Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

             Gần đây tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số, một số đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng vấn đề ngôn ngữ các dân tộc thiểu số để tung tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động sắc tộc, chia rẽ vùng, miền, gây mất ổn định trật tự-an toàn xã hội... Vì vậy chúng ta cần hết sức cảnh giác, nhận diện rõ vấn đề này một cách kịp thời và đưa ra phương pháp đấu tranh, phòng chống hiệu quả...

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người dân tộc; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người dân tộc với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào dân tộc để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng dân tộc ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Năm 1980, Hội đồng Bộ trưởng đưa ra chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số trong Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980, trong đó xác định: “Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước. Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 cũng quy định rõ các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Hiệu quả của các chính sách trên đã phát huy trên thực tế. Nếu như trước đây, chỉ có một số dân tộc như Chăm, Khmer,... có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng của mình thì đến nay việc La-tinh hóa cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết như H’Mông, Ê Đê, Jrai... và hệ thống hóa ký tự của người Tày, Dao, Thái... đã được triển khai. Qua đó, các tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ mai sau.

Số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2020, tại Việt Nam, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe các chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh và kênh truyền hình từ trung ương đến địa phương được phát sóng với 26 thứ tiếng dân tộc đã đến được với bản làng xa xôi.

Chỉ tính riêng Đài Tiếng nói Việt Nam đã có 6 chương trình tiếng Việt chuyên sâu về đề tài dân tộc thiểu số; 13 chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số phủ sóng tại các vùng tập trung đông đồng bào dân tộc ít người tại Tây Bắc, Đông Bắc, miền trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ; hơn 400 chương trình phát thanh (giai đoạn từ 2011-2021) để tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số về Chương trình 135, cải thiện sinh kế, nâng cao nhận thức của đồng bào về vấn đề quyền con người...

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, Ê Đê, H’Mông, M’Nông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, H’Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người dân tộc thiểu số vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị-xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.

Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO, TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người cũng như các tôn giáo hoạt động và tham gia đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tinh thần “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp các tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện tư duy lý luận về tôn giáo và quản lý đất nước trong lĩnh vực tôn giáo. Nghị quyết 24 (1990) của Bộ Chính trị khóa VI về công tác tôn giáo trong tình hình mới và Nghị quyết 25 (2003) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo đã có những bước đổi mới, đột phá, thừa nhận “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” và “tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, thể hiện đường lối, quan điểm một cách rõ ràng, minh bạch nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, không chỉ khẳng định sự “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, mà còn phát triển mức cao hơn, làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và CNXH ở nước ta.

Với quan điểm nhất quán đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng đã được minh định theo hướng “vừa giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo” và “công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị”. Cũng xuất phát từ quan điểm đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đều được luật hóa trong các bản Hiến pháp và các bộ luật liên quan trên các mặt công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm, “mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật... Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24, Hiến pháp 2013).

Ngày nay, các tôn giáo đều xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc như: “Hộ quốc an dân” của Phật giáo, “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo, “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” của Tin Lành; hoặc “Nước vinh đạo sáng” của Cao Đài… Những đường hướng này phù hợp với giáo lý, với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đất nước và lợi ích của Giáo hội.

Tuy nhiên, thế lực thù địch và một số tổ chức phản động đội lốt tôn giáo chưa từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” để chống phá Việt Nam. Chúng tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điệu sai trái, cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, “đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc trắng trợn về tình hình tôn giáo ở nước ta, phá hoại khối đoàn kết tôn giáo. Qua theo dõi, trong 5 năm từ 2017-2022, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn định kỳ ra báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu. Họ tự cho mình có quyền đánh giá, “phán xét” về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam và một số quốc gia khác.

Họ sử dụng thông tin, do những tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cực đoan, chống đối trong tôn giáo ở trong và ngoài nước, bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước làm căn cứ, cơ sở báo cáo đánh giá, nhận định thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam; qua đó, khuyến khích, cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ”, mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của tôn giáo và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân.

Với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền, chúng kích động với luận điệu như: “Quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo” của người dân bị xâm phạm; “chính quyền can thiệp vào nội bộ của tổ chức tôn giáo”; “các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận pháp nhân là tổ chức tôn giáo quốc doanh”; đồng thời lợi dụng mạng xã hội xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo”, “không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”…

Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại “Danh sách nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo” (CPC) và “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do không cần đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung theo quy định tại Điều 16, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không cần đăng ký để được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo theo quy định tại các Điều 17, 18, 19 và 20 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận”…

Phải khẳng định ngay rằng, những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc nêu trên là hết sức phi lý, với ý đồ, mục đích xấu xa nhằm tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, nhằm tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán, đánh giá của họ chỉ là sự lạc lõng, thiếu khách quan không được chức sắc tôn giáo tiến bộ trong và ngoài nước ủng hộ.

Song dù các thế lực thù địch có cố tình, xuyên tạc chống phá thế nào chăng nữa cũng không thể chia rẽ chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo. Những năm qua, tuyệt đại đa số chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo trong nước luôn đồng hành gắn bó với dân tộc, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Các thế lực thù địch, cơ hội cực đoan lợi dụng vấn đề dịch Covid-19 thời gian qua để xuyên tạc rằng, Việt Nam lợi dụng công tác phòng, chống dịch để thực hiện các vấn đề vi phạm dân chủ, nhân quyền. Vu cáo Đảng và Nhà nước ta không chăm lo cho đời sống của đồng bào dân tộc, tôn giáo, không cho họ tổ chức lễ hội truyền thống...

Tuy nhiên, để củng cố niềm tin trong bối cảnh dịch bệnh lúc bấy giờ, Nhà nước đã khuyến khích các tổ chức tôn giáo tham gia phòng, chống dịch Covid-19, tổ chức sinh hoạt tôn giáo bằng hình thức trực tuyến… vẫn thể hiện được niềm tin tôn giáo ngay tại tư gia. Chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo đã tình nguyện tham gia nơi tuyến đầu chống dịch, làm tốt công tác an sinh xã hội trong thời gian chống dịch, góp phần đẩy lùi dịch Covid-19, đưa cuộc sống người dân và sinh hoạt tôn giáo trở lại bình thường, thích ứng với điều kiện phòng, chống dịch Covid-19 trong trạng thái bình thường mới.

Để ngăn chặn, không để thế lực xấu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo, các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp năm 2013; thể chế quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Chính quyền các cấp quan tâm, giải quyết nhu cầu tôn giáo chính đáng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Chính các chức sắc tôn giáo phải vững vàng trước những luận điệu xấu độc để ra sức cùng Đảng và Nhà nước vận động đồng bào nhân dân nâng cao cảnh giác, không tin, không nghe luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch.

Cùng với đó, nâng cao đổi mới hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền; không để thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân trên các kênh thông tin đại chúng trong và ngoài nước. Lan tỏa những tấm gương “người tốt, việc tốt”, sống “tốt đời, đẹp đạo”; các hoạt động chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào theo đạo nổi bật của các cấp ủy, chính quyền địa phương, “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, góp phần hình thành tư tưởng tích cực trong cán bộ, đảng viên, định hướng dư luận củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với đời sống tôn giáo.

Tại các diễn đàn song phương, đa phương, các tổ chức tôn giáo Việt Nam cần thể hiện rõ tinh thần yêu chuộng hòa bình và lòng tự hào dân tộc, tích cực ủng hộ và đóng góp sáng kiến vào các tuyên bố chung, góp phần xây dựng thế giới hòa bình, giảm xung đột, bạo lực và chiến tranh vì lý do tôn giáo, sắc tộc. Vận động các tôn giáo đồng đạo trên thế giới ủng hộ Việt Nam xây dựng, phát triển đất nước, khẳng định truyền thống đoàn kết, yêu nước của đồng bào tôn giáo luôn được vun bồi, phát huy và tỏa sáng trong lòng dân tộc Việt Nam.

VẠCH TRẦN ÂM MƯU CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG VỤ VIỆC KHỦNG BỐ TẠI ĐẮK LẮK

             Vụ việc nhóm đối tượng dùng vũ khí tấn công trụ sở UBND hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xảy ra vào rạng sáng 11/6/2023, được đánh giá là hoạt động khủng bố có tổ chức nhằm chống phá chính quyền Nhân dân, gây hậu quả nghiêm trọng. Cả hệ thống chính trị tỉnh Đắk Lắk đã tích cực tuyên truyền thủ đoạn lôi kéo, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của thế lực thù địch, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới và đẩy mạnh các giải pháp dân vận ở cơ sở, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.

Vạch trần thủ đoạn

Sau hơn 1 tháng xảy ra vụ việc, bộ mặt thật của các đối tượng khủng bố đã bị vạch trần. Nhân dân cả nước đã thấy được âm mưu, thủ đoạn của những tổ chức phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo giật dây, kích động chống phá chính quyền, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo ra cái cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp, thực hiện mưu đồ chống phá Việt Nam. Theo đó, lực lượng chức năng nhanh chóng vào cuộc, quyết liệt đấu tranh, truy bắt nhiều đối tượng. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên kịch liệt lên án những hành động dã man của các đối tượng.

Theo báo cáo, đến nay, Cơ quan an ninh điều tra, Công an tỉnh Đắk Lắk quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 90 đối tượng về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền Nhân dân”, “Không tố giác tội phạm”, “Che giấu tội phạm” và “Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép”, trong đó, đang phát lệnh truy nã đặc biệt 6 đối tượng.

Qua điều tra và lấy lời khai các đối tượng, lực lượng chức năng xác định, đây là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền Nhân dân gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 Đây là hoạt động do các tổ chức phản động lưu vong người Việt, các phần tử theo chủ nghĩa cực đoan lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo trú chân tại một số quốc gia thiết lập cơ sở, tổ chức huấn luyện cho các đối tượng trong nước và cử người xâm nhập vào Việt Nam chỉ đạo thực hiện hành động khủng bố. Trong các đối tượng tham gia khủng bố, có một số đối tượng là thành viên tổ chức nước ngoài nhận lệnh chỉ đạo xâm nhập vào Việt Nam dàn dựng vụ tấn công.

Vô hiệu hóa âm mưu

Vụ việc xảy ra bất ngờ, khiến người dân Đắk Lắk không khỏi có chút hoang mang, trong khi đó các thế lực thù địch lại mượn cớ vụ tấn công để bêu xấu chính quyền với những luận điệu xảo trá. Song sức mạnh đoàn kết dân tộc của chính quyền và Nhân dân Việt Nam nói chung, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng đã vô hiệu quá âm mưu đó.

Người dân Cư Kuin không những tích cực hợp tác, cung cấp thông tin cho chính quyền, lực lượng chức năng, mà còn trực tiếp tham gia vây bắt những tên khủng bố, liều mình cứu cán bộ bị trọng thương. Điển hình như tấm gương ông Trần Đình Thuận (SN 1958) ở xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin, dù tuổi cao và biết rõ các đối tượng có vũ khí nguy hiểm, hành động hung hãn, nhưng ông vẫn tìm mọi cách vượt qua sự truy sát của các đối tượng để đưa Đại úy Lê Kiên Cường, cán bộ Công an xã Ea Ktur bị trọng thương đi cấp cứu.

Ông Võ Ngọc Phương, Trưởng phòng Dân tộc huyện Cư Kuin cho biết: Người dân địa phương rất hợp tác, tích cực trong công tác phối hợp, hỗ trợ lực lượng chức năng truy bắt đối tượng, trong đó có nhiều người DTTS. Rất nhiều người còn sẵn sàng tham gia vây bắt khi thấy đối tượng lạ mặt vào rẫy mà không có vũ khí và đã trực tiếp bắt được một số đối tượng. Người dân huy động sức người, sức của nấu ăn hỗ trợ lực lượng truy quét.

Huyện cũng có những văn bản yêu cầu người dân không kỳ thị, động viên đồng bào DTTS không tự ti, không để đối tượng xấu lợi dụng làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc. Nhờ đó chỉ sau vài ngày, tình hình an ninh trật tự đã ổn định, người dân lên nương rẫy và trở lại sinh hoạt bình thường. Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết các dân tộc trên địa bàn, đoàn kết quân dân.

Từ tinh thần đoàn kết của Nhân dân các dân tộc, của người dân với chính quyền, lực lượng chức năng đã vô hiệu hóa âm mưu của các thế lực thù địch, phản động. Tuy nhiên, qua vụ việc lần này, cũng gióng lên hồi chuông cảnh báo tình trạng các thế lực thù địch vẫn âm thầm hoạt động, tìm mọi cách để lợi dụng chống phá chính quyền.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỘT SỐ DỰ ÁN VỀ LUẬT AN NINH, TRẬT TỰ


             Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ trong xây dựng các dự án luật là yêu cầu khách quan.

Theo đó, trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu, đảm bảo các chính sách được đề xuất sau khi luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội.

Thông qua việc lấy ý kiến của người dân, người hoạch định chính sách sẽ có thông tin thực tế cuộc sống để đưa ra được những quy định phù hợp với các điều kiện xã hội hiện có. Từ đó, văn bản pháp luật sẽ có tính khả thi cao, phù hợp với tâm tư nguyện vọng, lợi ích của đa số quần chúng nhân dân thì văn bản sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, niềm tin của nhân dân đối với chính quyền sẽ được củng cố. Việc lấy ý kiến người dân cũng là hình thức tuyên truyền mang tính tích cực, chủ động để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, thảo luận, tiếp cận trước một bước với văn bản pháp luật, tạo thuận lợi để văn bản đi vào cuộc sống khi được chính thức ban hành.                    

Âm mưu phía sau những luận điệu xuyên tạc

Thực hiện kế hoạch của Chính phủ, Bộ Công an được giao chủ trì soạn thảo các dự án luật quan trọng gồm: Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) ở cơ sở; Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CAND; Luật Căn cước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và các tổ chức phản động lợi dụng quá trình Bộ Công an triển khai lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật nêu trên để đưa ra đủ luận điệu xuyên tạc, vu cáo. Các đối tượng cho rằng, Việt Nam muốn hạn chế các quyền tự do dân chủ rồi ban hành luật để trói buộc, gò ép người dân, thậm chí chúng còn lôi kéo, kích động người dân phản đối các dự luật khi đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của nhân dân.

Lướt qua các mạng xã hội Facebook, Youtube… hay các phương tiện truyền thông nước ngoài như đài BBC tiếng Việt, RFA, VOA cho thấy những chiêu trò chống phá khi liên tiếp đăng tải, phát tán các bài viết có nội dung xuyên tạc các dự án luật. Chẳng hạn, khi nói về dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, các đối tượng tung ra bài viết cho rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, mọi hoạt động của dân, rồi hạch sách, nhũng nhiễu… gây nguy hại cho dân; nếu hình thành một lực lượng như thế thì gần như là lực lượng bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng gây bất an cho dân... Từ đó hướng lái vấn đề “lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”...

Ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong liền đăng tải các bài viết nhằm bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và kích động người dân. Đây là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với dự án luật. Từ việc xuyên tạc nội dung trong dự án luật, các đối tượng hướng đến bôi nhọ hình ảnh lực lượng vũ trang, bôi nhọ chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cho rằng cách làm như vậy là sai lầm, làm mất vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế! Cùng với việc vu khống, bôi nhọ cán bộ, đảng viên, các đối tượng tìm cách tâng bốc những người bất mãn, cơ hội chính trị, coi những đối tượng hoạt động tuyên truyền, chống phá nhà nước bị pháp luật xử lý là những “nhà dân chủ”; cổ vũ tư tưởng dân tộc cực đoan, kích động "lòng yêu nước" để tụ tập, biểu tình chống đối nhằm tới mục tiêu "cách mạng đường phố", "cách mạng màu" để thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Cần nhận thức đầy đủ ý nghĩa, sự cần thiết ban hành các dự án luật

Trái ngược với những luận điệu xuyên tạc, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, đại biểu Quốc hội và người dân ở các tỉnh, thành phố qua quá trình nghiên cứu, thảo luận đã khẳng định, việc ban hành các dự án luật do Bộ Công an chủ trì soạn thảo nói trên là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Điều này xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp của công tác bảo đảm ANTT, luôn có sự biến động, thay đổi, đòi hỏi các quy định pháp luật phải được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Với những vấn đề mới khi đưa ra thảo luận, đóng góp ý kiến, có những ý kiến đồng tình hoặc chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, cần tỉnh táo trước những luận điệu lợi dụng việc góp ý để xuyên tạc nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.

Các dự án luật trên có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; tăng cường quản lý nhà nước và bảo đảm quyền lợi của công dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng CAND. Tạo cơ sở vững chắc giúp lực lượng Công an chủ động trong công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh trật tự, triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị.

Đối với dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động gây tâm lý hoài nghi, dao động, ảnh hưởng đến mục tiêu giữ vững sự ổn định và bảo đảm ANTT ngay từ cấp cơ sở. Do vậy, chúng ta cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có cách thức đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái.

Cần thấy rằng, việc xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở. Việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các cơ quan chức năng trước khi hoàn thiện để Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn cơ sở.

Hiện nay, cùng với lực lượng Công an, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Đây là lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở địa bàn cấp xã. Mặc dù vậy, hiện nay mỗi nơi từ tên gọi đến tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng khác nhau, không rõ ràng. Từ đó một số nơi gặp khó khăn trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, do vậy đòi hỏi cần phải được chuẩn hóa, đưa vào luật.

Thực tiễn tổ chức và hoạt động của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở thời gian qua đã bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành. Mặt khác, các quy định về thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị chồng lấn giữa các lực lượng. Quy định về chế độ, chính sách; điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang, thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa thống nhất.

 “Lấy dân làm gốc” là nguyên tắc cơ bản, mục tiêu xuyên suốt của dự thảo luật và phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Theo cơ quan soạn thảo, việc xây dựng, tổ chức lại lực lượng tham gia bảo vệ ANTT không làm tăng biên chế, tăng ngân sách nhà nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng nòng cốt là Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT tại cơ sở, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tích cực thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm ANTT địa bàn dân cư, sát dân, hiểu, nắm được tâm tư nguyện vọng nhân dân, góp phần tham gia tổ chức, thực hiện phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Rõ ràng, với mục tiêu, ý nghĩa như trên, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là thực sự cần thiết và đáp ứng yêu cầu thực tiễn khách quan, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng, củng cố các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân và phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Do đó, những quan điểm, luận điệu lệch lạc, sai trái, chống phá việc nghiên cứu, xây dựng và trình Quốc hội ban hành dự luật cần phải được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM

 

Chính sách ngoại giao của Việt Nam được khẳng định trong các văn kiện của Đảng cũng như các chủ trương, đường lối liên quan, trong đó có những khái niệm được mô tả dễ hiểu, phù hợp đặc trưng của văn hoá Việt Nam như “chính sách ngoại giao cây tre”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước”… Trong quan hệ với các nước, Việt Nam luôn đề cao luật pháp quốc tế, sự tin cậy chính trị, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

Tuy nhiên, các thế lực xấu thường lợi dụng những phát ngôn, những nội dung trong phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta để cắt xén, làm sai lệch bản chất, từ đó lấy cớ bôi nhọ đường lối, chính sách ngoại giao của Việt Nam. Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động thường đặt Việt Nam bên cạnh những cường quốc lớn, từ đó đưa ra quan điểm “khuyên” Việt Nam nên chọn theo nước này, chống nước kia và ngược lại, thậm chí còn cổ suý, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, làm “ngòi nổ” để truyền bá tư tưởng chống đối, gây chia rẽ, kỳ thị về ngoại giao, gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước.

Khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta tiến hành các hoạt động thăm hỏi ngoại giao tại các nước cũng như khi lãnh đạo các nước thăm chính thức Việt Nam, các đối tượng chống phá tìm cách cắt ghép hình ảnh, video, cắt xén những phát ngôn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta rồi thêm thắt, bình luận, làm sai lệch nội dung, bản chất vấn đề, cố tình thổi phồng theo hướng kích động chia rẽ kiểu bắt tay bên này để chống bên kia. Nhiều bài viết cố tình biến tấu, làm sai lệch bản chất quan điểm “ngoại giao cây tre” của Việt Nam, cho rằng đây là kiểu ngoại giao không lập trường, gió chiều nào theo chiều ấy, uốn kiểu nào cũng được, từ đó bôi nhọ rằng kiểu “ngoại giao cây tre” là không thể tin cậy, không nên tin và đi theo…

Ngày 4/6/2023, trang BBC tiếng Việt đưa bài viết nói rằng, International Institute for Strategic Studies (IISS) vừa công bố “Đánh giá về an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2023”, trong đó có nội dung bình luận Việt Nam “đang dần giảm bớt sự phụ thuộc nguồn vũ khí từ Nga và thận trọng trong quan hệ ngoại giao với Mỹ, đặc biệt về khía cạnh an ninh - quốc phòng”. IISS đưa ra những đánh giá đặt trong mối quan hệ so sánh quan hệ ngoại giao của Việt Nam với Trung Quốc và Việt Nam với Mỹ, từ đó có những bình luận mang tính định kiến, sai lệch. IISS cũng đánh giá về những vấn đề nhân sự lãnh đạo cấp cao ở Việt Nam thời gian qua và nêu quan điểm thiếu thiện chí, tạo cớ để những đối tượng xấu comment (bình luận) mang tính kích động, bôi nhọ ngay phía dưới bài viết. Thực ra, đây là kiểu chống phá theo lối tung hoả mù, cố tình đặt ra vấn đề mang hàm ý xấu để lôi kéo, câu nhử những “con rối” có tư tưởng chống đối vào “còm”, đả phá dưới bài viết, tạo ra dư luận xấu.

 

Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá. Báo cáo cũng tái khẳng định nguyên tắc “4 không” trong chính sách quốc phòng, trong đó mục tiêu tối thượng là bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Khẳng định cam kết của Việt Nam tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Điểm cốt lõi là sự nhấn mạnh vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Khẳng định ngoại giao giữ vai trò trung tâm và tích cực trong bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nâng cao năng lực quốc gia và gia tăng uy tín quốc tế của Việt Nam. Đồng thời, Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh nhu cầu xây dựng một nền ngoại giao “toàn diện, hiện đại”, bao gồm 3 trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân cũng như sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những trụ cột trên. Bằng việc bổ sung nội hàm “toàn diện”, Việt Nam thúc đẩy một cách rõ ràng tất cả các hình thái ngoại giao chính trị, kinh tế, quốc phòng, công chúng, văn hóa và nghị viện.

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, công tác đối ngoại luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà còn góp phần to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng hiện nay, ngoại giao Việt Nam tiếp tục thực hiện sứ mệnh mới, góp phần tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời linh hoạt, sáng tạo tìm ra phương cách mới thúc đẩy hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế và gia tăng tiềm lực đất nước.

Xác định tầm quan trọng của công tác ngoại giao trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ngày 14/12/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”.

Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Cây tre Việt Nam “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam, đó là: “Mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mượn hình ảnh cây tre - một biểu tượng rất mộc mạc, dung dị mà thân thuộc với người Việt Nam để gửi gắm thông điệp mang tính triết lý hết sức sâu sắc nhưng lại vô cùng gần gũi, thiết thực đối với ngành đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của nhân loại, công tác đối ngoại mang bản sắc “cây tre Việt Nam” đã đạt được nhiều kết quả, thành tích rất tốt đẹp. Từ phá thế bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện” và là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu, góp phần củng cố chính trị, quốc phòng, an ninh; kinh tế, văn hóa - xã hội được đẩy mạnh, qua đó tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối tác.

Từ việc đẩy mạnh công tác ngoại giao, Việt Nam tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội. Nếu cách đây 30 năm, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD, gấp khoảng 120 lần so với những năm đầu của thời kỳ đổi mới.

Đối ngoại đã giữ vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Các vấn đề biên giới với các nước liên quan từng bước được giải quyết, tạo điều kiện thuận lợi nhằm bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực. Thực hiện tốt ngoại giao cây tre, kết hợp “cứng” và “mềm”, đề cao hòa hiếu, chúng ta luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan kiểm soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trên cơ sở đó, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới.

Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, chúng ta cần thấm nhuần và phát huy phương pháp “ngoại giao cây tre”, nắm vững nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”. Cần phải chủ động, thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc diễn biến tình hình khu vực, thế giới và các mối quan hệ quốc tế để kịp thời đề xuất các giải pháp thích hợp. Giữ vững quan điểm, đường lối đối ngoại, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, kế thừa những truyền thống, kinh nghiệm quý báu, thấm nhuần triết lý ngoại giao với bản lĩnh vững vàng, tự tin và khôn khéo.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NHỮNG NỖ LỰC CHĂM LO NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

 

Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng hậu quả đến nay còn nặng nề. Đã có hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ ngã xuống, nhiều ngôi mộ liệt sĩ không tên; những vết thương sau chiến tranh vẫn giày vò thân thể, tinh thần thương, bệnh binh; đến nay chất độc da cam/dioxin vẫn còn gieo rắc nỗi đau cho biết bao thế hệ gia đình người Việt Nam.

Để khắc phục hậu quả chiến tranh, hỗ trợ người có công với cách mạng và thân nhân của họ vơi bớt khó khăn, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách quan trọng và động viên, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, với âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc. 

Vạch trần chiêu trò xảo trá

Cứ vào dịp tháng 7, trong khi cả nước hướng về Ngày Thương binh, Liệt sĩ với biết bao lòng thành kính, nhớ ơn công lao to lớn của các anh hùng, liệt sĩ và đồng bào đã ngã xuống thì cũng là lúc những luận điệu chống phá, lời lẽ ngược dòng lại xuất hiện nhiều hơn. Lợi dụng những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương, các thế lực thù địch tỏ rõ thói “đạo đức giả” khi tung ra nhiều bài viết, hình ảnh, video với nội dung vu cáo “chính quyền không quan tâm”, “người có công bị bỏ rơi”, để hạ bệ, phủ nhận vai trò, nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong chăm lo người có công. Một số kẻ vu cáo Đảng, Nhà nước “bỏ mặc các gia đình liệt sĩ, các thương, bệnh binh”, miệt thị rằng trong chiến tranh vì nghe “lời xúi giục, dối lừa của Đảng” mà lao vào trận chiến, nay bỏ thân hay tàn phế thì không ai quan tâm!

Thâm độc hơn, họ đồng nhất nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của lực lượng cách mạng với những kẻ phản cách mạng; đánh đồng sự hy sinh, cống hiến của các anh hùng liệt sĩ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân cũng giống như những binh lính Việt Nam cộng hòa - tay sai của thực dân, đế quốc, đòi vinh danh chế độ Việt Nam cộng hòa. Số đối tượng xấu còn cố tình “bẻ lái” sự hy sinh, cống hiến của anh hùng, liệt sĩ, thương bệnh binh, xuyên tạc những hy sinh, mất mát là do cảnh “nồi da, nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn”. Từ đó, họ đòi bỏ Ngày Thương binh-Liệt sĩ 27/7, chối bỏ những cống hiến quên mình của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; phủ nhận chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công.

Thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái, thể hiện bản chất phi nhân văn, phản đạo đức của các thế lực thù địch, số tổ chức, cá nhân phản động sống lưu vong ở hải ngoại, các hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam. Có thể thấy, những thông tin sai trái phát tán trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ đánh lận con đen, đánh tráo giá trị, đổi trắng thay đen, đổi đen thành trắng, nói không thành có, nói có thành không nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi, mất tin tưởng về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công. Mục đích không chỉ kích động chống phá Đảng, Nhà nước mà còn cố tình làm băng hoại truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, giảm sự chung tay của toàn xã hội trong chăm lo người có công với cách mạng, gia đình chính sách.

Tiếp nối đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

Sự cống hiến, hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân ta là vô giá; không thể quy đổi, so sánh giá trị vật chất nào, càng không thể phủ nhận, xóa mờ những hiến dâng ấy cho Tổ quốc. Chính vì vậy, việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công là nghĩa vụ, trách nhiệm và niềm vinh dự của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau. Thực hiện tốt công tác chăm sóc người có công không chỉ phát huy truyền thống, đạo lý của dân tộc ta mà còn củng cố niềm tin vững chắc vào Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng ổn định tình hình an ninh, chính trị, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”. Những tình cảm sâu nặng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác thương binh, liệt sĩ đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, kế thừa, phát huy và cụ thể hóa thành nhiều chương trình, chính sách giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Quan điểm nhất quán đó được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng. Trong đó, Đại hội XIII khẳng định: “Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; bảo đảm chế độ ưu đãi người và gia đình người có công phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội”.

Thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Ðảng (khóa XII) “Về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác người có công với cách mạng”, ngày 09/12/2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 (Pháp lệnh) về ưu đãi người có công với cách mạng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2021 với nhiều điểm mới nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về ưu đãi người có công với cách mạng. Pháp lệnh đã mở rộng việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho người có công và thân nhân người có công. Pháp lệnh cũng xác định rõ nguyên tắc hưởng trợ cấp hằng tháng với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng bằng 3 lần mức chuẩn, đồng thời bỏ quy định trợ cấp tuất theo số con liệt sĩ với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà cố định rõ mức trợ cấp chung, đảm bảo chăm lo các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà không phụ thuộc vào số con liệt sĩ. Chế độ ưu đãi người có công và thân nhân của người có công đã bảo đảm mức sống của người có công bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú.

Các cấp, ngành, địa phương không ngừng hoàn thiện, bổ sung thể chế, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng; xây dựng, ban hành quy hoạch hệ thống cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng thời kì 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; tổng kết Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin giai đoạn 2013 - 2020 và xây dựng Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Thăm hỏi, tặng quà người có công, gia đình chính sách tại địa phương và tại các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng. Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng…

Với sự quan tâm, vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, chăm lo người có công với cách mạng và thân nhân của họ được tiến hành với nhiều nội dung như: Xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; tổ chức dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Đài Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; tổ chức lễ dâng hương và thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ trên toàn quốc…

Đến nay, người có công với cách mạng và thân nhân được hưởng chế độ ưu đãi về bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng thuộc ngành lao động - thương binh và xã hội hoặc của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên; ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; hỗ trợ để theo học đến trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào công lao, hoàn cảnh của từng người hoặc khi có khó khăn về nhà ở…

Hiện cả nước đã xác nhận được trên 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,3 triệu người có công được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mỗi năm giải quyết chế độ trợ cấp một lần cho 6 đến 8 nghìn trường hợp, đưa trên 580 nghìn lượt người có công đi điều dưỡng định kỳ và hỗ trợ giáo dục cho khoảng 40 nghìn lượt người. Mạng lưới các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng được quy hoạch tổng thể, rộng khắp trong cả nước với 65 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và bố trí nhân sự đủ để đáp ứng cơ bản yêu cầu chăm sóc, điều dưỡng người có công, nhất là thương binh nặng. Tính đến năm 2022, cả nước đã đầu tư xây dựng, nâng cấp, tu bổ 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và trên 3.000 công trình ghi công liệt sĩ trên khắp cả nước. Tất cả Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống luôn được chăm lo đời sống bằng nhiều việc làm cụ thể như tặng quà, hỗ trợ kinh phí sửa chữa, xây mới nhà tình nghĩa; các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp nhận phụng dưỡng mẹ suốt đời...

Những việc làm trên đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cộng đồng xã hội góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với thương bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và người có công. Đồng thời, là minh chứng thuyết phục phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của kẻ xấu về chính sách của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hội đối với những người đã cống hiến cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Đất nước ta có được cơ đồ, vị thế như ngày hôm nay đến từ sự hiến dâng quên mình của thế hệ ông cha đi trước. Hiện nay, điều kiện kinh tế - xã hội đã được nâng cao rõ rệt thì việc quan tâm chăm lo người có công với cách mạng càng phải được thể hiện đậm nét hơn, hiệu quả hơn.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU VÔ ƠN, BỘI NGHĨA

 

Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên công lao của những thế hệ đã hy sinh xương máu, đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bất chấp đạo lý, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để đánh tráo, xuyên tạc bản chất các cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam, hạ thấp giá trị độc lập, tự do, phủ nhận sự hy sinh của các liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng nhằm kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những luận điệu xảo trá

Thực tế, không chỉ dịp 27/7 mà hoạt động đền ơn đáp nghĩa đã trở thành truyền thống văn hoá với mọi tầng lớp nhân dân, ở khắp các vùng, miền đất nước. Hiện nay các chủ trương, chính sách dành cho thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng ngày càng được hoàn thiện; công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xây dựng tu bổ đền đài, nghĩa trang liệt sĩ luôn được quan tâm. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, diện thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng được mở rộng, chế độ chăm sóc, ưu đãi được nâng lên, các hoạt động "đền ơn đáp nghĩa", chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng thật sự trở thành phong trào rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân, với nhiều hình thức tổ chức, nhiều việc làm cụ thể thiết thực, phong phú, sáng tạo trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội.

Thế nhưng những năm gần đây, trên không gian mạng xuất hiện những bài viết, video clip và một số tác phẩm viết dưới dạng văn học của một số cá nhân chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn, họ lợi dụng một số vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách ở một số nơi để phủ nhận, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và sự chung tay của toàn xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng. Có bài viết cho rằng, nhà cầm quyền Việt Nam “vô ơn với liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc, lạnh lẽo khói hương ngày giỗ các anh”; “sự hy sinh là vô nghĩa do cả tin, bị dối lừa”…

Nguy hiểm và trắng trợn hơn, họ còn kêu gọi, tập hợp những đối tượng bất mãn, cơ hội lập ra các hội, nhóm cựu chiến binh để tiến hành các hoạt động trái pháp luật, từ đó tuyên truyền, kích động, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin tham gia, gây mất an ninh trật tự… Các thế lực phản quốc lưu vong xới lại điệp khúc cũ, coi cuộc đấu tranh chống Pháp, Mỹ và các thế lực tay sai để giải phóng dân tộc của nhân dân ta là cuộc "chiến tranh ý thức hệ, huynh đệ tương tàn", "miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam" để từ đó đi đến đồng nhất nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của lực lượng cách mạng với những kẻ cầm súng giúp sức cho ngoại bang là liệt sĩ - tử sĩ. Với luận điệu này, họ đòi hỏi sự đổ máu nào cũng phải đối xử công bằng, không phân biệt bên này, bên kia! Khi không được đáp ứng thì họ lại giở tấu hài rằng, ngay trong lúc đi tìm sự hòa hợp, chúng ta vẫn chỉ đi tìm từ phía “kẻ thắng” nên khó mà tìm ra sự đồng thuận!

Một số thế lực cố tình xuyên tạc lịch sử, tuyên truyền rằng Quân đội Việt Nam Cộng hoà mới là “những người yêu nước, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ độc lập dân tộc”, đồng thời bôi đen Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chúng còn xuyên tạc rằng cái chết của quân và dân ta là “những cái chết vô nghĩa, bị Đảng Cộng sản lợi dụng cho mục đích chính trị”, vu cáo “nhà cầm quyền Việt Nam vô ơn với liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc”… Mới đây, một số đối tượng còn tổ chức đại nhạc hội với tên gọi “Cảm ơn anh, người thương binh Việt Nam Cộng hoà”, hát những bài có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, tưởng nhớ, ca ngợi cái gọi là “hy sinh anh dũng” của quân lực Việt Nam Cộng hoà. Không khó khi nhận ra những kẻ rêu rao luận điệu này được tài trợ tiền từ nước ngoài, nay muốn thể hiện để nhận được trợ giúp.

Những luận điệu xuyên tạc trên tuy không mới song nằm trong âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Việc xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh của các liệt sĩ, thương binh, người có công là thủ đoạn thể hiện bản chất xảo trá, vô ơn, bạc nghĩa để phục vụ mục tiêu chống phá, tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Việc lặp lại những luận điệu này còn gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời khoét sâu vào mất mát, nỗi đau chiến tranh, tổn thương của thân nhân gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công với cách mạng.

Tiếp nối đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”

Trong những ngày tháng đất nước còn khói lửa chiến tranh, biết bao người con giã từ gia đình, quê hương, xung phong lên đường chiến đấu, một lòng vì Tổ quốc “Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi/ Ra đi, ra đi thà chết chớ lui”. Hơn ai hết, họ đã chuẩn bị một tâm thế, lòng tin vững vàng trước sự hy sinh của cuộc chiến đầy gian nan, khốc liệt phía trước và vẫn lạc quan, yêu đời, tin tưởng vào ngày độc lập, tự do của Tổ quốc.

Chúng ta không bao giờ quên hình ảnh những người đã xả thân vì nước, quyết không để quân thù cướp từng tấc đất quê hương. Không thể quên câu nói của người thanh niên trẻ Lý Tự Trọng: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng, không thể là con đường nào khác”; không thể quên tinh thần quả cảm của chiến sĩ giao liên Kim Đồng, sự bất khuất, hiên ngang của nữ Anh hùng Võ Thị Sáu; xúc động và tự hào biết bao trong tiếng hô vang khẩu hiệu yêu nước của người chiến sĩ trẻ Nguyễn Văn Trỗi trước khi bị hành hình: “Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!”…

Đó là sự hy sinh anh dũng của những cô gái thanh niên xung phong ở Ngã ba Đồng Lộc; nguồn cảm hứng lãng mạn, khát khao cống hiến cháy bỏng của những chàng trai, cô gái đôi mươi xung phong ra tuyến đầu chống giặc được thể hiện trong Nhật ký Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm… Vẻ đẹp, sự dũng cảm, hy sinh vì độc lập, tự do của các anh, các chị không một dòng văn thơ nào có thể diễn tả hết, đó chính là vẻ đẹp bất diệt. Máu của các anh, các chị “đã làm cho lá cờ của cách mạng thêm đỏ chói”; “Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do” (Hồ Chí Minh).

Ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL, quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đến thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Từ tháng 7/1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh, liệt sĩ” để ghi nhận và tri ân những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27/7 hằng năm trở thành Ngày Thương binh, liệt sĩ của cả nước. Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, ghi công các Anh hùng liệt sĩ, quan tâm và dành những tình cảm đặc biệt, chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, chăm sóc người có công đã thực sự trở thành phong trào rộng khắp, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở tất cả các cấp, các ngành, địa phương.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên… Cân đối ngân sách để tiếp tục thực hiện việc nâng mức trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công; nâng cao các công trình “đền ơn đáp nghĩa”. Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, ngày 27/10/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 25/01/2016 về tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng hậu quả để lại ngày nay vẫn còn nặng nề. Bao thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ, người con đã mãi mãi không thể gặp lại người thân yêu của mình. Hàng triệu người đã ngã xuống vì khát vọng cháy bỏng độc lập, tự do, thống nhất và đi lên CNXH. Nó phản ánh nghị lực phi thường của nhân dân ta, đồng thời khẳng định ý chí, quyết tâm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là sự hy sinh anh dũng, nguyện đi theo Đảng, trung thành với Đảng, sống và chiến đấu cho sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, trở thành một khối đại đoàn kết thống nhất. Cho nên, với luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ trong kháng chiến cứu nước là “những cái chết vô nghĩa” thì đó là lập luận của những kẻ vô ơn, bội nghĩa mà chúng ta cần phải đấu tranh, lên án.

CẦN ĐÁNH GIÁ KHÁCH QUAN VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

 

Ngày 31/7/2023 vừa qua, Liên minh châu Âu (EU) công bố Báo cáo thường niên về nhân quyền và dân chủ trên thế giới năm 2022. Xem xét một cách toàn diện những đánh giá đề cập đến Việt Nam cho thấy nhiều nội dung phiến diện, thiếu khách quan, đồng thời cũng tạo nhận thức lệch lạc về tình hình đất nước, con người Việt Nam, là cái cớ để các thế lực xấu vin vào chống phá.

Đánh giá thiếu khách quan

Với gần 200 trang, báo cáo của EU đánh giá tình hình nhân quyền, dân chủ trên toàn thế giới. Quy kết thiếu thực tiễn tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, báo cáo này đánh giá rằng, những hạn chế đối với các quyền chính trị và dân sự ở Việt Nam vẫn tiếp tục diễn ra trong năm 2022, đặc biệt là đối với quyền tự do biểu đạt và lập hội. Báo cáo cho rằng, không gian dành cho xã hội dân sự liên tục bị thu hẹp.

Một số luật và nghị định mới đưa ra các hạn chế hơn nữa trong các lĩnh vực an ninh mạng, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tự do tôn giáo đã được ban hành hoặc đang trong quá trình chuẩn bị. Các nhà báo, blogger và các nhà bảo vệ nhân quyền, cũng như các nhà hoạt động môi trường tiếp tục bị bắt và bị truy tố với những “cáo buộc mơ hồ” về tội chống lại an ninh quốc gia hoặc trốn thuế và bị kết án tù dài hạn trong các phiên tòa có ít hoặc không có sự tiếp cận của công chúng.

Báo cáo cũng cáo buộc, các phiên xử không công bằng, bao gồm cả việc từ chối đại diện pháp lý; các điều kiện hành chính và vật chất khắc nghiệt trong trại giam; vẫn còn những lo ngại về quyền của các nhóm thiểu số tôn giáo và việc quản lý quyền sử dụng đất. Báo cáo quy kết tự do truyền thông vẫn còn bị hạn chế nghiêm trọng: Báo in, phát thanh - truyền hình, truyền thông trực tuyến và điện tử bị kiểm soát chặt chẽ; quyền truy cập vào các trang web độc lập về chính trị bị chặn và các công ty truyền thông xã hội buộc phải đóng tài khoản hoặc xóa nội dung chỉ trích chính phủ…

Ngay sau khi bản báo cáo này được công bố, “té nước theo mưa”, Đài Á châu tự do (RFA) cắt ghép nhiều nội dung, liên tục tuyên truyền xuyên tạc tình hình nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam. Phó Giám đốc Phân ban châu Á của HRW, ông Phil Robertson cũng mượn gió bẻ măng: “Chính phủ Việt Nam sử dụng đi sử dụng lại điều 117 để bịt miệng bất cứ công dân nào dám sử dụng mạng Internet để chỉ trích chính phủ hoặc lên tiếng ủng hộ dân chủ, nhân quyền” 

Đặc biệt, các thế lực thù địch, tổ chức phản động được dịp “theo đóm ăn tàn” xuyên tạc, suy diễn, không ngừng phát tán, chia sẻ thông tin tiêu cực trên không gian mạng để nói xấu, đả phá tình hình quyền con người, chế độ xã hội, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Nhận xét về những báo cáo thường niên kiểu này của EU, ông Tore Vincents Olsen - là phó giáo sư về lý thuyết chính trị tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Aarhus, Đan Mạch cho rằng, các giá trị của EU về tôn trọng nhân phẩm, tự do, dân chủ, bình đẳng, pháp quyền và tôn trọng nhân quyền còn nhiều tranh cãi.

Ông cũng khẳng định, có nhiều chỉ trích đánh giá còn thiếu cơ sở thực tiễn, nhiều nhà quan sát cũng đồng ý rằng các giá trị, trích dẫn quá chung chung để làm cơ sở rút ra đánh giá quan trọng. Hay ngay cả Trợ lý chương trình đánh giá thường niên này của EU, bà Elenna Ventura cũng thừa nhận, khái niệm này (dân chủ) thiếu một định nghĩa chắc chắn và đánh giá phản ảnh thiếu linh hoạt, phân tích xem xét các khía cạnh còn thiếu định lượng và định tính liên quan đến việc củng cố thực tiễn, chuẩn mực và thể chế dân chủ.

Bảo vệ, nỗ lực thúc đẩy giá trị phổ quát về quyền con người

Có thể thấy, Báo cáo thường niên về nhân quyền và dân chủ trên thế giới năm 2022, phần đề cập đến Việt Nam là đánh giá phiến diện, thiếu khách quan và cơ sở thực tiễn, tạo nhận thức lệch lạc hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong mắt cộng đồng quốc tế. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thấy vấn đề dân chủ và quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nỗ lực bảo vệ, thúc đẩy giá trị phổ quát về con người ở những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, trên phương diện chính trị, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết, nhất quán quan điểm về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra tại nhiều văn kiện, hoàn thiện, từng bước phát triển, hiện thực hóa trong đời sống xã hội: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” (Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011); hay “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” (Văn kiện Đại hội XIII).

Sự hoàn thiện, phát triển, tiến bộ này không chỉ về lý luận mà còn dựa trên tổng kết từ thực tiễn cả chiều dài lịch sử dựng nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc. Với quan điểm, mục tiêu đó, trong các chương trình, chính sách phát triển đều phải hướng trọng tâm vào chủ thể là người dân - nhân dân; lấy quyền và lợi ích chính đáng, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu cao nhất trong hoạt động của chế độ xã hội, Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.

Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, những năm qua Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện pháp luật nói chung, pháp luật về quyền con người nói riêng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Nội địa hóa ở mức cao nhất những giá trị phổ quát về quyền con người của Công ước quốc tế và các văn bản pháp luật quốc tế khác về quyền con người.

Chỉ tính từ năm 2019 đến nay, Quốc hội Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều luật liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân như Bộ luật Lao động, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Luật Cư trú…Việt Nam đã đưa nhiệm vụ này vào Kế hoạch tổng thể cấp quốc gia về việc tăng cường thực thi hiệu quả Công ước quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền với thời hạn thực hiện là năm 2022…

Triển khai nhiều biện pháp để thực hiện khuyến nghị về các quy định của Bộ luật Hình sự như: Hoàn thiện pháp luật hình sự về hình phạt tử hình; tư pháp hình sự; phòng chống bạo lực giới và mua bán người đã được đưa vào Kế hoạch tổng thể cấp quốc gia về việc tăng cường thực thi hiệu quả của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR).

Đặc biệt, Việt Nam đã gia nhập 25 công ước của ILO, liên quan đến các lĩnh vực thương lượng tập thể, phòng chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Những nỗ lực, thành tựu quan trọng của Việt Nam trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và thể chế về quyền con người minh chứng mạnh mẽ thực hiện đảm quyền con người nói chung.

Thứ ba, về thực tiễn, kết quả trong việc thực thi những chủ trương, đường lối, pháp luật về quyền con người còn được thể hiện thông qua việc triển khai nhiều chương trình kinh tế - xã hội lớn nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng thụ hưởng các quyền con người của mọi người dân.

Đến nay, Việt Nam không chỉ là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ mà còn được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, chiến tranh xung đột dân tộc, sắc tộc, tình hình thiên tai, bão lụt gây thiệt hại nặng nề trên toàn thế giới và Việt Nam, với sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc, Việt Nam đạt được những thành tựu ấn tượng. Trong khi thế giới suy thoái, tăng trưởng âm, kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 8,02% trong năm 2022, là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới.

Trang liberationnews.org (Mỹ) kết luận: Thành công của Việt Nam trong phòng, chống dịch COVID-19 “không đơn giản là một phép màu”, mà đó là “kết quả của một chính phủ xã hội chủ nghĩa đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế”.

Đó là mô hình “để không ai bị bỏ lại phía sau”.Việt Nam với chế độ chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, con người thân thiện, nhân văn, yêu chuộng hòa bình, đã vinh dự lọt vào tốp là những quốc gia đáng sống và môi trường đầu tư, làm việc. Bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam khẳng định: “Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người, có những bước tiến bộ trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện”.

Trái ngược với những đánh giá tiêu cực mà báo cáo của EU đưa ra, thành tựu về quyền con người của Việt Nam được Liên hợp quốc thừa nhận. Việc trúng cử, trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, cơ quan quan trọng hàng đầu của Liên hợp quốc trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt quyền của người dân.

Những thành tựu đó là minh chứng sinh động của cả một quá trình nỗ lực, phấn đấu bền bỉ, không mệt mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trên tất cả các lĩnh vực, khẳng định luôn tôn trọng, bảo vệ thúc đẩy dân chủ, quyền con người.

YOUTUBE - PHƯƠNG THỨC CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG THÙ ĐỊCH

 

Các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước trước đây sử dụng ở các nền tảng mạng xã hội khác nhận thấy tiềm năng to lớn trước sự phát triển này và lượng người xem ở Việt Nam lớn nên đã xây dựng hàng loạt kênh YouTube với sự tổ chức, đào tạo làm truyền thông chuyên nghiệp, đồng thời còn lôi kéo, móc nối với các thành phần bất hảo trong nước. Trong số những tổ chức, đối tượng đó, nổi bật nhất là nhóm người Thượng lưu vong ở Thái Lan, chúng biết cách khai thác hiệu quả nền tảng này để vừa tuyên truyền chống phá Nhà nước vừa khai thác để làm công cụ kinh tế, tài chính phục vụ cho hoạt động chống phá lâu dài.

Hình thành từ cuối năm 2019, được đánh dấu với các kênh chuyên tổng hợp tin tức có địa chỉ đặt kênh ở Thái Lan, Hoa Kỳ, Thụy Điển… nhưng lại đưa tin tức bằng tiếng Việt nhằm khai thác lượng người xem và tuyên truyền chống phá Việt Nam. Dấu mốc ban đầu của tổ chức này là kênh “MOV Giai điệu cuộc sống”, lúc đầu kênh chuyên khai thác chủ đề giải trí của giới showbiz Việt Nam vốn dĩ thu hút lượng người xem rất đông. Có được ảnh hưởng rộng, kênh này bắt đầu đưa những hình ảnh được cắt ghép và nội dung xuyên tạc, bịa đặt về lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, do đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc và bịa đặt nên kênh “MOV Giai điệu cuộc sống” đã bị sập do vi phạm nguyên tắc cộng đồng của YouTube.

Dù vậy, khi đã hiểu được thị hiếu người xem và có kinh nghiệm sau lần bị xóa kênh trên nền tảng này, chúng bắt đầu “đẻ” ra hàng loạt các kênh mới như Vietvoice, TOV, HOV Tiếng nói Việt, KSD News, Life News… để tiếp tục tuyên truyền và lách luật kiểm soát của YouTube một cách có tổ chức. Với số lượng khoảng hơn 20 kênh như kể trên, chúng đã đăng lại những nội dung đã bị xóa bỏ ở kênh “MOV Giai điệu cuộc sống” trước đó và tiếp tục sản xuất nội dung xuyên tạc khai thác chủ đề này. Đáng nói, những kênh này đều đặt địa chỉ ở Thái Lan hoặc Hoa Kỳ với số lượng người theo dõi hàng vạn. Mặc dù đặt địa chỉ ở nước ngoài nhưng người Việt trong nước vẫn xem được, do thuật toán của YouTube gợi ý cho người xem vì biết nắm bắt khai thác xu hướng các chủ đề được dư luận quan tâm như lùm xùm từ thiện của giới showbiz; các vụ án về tham nhũng lớn đang bị điều tra, xét xử ở Việt Nam.

Có thể thấy rằng, hệ thống sử dụng kênh YouTube để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta đã được hình thành có tổ chức, được đào tạo chuyên nghiệp nhưng có sự khác biệt với các tổ chức khác là chúng biết khai thác nhiều chủ đề, xây dựng kênh ngoại vi, kênh “sạch” để tạo nguồn doanh thu ổn định. Tinh vi hơn là biết “tẩy trắng” kênh, tái sử dụng nội dung video, móc nối với các đối tượng trong nước để chuyển nhượng, tái sử dụng kênh, biết áp dụng các phương thức kỹ thuật để lách sự kiểm soát của YouTube và tăng đề xuất đến người dùng. Với lượng doanh thu lớn, ổn định từ quảng cáo YouTube, các đối tượng này đã có nguồn tiền kiếm sống, tiếp tục hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam và lôi kéo bà con theo chúng./.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG “CHIÊU TRÒ” LỢI DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC


         Lợi dụng sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và các ứng dụng trên không gian mạng, các thế lực thù địch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phát tán nhiều thông tin sai trái, xấu, độc trên mạng xã hội nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Trên lĩnh vực chính trị, những phần tử cơ hội đã lợi dụng internet, mạng xã hội để nhằm vào việc chống phá, hòng lật đổ chính quyền nhân dân, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, như: Xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam; bôi nhọ chính quyền các cấp… kêu gọi người dân biểu tình, gây rối… đây được xem như “miếng mồi ngon”, “mảnh đất màu mỡ” mà các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội lợi dụng nhằm tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, hòng gây nhiễu loạn thông tin; gieo rắc tư tưởng hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Thông qua các hội, nhóm trên mạng xã hội, người dùng có thể bày tỏ ý kiến, quan điểm, đăng tải hay lan truyền các thông tin gì thông qua tài khoản cá nhân của mình. Điều này mang đến những nguy cơ khi quyền này bị lạm dụng, nhất là khi những người đăng tải thông tin trên không gian mạng có quan điểm sai trái, thái độ cực đoan, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, dẫn đến bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động hoặc vì động cơ cá nhân, một số trường hợp đã đăng tải thông tin sai sự thật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Có thể nói, tự do ngôn luận là quyền của tất cả mọi người luôn được pháp luật đảm bảo. Tuy nhiên, tự do ngôn luận không phải là việc thích nói gì thì nói, gây ảnh hưởng đến đời sống của xã hội. Tự do ngôn luận không có nghĩa là đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân…

Bên cạnh các quy định của pháp luật, các biện pháp quản lý không gian mạng từ cơ quan có thẩm quyền thì vai trò của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người thông qua cơ chế giám sát cũng hết sức cần thiết. Chính vì vậy, mỗi cá nhân cần nêu cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoàn của các thế lực thù địch, ích cực tuyên truyền để tạo dư luận phản bác, đấu tranh với các hành vi thiếu chuẩn mực của những kẻ cố tình lợi dụng các trang mạng xã hội để thể hiện những quan điểm trái chiều nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc./.

TỈNH TÁO TRƯỚC ÂM MƯU CỦA KẺ THÙ

 

Trong những năm qua, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt. Chúng dùng mọi thủ đoàn để chống phá đất nước ta trên các lĩnh vực bằng nhiều hình thức, biện pháp thâm hiểm.

Trước khi cuốn gói khỏi đất nước Việt Nam người mỹ đã tuyên bố một câu khá nổi tiếng và họ đã và đang thực hiện được: “Hai mươi năm sau chúng ta sẽ trở lại Việt Nam. Không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la. Khi đó, cờ Mỹ sẽ bay không chỉ ở Sài Gòn mà còn hiên ngang giữa lòng Hà Nội. Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân”.

Ba mũi giáp công đánh vào hệ thống xã hội nước ta đó là Kinh Tế - Truyền Thông - và giáo dục. Về Kinh tế, chúng tăng các khoản viện trợ đầu tư, cốt làm sao đế cho người dân hiểu đó là giá trị cần hướng tới, đế có sự so sánh giữa hai mô hình. Về truyền thông, chúng mở những lớp tập huấn báo chí theo tiêu chuẩn phương tây, sử dụng những cây bút những tờ báo biến chất đánh vào những điểm yếu của Đảng, làm suy giảm lòng tin của người dân qua cơ quan truyền thông sở tại. Về giáo dục, chúng viện trợ cấp học bổng, mở trường học tuyển chọn nhân tài đào tạo theo phương pháp chuẩn phương tây, tất nhiên sau khi ra trường những “tri thức” này sẽ phục vụ cho công cuộc tuyên truyền giá trị tư tưởng phương tây ngay đất nước mình. Cứ 10 sinh viên du học thì có 9 người ca ngợi mô hình giáo dục kiểu phương tây và lên án mô hình xã hội chủ nghĩa. Đây là lực lượng nòng cốt trong cuộc diễn biến hòa bình nhằm vào những nước mà phương tây xem là “độc tài thiếu dân chủ”.

Là con dân đất Việt, mỗi người cần nâng cao cảnh giác, am hiểu lịch sử, thấm nhuần quan điểm, tử tưởng của Đảng, nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Xây dựng đất nước Việt Nam ổn định, thống nhất và phát triển./.