Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023

DỰA VÀO NHÂN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta thường xuyên chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng. Trong đó, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đại hội XIII tiếp tục xác định là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

Phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một nguyên tắc xây dựng Đảng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Bởi lẽ, Đảng ta không có mục tiêu nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhân dân là chỗ dựa vững chắc, là nguồn gốc sức mạnh của Đảng. Với Đảng, “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(1).

Vì thế, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm nền tảng của việc dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là “theo đúng đường lối nhân dân”, với sáu nội dung cơ bản: “Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;/ Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;/ Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;/ Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;/ Sẵn sàng học hỏi nhân dân;/ Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”(2).

Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của riêng Đảng, mà còn là trách nhiệm của nhân dân, bởi Đảng là của dân tộc; Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Muốn vậy, Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy dân chủ, bảo đảm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách thực chất, hiệu quả.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thấm nhuần và hết sức coi trọng việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đại hội XIII của Đảng đánh giá toàn diện về phát huy vai trò của nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này trong thời gian tới, đặc biệt là sự vận dụng đầy đủ, toàn diện, sáng tạo, ngày càng sâu sắc hơn những nội dung, phương thức phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng ngay từ khi mới thành lập, là kinh nghiệm quý báu của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Các đại hội Đảng trước đây đều nêu vấn đề dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, cả trong Điều lệ Đảng và trong tổng kết bài học kinh nghiệm. Đại hội XIII của Đảng thể hiện tư duy mới và quyết tâm chính trị cao là “sửa chữa” từ trong nội bộ, để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Đại hội yêu cầu phát huy vai trò quan trọng, sự tham gia có hiệu quả của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, giữa các vùng, miền, địa phương; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30-7-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”, tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả thực hiện công việc, sự hài lòng, tín nhiệm và hạnh phúc của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định đặc biệt coi trọng, đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Đảng ta xác định 10 nhiệm vụ, giải pháp đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng(3); trong đó, nhấn mạnh việc tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”(4).

Công tác dân vận là một nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Quan điểm Đại hội XIII của Đảng là cần nhận thức sâu sắc và rõ hơn về vai trò, nội dung của công tác dân vận; không nên hiểu dân vận chỉ là sự vận động một chiều từ phía Đảng, nhằm tác động tới quần chúng nhân dân, tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân dân thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà cần phải làm rõ hơn nữa vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, ủng hộ và bảo vệ Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”(5).

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, tầm quan trọng của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Kết luận Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII có nội dung: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(6).

Quan điểm Đại hội XIII của Đảng là xây dựng Đảng gắn liền với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị. Vì vậy, việc nhân dân tham gia xây dựng Đảng cũng là góp phần quan trọng vào xây dựng Nhà nước, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhân dân phát huy được quyền làm chủ thực chất, tích cực, chủ động và tự giác tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là yêu cầu khách quan, bảo đảm củng cố, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, bản chất nhân dân của Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thực tiễn phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và một số vấn đề đặt ra hiện nay

Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo mang tính chiến lược về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, về công tác dân vận và phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân thành các văn bản pháp luật và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Những nỗ lực đó vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở, để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, đa dạng hóa các hình thức, biện pháp để phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Cụ thể là:

Thứ nhất, Đảng dựa vào nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhân dân trực tiếp phản ánh, góp ý với cấp ủy về công tác cán bộ, chủ trương, đường lối của Đảng. Nhân dân có quyền góp ý, kiến nghị đối với tổ chức đảng và chính quyền, phát hiện yếu kém, khuyết điểm của tổ chức và cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là những hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”; hoặc tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua hoạt động của các cấp, các ngành, đối thoại, tiếp công dân, tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, giải quyết kiến nghị, phản ánh chính đáng của nhân dân, trong đó có những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Các cuộc vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện hiệu quả, đặc biệt là việc lấy ý kiến của nhân dân đối với dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp, dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng,... đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp trên cả nước. Bầu không khí dân chủ trong Đảng, trong xã hội được mở rộng, gắn với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và những kết quả tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí đã tạo sự tin tưởng, đồng thuận trong xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Ngày 30-7-2020, Ban Dân vận Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 21/KHBDVTW, “Về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân góp ý vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”; theo đó, Ban Dân vận Trung ương đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tổ chức lấy ý kiến nhân dân, lấy ý kiến đại diện các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam ở nước ngoài, đội ngũ công nhân, nông dân, người lao động, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi. Điều đó cho thấy sự công phu, bài bản, trí tuệ, dân chủ và cầu thị trong xây dựng văn kiện, nghị quyết của Đại hội, thể hiện được sự gắn bó mật thiết giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”. Các góp ý của đại diện các tầng lớp nhân dân thể hiện sự tâm huyết, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm cao đối với Đảng, nhân dân, đất nước. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, thể hiện tinh thần cầu thị, dân chủ ngày càng cao của Đảng, phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân tham gia vào quá trình hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Điều này thể hiện được chiều sâu của sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân với Đảng, phát huy tinh thần khối đại đoàn kết toàn dân tộc; qua đó, huy động trí tuệ toàn dân để xây dựng, hoàn thiện các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước.

Các hình thức góp ý với Đảng và giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng được chú trọng. Theo Kết luận số 54-KL/TW, ngày 9-5-2023, của Ban Bí thư, về “Tiếp tục thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 3-10-2017 của Ban Bí thư về tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; ở nhiều nơi đã hình thành nền nếp, thường xuyên, công khai, minh bạch việc thông tin, tổ chức để nhân dân tham gia thảo luận xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phương hướng, nhiệm vụ công tác của địa phương, cơ quan, đơn vị; động viên nhân dân tham gia giám sát hoạt động của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên.

Các tỉnh ủy, thành ủy đã tổ chức đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy với nhân dân; việc xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo và những kiến nghị, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân, doanh nghiệp được quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Nhiều vụ, việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, các biểu hiện vi phạm đạo đức công vụ, văn hóa truyền thống được báo chí, phương tiện truyền thông xã hội phát hiện, phản ánh, lên án, đã giúp các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc kiểm tra, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Việc tổ chức lấy ý kiến nhận xét của nhân dân nơi cư trú (thôn, xóm, tổ dân phố) đối với cán bộ, đảng viên trước khi kiểm điểm cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên theo định kỳ được thực hiện nghiêm túc. Cùng với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, việc lấy phiếu tín nhiệm trong Đảng, Quốc hội, hội đồng nhân dân là cách thức hữu hiệu để nhân dân giám sát việc thực hiện trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.

Thông qua hoạt động của các tổ tự quản của nhân dân ở cơ sở, ban thanh tra nhân dân, các tổ giám sát cộng đồng là cách thức quan trọng để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để thực hiện nội dung này, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp để ngày càng phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách trực tiếp, hiệu quả. Cùng với việc ban hành Hiến pháp năm 2013, nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung để phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện nghiêm túc phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(7). Những quy định này góp phần tăng cơ hội để nhân dân góp ý xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giám sát đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức để tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, nhân dân gián tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua hoạt động của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các đại biểu do nhân dân bầu; thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Nhân dân là người lựa chọn, bầu ra các đại biểu tham gia Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan dân cử. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã thành công tốt đẹp. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân để bầu ra những đại biểu ưu tú, tiêu biểu nhất đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, nhằm xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 có số lượng cử tri đi bầu lớn nhất từ trước đến nay, với 69.523.277 cử tri và tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu là 69.243.939 người (đạt 99,6%); cử tri cả nước đã thực hiện bầu được 3.721 đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh, 22.550 đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện, 239.788 đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã.

Thông qua hoạt động của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân gửi đến nghị trường Quốc hội, những vấn đề nhân dân quan tâm, bức xúc, những nội dung cần tháo gỡ về cơ chế, chính sách, pháp luật,... đã được bàn bạc, thảo luận công khai, dân chủ, xử lý phù hợp; qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội cũng như của các cơ quan dân cử.

Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên cùng nhân dân tích cực tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo đúng chức năng, quyền hạn của cơ quan, đơn vị đó; tham gia giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền, những người công tác ở lĩnh vực nhạy cảm, dễ nảy sinh vi phạm,...; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiều mặt trong công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát việc chấp hành và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng.

Công tác giám sát, phản biện xã hội được triển khai thực hiện đồng bộ trong toàn hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tổ chức 16.770 đoàn giám sát, nghiên cứu, xem xét 19.264 văn bản, tham gia giám sát 28.031 cuộc; chủ trì tổ chức 5 hội nghị phản biện xã hội đối với các dự thảo luật quan trọng(9); góp ý 58 văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức 5.618 hội nghị phản biện xã hội, gửi 10.402 văn bản phản biện; tổ chức 520 hội nghị đối thoại phản biện trực tiếp. Trong năm 2022, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố ban hành 25.575 báo cáo tình hình nhân dân; tổ chức được 43.844 hội nghị lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân(10).

Một số vấn đề đặt ra trong phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng hiện nay

Trong những năm qua, mặc dù nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng và cả hệ thống chính trị trong thực hiện chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện còn  gặp phải những khó khăn, hạn chế nhất định; vì thế, chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Một số cấp ủy, chính quyền nhận thức về vấn đề này chưa thật sự sâu sắc và đầy đủ, thậm chí có nơi còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, ngại tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, thiếu trách nhiệm trong giải quyết nguyện vọng chính đáng, bức xúc của người dân. Một số cấp ủy, tổ chức đảng  chưa xử lý kịp thời hoặc giải quyết không hợp lý những vụ, việc được nhân dân phản ánh, thậm chí còn có hiện tượng bao che. Ở nhiều nơi, việc giám sát, đóng góp ý kiến của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, ví dụ như có đặt hòm thư góp ý ở cơ quan, đơn vị, nhưng nhận được rất ít hoặc không nhận được ý kiến đóng góp, kiến nghị của nhân dân.

Việc tiếp nhận, xử lý ý kiến, kiến nghị của nhân dân ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính quyền chưa thấu tình, đạt lý, dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp và kéo dài, tạo “điểm nóng”, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi, sử dụng đất. Người dân còn có biểu hiện né tránh, e ngại trong việc góp ý, phê bình cán bộ, đảng viên, không dám tố giác hành vi tham nhũng, tiêu cực, lãng phí,...

Những hạn chế này đã được Đảng ta chỉ ra: “Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”(11). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”; “Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả”(12).

Tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Đại hội XIII trong thời gian tới

Nhằm thực hiện hiệu quả chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về quyền làm chủ, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tuyên truyền sâu rộng các nội dung căn bản và cốt yếu của xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nội dung xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị. Làm rõ giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng của Đảng, gắn liền với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng và toàn xã hội, nêu cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Làm cho nhân dân nắm được hoạt động của hệ thống tổ chức đảng, cũng như về năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; hiểu rõ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và yêu cầu, tiêu chuẩn của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Các cấp ủy, chính quyền cần tuyên truyền, vận động để mỗi người dân nhận thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Mỗi người dân cần nhận thức rõ khi thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là giúp cho Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cũng là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, dân tộc và đất nước. Khi nhận thức rõ ràng và đầy đủ, mỗi người dân sẽ nâng cao được tinh thần tự giác của mình; đồng thời, các tổ chức đảng, chính quyền các cấp có thể vận động nhân dân tham gia đóng góp, xây dựng Đảng, xây dựng và bảo vệ các thiết chế bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách thuận lợi và hiệu quả hơn.

Hai là, tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của quần chúng nhân dân trong quá trình xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước; thực hành dân chủ rộng rãi, công khai, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ phải được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân tham gia hiệu quả vào công cuộc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, là cơ sở quan trọng để Đảng dựa vào nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chủ động rà soát, bổ sung, cụ thể hóa những nội dung về phát huy dân chủ được quy định trong Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Đảng và trong hệ thống chính trị.

Ba là, xây dựng cơ chế phù hợp (cơ chế đối thoại, bàn bạc và lắng nghe ý kiến của nhân dân), tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng có hiệu quả. Đảng, Nhà nước luôn xác định “dân là gốc”, luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng: “Phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, giữa các vùng, địa phương; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng””(13).

Từng bước hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Quy chế về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các văn bản pháp luật liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện dân chủ ở cơ sở,... Cần phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc đánh giá, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên về thực hiện chức trách, nhiệm vụ, các nội dung liên quan đến phẩm chất, đạo đức, lối sống,...

Bốn là, Đảng, Nhà nước tiếp tục triển khai thực hiện tốt chủ trương, chính sách bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết tốt những vấn đề bức xúc hiện nay. Việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân sẽ góp phần nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; từ đó, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân, tăng tính hiệu quả, chất lượng đóng góp của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phải thực sự gần dân, sát dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tích cực vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, góp phần xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững trong bối cảnh mới.

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chủ động, tích cực, sáng tạo hơn nữa trong phát huy vai trò của nhân dân, phát huy dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là vai trò của nhân dân tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng, hệ thống chính trị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình; tăng cường giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Tập trung giám sát, phản biện xã hội trong quá trình xây dựng chủ trương, nghị quyết, đường lối của Đảng; ban hành chính sách, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, bảo đảm sát thực tiễn, thể hiện sự hòa hợp, gắn bó giữa “ý Đảng” với “lòng Dân”, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội.

Sáu là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; thực sự trọng dân, gần dân, hiểu dân; có trách nhiệm và biết phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân, thực sự hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tạo cơ sở chính trị - pháp lý và niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng, cùng nhân dân xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng nặng nề, phức tạp hơn trong giai đoạn phát triển mới của đất nước./.


VÌ SAO KHỐNG CHẾ TIỀN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

 Quy định tiền đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) cao nhất bằng 20 lần lương cơ sở nhằm giảm chênh lệch lương hưu giữa lãnh đạo và người lao động, trong khu vực nhà nước và tư nhân.

Cả nước có khoảng 3,4 triệu người nhận lương hưu, trợ cấp BHXH với mức hưởng bình quân 4,6-5,6 triệu đồng mỗi tháng. Trong đó có 471 người hưởng trên 20 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 0,013%). Người hưởng cao nhất nước hiện sống tại TP Hồ Chí Minh với mức lương hưu 124,7 triệu đồng. Nhóm hưởng cao đều là lãnh đạo công ty tư nhân, liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam.

Một lãnh đạo ngành bảo hiểm xã hội cho biết trước năm 2008 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 không khống chế trần đóng BHXH bắt buộc nên nhiều người chọn đóng theo thu nhập, thậm chí bằng ngoại tệ khi quy đổi ra tiền Việt tới 200 triệu đồng. Sau giai đoạn trên, những người này tiếp tục đóng ở mức tối đa nên hưởng lương hưu cao.

Không có trần đóng BHXH bắt buộc khiến mức đóng chênh lệch nhiều lần, tạo khoảng cách lớn về lương hưu giữa lãnh đạo doanh nghiệp với người lao động, khu vực nhà nước với khối tư nhân. Đặc biệt công chức, viên chức nhà nước vẫn đóng trên nền tiền lương cơ sở nhân với hệ số nên tiền lương hưu không cao.

Để rút ngắn khoảng cách trên, khi sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội 2006, các cơ quan thống nhất ra quy định khống chế trần tiền đóng BHXH hàng tháng bằng 20 lần mức lương cơ sở (hiện tại khoảng 29,8 triệu đồng).

"Khống chế trần đóng nhằm điều chỉnh chênh lệch lương hưu cao - thấp, phù hợp với thu nhập và mức sống trung bình của toàn xã hội, không phải vì lo ngại ảnh hưởng tới Quỹ Hưu trí. Vì trên thực tế, những người này cũng đã đóng khoản tiền rất cao vào quỹ", lãnh đạo ngành bảo hiểm xã hội giải thích.

Nguyên Thứ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Minh Huân cho biết hưu trí dựa trên đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm xã hội là tầng an sinh cơ bản nên tiền đóng ở mức vừa phải để lương hưu không chênh lệch quá lớn.

Ngoài khống chế trần đóng, cơ quan quản lý khi ấy cũng nhìn ra thực tế mỗi lần điều chỉnh lương hưu với tỷ lệ chung sẽ ngày càng tạo ra khoảng cách lớn. Ông Huân lấy ví dụ nếu điều chỉnh 10% trên mặt bằng lương hưu bình quân 4 triệu đồng, tiền tăng thêm là 400.000 đồng mỗi tháng mỗi người. Nhưng với người lương hưu cao 100 triệu đồng chẳng hạn, số tiền tăng thêm là 10 triệu đồng.

Khi đó, có ý kiến đề xuất không áp dụng tỷ lệ tăng chung mà phân loại các nhóm để điều chỉnh mức khác nhau, nhóm lương hưu thấp thì tỷ lệ tăng cao và ngược lại. Nhưng bảo hiểm xã hội thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, người tham gia vào Quỹ bao nhiêu thì phải để cho họ hưởng với tỷ lệ đúng quy định. Lo ngại siết hưởng cũng gặp phản ứng của người đóng lẫn dư luận không đồng tình nên cuối cùng đề xuất bị bác bỏ.

Bên cạnh ưu điểm, việc khống chế trần đóng BHXH bắt buộc cũng tạo bất cập khi người thu nhập cao không thể đóng vượt trần để nâng tiền lương hưu mức cao dù rất mong muốn, nhất là người làm việc ngoài nhà nước, lãnh đạo doanh nghiệp hoặc người có trình độ. Vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có thêm chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung để người có nhu cầu đóng cao hơn được chuyển sang tầng này.

Bảo hiểm hưu trí bổ sung chính thức triển khai từ năm 2018. Cơ chế tạo lập quỹ từ sự tự nguyện đóng góp của lao động và chủ sử dụng dưới hình thức tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định. Nhà nước không hỗ trợ đóng góp, không đảm bảo về kết quả đầu tư và mức chi trả mà chỉ khuyến khích phát triển thông qua ưu đãi về thuế.

Ông Huân cho rằng hưu trí bổ sung là tài khoản cá nhân và mang tính chất tự nguyện, nên về lâu dài Nhà nước cần nới chính sách miễn thuế cho phần đóng này để khuyến khích người thu nhập cao tham gia. Khoản này có thể dùng đầu tư vào công trình lớn và đến thời điểm người đóng nghỉ hưu thì chi trả cho họ.

Bộ Tài chính hiện cấp chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện cho bốn doanh nghiệp. Các công ty này đang vận hành 5 quỹ hưu trí bổ sung với 890 người tham gia, tài sản ròng 84,6 tỷ đồng. Theo Bộ Tài chính, đây là chính sách tự nguyện nên cần thời gian để doanh nghiệp lẫn lao động nắm bắt thông tin. Chính sách thuế với người tham gia đóng góp chưa thực sự ưu đãi nên triển khai chậm, chưa hấp dẫn.

Đến cuối năm 2022, Quỹ Bảo hiểm xã hội đạt 1,2 triệu tỷ đồng. Hơn 17,2 triệu người tham gia, đạt gần 38% lực lượng lao động trong độ tuổi. Cả nước hiện có hơn một triệu người nhận lương hưu từ ngân sách nhà nước với mức bình quân 4,6 triệu đồng mỗi người một tháng; hơn 2,3 triệu người nhận lương hưu từ Quỹ Bảo hiểm xã hội với tiền hưởng bình quân 5,6 triệu đồng. Dự kiến từ 1/7, lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hàng tháng điều chỉnh tăng 12,5-20,8% tùy từng nhóm thụ hưởng./.


Kịch liệt lên án những luận điệu chống phá Đảng

         Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chưa bao giờ dừng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Đứng sau những luận điệu nhằm vẽ nên một bức tranh u tối về đất nước, đó vẫn là những cái tên, những tổ chức chẳng hề xa lạ, nơi bắt nguồn của những thông tin sai lệch, những phát ngôn thù hằn, kích động. Phía sau những luận điệu hoạt động chống phá này, có một điều không hề thay đổi và các đối tượng này cũng chẳng hề giấu giếm, đó là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua việc đả kích tính chính danh, đồng thời nhồi nhét tư tưởng về đa nguyên đa đảng, hòng tiến tới thay đổi chế độ ở nước ta.

Nên nhớ rằng, từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính nhất, có sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.

Trong tác phẩm "Đường Cách mệnh" Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra có ba thứ cách mệnh là: Tư bản cách mệnh, dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh. Lãnh tụ Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Để thực hiện được mục tiêu đó, Hồ Chí Minh khẳng định: "Trước hết phải có Đảng Cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy".

Trải qua hơn 93 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. 15 năm sau khi thành lập, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam đã nghe theo lời kêu gọi của Đảng, của Bác Hồ, lên đường kháng chiến và cuối cùng đã giành được thắng lợi to lớn, đánh thắng đế quốc xâm lược và lập lại hoà bình ở miền Bắc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đất nước tạm bị chia làm hai miền, Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Khi Mỹ đưa quân vào xâm lược ở miền Nam, tiến hành chiến tranh cục bộ đánh phá các căn cứ cách mạng ở miền Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc (1964), Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân hai miền "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1975), đưa cả nước đi lên CNXH.

Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề chiến lược có tính nguyên tắc, bởi vậy, cần kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kịch liệt lên án các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá Đảng./.

ẢNH HƯỞNG VÀ HỆ QUẢ CỦA TIN GIẢ "FAKE NEWS" TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Ô nhiễm thông tin đang ảnh hưởng đến khả năng đưa ra quyết định sáng suốt của người dân. Thông tin sai lệch, tin giả và thông tin độc hại cùng với sự gia tăng của ngôn từ kích động thù địch và tuyên truyền, đặc biệt là trên mạng, đang kích động sự chia rẽ xã hội và tạo ra sự ngờ vực đối với các cơ quan công quyền. Ô nhiễm thông tin (thông tin sai lệch) “không phải là nguyên nhân mà là hậu quả của các cuộc khủng hoảng xã hội và sự sụp đổ niềm tin của công chúng vào các thể chế” .

Tin giả xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng xã hội, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp và xã hội.

Mặc dù vấn đề "tin giả" hiện đang là một chủ đề nóng, nhưng nó đã là một vấn đề của thế giới kinh doanh trong một thời gian dài. Một tin xấu có thể khiến giá cổ phiếu lao dốc, hủy hoại danh tiếng của doanh nghiệp hoặc gây ra những kỳ vọng vô lý của khách hàng. Các doanh nghiệp “phi đạo đức” cũng có thể tạo ra tin tức hoặc đánh giá giả mạo để nâng cao vị thế hoặc lợi nhuận của chính họ. Vào tháng 9/2008, một bài báo đưa lại tin về vụ phá sản của công ty mẹ United Airlines cách đó 6 năm (năm 2002) đã khiến người đọc nhầm lẫn là đang tiếp cận một hồ sơ phá sản mới của Công ty. Tin tức này đã khiến giá cổ phiếu của công ty giảm tới 76% chỉ trong vài phút, trước khi NASDAQ tạm dừng giao dịch. Sau khi “tin tức” được xác định là sai, giá cổ phiếu đã tăng trở lại, nhưng vẫn kết thúc ngày ở mức thấp hơn 11,2% so với giá đóng cửa trước đó. Trong một số trường hợp, tin giả được cố tình tạo ra để tác động đến giá cổ phiếu, điều này làm thay đổi bản chất của môi trường giao dịch kinh tế. Mặc dù có báo cáo rằng các hành vi gian lận đã trở nên rõ ràng trước khi kết thúc các phiên giao dịch tương ứng, nhưng trong nhiều trường hợp, giá cổ phiếu kết thúc ngày vẫn di chuyển theo hướng mà thông tin sai lệch đưa ra.

Tác động của “tin giả” đối với nền kinh tế toàn cầu ở mức độ có thể gây thiệt hại về người và khiến hoạt động kinh doanh lao dốc, trừ khi hoạt động kinh doanh dựa trên hoạt động khai thác dữ liệu và được cung cấp bởi các hoạt động cung cấp thông tin độc hại. Ví dụ nổi bật và gần đây nhất về việc “tin giả” phải trả giá bằng mạng sống là đại dịch COVID-19 dường như không bao giờ kết thúc vào thời điểm này. Thuật ngữ dịch bệnh bắt đầu trở thành xu hướng khi thế giới phải vật lộn để đối phó với một loại vi-rút đã tàn phá và thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sử dụng để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình.

Tại Việt Nam, các đối tượng thường tung tin giả trên nền tảng mạng xã hội để lừa đảo các dự án về bất động sản, tăng lượng tương tác để bán hàng, hay với mục đích kinh doanh không lành mạnh, triệt tiêu đối thủ. Chẳng hạn như, các tin giả về nước mắm truyền thống; "ăn nhiều bưởi làm tăng nguy cơ ung thư vú”,… là thông tin không đúng sự thật, gây thiệt hại lớn về vật chất cho những người dân sản xuất nước mắm theo phương thức truyền thống và nông dân trồng bưởi trong cả nước.

Theo một số chuyên gia kinh tế, hậu quả của việc tung tin sai lệch không chỉ gây thiệt hại về tài chính, hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp mà còn gây ra khủng hoảng niềm tin của nhà đầu tư, dễ tạo nên "hiệu ứng domino" lan sang nhiều lĩnh vực từ bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm... Những tin giả này gây hậu quả rất nhanh chóng, ảnh hưởng ngay đến cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, đến uy tín, đến các đối tác, hoạt động, thậm chí có thể làm doanh nghiệp sụp đổ.

Trong những năm gần đây, việc lan truyền thông tin sai lệch trên các nền tảng mạng xã hội đã khiến dư luận lo ngại, không chỉ vì thông tin sai lệch dễ khiến người dân hoang mang, đưa ra quyết định sai lầm, gây thiệt hại về kinh tế, vật chất mà còn vì thông tin sai lệch có thể gây tổn hại thêm cho sức khỏe thể chất và tinh thần của cộng đồng. Đồng thời, thông tin sai lệch không được kiểm soát sẽ dẫn đến rối loạn xã hội và lan truyền những cảm xúc tiêu cực, cuối cùng gây ra tác động rất lớn cho xã hội.

Trong đợt bùng phát dịch COVID-19, Tổ chức Y tế Thế giới đã coi việc chống lại “đại dịch thông tin” là một phần quan trọng trong công việc của mình. Với ảnh hưởng của mạng xã hội, “cơn dịch thông tin” đã mở rộng phạm vi và làm gia tăng mối đe dọa do thông tin sai lệch gây ra. Chẳng hạn, khi đối mặt với thông tin sai lệch, tương lai bấp bênh và không được tiếp cận thông tin sẽ làm gia tăng áp lực tâm lý của công chúng, khiến công chúng lo lắng, hoang mang[1]. Lúc này, dưới tác động của tin đồn và thông tin sai lệch, khuếch đại sự hoang mang của quần chúng, gây ra khủng hoảng xã hội tập thể, thậm chí dẫn đến nhiều bi kịch xã hội[2].

Mặt khác, bị ảnh hưởng bởi sự tương tác và kết hợp giữa lượng lớn thông tin thật và thông tin sai lệch trên các nền tảng truyền thông xã hội, công chúng thường dễ bị dao động và có xu hướng bày tỏ quan điểm và cảm xúc của họ trên các nền tảng truyền thông xã hội và nhận được những phản hồi khác nhau tùy thuộc vào từng loại diễn tiến và nội dung của các sự kiện.

Việc tung tin giả cũng có thể là hành vi cố ý hủy hoại danh tiếng của một cá nhân. Những kẻ tung tin giả nhắm vào cuộc sống riêng tư, hành vi, giá trị và danh tính của nạn nhân. Các chi tiết tiểu sử bị thay đổi hoặc bịa đặt. Các tính năng thân mật được công khai, thành tích hay các ý định tốt bị nghi ngờ[3]. Mục tiêu là tấn công vị thế đạo đức của cá nhân trong mắt công chúng và kích động phản ứng cảm xúc tiêu cực đối với mục tiêu. Cuối cùng, đó là về việc định hình tâm trí và trái tim để công chúng có xu hướng làm theo những gì được cung cấp hoặc đề xuất bởi người phát tán tin giả. Đây là một mối đe dọa đối với các giá trị và chuẩn mực.

Đối với xã hội, theo kết quả nghiên cứu của Femi Olan và cộng sự (2022) cho thấy sự chia rẽ các giá trị xã hội do tin giả. Nghiên cứu này cung cấp một góc nhìn mới về việc tin giả đang làm tan rã xã hội. Tác động của tin giả xuyên suốt xã hội, ví dụ, sự lan rộng của tin giả đối với truyền thông xã hội quyết định cách chính phủ, tổ chức và người dân phản ứng với các sự kiện trong xã hội. Phần lớn tin giả được nhắm mục tiêu đến một nhóm dân cư cụ thể với mục đích thúc đẩy một ý thức hệ nhất định bằng cách kích thích niềm tin mạnh mẽ và xã hội phân cực. Do đó nhà nước cần phải kiểm soát để hạn chế sự bất hòa và bạo lực của các nhóm hoặc cá nhân trong xã hội do tin giả gây nên.

Tin giả có chủ ý và có thể thao túng nhận thức của mọi người, từ đó trở thành một phương pháp khuấy động và tăng cường xung đột xã hội. Chẳng hạn, những câu chuyện sai sự thật và cố tình đánh lạc hướng người đọc đã khiến người dân Mỹ ngày càng mất lòng tin. Trong một số trường hợp, sự không tin tưởng này dẫn đến hành vi thô lỗ, phản đối các sự kiện tưởng tượng hoặc bạo lực. Theo phân tích của Oberiri Destiny Apuke và cộng sự (2020) cho thấy việc chia sẻ tin giả ở Nigeria đã gây ra nhiều cái chết, leo thang xung đột, thù địch chính trị và hoảng loạn xã hội.

Tóm lại, trong xã hội thông tin hiện nay, vấn nạn tin giả gây ra nhiều nhức nhối đối với các cá nhân và xã hội. Tin giả có thể thao túng các cá nhân về thể chất và tinh thần, thậm chí do vô tình hay hữu ý, có thể tước đoạt mạng sống cá nhân, đẩy họ vào bi kịch không lối thoát. Ở mức độ rộng hơn, tin giả, nếu không được kiểm soát tốt có thể gây các hậu quả khó đo đếm được về chính trị, kinh tế và nhiều mặt đời sống xã hội. Với vai trò quản lý nhà nước, các cơ quan có trách nhiệm đang cố gắng xây dựng một xã hội với thông tin lành mạnh, hạn chế các thông tin tiêu cực, có mục đích xấu thông qua các công cụ kỹ thuật, chế tài và nâng cao sự hiểu biết trong tiếp nhận, chia sẻ thông tin của người dân, xây dựng nền văn hóa bao dung, thấu hiểu và chia sẻ.


TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG CẦN MẠNH DẠN TỰ PHÊ BÌNH, HOAN NGHÊNH PHÊ BÌNH VÀ KIÊN QUYẾT SỬA CHỮA

 Trong quá trình sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề tự phê bình, phê bình và sửa chữa khuyết điểm của Đảng.

Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”. Người cũng khẳng định trong bài “Tự phê bình, phê bình, sửa chữa đăng trên Báo Nhân dân, ngày 26-7-1956: “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật sự dân chủ mới mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa  chữa”.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm việc thì rất dễ có sai phạm, khuyết điểm, vấn đề quan trọng là phải thẳng thắn, mạnh dạn, hoan nghênh tự phê bình, phê bình, chỉ ra và tích cực, kiên quyết sửa chữa, khắc phục để tiến bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ trách nhiệm, các biện pháp thực hiện tự phê bình, phê bình và sửa chữa khuyết điểm của cán bộ, đảng viên.

Trước hết, cần phải có sự tự giác của bản thân cán bộ, đảng viên, của đội ngũ lãnh đạo và vai trò của nhân dân cùng đoàn kết, giúp đỡ để cán bộ, đảng viên sửa chữa được sai phạm, khuyết điểm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhằm mục đích để làm cho Đảng ngày càng mạnh hơn, cán bộ, đảng viên gương mẫu hơn; tổ chức đảng có sức chiến đấu cao hơn; đoàn kết nội bộ tốt hơn; gắn bó với nhân dân mật thiết hơn; thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt kết quả cao hơn. Muốn đạt được kết quả tốt trong tự phê bình, phê bình và sửa chữa khuyết điểm thì mỗi người phải có tinh thần tự giác, trách nhiệm rất cao, có tình thương yêu đồng chí thật sự, có dũng khí đấu tranh chân tình, thẳng thắn.

Tổng Bí thư cũng nêu ra những vấn đề có tính nguyên tắc: “Kinh nghiệm cho thấy, cần tự phê bình và phê bình có kết quả tốt, điều quan trọng là phải giữ vững nguyên tắc của Đảng, thật sự phát huy dân chủ trong Đảng; người đứng đầu phải gương mẫu làm trước và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp, phê bình cán bộ, đảng viên và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn. Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, tập thể giúp đỡ mà không tiếp thu thì phải xử lý thích đáng”.

Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Đảng, chỉ thị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về tự phê bình, phê bình, sửa chữa khuyết điểm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là cơ sở quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục vững mạnh, có đủ phẩm chất, uy tín, năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thành công trong xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu đẹp, hùng cường./.


Nực cười Việt Tân “Hiến kế” chống tham nhũng

             Luận bàn về phòng chống tham nhũng Việt Tân đưa ra 2 lý do chính: cần và có thể.

Nước nghèo, bộ máy hành chính và các hội đoàn đu bám lại quá cồng kềnh, ngân sách bị chia nhỏ, công chức thu nhập thấp, không đủ sống thì phải “kiếm thêm”. Đó là lý do “cần tham nhũng”. Khi đã sẵn có quyền lực trong tay, lại ở một cơ chế kiểm soát không hiệu quả, thì tham nhũng tất yếu diễn ra trên diện rộng, trở thành quốc nạn. Đó là lý do “có thể tham nhũng”.

Và để tiến hành công tác phòng chống tham nhũng có hiệu quả “bạn” ấy đưa ra một số giải pháp rằng:

1. Tuyển dụng minh bạch, công bằng. 

Chừng nào mà một chân công chức còn phải mua bằng tiền trăm, tiền tỉ thì việc chống tham nhũng trở nên bất lực. Vì đã bỏ tiền ra mua thì ngay lúc đó cả bên bán lẫn bên mua đều đã vứt bỏ đạo đức, và mua thì phải thu hồi vốn. Tham nhũng đẻ ra tham nhũng, xoay vần không dứt.

Cần tuyển dụng dựa trên năng lực và phẩm chất, bất kể người đó có phải đảng viên hay không, miễn làm được việc. Ví dụ, hiệu trưởng mà do giáo viên trực tiếp bầu lên, giám sát và phế truất, thì nạn cửa quyền, tham nhũng tại trường học sẽ giảm theo chiều thẳng đứng ngay. Với cách thức bổ nhiệm như lâu nay, việc chạy chọt, mua bán tất yếu biến môi trường giáo dục thành chợ đen.

2. Tăng lương.

Tăng lương phải đủ sống chứ không phải như hiện nay, không đủ bù trượt giá. Muốn tăng được lương thì phải tinh gọn bộ máy hành chính, giải thể bớt các hội đoàn ăn lương nhưng không có vai trò đối với sự phát triển của xã hội, tiết kiệm nguồn lực – cấm lãng phí vào chuyện xây tượng đài, cổng chào, hội nghị hình thức..., dồn ngân sách để trả lương cho đội ngũ công chức - viên chức có chất lượng để họ toàn tâm toàn ý với công việc.

Về lâu dài, phải tập trung cho phát triển kinh tế đất nước: giải thể, cổ phần hóa, tư nhân nhân hóa các tập đoàn nhà nước làm ăn không hiệu quả, có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân làm ăn tử tế ở tất cả các quy mô. Tập trung cho phát triển nông nghiệp, tránh lãng phí nguồn lực đất đai và con người, xây dựng nông thôn giàu có bằng nội lực của chính nó. Việt Nam, dựa trên các điều kiện lý tưởng của mình, cần xây dựng được một nền nông nghiệp mạnh trước khi nghĩ đến công nghiệp. Mấy nghìn km bờ biển mà mỗi năm phải nhập khẩu hàng tỉ đô la tiền muối, đó là một điều phi lý không thể biện minh được về mặt chính sách. Song song với kinh tế, là phát triển giáo dục, khoa học-kỹ thuật. Nếu không có cái nền về con người và khoa học, thì không bao giờ có được một nền kinh tế bền vững, ổn định. Nước giàu rồi thì không lo không có đủ tiền trả cho công chức.

3. Pháp luật phải nghiêm minh 

‘Nghiêm’ nhưng phải ‘minh’, không minh thì cũng khó mà nghiêm. Kết quả của phiên tòa “chuyến bay giải cứu” đã làm thất vọng không ít trong dân, vì cách áp dụng luật pháp méo mó và hình phạt quá nhẹ không đủ sức răn đe. Chờ xem vụ Việt Á có lặp lại điều đáng buồn của “chuyến bay giải cứu" hay không.

Cần một bàn tay sắt và một trái tim thấu hiểu để vừa thẳng tay đập tan những ung bướu, vừa tận tụy chăm lo cho con người.

Phải có cách thức khoa học để công khai, minh bạch tài sản của cán bộ, từ cấp xã trở lên. Nắm chặt các giao dịch dân sự, truy nguyên tài sản không rõ nguồn gốc, tịch thu tài sản do phạm pháp mà có. Tổ chức thi tuyển nhân sự công bằng, lấy cho được người có năng lực vào làm trong bộ máy nhà nước; xây dựng cơ chế kiểm soát và giám sát độc lập để ngăn chặn từ trong trứng nước nạn tham ô và lợi ích nhóm.

Trước hết chúng ta nên vỗ tay cho bạn Vịt Tân vì công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta tiến hành không phải của toàn Đảng, toàn dân của cả hệ thống chính trị nữa mà cũng đã thu hút được sự quan tâm của bạn V.iệt Tân rồi.

Nhưng có lẽ những nội dung mà bạn “Quân sư” vừa nêu trên nên để trong cương lĩnh Canh tân Cách mạng Đảng của các bạn ở xứ Huê Kỳ dùng sẽ tốt hơn. Bởi lẽ chúng tôi đều nhận thức được tham nhũng tiêu cực là quốc nạn, là sự tồn vong của chế độ, vậy nên không cần các bạn dạy thêm đâu vì:

Thứ nhất: Công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ hai: Công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực đã được đúc kết thành cơ sở lý luận và thực tiễn tiến hành.

Thứ ba: Thành lập các cơ quan chuyên trách về công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực từ Trung ương đến các địa phương; hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng của các cơ quan chuyên trách.

Thứ tư: Cả hệ thống chính trị vào cuộc trong công cuộc phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong đó lấy Nhân dân và cơ quan truyền thông làm kênh phản biện xã hội...còn nhiều nhiều giải pháp nữa cơ.

Cuối cùng Việt Nam đã có được bước tiến dài, quan trọng trong tiến trình đầy khó khăn, gian nan và phức tạp này. Còn muốn biết số liệu cụ thể mời anh Tân cứ tra chị Google nhé. Những nội dung mà các bạn đề ra ở trên thực chất là chiêu trò mượn gió, bẻ măng; đánh tráo khái niệm vì mưu đồ chính trị đen tối là bôi nhọ, nói xấu Đảng, Nhà nước của chúng tôi mà thôi. Cũng chẳng tốt đẹp gì đâu Tân ạ./. 

VẠCH TRẦN NHỮNG MƯU ĐỒ ĐỘC ÁC: NHẬN DIỆN TỘI ÁC

 

Một trong những tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài tự khoác lên mình cái tên "Người Thượng vì công lý" (Montagnards Stand For Justice). Với khẩu hiệu đầy tính kích động: "Thúc đẩy hòa bình và bảo vệ quyền con người của những người bị áp bức tại Tây Nguyên", chúng đang tìm mọi cách thực thi các âm mưu chống phá sự bình yên của vùng đất đại ngàn tươi đẹp. Với những thủ đoạn nham hiểm, hành vi dã man, điên cuồng, chúng chính là kẻ thù của đồng bào các dân tộc anh em trên đại ngàn Tây Nguyên đang ngày đêm gắng sức dựng xây quê hương ngày một thịnh vượng, bình yên và hạnh phúc.


Những ngày qua, hàng loạt câu hỏi cứ luôn trở đi trở lại trong tâm trí tôi: Vì sao mà máu của đồng chí, đồng bào lại phải đổ xuống mảnh đất buôn làng giữa những năm tháng thanh bình này? Ai là những kẻ gây nên tội ác? Lý do nào đã khiến những người cùng sống chung giữa không gian quê hương, nương rẫy, buôn làng, cùng uống chung nguồn nước mẹ đại ngàn lại trở thành những con thú khát máu hủy hoại sự sống của đồng bào mình?...


Sáng sớm ngày 11/6/2023, cùng với hàng triệu người khắp mọi miền đất nước, từ khi thức giấc, tôi đã phải đón nhận những thông tin đau lòng từ hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin (Ðắk Lắk) như phải chứng kiến một trận động rừng kinh hoàng. Là người đã có hơn ba thập niên gắn bó với những cánh rừng, buôn làng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tôi thật sự căm giận những kẻ độc ác, xót xa với thảm cảnh và âm ỉ trong tâm hồn một cảm giác hụt hẫng, một nỗi buồn.


Các cơ quan chức năng đã nhận diện đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các đối tượng rất man rợ, mất nhân tính thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng.


Ðịa chỉ mà chúng nhắm tới đốt phá là các cơ quan nhà nước, trụ sở công an xã.


Ðối tượng mà chúng hung hãn ra tay hành động là cán bộ cấp ủy, chính quyền, là các chiến sĩ công an và cả những người dân vô tội. Ðó là đồng chí Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch xã Ea Ktur Nguyễn Văn Kiên và Chủ tịch xã Ea Tiêu Nguyễn Văn Dũng. Họ là những người suốt bao năm tháng qua đã dành trọn tâm sức và trí tuệ chăm lo cho sự phát triển quê hương, cho đời sống người dân các dân tộc anh em ngày càng ấm no, hạnh phúc. Là Thiếu tá Hoàng Trung, Ðại úy Nguyễn Ðăng Nhân - cán bộ công an xã Ea Ktur; Thiếu tá Trần Quốc Thắng, Ðại úy Hà Tuấn Anh - cán bộ công an xã Ea Tiêu. Họ là những cán bộ, chiến sĩ công an, những người ngày đêm bảo vệ trị an buôn làng, bảo vệ sự bình yên cho mỗi mái nhà, mỗi người dân, cho những nương rẫy, cánh rừng tốt tươi.


Chúng còn cướp đi sinh mạng 3 người dân bình thường trong cơn say máu. Những người đồng bào bị chúng giết hại ấy là những người từng chung điệu chiêng, chung vòng xoang, chung cần rượu với chúng trong những ngày buôn làng vào hội.

Ngoài giết hại 9 người, làm bị thương 2 người, chúng còn bắt cóc 3 công nhân làm con tin trên đường chạy trốn.


Ðến nay chúng ta đã có thể dựng lên chân dung khá đầy đủ của những đối tượng khủng bố để vạch trần bộ mặt của chúng, kể cả những kẻ chủ mưu, những tổ chức phản động đã và đang từ xa kích động, giật dây, chống đối chế độ, phá hoại sự nghiệp dựng xây, kiến thiết quê hương và cuộc sống bình yên của nhân dân Tây Nguyên. Ðó là những kẻ chống đối, phản động trong nước tham gia các tổ chức chống phá Ðảng, Nhà nước. Có cả những kẻ từng suốt một quãng đời được hưởng thành quả cách mạng, được chăm lo cuộc sống, được học hành, vui cùng nương rẫy với bà con buôn làng nhưng đã biến chất trở thành những kẻ quá khích, man rợ, độc ác.


Tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu, với những lời khai của các đối tượng, chúng tôi không khỏi đau lòng vì một số tên khủng bố là những nông dân có cuộc sống gia đình, người thân ngày càng khởi sắc, no ấm, chỉ vì rơi vào cạm bẫy của những thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc, kích động của các thế lực thù địch, chúng đã biến mình thành công cụ của kẻ thù. Lực lượng công an đã có tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án xảy ra còn do có sự hậu thuẫn chỉ đạo từ một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, thậm chí cử đối tượng từ nước ngoài xâm nhập trái phép về Việt Nam để dàn dựng, chỉ đạo tấn công khủng bố.


Cho đến thời điểm này, cơ quan công an đã bắt giữ và ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng với các tội danh: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân", "Không tố giác tội phạm" và "Môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh vào Việt Nam trái phép". Nhiều người có liên quan đã bị triệu tập; công tác đấu tranh, truy nã các đối tượng bỏ trốn vẫn đang tiếp tục.


Càng căm thù và lên án sâu sắc những kẻ giết người bao nhiêu, trong những ngày qua, tự tâm can, tôi càng thấy thương những người Amí (mẹ), những người Mo (vợ), những đứa Anak (con) tội nghiệp của chúng bấy nhiêu. Rất nhiều người thân của những tên khủng bố đã khóc cạn nước mắt, đã đau khổ tận cùng. Chính họ cũng không hiểu vì sao, vì điều gì mà người con, người chồng, người cha của mình lại trở thành những tên giết người máu lạnh. Ðược chính quyền và cơ quan công an động viên, giải thích, họ dẫn những người thân vừa gây nên tội ác tày trời ra tự thú, nhận tội.


Ðồng bào Tây Nguyên, nhất là cộng đồng người dân tộc thiểu số đã lên án mạnh mẽ những hành động tội ác và những kẻ gây nên tội ác. Họ đã hợp tác tích cực cùng chính quyền, các lực lượng công an, quân đội trong quá trình cung cấp thông tin, tham gia vây bắt những tên khủng bố. Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã vãn hồi tình hình, trả lại sự bình yên vốn có cho mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ./.



ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRƯỚC YÊU CẦU MỚI

 

Để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả, cần tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp thực tiễn Việt Nam.


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp...


Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết 35 - NQ/TW của Bộ Chính trị, Hải Dương đã triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch một cách nghiêm túc, bài bản và đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên địa bàn tỉnh vẫn còn những hạn chế như một số cấp ủy, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức tới nhiệm vụ này. Chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, sự phối hợp của các tổ chức, các lực lượng cùng tham gia, nhất là vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hình thức đấu tranh có lúc chưa phù hợp, thiếu chủ động, chưa sắc bén. 


Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ chưa kịp thời...


Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần quán triệt một số yêu cầu mới. Đó là tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt. Phải gắn việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.


Để đáp ứng những yêu cầu mới nêu trên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên địa bàn Hải Dương cần nắm chắc nguyên tắc đấu tranh, đó là đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước và dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử cụ thể. Phân biệt rõ quan điểm sai trái, quan điểm thù địch, trên cơ sở đó có phương pháp đấu tranh, phê phán cụ thể, phù hợp, hiệu quả.


Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, trước hết là người đứng đầu cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục làm tốt việc học tập, nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị mình.


Các nhà trường cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục, học tập, phổ biến kết quả nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong thời kỳ mới, nhất là hệ thống trường Đảng, các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị trong toàn tỉnh.


Tiếp tục quan tâm kiện toàn tổ chức và cơ chế hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 các cấp, nhất là lực lượng ở cơ sở để lực lượng này hoạt động ngày càng hiệu quả. Bên cạnh đó cần quan tâm bồi dưỡng lý luận cho đội ngũ này để họ thấm đượm nền tảng tư tưởng của Đảng và những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, họ có được lập trường vững vàng và lập luận sắc bén hơn trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của kẻ thù.


Tiếp tục đa dạng hóa hình thức đấu tranh, tăng cường phối hợp giữa các ngành, các lực lượng để trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị; chú trọng xây dựng, phổ biến luận cứ đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc.


Đề xuất với Trung ương rà soát, xây dựng bổ sung, hoàn thiện cơ sở pháp lý đồng bộ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả. Đồng thời hoàn thiện hơn nữa hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội. Đầu tư đúng mức, có trọng tâm, trọng điểm để đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển các giải pháp kỹ thuật mới về công nghệ thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, quản lý, phối hợp, tổ chức các lực lượng đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, trên cơ sở đó kịp thời tập huấn, chuyển giao, kết nối để nâng cao hiệu quả sử dụng trong hoạt động thực tiễn./.


55 NĂM CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9-KHE SANH: BẢN HÙNG CA TRÊN MIỀN ĐẤT LỬA

 

Cách đây 55 năm, ngày 9/7/1968, lá cờ chiến thắng của quân giải phóng tung bay trên Sân bay Quân sự Tà Cơn, đánh dấu mốc thắng lợi của Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh, giải phóng huyện Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị), hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghi binh chiến lược, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.


Sau 55 năm, với những kết quả nghiên cứu và những tư liệu mới được công bố, chiến thắng lịch sử này đang ngày càng được nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn và với thời gian, tầm vóc, ý nghĩa của sự kiện này đối với toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lại càng rõ nét, mang ý nghĩa bước ngoặt và có tác động lớn hơn.


Cuộc quyết chiến tại mặt trận Ðường 9-Khe Sanh


Thị trấn Khe Sanh là thủ phủ của huyện Hướng Hóa, nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Trị. Và Đường 9-Khe Sanh được coi là “con đường chiến lược cho mọi ý đồ chiến lược.” Đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặc biệt quan tâm đến Đường 9-Khe Sanh và ví nơi này như “cái mỏ neo” ở phía Tây của toàn bộ hệ thống phòng thủ chiến lược phía Nam khu phi quân sự.


Chính vì vậy, Mỹ-ngụy tập trung xây dựng cụm cứ điểm mà chúng coi là bất khả chiến bại với quân số lên tới hơn 45.000 (trong đó có 28.000 quân Mỹ) và coi đây là một trong những “mắt thần” của phòng tuyến Mắc Namara - một phòng tuyến mà địch giăng ra rất kiên cố từ Cửa Việt đến Lao Bảo - hòng chặn, cắt sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.


Chính vì tầm quan trọng của khu vực Ðường 9-Khe Sanh, ngay từ giữa năm 1966, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, đã quyết định thành lập Quân khu Trị Thiên, mở mặt trận Ðường 9-Bắc Quảng Trị. Từ đây, mặt trận này đã thu hút, ghìm chân một bộ phận quan trọng binh lực của đối phương.


Đến cuối năm 1967, cục diện chiến tranh có sự chuyển biến quan trọng theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng. Nắm bắt thời cơ chiến lược, Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp chiến trường miền Nam, buộc Chính phủ Mỹ phải xuống thang chiến tranh, đưa sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ chuyển sang bước phát triển mới.


Theo kế hoạch tác chiến được Bộ Chính trị thông qua (tháng 12/1967), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, bao gồm hai đòn chính nhằm vào hai hướng chiến lược khác nhau.


Thứ nhất là đòn tiến công tập trung của bộ đội chủ lực tại chiến trường Đường 9-Khe Sanh (Bắc Quảng Trị), nhằm kéo đại bộ phận lực lượng cơ động đối phương ra vòng ngoài, thực hiện nhiệm vụ nghi binh, đồng thời tổ chức đánh tiêu diệt lớn, làm phá sản chiến lược quân sự “tìm và diệt” của đế quốc Mỹ. Thứ hai là đòn tiến công tổng hợp (kết hợp chặt chẽ quân sự, chính trị, binh vận) nhằm vào các đô thị, nơi có cơ quan đầu não, hậu cứ an toàn của địch để giành thắng lợi quyết định, buộc đế quốc Mỹ phải đàm phán đi đến chấm dứt chiến tranh.


Ngày 6/12/1967, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9-Khe Sanh, với nhiệm vụ tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng, tiêu hao một bộ phận quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, thu hút địch ra Đường 9, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đánh địch. Thiếu tướng Trần Quý Hai, Phó Tổng Tham mưu trưởng được cử giữ chức Tư lệnh kiêm Phó Bí thư Đảng ủy. Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy mặt trận.


Đêm 20, rạng sáng ngày 21/1/1968, quân ta nổ súng tiến công căn cứ Khe Sanh cùng toàn bộ tuyến phòng thủ Đường 9 của đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn, mở đầu cho cuộc đọ sức quyết liệt, kéo dài trong cả Xuân Hè năm 1968. Ngay lập tức, Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) tập trung lực lượng, bom đạn đối phó với ta. Vào thời điểm đỉnh cao, đế quốc Mỹ dồn 40% lực lượng cơ động ra “mặt trận vùng giới tuyến,” khiến tình hình chiến sự nơi đây như “thỏi nam châm cực mạnh” thu hút sự quan tâm của cả chính quyền, các hãng truyền thông cùng đông đảo nhân dân Mỹ.


Khi mọi sự chú ý đổ dồn vào Mặt trận Đường 9-Khe Sanh, thì vào đêm Giao thừa và đêm mùng 1 Tết Nguyên đán (ngày 30 và 31/1/1968), quân và dân ta bất ngờ mở cuộc tiến công đồng loạt các đô thị trên toàn miền Nam, đánh thẳng vào các cơ quan đầu não địch, khiến đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn “sững sờ, choáng váng.”


Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry A. Kissinger sau này nhận xét: “Hà Nội đã 'chơi trò đấu bò,' lừa con bò tót Mỹ hung dữ ra vòng ngoài rồi dùng lực lượng quân sự của họ bất thần đánh ập vào toàn bộ các đô thị phía trong là nơi Mỹ sơ hở, làm cho bộ chỉ huy Mỹ không kịp trở tay.”


Trong khi đó, chiến sự vẫn diễn ra ác liệt tại Mặt trận Đường 9-Khe Sanh. Chỉ tính riêng từ ngày 21/1 đến ngày 31/3/1968, đế quốc Mỹ đã sử dụng 24.000 lần máy bay chiến thuật, 2.700 lần máy bay chiến lược B-52, ném xuống khu vực Khe Sanh trên 100.000 tấn bom đạn, chưa kể số máy bay vận tải làm nhiệm vụ tiếp tế cho các căn cứ; pháo binh của địch còn bắn hơn 100.000 quả đạn...; tạo nên một cuộc “phô trương” hỏa lực lớn nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Tuy nhiên, quân địch vẫn bị Quân giải phóng tiến công, bao vây, lâm vào tình thế khó khăn nghiêm trọng.


Do thất bại nặng nề trên chiến trường cùng sự phản ứng dữ dội trong công chúng, chính phủ Mỹ buộc phải tìm cách xuống thang chiến tranh. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 (Thanh Hóa) trở ra, đồng thời sẵn sàng cử đại diện đàm phán trực tiếp với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa để bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.


Tuy nhiên, đế quốc Mỹ không dễ dàng từ bỏ chính sách chiến tranh xâm lược của mình. Sau khi đẩy lực lượng Quân giải phóng ra khỏi các đô thị, giành quyền kiểm soát thêm nhiều vùng nông thôn, từ ngày 1/4/1968, Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tiếp tục tung nhiều đơn vị thiện chiến (kể cả Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 vốn được coi là “niềm hy vọng lớn nhất của lục quân”) vào Mặt trận Đường 9-Khe Sanh, nhằm cứu nguy cho lực lượng tại chỗ, đồng thời quyết tâm giành thắng lợi hòng tạo thế mạnh trong đàm phán.


Về phía ta, để đập tan âm mưu và hành động của địch, Quân ủy Trung ương một mặt điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức lãnh đạo, chỉ huy; mặt khác điều động thêm một số đơn vị chủ lực mạnh (trong đó có Sư đoàn 308-Đại đoàn Quân tiên phong) vào phối hợp với lực lượng tại chỗ trực tiếp tham chiến.


Ngày 26/6/1968, trước những khó khăn và tổn thất lớn, đế quốc Mỹ tuyên bố rút khỏi căn cứ Khe Sanh cùng nhiều cứ điểm quan trọng trên tuyến phòng thủ Đường 9. Đến ngày 15/7/1968, chiến dịch quân sự trên mặt trận Đường 9-Khe Sanh trong Xuân Hè năm 1968 kết thúc thắng lợi.


Trải qua 170 ngày đêm chiến đấu liên tục, trong điều kiện vô cùng khó khăn, ác liệt, quân và dân Việt Nam trên mặt trận Đường 9-Khe Sanh đã loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 quân địch; bắn rơi, phá hủy 480 máy bay các loại cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác. Hãng tin Reuters, ngày 2/7/1968 cho rằng: “Khe Sanh được ghi vào lịch sử cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam như một nơi phải trả giá đắt nhất bằng máu.”


Đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật quân sự Việt Nam


Có thể nói, chiến thắng Đường 9-Khe Sanh trong Xuân Hè năm 1968 mang tầm vóc, ý nghĩa hết sức to lớn, là mốc son trong nghệ thuật chỉ đạo chiến lược tài tình của Đảng ta. Đây là kết quả của đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật quân sự Việt Nam.


Không chỉ là một đòn nghi binh chiến lược, Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh còn nhằm thu hút, giam chân, tiêu diệt một lực lượng lớn quân Mỹ và tạo ra sự chú ý đặc biệt cho giới cầm quyền chóp bu Sài Gòn cũng như Washington, góp phần tạo nên yếu tố bất ngờ và điều kiện thuận lợi cho quân dân toàn miền Nam thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968.


Nhà báo Mỹ Neil Sheehan thừa nhận: "Kế hoạch của Quân giải phóng rộng lớn và táo bạo vượt quá mức tưởng tượng của những người nước ngoài (Mỹ) và người phục vụ họ (chính quyền Sài Gòn).”


Chiến thắng Đường 9-Khe Sanh đã góp phần giáng đòn nặng nề vào ý chí xâm lược của đội quân viễn chinh và cả chính phủ Mỹ. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta tổ chức một chiến dịch tiến công có quy mô lớn và dài ngày; bộ đội chủ lực thực hành chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng đột phá vào tuyến phòng ngự vòng ngoài vững chắc chủ yếu của quân đội Mỹ, trực tiếp đương đầu với lực lượng tinh nhuệ nhất của quân Mỹ như Sư đoàn lính thủy đánh bộ và Sư đoàn kỵ binh không vận.


Rút kinh nghiệm từ thất bại của người Pháp, Mỹ muốn thiết lập một “Điện Biên Phủ đảo ngược” ở Khe Sanh, sử dụng sức mạnh quân sự vượt trội hòng đè bẹp ý chí chiến đấu và khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Quân và dân ta đã chủ động lựa chọn cách đánh, thực hiện thành công vây hãm, tập kích, truy kích tiêu hao, tiêu diệt và đẩy quân Mỹ và quân đội Sài Gòn vào tình thế khốn quẫn, buộc phải rút bỏ Khe Sanh.


Chiến thắng ở Đường 9-Khe Sanh đã phá vỡ một phần tuyến phòng thủ mạnh của địch, giải phóng một địa bàn có vị trí quan trọng, góp phần bảo vệ tuyến chi viện Bắc-Nam; làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ,” buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra và thay đổi biện pháp chiến lược từ “tìm diệt” sang “quét và giữ”; đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm cho nội bộ giới cầm quyền Nhà Trắng ngày càng chia rẽ sâu sắc, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào phản chiến của tầng lớp nhân dân Mỹ.


Đồng thời, chiến thắng này còn hỗ trợ tích cực cho mặt trận đấu tranh ngoại giao, trực tiếp là Hội nghị Paris. Trước năm 1968, chính phủ Mỹ vẫn tin rằng sức mạnh quân sự sẽ giành thắng lợi, muốn đàm phán trên thế mạnh, đưa ra những điều kiện vô lí (đòi quân đội miền Bắc rút quân). Nhưng thất bại trong nửa đầu năm 1968, đặc biệt thất bại tại Đường 9-Khe Sanh đã buộc chính quyền Tổng thống Lyndon B. Johnson phải chấp nhận đàm phán không điều kiện. Bộ Quốc phòng Mỹ sau này thừa nhận: “Việc rút lui khỏi căn cứ chính Khe Sanh trên tuyến Đường 9 đã làm giảm vị thế ngoại giao của một cường quốc muốn giành thắng lợi dựa vào sức mạnh vật chất như Mỹ.”


Chiến thắng Đường 9-Khe Sanh trong Xuân Hè năm 1968 còn để lại cho cách mạng Việt Nam nhiều bài học sâu sắc, nhất là bài học về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược tài tình của Đảng ta, như nhạy bén, chính xác trong việc chọn địa bàn để mở đòn tiến công của bộ đội chủ lực; không ngừng xây dựng, củng cố phát huy vị trí, vai trò của hậu phương chiến tranh nhân dân; khơi dậy sức mạnh truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh.


Không phải ngẫu nhiên mà Đại tướng Westmoreland, Tư lệnh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam từng nhận xét: “Bước ngoặt lịch sử bắt đầu từ một thung lũng nhỏ mang tên Khe Sanh và kết thúc bằng cú Tết Mậu Thân 1968.”


Hướng Hóa - đất thép nở hoa


Chiến thắng Đường 9-Khe Sanh đã đưa Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) trở thành huyện đầu tiên của chiến trường miền Nam hoàn toàn được giải phóng.


55 năm trôi qua, vượt lên từ những đau thương, mất mát do hậu quả của chiến tranh, Hướng Hóa đang đổi thay từng ngày, với nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Đường 9 một thời “hoa lửa,” giờ đây đã nâng cấp và trở thành con đường của hội nhập, phát triển trên tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây.


Những chiến địa ác liệt năm xưa, như Khe Sanh, Tà Cơn, Lao Bảo, Làng Vây... giờ trở thành những địa chỉ đầu tư phát triển hấp dẫn. Hướng Hóa-Khe Sanh ngày nay được mọi người nhắc đến là phố núi trên vùng giáp biên giới Việt-Lào, là “tiểu Đà Lạt” với khí hậu cảnh quan tuyệt đẹp. Hệ thống di tích chiến thắng Khe Sanh đã trở thành nơi thu hút hàng chục nghìn du khách mỗi năm.


Kinh tế-xã hội huyện Hướng Hóa có sự phát triển vượt bậc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng trên 3 lĩnh vực (nông-lâm nghiệp; thương mại-dịch vụ, du lịch; công nghiệp-xây dựng). Tổng giá trị sản xuất năm 2022 đạt 28.556,9 tỷ đồng, cao hơn 2,26 lần so với bình quân (2015-2020). Thu nhập bình quân đầu người cuối năm 2022 đạt 43,05 triệu đồng/36 triệu đồng năm 2020.


Sau đại dịch COVID-19, ngành thương mại, dịch vụ tăng trưởng khá, cửa khẩu quốc tế Lao Bảo thông thương, nhộn nhịp trở lại; tiếp tục khai thác tiềm năng du lịch của huyện, nhất là du lịch sinh thái, cộng đồng. Chú trọng thúc đẩy các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư, bình quân hàng năm thu hút trên 120 nghìn lượt khách du lịch, tăng gấp 6 lần so với năm 2020; các mô hình, cơ sở dịch vụ du lịch ngày càng được các hộ gia đình và doanh nghiệp đầu tư phát triển mở rộng quy mô, số lượng, nâng cao chất lượng; dịch vụ nhà hàng, khách sạn hoạt động khá hiệu quả. Đã hình thành một số vùng chuyên canh sản xuất rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; phát triển diện tích trồng hoa, cây cảnh. Sản lượng lương thực bình quân hằng năm đạt gần 9.000 tấn. Tính đến đầu năm 2023, toàn huyện có 18 sản phẩm OCOP.


Công tác quản lý, bảo vệ rừng được quan tâm, tăng cường, bình quân hằng năm trồng mới 305 ha rừng tập trung, với 13,4 vạn cây. Đặc biệt, vài năm trở lại đây, những dự án điện gió giúp Hướng Hóa càng nhộn nhịp, sầm uất hơn. Đến nay, tổng số 29 dự án điện gió được đầu tư, trong đó có 19 dự án đã đi vào hoạt động, với tổng công suất 670 MW và 10 dự án có tổng công suất lắp máy 400 MW đang thực hiện công tác giải phóng mặt bằng.


Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được đẩy mạnh đầu tư đồng bộ, tạo  chuyển biến mạnh mẽ, như: giao thông, điện, nước, thủy lợi, thông tin, trường học, trạm y tế, trụ sở, nhà văn hóa... đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, Chuyển đổi Số, công nghiệp hóa-hiện đại hóa và hội nhập.


Huyện có tốc độ đô thị hóa khá nhanh, đã hình thành 2 đô thị Khe Sanh, Lao Bảo, quy hoạch 2 đô thị Hướng Phùng, Lìa. Hướng Hóa có 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 2 đô thị văn minh. 100% thôn, bản phủ sóng phát thanh, truyền hình; 95% thôn, bản có kết nối internet, wifi, 3G, 4G; 21/21 xã, thị trấn kết nối hội nghị trực tuyến. Diện mạo huyện miền núi biên giới từ trung tâm cho đến các bản làng xa xôi ngày càng khởi sắc.


Lĩnh vực văn hóa-xã hội có sự phát triển nhanh. Toàn huyện có 65 trường học, cơ sở giáo dục-đào tạo, với 4 bậc học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Cơ sở vật chất, số lượng, chất lượng đội ngũ y tế ngày càng được nâng lên, đạt 7,7 bác sĩ/1vạn dân (gấp 5,5 lần/năm 1997); 21/21 trạm y tế xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.


55 năm sau ngày giải phóng, dấu tích của cuộc chiến đã dần lùi xa, trong mỗi người dân của mảnh đất dưới chân đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ còn mãi niềm tự hào về một thời oanh liệt. Ghi nhận sự cố gắng nỗ lực ấy, Đảng và Nhà nước đã trao tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới” cho cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang Hướng Hoá. Đây chính là động lực cổ vũ người dân xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc hơn, viết tiếp những bản anh hùng ca lịch sử.../.



ĐỂ THỰC HIỆN TỐT QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

 Sau 25 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở, cấp ủy, chính quyền các cấp đã triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, sáng tạo nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận và phát huy được sức mạnh toàn dân trong xây dựng và phát triển đất nước, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển, đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Chủ trương của Đảng về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về dân chủ theo cách rất dễ hiểu: Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Người còn nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”1. Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, Điều 3, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”2.

Trong tiến trình đổi mới, việc vi phạm dân chủ ở nông thôn khi nhân dân tham gia đóng góp xây dựng hạ tầng đường, trường, trạm... đã không được bàn bạc, mức đóng góp quá sức dân, gây bức xúc trong nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây nên tình trạng mất an ninh và trật tự xã hội ở một số địa phương. Trước tình hình đó, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Chỉ thị nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”3, nhằm cụ thể hóa phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đảm bảo dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các Nghị quyết số 45/1998, Nghị quyết số 55/1998, Nghị quyết số 60/1998, Pháp lệnh số 34/2007 và Chính phủ ban hành các Nghị định số: 29/1998, 71/1998, 07/1999, 79/2003, 87/2007 về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đã tạo ra cơ chế cụ thể về quyền làm chủ của nhân dân.

Trong từng thời kỳ cách mạng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kế thừa, bổ sung và phát triển nhận thức về thực hiện QCDC ở cơ sở cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; là khâu quan trọng, then chốt trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Ngày 22-6-2000, Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 304-TB/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Tiếp sau đó, ngày 4, 5-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị giai đoạn 1998-2001. Đến ngày 28-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Ngày 28, 29-9-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị và ra Thông báo số 159-TB/TW “Kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) và tiếp tục chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Đến ngày 4-3-2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII). Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong thời kỳ mới. Ngày 7-1-2016, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 120-KL/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân làm chủ”, “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân” và tập trung làm rõ tình hình, phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đồng thời, khẳng định: “Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”4.

Đại hội XIII, kế thừa và phát triển tư tưởng “trọng dân” trong truyền thống lịch sử của dân tộc, bài học “dân là gốc” tiếp tục được phát triển bổ sung nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” vào phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân.

“Dân giám sát” là nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể, thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp.

“Dân thụ hưởng” là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con người, vì nhân dân, lan tỏa giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người, bản chất của chế độ xã hội. Đó là động lực, là lợi ích, lợi ích phải hài hòa tổng thể lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.

Bài học “dân là gốc”, phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”5.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về thực hiện QCDC ở cơ sở, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, tạo lập cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tạo sự chuyển biến tích cực trong đời sống chính trị - xã hội, tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (Luật số 10/2022/QH15). Luật gồm 6 chương, 91 điều; trong đó quy định việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức sử dụng lao động.

Luật nêu rõ quyền của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở như sau:

- Được công khai thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định của pháp luật.

- Đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định đối với các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

- Được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp trong thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, cần tập trung một số nhiệm vụ sau:

Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở

Chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền việc đẩy mạnh thực hiện QCDC trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân phải cụ thể: Xây dựng cơ chế thông tin đa chiều, thực hiện minh bạch, công khai thông tin, đáp ứng quyền được thông tin của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân. Đa dạng hóa phương pháp, hình thức tuyên truyền theo hướng tăng cường đối thoại, trao đổi, tương tác phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng. Hiện đại hóa và sử dụng các phương tiện tuyên truyền hiện đại, nhiều chức năng, dịch vụ, tiện ích nhằm góp phần hữu ích, thiết thực trong việc tương tác, chia sẻ. Do vậy, cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy các cấp phải thực sự gương mẫu trong việc chấp hành các nguyên tắc tập trung dân chủ, trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên, trong sinh hoạt, lối sống… Đồng thời, kịp thời phê phán những biểu hiện cực đoan, lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng phục vụ cho “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân, đồng thời cần khắc phục, chấm dứt những việc làm mang tính dân chủ hình thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý Nhà nước để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy các cấp trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hành dân chủ; phát huy hiệu lực, hiệu quả vai trò các cơ quan, tổ chức trong thực hành dân chủ; tổ chức bộ máy gọn nhẹ, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, có uy tín trong nhân dân, có năng lực, bảo đảm liêm, chính.

Ba là, phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện QCDC ở cơ sở.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ quyền làm chủ, tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, không ngừng đổi mới phương thức hoạt động và cơ chế để phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh. Thường xuyên kiện toàn tổ chức, bộ máy theo hướng tinh gọn, phù hợp với các chức năng, vai trò và nhiệm vụ; nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng hiệu quả, thiết thực, khắc phục triệt để tình trạng phô trương, hình thức; đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở; bảo đảm lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Tăng cường giám sát việc lãnh đạo và thực hiện QCDC ở cơ sở, việc tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân của chính quyền các cấp nhằm giải đáp nguyện vọng, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, đạo đức cách mạng trong sáng, chí công vô tư trong thực hiện QCDC ở cơ sở.

Để thực hành dân chủ, công tác cán bộ là một trong những khâu quan trọng và mang tính quyết định nhất. Do đó, cần: Nâng cao nhận thức cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về vai trò của việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay. Kết hợp thực hiện các biện pháp cụ thể về tổ chức quản lý, hành chính, pháp luật và đề cao sức mạnh của dư luận xã hội. Kiên quyết đấu tranh, xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối loạn nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc, có nhận thức đầy đủ các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, về thực hiện dân chủ trong Đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Mỗi cán bộ đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đã được quy hoạch đều có cơ hội và điều kiện như nhau để có thể phát huy tốt những phẩm chất, năng lực của mình trong tuyển dụng, tuyển chọn vào các chức danh lãnh đạo, quản lý./.



Văn hoá còn thì dân tộc còn

 Ted Osius khi sang Việt Nam nhậm chức Đại sứ đã qua Bộ Công an chào xã giao Thượng tướng Tô Lâm lúc bấy giờ phụ trách an ninh đất nước. Khi gặp Ted Osius, Tướng Tô Lâm đã khuyên Ted Osius đại ý rằng, ông sang làm sứ lần này thì đừng có đi vào vết xe đổ của các ông sứ nhiệm kỳ trước hòng móc nối các phần tử để chống phá Việt Nam.

Osius đã trả lời bằng cái giọng đầy thách thức rằng: Vâng, thưa ngài, sứ mệnh của tôi, nhiệm vụ của tôi trong nhiệm kỳ này là tìm mọi cách, tạo mọi điều kiện đưa thế hệ trẻ Việt Nam sang Mỹ đào tạo, du học, mở rộng thêm các trường tiêu chuẩn Mỹ ở Việt             Nam để những cái gì mà mấy chục năm qua người Mỹ không làm được, thì mấy chục năm sau, thế hệ trẻ Việt Nam được đào tạo ở Mỹ trong tương lai sẽ giúp nước Mỹ thực hiện được giấc mơ của người Mỹ ở Việt Nam.

Người Mỹ đã nhận ra rằng, đối với Việt Nam chỉ có cách tẩy não thế hệ trong tương lai, phá bỏ hệ thống văn hóa và lịch sử, nhồi nhét tư tưởng Tây hoá, Mỹ hoá vào đầu, từ đó sẽ biến thành công cụ, tay sai để phục vụ cho lợi ích của nước Mỹ.

Có hai thứ trên đời này nếu biến mất, đồng nghĩa là tự ký vào bản án tử cho một đất nước, đó chính là: Văn hóa và Lịch sử. Nếu các bạn không tin, hãy nhìn Ukraina. Và bây giờ chúng đã thành công khi ngành giáo dục sẽ đưa môn lịch sử thành môn tự chọn, vài chục năm sau với kiến thức lịch sử là con số 0 thì không ai có thể chắc chắn được chúng sẽ không loại bỏ môn lịch sử ra khỏi hệ thống hay như xét lại, viết lại lịch sử.

Nước Nga có thể hùng mạnh sau khi Liên Xô sụp đổ chính là nhờ sự cải cách trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục con cháu họ về mặt lịch sử, sự hy sinh xương máu của cha anh, về truyền thống hào hùng của dân tộc họ từ đó mà làm nền tảng nòng cốt đưa nước Nga ngày nay trở lại vũ đài thế giới.

Không chỉ Nga mà gần như tất cả các quốc gia phát triển đều ý thức được rằng nếu muốn tồn tại trong thế giới này tránh khỏi họa diệt vong đó chính là bằng mọi giá phải giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc và kiến thức lịch sử của đất nước. Cho nên việc xem nhẹ giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ là hành động hết sức thiển cận.

Nhân bất học bất tri lý, học cả đời vẫn còn sợ ngu, chứ chưa học đã lo thừa, làm giáo dục như các anh chị, chỉ có hài hước là đếch ai bằng./.

“Ngẫn” về chính trị nhưng lại thích nói về nhân cách


         Mới đây, anh Ngô Bảo Châu lại khiến dư luận “dậy sóng” về việc anh tham gia hội thảo khoa học “Những kiến thức hữu ích cho nhà quản lý và hoạch định chính sách” và đặt ra câu hỏi về việc làm thế nào để học sinh có thể học giỏi môn Toán cùng với việc hình thành nhân cách.

Có lẽ anh Ngô Bảo Châu “vô tình” quên rằng tài năng trong một lĩnh vực chưa bao giờ đảm bảo cho một cá nhân có sự hiểu biết đúng đắn về vấn đề phức tạp và đa chiều như chính trị. Bạn có thể giỏi một lĩnh vực nào đó nhưng điều đó chưa hẳn nói lên rằng bạn có thể đủ kiến thức và tầm nhìn khi bàn luận đến vấn đề chính trị, xã hội. Ngô Bảo Châu có thể đánh bại các thách thức toán học, nhưng những quan điểm mà anh đang thể hiện trong lĩnh vực chính trị dường như chỉ là sự lãnh hội thiếu tư duy - trình độ và thậm chí là một cái nhìn chưa chính xác.

Thời gian gần đây, Ngô Bảo Châu được dư luận biết đến với hình ảnh chưa tốt, chưa đẹp. Anh Châu có những lời nói bênh vực, cổ xúy những kẻ chống phá chính quyền và có những hành động không phù hợp, như xúc phạm lãnh tụ của dân tộc, làm cho ông trở thành một hình mẫu tiêu biểu của việc đánh mất đạo đức và nhân phẩm trong chính sự nghiệp toán học của mình. Điều này chứng tỏ rằng khả năng vượt qua những thách thức toán học không đồng nghĩa với sự nhạy bén trong việc đánh giá và hiểu biết về các vấn đề xã hội và chính trị.

Do đó, để dạy hỗ, hướng dẫn người khác trong việc hình thành nhân cách thì tôi nghĩ anh Châu không phù hợp. Một cá nhân đã đánh mất lý tưởng, mấy đi tầm nhìn và uy tín thì làm sao đủ tiêu chuẩn để truyền đạt kiến thức và giá trị đạo đức cho thế hệ sau.

Thực tế là, Ngô Bảo Châu chưa đủ trưởng thành và hiểu biết về các vấn đề xã hội và chính trị đã khiến cho những cống hiến trong lĩnh vực toán học bị che lấp bởi một hình ảnh không mấy tích cực trong xã hội. Việc chống phá, bất trung và thiếu tôn trọng lãnh tụ đang khiến cho Ngô Bảo Châu trở thành một biểu tượng tiêu cực, thay vì một người có thể gắn kết và truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ.

Và điều quan trọng nhất là, Ngô Bảo Châuđã mất đi sự kiêng nể và lòng tôn trọng từ cộng đồng vì những hành động và lời nói không phù hợp với tầm nhìn toàn diện về sự phát triển của xã hội. Đúng như câu thành ngữ: "Nói hay cày dở", Ngô Bảo Châu có thể có thế mạnh trong việc nói lên quan điểm, nhưng việc hành động và đóng góp thực sự cho xã hội mới là điều quan trọng và thiết thực mà anh thì lại không khả năng làm được. Vậy nên tốt nhất Ngô Bảo Châu nên tập trung vào lĩnh vực mình tốt, mình giỏi chứ đừng hòi đòi sang vấn đề khác./.

XÂY DỰNG "THẾ TRẬN LÒNG DÂN" TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

Xây dựng “thế trận lòng dân” là bài học quý trong quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, bài học đó vẫn còn nguyên giá trị. Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo nên không gian mạng rộng khắp, mà ở đó con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Chính vì vậy, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này vừa là vấn đề cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong những năm qua, “thế trận lòng dân” ở từng địa bàn có lúc còn chưa vững chắc; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước có thời điểm giảm sút… Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá ta; kích động biểu tình, bạo loạn. Thống kê gần đây cho thấy, bình quân hằng tháng các thế lực thù địch phát tán hơn 130.000 bài viết, video, clip xuyên tạc trên mạng xã hội. Chúng tận dụng tính năng phát trực tuyến của mạng xã hội làm công cụ phát tán thông tin xấu, độc. Chúng tung tin giả, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội hòng gây mất ổn định chính trị và ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội.

Chúng ta không thể phủ nhận, không gian mạng đem lại cho con người rất nhiều tiện ích, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số trở thành xu hướng tất yếu của nhân loại. Việc sử dụng mạng xã hội là nhu cầu chính đáng của mỗi tổ chức, cá nhân.

Để không gian mạng hoạt động theo chiều hướng tích cực, trước hết chúng ta phải nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và mỗi công dân về vị trí, vai trò của mạng xã hội và tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này.

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm tạo ra một không gian mạng lành mạnh, hữu ích, góp phần quan trọng vào sự phát triển đất nước. Đồng thời phải có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, răn đe những hành vi, thủ đoạn lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; sử dụng không gian mạng kích động, lôi kéo, xuyên tạc sự thật; phá hoại an ninh quốc gia - trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và quân đội.

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và Ban Chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch (Ban Chỉ đạo 35) trong xây dựng “thế trận lòng dân”. Phát huy tốt vai trò cơ quan tuyên giáo, các cơ quan thông tấn báo chí trong việc cung cấp thông tin, kịp thời định hướng dư luận trước những sự kiện lớn, các vấn đề được xã hội quan tâm.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ có đủ sức “đề kháng”, “miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc, xuyên tạc sự thật, các vấn đề tiêu cực trên mạng xã hội. Khuyến khích, động viên để các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và mỗi công dân tham gia mạng xã hội tuân thủ đúng pháp luật, có tri thức, văn hóa. Cần có cơ chế để nhân dân tham gia giám sát, đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, những vấn đề tiêu cực trên không gian mạng và cổ vũ cái tốt, cái tích cực, theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”.

Có thể khẳng định, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, đồng thời vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo./.