dễ vận dụng, làm theo. Hình thức thể hiện phải hấp dẫn, lôi cuốn; các tranh, ảnh phải rõ chủ đề, bố cục chặt chẽ, chú thích đầy đủ các thông tin cần thiết.
Thứ tư, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cần lồng ghép với tuyên truyền, phổ biến những vấn đề thiết thực của đời sống hằng ngày như: Việc làm, thu nhập, đất đai, chăm sóc sức khỏe, giáo dục dục - đào tạo, an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, khuyến nông, khuyến lâm, bảo vệ môi trường, vệ sinh phòng bệnh, phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội v.v…với các dẫn chứng cụ thể, sinh động, gần gũi, thiết thực.
Thứ năm, cán bộ truyền thông, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí cần phải am hiểu phong tục, tập quán, thói quen sinh hoạt của đồng bào DTTS. Mỗi DTTS có những nét văn hóa, phong tục, tập quán riêng; vì vậy, cán bộ truyền thông, phóng viên, biên tập viên phải tìm hiểu, nắm rõ để phân tích đúng, sai một cách thấu tình, đạt lý, chỉ ra đâu là các hủ tục, tập quán lạc hậu; trên cơ sở đó tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học, kiến thức pháp luật cho đồng bào. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ tuyên giáo, cán bộ truyền thông, phóng viên, biên tập viên nâng cao trình độ, kỹ năng tác nghiệp và sự hiểu biết về phong tục, tập quán của đồng bào DTTS phải được tổ chức thường xuyên, từ đó khơi dậy tính sáng tạo trong mỗi tác phẩm báo chí, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung.
Thứ sáu, các cơ quan báo chí, truyền thông cần quan tâm xây dựng lực lượng cộng tác viên là người sinh sống trên địa bàn vùng đồng bào DTTS, trong đó chú ý xây dựng cộng tác viên là người DTTS. Trong xây dựng lực lượng cộng tác viên cần sử dụng những người có kinh nghiệm, uy tín trong cộng đồng, những người hiểu rõ phong tục, tập quán của đồng bào, nắm bắt được những đặc điểm tâm lý, diễn biến tư tưởng của đồng bào.
Thứ bảy, phát huy vai trò người có uy tín, các chức sắc, chức việc tôn giáo, già làng, trưởng bản… Họ chính là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với người dân ở vùng đồng bào DTTS; là người có vai trò ảnh hưởng lớn đến đồng bào; tích cực, gương mẫu đi đầu trong tuyên truyền, thực hiện và vận động đồng bào hưởng ứng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; đấu tranh phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần tích cực trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc.
Thứ tám, chú trọng đấu tranh với các thông tin, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn đời sống đồng bào DTTS; nâng cao nhận thức, ý thức nhằm tăng cường “sức đề kháng” của cán bộ, đảng viên đồng bào DTTS trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc./.
Tạp chí Tuyên giáo

TINH THẦN NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9 ĐỜI ĐỜI BẤT DIỆT


Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Cũng với Tuyên ngôn 2-9, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà mình dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Cuối tháng 1- 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng trong giai đoạn chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám do Hồ Chí Minh chủ trì, đã khẳng định rằng cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, theo tinh thần dân chủ mới; và chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới sẽ là của chung của toàn thể dân tộc.
Năm 1945, tình hình trong nước biến chuyển rất mau lẹ. Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Quân Đồng minh chuẩn bị kéo vào nước ta để giải giáp vũ khí của Nhật. Thực dân Pháp cũng đang ráo riết chuẩn bị quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Tình thế lúc này là vô cùng khẩn cấp, nhưng cũng là thời cơ ngàn năm có một, nếu để trôi qua thì sẽ không bao giờ trở lại. Cần phải chớp thời cơ, dũng cảm và kiên quyết, kịp thời tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chiếm thế thượng phong trước các thế lực đang nhăm nhe thôn tính Việt Nam, xác lập địa vị làm chủ đất nước của chính quyền nhân dân trước khi Đồng minh kéo vào nước ta và thực dân Pháp quay trở lại. Với nhãn quan cách mạng vô cùng sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho bằng được nền độc lập cho Tổ quốc.
Trong hai ngày 16 và 17-8-1945, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Tổng bộ Việt Minh tổ chức khai mạc Quốc dân Đại hội Tân Trào. Đại hội đã thông qua chủ trương phát động tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. Đại hội cũng thông qua nhiều chính sách lớn về đối nội, đối ngoại; thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, bao gồm 15 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch.
Với sự lãnh đạo tài tình của Hồ Chí Minh, Tổng khởi nghĩa Mùa thu tháng Tám 1945 đã giành thắng lợi vang dội, xoá bỏ ách thống trị của phong kiến, thực dân; quyền làm chủ đất nước lần đầu tiên được trao về tay nhân dân lao động.
Sau khởi nghĩa, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã đã bổ sung thêm nhiều nhân sỹ, trí thức có tâm huyết và tinh thần yêu nước, thành lập Chính phủ Lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 2-9-1945, trên lễ đài lớn tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân, bao gồm hàng trăm ngàn đồng bào Hà Nội và cả nước đổ về tụ hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt đầu từ nay Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra đời. Tuyên ngôn nhấn mạnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Tất cả các quyền đó đều là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc trên thế giới. Tuyên ngôn khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xit mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!
"...Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”
Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Cũng với Tuyên ngôn 2-9, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà mình dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Và cũng bắt đầu từ Tuyên ngôn 2-9, người dân Việt Nam bắt đầu một cuộc sống mới. Phấn khởi và tự hào, tất cả mọi công dân Việt Nam bắt tay vào sự nghiệp đấu tranh đầy gian khổ hy sinh, không tiếc của cải và cả xương máu của mình, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. 69 năm qua là cả một quá trình phấn đấu hy sinh không gì so sánh nổi của cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam hôm nay.
Ngày nay đất nước ta đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần; Việt Nam đã trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế. Kỷ niệm 69 năm ngày Quốc khánh 2-9, mỗi người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu, ngay trong lòng đất mẹ hoặc ở xa Tổ quốc, cũng không khỏi xúc động bồi hồi, khi nhớ lại khí thế đầy hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày đầu cách mạng, đặc biệt là ngày Quốc khánh 2-9-1945 lịch sử, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất lên giọng nói ấm áp của Người, đọc Tuyên ngôn 2-9, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, tinh thần của ngày Quốc khánh 2-9 sẽ đời đời bất diệt./.
Đảng Cộng sản Việt Nam

HẾT LÒNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂN

 

Lịch sử cách mạng hào hùng của dân tộc ta khắc ghi tên tuổi của nhiều chiến sĩ cộng sản, những người lãnh đạo, những nhà quân sự tài năng, đức độ, bản lĩnh. Một trong những nhà quân sự tài năng, đức độ, bản lĩnh đó là Trung tướng Nguyễn Bình.
Hội thảo “Trung tướng Nguyễn Bình - Nhà quân sự tài năng, đức độ” được Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 7 vừa qua nhân kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Trung tướng Nguyễn Bình (30/7/1908-30/7/2023). Một lần nữa, chân dung về người Trung tướng đầy tài năng quê ở Hưng Yên nhưng có nhiều đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền nam được các nhà khoa học, chuyên gia phân tích, đánh giá một cách cặn kẽ, sâu sắc.
Nguyễn Bình là người cộng sản chân chính ngay từ khi chưa là đảng viên, một tài năng quân sự bẩm sinh, người chỉ huy có tư chất đặc biệt. Ông luôn đi theo con đường lý tưởng cách mạng chân chính, không những nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao mà còn chủ động vận động quần chúng nhân dân theo Việt Minh. Từ năm 1944, khi về hoạt động tại Hà Nội, Hải Phòng, ông xuống cả Hưng Yên, Đông Triều, Quảng Yên, Hòn Gai… để tìm mua vũ khí, xây dựng cơ sở Việt Minh. Ông còn vận động tướng tá, binh sĩ trong quân đội Nhật chuyển hướng theo cách mạng.
Với tư duy chiến lược, tầm nhìn xa, trông rộng của một chiến sĩ cách mạng trưởng thành từ thực tiễn đấu tranh, từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Trung tướng Nguyễn Bình nhanh chóng chuẩn bị vũ trang, xây dựng căn cứ du kích Đông Triều. Cùng với Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch, “Đệ tứ chiến khu Đông Triều” (hay còn gọi là Chiến khu Trần Hưng Đạo) chính thức ra đời. Đây là căn cứ địa có ý nghĩa và tầm quan trọng về nhiều mặt trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong Cách mạng Tháng Tám ở vùng duyên hải Đông Bắc Tổ quốc.
Tháng 10 năm 1945, trước âm mưu và hành động gây hấn của thực dân Pháp hòng quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, tình hình cực kỳ khó khăn trong buổi đầu của cuộc kháng chiến ở miền nam, Trung tướng Nguyễn Bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy cử vào chỉ huy cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Nhận thấy các lực lượng vũ trang Nam Bộ có nhiều tổ chức phức tạp, không có sự chỉ huy thống nhất, ảnh hưởng đến sự nghiệp kháng chiến, ngày 20 /11/1945, ông lấy tư cách là phái viên của Chính phủ Trung ương đã mời tất cả chỉ huy các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ về họp tại An Phú Xã, thống nhất đặt tên các đơn vị thành chi đội, ông là Tư lệnh Quân giải phóng Nam Bộ.
Đặc biệt, Trung tướng Nguyễn Bình là người sáng tạo những cách đánh độc đáo, với lực lượng độc đáo, vị tướng với tư duy quân sự mang đậm chất của chiến tranh nhân dân. Khi vào Nam Bộ, ở cương vị mới, với tư cách là Phái viên quân sự của Trung ương, rồi sau đó là Tư lệnh Quân giải phóng Nam Bộ, Trung tướng Nguyễn Bình đã vận dụng sáng tạo quan điểm chiến tranh nhân dân trong giải quyết những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ như: thống nhất các lực lượng vũ trang, tăng cường quan hệ quân với dân trong xây dựng, chiến đấu; tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang tập trung đồng thời tổ chức, xây dựng các Ban công tác thành - tiền thân của lực lượng biệt động thành, tạo sự gắn kết giữa hai lực lượng này; xây dựng các chiến khu, các căn cứ địa, xây dựng căn cứ lòng dân ở Nam Bộ; chú trọng công tác đào tạo cán bộ, thành lập Trường Quân chính Khu 7… Những quyết định đó không chỉ mang tầm chiến lược mà còn có ý nghĩa và giá trị thực tiễn sâu sắc đối với tiến trình phát triển cách mạng ở Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Quang Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Việt Nam cho biết, Nguyễn Bình là một tài năng quân sự thiên bẩm, tuy không có điều kiện học hành bài bản, chưa từng học qua một trường quân sự nào, nhưng bằng tư duy, bằng thực tiễn gắn bó với phong trào cách mạng, gắn bó với dân, ông luôn nhìn nhận đúng về sức mạnh của quần chúng nhân dân, của lực lượng vũ trang cách mạng.
Trung tướng Nguyễn Bình là vị tướng luôn gần dân, sáng tạo trong công tác vận động quần chúng làm cách mạng, là người có uy tín trong mọi tầng lớp nhân dân. Ông không chỉ có uy tín với công nhân, nông dân, mà giới trí thức cũng rất mến mộ và sẵn sàng theo ông ủng hộ, tham gia kháng chiến. Trung tướng Nguyễn Bình vừa chỉ đạo công tác quân sự, chấn chỉnh và xây dựng lực lượng vũ trang, vừa chỉ đạo vừa trực tiếp tham gia công tác vận động quần chúng, nhất là giới trí thức. Mặc dù địch vây ráp, ông vẫn thường xuyên vào thành phố, trực tiếp gặp gỡ các trí thức để vận động họ tham gia kháng chiến. Ông cho rằng nếu ngồi ở chiến khu mà mời họ ra thì sẽ ít hiệu quả, biện pháp tốt nhất là vào Sài Gòn, trực tiếp gặp gỡ họ thì việc vận động sẽ thuận lợi hơn.
Theo đồng chí Lê Thành Công, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh, trong sáu năm đảm nhận trọng trách chỉ huy công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ (từ tháng 10/1945-9/1951), Trung tướng Nguyễn Bình đã “tận lực, tận tâm”, “vì dân, vì nước” mà “tận diệt quân thù”, đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh tập hợp, tổ chức, thống lĩnh các đơn vị vũ trang Nam Bộ. Trung tướng Nguyễn Bình là người đặt nền tạo các binh chủng tinh nhuệ, qua đó xây dựng lực lượng vũ trang miền nam ngày càng lớn mạnh, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến đấu ngày càng hiệu quả, khiến kẻ địch phải lo sợ./.
Báo Nhân Dân