Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2023
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CHỦ NGHĨA PHƯƠNG TÂY LUÔN ĐỤC NƯỚC, BÉO CÒ, SUY DIỄN SỰ THẬT!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: M.Ã C.HA QUÂN PHẢN PHÚC!
QUAN ĐIỂM NGOẠI GIAO CÂY TRE CỦA VIỆT NAM LÀ QUỐC SÁCH GIỮ NƯỚC XUYÊN SUỐT CỦA ĐẢNG TA!
ĐỘI LỐT TÔN GIÁO NHẰM PHÁ HOẠI ĐẤT NƯỚC!
Trí tuệ và bản lĩnh văn hóa trong cuộc chiến chống lại sự “xâm lăng văn hóa”
Rõ ràng trong cuộc chiến chống lại sự “xâm lăng văn hóa” có vai trò, trách nhiệm rất quan trọng của các cấp, ngành chức năng trong quản lý, ngăn chặn sự thẩm lậu những sản phẩm văn hóa độc hại cũng như bảo tồn, phát huy để bản sắc văn hóa dân tộc luôn là niềm tự hào mà mỗi người trẻ nâng niu, gìn giữ. Xét một cách toàn diện, trong nguy cơ, hệ quả của sự “xâm lăng” ấy, không thể đổ lỗi hoàn toàn cho không gian mạng hay các nhà chức trách để “lọt lưới” những văn hóa phẩm độc hại. Ở góc độ chủ quan của chủ thể, nếu bản thân mỗi người trẻ có nhận thức đúng đắn, ý thức trách nhiệm, lòng tự hào, tự tôn dân tộc cùng bản lĩnh vững vàng, biết gạn đục khơi trong, tiếp nhận tinh hoa văn hóa trên thế giới một cách có chọn lọc, thì chắc chắn mọi sự “xâm lăng” không thể vượt qua ranh giới của biên cương văn hóa tư tưởng ở mỗi người.
Một bộ phận người trẻ chạy theo lối sống ngoại lai lệch chuẩn đã vô tình hoặc cố ý biến mình thành nạn nhân của sự “xâm lăng văn hóa” khi chỉ biết thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà chẳng cần biết tốt-xấu, đúng-sai hay hệ lụy đối với quốc gia-dân tộc. Có những bộ phim chiếu mạng xuyên tạc sự thật lịch sử, tuyên truyền xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia, song chỉ cần có thần tượng của mình đóng vai chính thì một số bạn trẻ vẫn tung hô, hâm mộ. Thậm chí, có những bạn trẻ bàng quan với những sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, nhưng lại sẵn sàng chi số tiền không nhỏ và dãi nắng dầm mưa để góp mặt ở chương trình có “idol” quốc tế của mình xuất hiện.
Bởi nhận thức chưa đầy đủ, một số thanh niên hoang mang, khó định hướng giữa thông tin tích cực và tiêu cực trên không gian mạng, chưa kể đến việc có thể kiểm soát đúng đắn cảm xúc và hành vi cá nhân trước các sự kiện. Chính họ là những người đang tham gia chi phối quá trình phân phối sản phẩm văn hóa giải trí thông qua tính năng chia sẻ, bởi vậy, nếu không có phông văn hóa tốt thì rất dễ lan truyền các sản phẩm phản văn hóa tới cộng đồng.
Xã hội số, văn hóa số cơ hội và thách thức mới
Xã hội số, văn hóa số đem lại những cơ hội nhưng cũng tạo ra thách thức mới trong xây dựng, phát triển văn hóa. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp bị mai một, trong khi những thói hư tật xấu, văn hóa ngoại lai không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam xâm nhập tràn lan, làm băng hoại đời sống văn hóa tinh thần, nhất là trong giới trẻ-những người được xem là đội ngũ tiên phong của công cuộc chuyển đổi số. Thế nhưng đừng đổ lỗi hoàn toàn cho “thế giới ảo” cùng khoảng trống trong công tác quản lý, mấu chốt là ở lỗ hổng về nhận thức, sự yếu kém về bản lĩnh, thiếu tinh thần trách nhiệm của một bộ phận người trẻ.
Vai trò và sứ mệnh chấn hưng văn hóa và phát triển văn hóa hiện nay
Vai trò và sứ mệnh chấn hưng văn hóa và phát triển văn hóa hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Văn hóa, văn nghệ là một mặt trận; người nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy” thì đương nhiên chiến sĩ phải ra tiền tuyến và phải chiến đấu. Những chiến sĩ văn hóa là những người tiên phong, họ chiến đấu không phải bằng súng mà bằng chính tác phẩm nghệ thuật mình sáng tạo ra, bằng những quan điểm nghệ thuật, bằng cách nhìn nhận xã hội. Vậy họ chiến đấu với ai? Họ chiến đấu với những thói hư tật xấu, những quan điểm lệch lạc, hủ tục, thoái hóa biến chất và những điều xấu đang tồn tại xung quanh chúng ta. Họ đánh vào tư tưởng, suy nghĩ nhận thức của con người để đất nước chúng ta có nhiều công dân tốt, những người già mẫu mực, thanh niên nhiệt huyết, những người trung niên đầy khát khao và các em bé thơ ngây biết yêu thương sẻ chia. Từ đó, tạo nên một sức mạnh về tinh thần đoàn kết dân tộc, quật cường và niềm tự hào về dân tộc đất nước Việt Nam. Cùng với đó, những người nghệ sĩ còn có sứ mệnh phải làm thế nào để cho các quốc gia khác trên thế giới ngưỡng mộ, khát khao với những giá trị văn hóa Việt Nam. Những giá trị văn hóa ấy sẽ được chuyển hóa thành giá trị vật chất, sức mạnh của sự sáng tạo, sức mạnh của kinh tế, từ đó góp phần khẳng định vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, muốn làm được như vậy, những chiến sĩ văn hóa cũng cần có những “vũ khí” của riêng mình. Người nghệ sĩ phải có nhận thức chính trị đầy đủ, có sự hiểu biết, quan điểm xã hội đúng đắn và luôn luôn mang tinh thần lạc quan, yêu đời. Vì nghệ sĩ là những người đang góp phần kiến tạo tâm hồn của công chúng nên phải luôn có một tinh thần tích cực và điều đó được bộc lộ qua tác phẩm mà nghệ sĩ mang đến cho khán giả. Tác phẩm không chỉ nói lên rằng, chúng ta cần phải sống tốt mà thông qua câu chuyện của nghệ sĩ kể khán giả sẽ tự “thức tỉnh” bản thân rằng họ cần phải sống tốt hơn. Chính vì thế, người nghệ sĩ – trước khi trở thành nghệ sĩ thì phải trở thành công dân tốt, phải tuân thủ đúng tất cả những điều công dân cần phải làm. Đồng thời, người nghệ sĩ phải là người có chuyên môn tốt, nghệ sĩ mới có thể truyền tải được được nội dung câu chuyện, tác phẩm của mình đến với khán giả và các nghệ sĩ cần phải luôn luôn nhớ một điều “Là người nghệ sĩ thì phải đưa ra cho đời những tác phẩm nghệ thuật” với tất cả giá trị nghệ thuật mà tác phẩm đó đem lại./.
Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023
TRÁI TIM NGƯỜI LÍNH
Chẳng hiểu từ bao giờ em yêu lính
Yêu bước chân dũng mãnh lúc hành quân
Yêu màu áo xanh dân dã thật gần
Yêu bài hát " Khúc quân hành" Sôi nổi
Anh yêu em bằng trái tim nóng hổi
Trái tim người lính rất đỗi dịu dàng
Dòng máu nóng trong huyết quản anh mang
Của ông cha bao đời vẫn cuộn chảy
Lũ giặc đến tình yêu thành lửa cháy
Thiêu đốt kẻ thù giành lại giang san
Đời lính chiến chẳng biết sợ nguy nan
Bạn với cây với muôn ngàn sóng gió
Giữa khó khăn tình yêu càng sáng tỏ
Bao nhớ thương gửi theo gió theo mây
Tổ quốc còn tình yêu mãi còn đây
Tim người lính lồng bóng hình đất nước.
HUÂN CHƯƠNG CỦA BỐ
Ngày bé, tôi vô cùng mê mẩn những tấm huân chương, hay những chiếc huy hiệu có màu sắc đỏ, vàng sáng lấp lánh mà mấy bác quê tôi đeo trên ngực áo mỗi dịp lễ, Tết.
Hễ có cơ hội là tôi mon men đến thật gần để ngắm nghía cho thỏa trí tò mò. Tôi cứ thắc mắc làm thế nào để mua được những thứ đó. Nghe vậy, mẹ tôi bảo, đó là những tấm huân chương cao quý Nhà nước tặng cho những ai có nhiều công trạng, đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Con hãy cố gắng học giỏi, sau này lớn lên noi theo các bác, các chú đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc. Dù không hiểu hết ý nghĩa những điều Mẹ nói, nhưng tôi cảm thấy một điều gì đó thôi thúc trong lòng mình…
Bố tôi là cán bộ xã, thường hay vắng nhà. Mẹ bảo bố con đang cùng dân công ngày đêm xây đập thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng, để có nhiều thóc lúa gửi ra tiền tuyến cho bộ đội ăn no, đánh giặc. Một lần Mẹ tiết lộ rằng, Bố cũng từng được tặng những tấm Huân chương khi còn là bộ đội tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Lần đầu tiên nghe Mẹ nói vậy, tôi vui lắm. Nhưng cứ thắc mắc, tại sao không thấy Bố đeo huân chương bao giờ. Từ hôm đó, tôi tò mò và bí mật tìm xem những tấm huân chương Bố cất ở đâu.
Chờ khi Mẹ đi làm đồng vắng nhà, tôi quyết định khám phá căn buồng nhỏ của gia đình. Phía cuối giường có một chiếc hòm gỗ xoan bố tự đóng. Hôm ấy, Mẹ quên không khóa chiếc hòm gỗ, nên tôi quyết định trộm mở chiếc hòm gỗ của Bố. Lật tìm một lúc, tôi thấy một chiếc túi bạt nhỏ đã sờn rách vài chỗ cất dưới đáy hòm. Tôi hồi hộp mở chiếc túi ra, bên trong có một gói nhỏ, bọc bên ngoài là mảnh áo mưa màu xanh lá. Khi mở mảnh áo mưa ra, tôi thật sự choáng ngợp, không chỉ một mà là ba, bốn tấm huân chương sáng lấp lánh. Trong đó có Huân Chương chiến công, Huân chương Kháng chiến, Huy Chương Chiến sỹ vẻ vang… Tất cả đều rất mới. Tôi ngắm nghía hồi lâu, rồi lặng lẽ gói ghém lại cẩn thận như cũ.
Trong lòng tôi vui sướng vô cùng. Nhưng sợ bị Mẹ mắng nên không dám thổ lộ với ai… Rồi thời gian trôi đi rất nhanh, mấy anh em tôi cũng đã lớn. Tết đầu tiên đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, làng tôi vô cùng vui mừng đón những người chiến sỹ giải phóng miền Nam về quê với chiếc Huy hiệu Giải phóng nửa xanh nửa đỏ đeo trên ngực áo màu xanh lá. Mấy bác trong làng cũng đeo những tấm huân chương sáng lấp lánh trên ngực.
Đêm giao thừa, tôi thức rất khuya cùng Mẹ nấu bánh chưng, sửa soạn mâm cỗ cúng tổ tiên, các vị thần linh, thổ địa. Bên bếp lửa ấm êm cùng cha mẹ, tôi mạnh dạn hỏi: Bố ơi, sao con không thấy Bố đeo huân chương bao giờ? Bố cười rất tươi, rồi quàng tay lên vai tôi và bảo, huân chương của bố đây. Mẹ và các con đều là huân chương của bố. Bố rất biết ơn mẹ con đã thay bố đảm đang việc nhà, nuôi dạy các con khôn lớn như hôm nay, là phần thưởng rất lớn của bố rồi. Mẹ con mới là người xứng đáng được tặng huân chương.
Thấm thoát đã mấy chục năm, tôi cũng từng trải qua đời quân ngũ, cũng được tặng Huân chương, nhiều Kỷ niệm chương. Nhưng thú thật, mỗi lần mặc quân phục vào dịp kỷ niệm, hay tham gia các cuộc gặp mặt Cựu chiến binh, đeo tấm Huân chương, Huy hiệu CCB, hay Kỷ niệm chương trên ngực áo, tôi cảm thấy rất ngượng. Công trạng của mình vô cùng nhỏ bé so với Bố và các bậc cha anh trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước. Vậy mà, Bố chưa bao giờ khoe những tấm Huân chương cao quý ấy.
Giờ đây Bố đã đi xa, những tấm Huân chương của Bố tôi gói ghém bảo quản trong một chiếc hộp kim loại rất đẹp. Mỗi dịp giỗ Bố, thắp nén nhang trên bàn thờ tổ tiên, tôi thầm hứa với Bố rằng, con sẽ xứng đáng là tấm Huân chương của Bố.
Hoa Nguyên
UNG DUNG YÊN NGỰA TRÊN ĐƯỜNG SUỐI REO
Mình về với Bác đường xuôi
Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi, rừng núi trông theo bóng Người...
Trích trong bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu
CẦN XỬ LÝ NGHIÊM KẺ GIẢ DANH TU SĨ
Mới đây, cộng đồng mạng dấy lên hình ảnh
một người mặc áo tu sĩ Phật giáo bị cơ quan chức năng triệu tập về trụ sở công
an vì có nghi vấn sử dụng chất cấm tại một quán bar. Nhiều người không khỏi bức
xúc, cho rằng những hình ảnh trên đang làm xấu hình ảnh của Phật giáo.
Xác minh thông tin đây là Nguyễn Minh
Phúc (sinh năm 1983, ngụ tại nhà số 174/13A ấp Láng Cát, xã Tân Phú Trung (tự
xưng là “chùa Hoằng Pháp Trung ương”). Phúc nhiều lần khoe trên mạng được tặng
thưởng nhiều huân chương, bằng khen của lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ… và tự
xưng là “Đại đức Thích Tâm Phúc”, "trụ trì chùa Hoằng Pháp Trung
ương"...
Tuy nhiên, qua xác minh, các giấy tờ do
Phúc đưa lên như chứng điệp thọ giới, giấy chứng nhận Tăng Ni, quyết định bổ
nhiệm trụ trì “chùa Hoằng Pháp Trung ương”… mang tên “Đại đức Thích Tâm Phúc”
(Nguyễn Minh Phúc) được ghép, sao chụp ảnh chữ ký của lãnh đạo và khuôn dấu của
Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN... Thậm chí, kể cả bằng khen hay huy
chương mà Phúc “được tặng thưởng” cũng đều do y làm giả.
Một kẻ giả mạo, làm xấu hình ảnh tôn
giáo lớn nhất ở Việt Nam là một hành vi cần phải xử lý nghiêm minh. Hi vọng
Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các cơ quan chức năng có biện pháp xử lý nghiêm
đối với những hành vi của Nguyễn Minh Phúc./.
SUY NGHĨ CỦA TUỔI TRẺ HÔM NAY VỀ NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ (27/7/1947 –27/7/2023)
Có lẽ hiếm nơi nào trên thế giới mà di chứng chiến tranh để lại nhiều như ở Việt Nam. Dù bất cứ nơi đâu, từ phố phường chật hẹp đến làng quê “cò bay thẳng cánh” đều có những nghĩa trang liệt sỹ ken dày mộ chí. Phần lớn trong số những người ngã xuống mới mười tám đôi mươi, lứa tuổi đẹp nhất cuộc đời. Họ bước vào cuộc chiến với tâm thế của những anh hùng, họ biết đặt cái khát khao giành độc lập, tự do lên trên sinh mạng của chính mình. Nhờ thế, đất nước Việt Nam được định hình trên bản đồ thế giới cũng từ tinh thần hy sinh cao cả ấy.
Chiến tranh đã đi qua nhiều năm nhưng
những hậu quả và dư âm của nó còn sót lại vẫn rất lớn lao và khốc liệt, ghi dấu
mãi mãi trong tâm trí mỗi thế hệ người dân Việt Nam, ngày 27/7 lại đang đến
gần, đó là ngày mà nhân dân cả nước đã giành riêng để tưởng nhớ các anh hùng
liệt sĩ đã ngã xuống hy sinh vì đất nước, vì độc lập tự do. Các anh ra đi vì
những mục tiêu cao đẹp và ngã xuống hào hùng, bàn tay của giặc đã tàn phá dày
xéo đất nước nhưng không bao giờ làm thay đổi được bản chất của con người Việt
Nam. “Uống nước nhớ nguồn”, đó là đạo lý tốt đẹp của dân tộc, và chúng ta có
được hòa bình độc lập như ngày hôm nay chính là nhờ một phần lớn công lao của
các thế hệ đi trước. Hãy cùng tưởng niệm các anh hùng dân tộc.
Không ai chọn cho mình cách c.hết, cũng
không ai muốn mình phải c.hết và không có cái c.hết nào có ý nghĩa bằng được
sống. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả của tổ tiên ta bị
uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng bị đ.e dọa, của cải, ruộng
nương làng mạc bị xâm chiếm thì lựa chọn cái c.hết để đất nước được trường tồn
là một lựa chọn vinh quang và cao cả. Mỗi một thân x.ác nằm xuống, mỗi một phần
thi thể mất đi là một ánh hào quang soi sáng hơn con đường xây dựng và bảo vệ
tổ quốc, đó là những dòng chữ bằng vàng khắc sâu vào lịch sử 4 nghìn năm dựng
nước và giữ nước hào hùng của dân tộc.
Đất nước đã hòa bình, nhưng chiến tranh
chưa hẳn đã lùi xa, hàng ngày hàng giờ các thế lực thù địch, phản động lưu vong
vẫn nhăm nhe chia cắt đất nước, những loại tội phạm nguy hiểm vẫn chực chờ cơ
hội, thiên tai lũ lụt vẫn hoành hành.
Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Bác
Hồ đã viết: “M.áu đào của các liệt sỹ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ
chói. Sự hy sinh của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập,
kết quả tự do”. Cho nên đối với “những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và
đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng”, và Người giải thích: “Tổ quốc và
đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải
luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sỹ để vượt qua tất cả khó
khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sỹ đã để lại”.
“Ngày 27/7 đã đi vào lịch sử đất nước
như một dấu ấn nhắc nhở mọi người về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn
quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam.
Vì Tổ quốc, vì Nhân dân, rất nhiều người
con của dân tộc, trong đó có những con người tuổi đời mới mười chín, đôi mươi
như là Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc…đã để lại phía sau hạnh phúc riêng tư,
những trang sách, giảng đường… sẵn sàng lên đường đấu tranh vì độc lập, tự do
của Tổ quốc.
Để đất nước được giải phóng, được thống nhất như ngày
hôm nay, rất nhiều người đã anh dũng hy sinh hay để lại một phần thân thể ở
chiến trường. Họ sống và chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp “Không có gì quý hơn độc
lập, tự do”, “tất cả vì Tổ quốc thống nhất ”.
Xin được gửi lời tri ân thành kính tới
các thế hệ đã chiến đấu vì độc lập tự do, vì sự bình yên cho Tổ quốc hôm nay.
Sống trong cảnh hòa bình, được cất tiếng hát ca sẽ không quên mảnh đất dưới
chân mình đã thấm đượm mồ hôi, xương m.áu của cha anh đi trước, và xin nguyện
sống xứng đáng với những kỳ vọng của các thế hệ đi trước.
Hồn thiêng dân tộc đã che chở cho đất nước luôn thái bình, cầu mong những phần mộ liệt sỹ thất lạc tìm thấy và an nghỉ, xin chúc những bác thương binh đều có cuộc sống ổn định và được đền đáp xứng đáng khi đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước. Kính chúc các mẹ Việt Nam anh hùng luôn mạnh khỏe. Chúng ta phải luôn trân trọng giá trị hòa bình ngày hôm nay 76 mùa thu đi qua là 76 mùa tri ân, ngày 27/7 trở thành ngày mà những người còn sống mãi mãi không được quên, không thể quên. Mặt khác, phải thể hiện lòng tri ân một cách thiết thực, hiệu quả thường xuyên, coi việc mình làm cho thân nhân liệt sỹ, thương binh là làm thay những người con ưu tú đã hy sinh vì Tổ quốc, vì mình, vì cả dân tộc Việt Nam. Mỗi một người trẻ hôm nay hãy sống sao cho xứng đáng với sự ra đi của các anh, hãy tự răn mình bằng những việc làm hữu ích cho non sông đất nước.
Chính vì vậy việc tri ân đối với những người, những gia đình có công với cách mạng không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân chúng ta, những con người đang được sống trong một đất nước hòa bình nhờ công sức, xương m.áu cha, anh đổ xuống, mà đó còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Đó là thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta./.
BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH MỚI
Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trước những tác động của bối cảnh mới không chỉ nhằm khẳng định đặc trưng, thuộc tính thể hiện sự ưu việt của nó so với các học thuyết lý luận khác trong lịch sử, mà còn là mệnh lệnh, yêu cầu sống còn đối với những người cộng sản chân chính.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu nổi bật
và vĩ đại của trí tuệ loài người về lý luận phát triển xã hội trong lịch sử thế
giới cận đại và hiện đại. Sức sống và ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã
được chứng minh bằng các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động chống áp bức bóc lột, vì một xã hội công bằng, tiến bộ, mà đỉnh cao là
thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Đối với cách mạng Việt Nam,
ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là cốt, là gốc,
là nền tảng tư tưởng. “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.
Bước sang thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu
hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; cách mạng khoa học - công nghệ
(KHCN); sự bùng nổ và kết nối của thông tin; kinh tế tri thức, kinh tế số phát
triển mạnh mẽ;… đã và đang là những yếu tố tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời
sống xã hội, đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm đổi mới, hội nhập, tìm kiếm cho
mình học thuyết và mô hình phát triển phù hợp. Vì vậy, sự đấu tranh về ý thức hệ
không những không mất đi mà còn gay gắt và phức tạp hơn bao giờ hết. Đặc biệt,
cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã làm biến đổi sâu sắc và toàn diện nền kinh tế
thế giới, nhất là ở các nước tư bản phát triển. Sự phát triển về kinh tế dựa
trên nền tảng tri thức đã tác động đến các giai tầng xã hội, đặc biệt là giai
cấp công nhân. Giai cấp công nhân hiện nay đã có những biến đổi cả về cơ cấu,
số lượng và chất lượng. Theo đó, tỷ lệ công nhân trong các ngành dịch vụ và các
ngành công nghiệp có ứng dụng KHCN có chiều hướng tăng lên; trình độ người công
nhân đang tăng lên đáng kể và có sự xuất hiện “công nhân toàn cầu”,... Trước
những biến đổi ấy, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc lý luận chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng: giai cấp công nhân hiện nay đang
dần “teo đi” và “bị hòa tan” vào các giai cấp khác; vai trò, sứ mệnh lịch sử
hiện nay không còn là của giai cấp công nhân mà thay vào đó là tầng lớp trí
thức... Đây là những luận điệu biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột và sự tồn
tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản (CNTB).
Để xem xét vai trò lịch sử của một giai
cấp, phải dựa trên cơ sở địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó, chứ không
phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân hoặc lực lượng xã hội nào.
Trong lịch sử, chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) đã từng chiến thắng chế độ phong
kiến, vì chính họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức
sản xuất mới dựa trên nền đại công nghiệp, tiến bộ hơn hẳn phương thức sản xuất
lạc hậu của chế độ phong kiến. Trong các cuộc cách mạng ấy, giai cấp tư sản
luôn là những người lãnh đạo. Vì thế, như một quá trình lịch sử tự nhiên, sự
sụp đổ của chế độ TBCN và sự thắng lợi của xã hội cộng sản chủ nghĩa đều tất
yếu như nhau. Trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân là con đẻ của nền đại
công nghiệp, là lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất
tiên tiến - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Và vì thế, lịch sử lựa
chọn và quy định họ là giai cấp duy nhất có sứ mệnh xây dựng chủ nghĩa xã hội
(CNXH), chủ nghĩa cộng sản.
Sau gần 500 năm phát triển, CNTB đã tạo
ra lực lượng sản xuất không lồ. Song thực chất, đó là thành tựu chung của nhân
loại chứ không phải sản phẩm riêng có của giai cấp tư sản, của CNTB. Sự phát
triển đó đã tạo cơ sở vật chất giúp cho CNTB có thể tận dụng những thành tựu
KHCN mới để kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên, trong lòng thế giới tư bản hiện đại,
mâu thuẫn vốn có giữa lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất dựa trên
chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất không những không mất đi mà
có mặt còn sâu sắc hơn và lan rộng hơn. Dù có biến đổi, thích nghi thế nào,
CNTB hiện đại vẫn không thể che đậy được bản chất bóc lột và phản động, trong
đó có sự mở rộng đến các nước đang phát triển bằng các hình thức nô dịch kinh
tế và chủ nghĩa cường quyền mới về chính trị, kinh tế và quân sự. Mâu thuẫn xã
hội cơ bản giữa tư bản và lao động; giữa những người nghèo và những người giàu
không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà đã phát triển ở tầm quốc tế - đó là mâu
thuẫn giữa các nước nghèo và các nước giàu, giữa các nhóm nước kinh tế phát
triển với nhóm nước kinh tế đang phát triển, giữa Nam với Bắc, Đông với Tây.
Bên cạnh đó, cách mạng KHCN hiện đại
cùng với sự điều chỉnh thích nghi của CNTB tác động đến quan hệ sản xuất làm
thay đổi về mặt hình thức địa vị của giai cấp công nhân, một bộ phận khá đông
công nhân có cổ phần, cổ phiếu trong các nhà máy, xí nghiệp,... Lợi dụng điều
này, các thế lực thù địch rêu rao rằng: “Giai cấp công nhân không còn bản chất
cách mạng nữa”; CNTB đã phát triển thành “chủ nghĩa tư bản nhân dân”,... Thực
chất đây là những luận điệu xuyên tạc, thiếu căn cứ. Bởi lẽ, đây là sự phản ánh
mức sống trong điều kiện mới (do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội); đồng
thời, là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân suốt
nhiều thế kỷ qua. Bản thân giai cấp công nhân vẫn chỉ là những lao động làm
thuê cho nhà tư bản, dù đảm nhiệm cương vị nào.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và
phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội của giai cấp công
nhân đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản
không giống như những mô tả của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin trong thế kỷ
XIX, XX. Thế nhưng, dựa vào những biến đổi đó để đi đến kết luận chủ quan rằng:
giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa là sai lầm cả về chính trị
và khoa học. Công nhân hiện nay dù có cổ phiếu cũng chẳng làm thay đổi được địa
vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Việc mua bán cổ phiếu ở các nước
tư bản đã tạo nên cái gọi là hiệu ứng của cải, làm cho “tư bản giả” ngày càng
tăng lên so với thực tế. Điều này càng nói lên tính chất ăn bám của CNTB độc
quyền, chứ chẳng phải CNTB đã là “CNTB nhân dân” như các học giả tư sản đã cố
tình tô vẽ. “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính
toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong
lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công
nghệ... Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn
cơ bản vốn có của nó”. Dù trong lòng xã hội tư bản, đời sống của người lao động
đã có sự cải thiện đáng kể, song số người nghèo khổ vẫn ngày càng tăng. Sự phát
triển của các tập đoàn tư bản, các công ty tư bản xuyên quốc gia cùng sự bòn
rút tài nguyên và bóc lột nhân dân nhiều nước thuộc thế giới thứ ba; các cuộc
chiến tranh đẫm máu chống các quốc gia có chủ quyền do chủ nghĩa đế quốc phát
động... là nguyên nhân chủ yếu khiến cho hàng trăm triệu người bị đe dọa chết
đói, hàng tỷ người sống trong cảnh khốn cùng, thất nghiệp,... Những thống kê về
tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, lạm phát sau đại dịch COVID-19 vừa qua là
minh chứng rõ nét nhất cho tình trạng bất bình đẳng trong xã hội hiện nay...
Cách mạng KHCN hiện đại là quá trình làm cho thế giới ngày càng mang tính chỉnh thể hơn, cho nên càng làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia - dân tộc. Các quốc gia - dân tộc để hội nhập đều phải đẩy mạnh tăng cường hợp tác, giao lưu, hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực nhằm khai thác những tiềm năng, lợi thế của mình. Điều này khiến nhiều người dường như đã lãng quên vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp; một số học giả cho rằng chúng ta đang sống trong “mái nhà chung”, “thế giới phẳng” nên không còn và cũng không cần phải đấu tranh giai cấp, theo đó, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực sự lỗi thời (!). Chúng ta cần phải tiếp tục khẳng định rằng, vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp luôn tồn tại trong suốt quá trình tiến lên CNXH, thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, chừng nào xã hội không còn giai cấp đối kháng về lợi ích kinh tế, lập trường chính trị thì chừng đó vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp mới mất đi.
Trước sự tác động của cách mạng KHCN, giai cấp tư sản luôn dùng mọi thủ đoạn tinh vi hòng phủ nhận lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Song, thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật phát triển của xã hội loài người, vẫn là cuộc đấu tranh “ai thắng ai” trên bình diện quốc tế cũng như trong điều kiện cụ thể của từng quốc gia - dân tộc. Bài học về sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Liên Xô và Đông Âu trước đây vẫn luôn mới mẻ đối với người cách mạng. Bất kỳ ở đâu, thời điểm nào, nếu coi nhẹ hoặc không đếm xỉa đến tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội,... thì cách mạng sẽ phải trả giá đắt. Học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị./.
TẠI SAO LẠI CỨ THỜ Ơ, VÔ CẢM TRƯỚC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH
Có lẽ cần phải nhắc lại câu nói này của đồng chí Võ Văn Thưởng, khi đồng chí ấy đang là UVBCT, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, để mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta tự soi lại mình, tự suy ngẫm xem mình đã làm được như lời đồng chí Võ Văn Thưởng mong muốn chưa?
Tôi nghĩ, nếu tất cả đảng viên đều làm được như lời đồng chí Võ Văn Thưởng nói thì mỗi ngày sẽ có hàng triệu thông tin tốt, đè bẹp những thông tin xấu. Và như vậy là chúng ta đã thực hiện được việc "ăn cây nào rào cây ấy" chứ không chỉ biết hưởng thụ mà thờ ơ, vô cảm, sợ hãi vu vơ; và như vậy cũng là góp phần tích cực vào việc "phủ xanh" thông tin tốt trên mạng xã hội, "lấy cái đẹp dẹp cái xấu", "lấy cái tích cực dẹp cái tiêu cực". Nếu mỗi cán bộ, đảng viên không làm được như vậy thì thử hỏi quần chúng, nhân dân sẽ thế nào?
Sự tồn vong của chế độ phụ thuộc vào thái độ, trách nhiệm, việc làm của mỗi đảng viên. Thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, thấy thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ Đảng, Nhà nước mà vẫn thờ ơ, vô cảm, không dám bày tỏ thái độ thì rõ ràng là ích kỷ cá nhân, là biểu hiện suy thoái; là không góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng ta có được như bây giờ là nhờ chế độ này, vậy chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ chế độ đó chứ./.
KHÔNG THỂ TÁCH RỜI MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT, GẮN BÓ MÁU THỊT GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN VÀ QUÂN ĐỘI
Quân đội ta từ nhân dân mà ra, do Đảng
Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Nhân tố có tính
quyết định để Quân đội ta trưởng thành ngày càng lớn mạnh, đánh thắng nhiều đế
quốc giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà; góp phần đưa cả nước đi lên chủ
nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chính là sự
lãnh đạo của Đảng, sự yêu thương đùm bọc che chở và giúp đỡ của Nhân dân.
Thực tiễn đã khẳng
định, Quân đội ta ngày càng trưởng thành trước hết là nhờ có sự tổ chức và lãnh
đạo của Đảng. Cùng với đó để Quân đội ta ngày càng lớn mạnh không thể không nói
tới sự đóng góp sức người và sức của của Nhân dân. Cơ sở để chúng ta bảo vệ vững chắc Tổ
quốc XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân đó chính là xây dựng Quân đội nhân
dân Việt Nam không ngừng trưởng thành, vững mạnh. Chính vì lẽ ấy mà không thể
chia cắt mối liên hệ mật thiết, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân và Quân
đội.
Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII mục tiêu tổng quát được Đảng ta xác định là: Nâng cao năng
lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin
của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng
bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ
XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để
thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra chủ
trương đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó khẳng định rõ vai trò,
nâng cao sức mạnh lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy
cao nhất nguồn lực, sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân, kết hợp với đẩy
mạnh hội nhập quốc tế và hợp tác quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước đi
lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng
lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền
đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và
cán bộ, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc chế độ và Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới.
Tuy vậy, các thế lực thù địch, phản động
không bao giờ từ bỏ âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng
Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng chúng càng ráo
riết đẩy mạnh và có sự điều chỉnh về thủ đoạn ngày càng thâm độc, tinh vi, nguy
hiểm hơn. Đặc biệt, chúng khoét sâu những tồn tại và yếu kém của ta trong thời
gian qua, để gia tăng tuyên truyền xuyên tạc, kích động, tập hợp lực lượng
chống phá. Từ lâu chúng vẫn mưu toan đòi đòi đa nguyên chính trị và đa đảng đối
lập. Họ coi đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập là điều kiện để làm phai
nhạt đường lối, sai lệch mục tiêu lý tưởng, con đường xây dựng, phát triển đất
nước đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Từ đó,
chúng tìm đủ mọi cách nhằm làm mất vị trí, hạ thấp vai trò, làm giảm sức mạnh,
tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Để thực hiện mục đích và ý đồ nêu trên, chúng ra sức chống phá, luôn công kích,
phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Chúng cho rằng, Quân đội là của quốc
gia, trung lập, không chịu sự lãnh đạo và chi phối của bất kỳ đảng phái nào; chúng
tìm cách chia rẽ mối quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân
và Quân đội… Thực chất đây là mưu đồ nhằm tách rời Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo
của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân Đảng và Quân đội; chia rẽ làm suy giảm
sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân…
Chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013, tại
Điều 4 đã tiếp tục khẳng định rõ vị trí và vai trò lãnh đạo của Đảng: “1. Đảng
Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội
tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng
lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với
nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm
trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Đồng thời, Điều 65 của Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ rõ: “Lực lượng vũ trang
nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có
nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,
an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và
chế độ XHCN; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.
Riêng đối với Quân đội, Điều 66, Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Nhà nước xây
dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có
lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu,
lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện
nhiệm vụ quốc phòng.”
Để đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt
động chống phá của các thế lực thù địch, trước hết, chúng ta cần đẩy mạnh hơn
nữa công tác tuyên truyền. Công tác tuyên truyền phải tập trung vạch trần, lật
tẩy rõ âm mưu, thủ đoạn và ý đồ chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch,
thù địch. Cùng với đó cần tăng cường xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân, giữ vững vai trò lãnh đạo, mối liên hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân
dân và Quân đội. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt gắn
với tăng cường sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội phải thường
xuyên được giữ vững và thực hiện hiệu quả.
Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định
trong việc xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam nói riêng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại”. Đây cũng là cơ sở để Quân đội ta luôn giữ vững bản chất đội quân cách
mạng, gắn bó máu thịt với nhân dân, giữ vững truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo
sức mạnh bảo vệ vững chắc chế độ và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, cần
quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng,
chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đặc
biệt, cần tập trung khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế, yếu kém, dân
chủ, công khai để toàn dân biết. Đây là phương cách tốt nhất để ý Đảng hợp lòng
dân, nâng cao niềm tin của nhân dân và Đảng, chế độ và Quân đội, không để các
thế lực thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc kích động, chống phá. Hệ thống
pháp luật, trong đó có luật về: Tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, cần được
biên soạn, chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện... Đó là yếu tố căn bản để giữ vững sự
lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý và điều hành của Nhà nước, sự gắn bó chặt
chẽ giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội. Đó cũng là yếu tố quyết định để
tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội, hạn chế những tồn tại yếu kém về
xây dựng, quản lý, sử dụng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân nói
riêng, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng và Quân đội, thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.
CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Thời đại ngày nay, mọi quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng pháp luật và các quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tình hình, đặc điểm, điều kiện cụ thể. Điều đó thể hiện sự tiến bộ, văn minh của loài người.
Thế nhưng, hiện một
số người, nhất là số cơ hội chính trị có quan hệ với các tổ chức thù địch, đối
tượng phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài đang tìm cách đi
ngược lại sự văn minh, tiến bộ xã hội. Các đối tượng tìm kiếm sự can thiệp từ
bên ngoài nhằm kêu gọi xóa bỏ một số điều luật với các mục đích chính trị xấu.
Chẳng hạn, các đối
tượng kêu gọi xóa bỏ một số điều luật được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015
(sửa đổi năm 2017), bao gồm một số điều luật thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh
quốc gia như: Điều 109 "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân
dân"; Điều 117 "Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông
tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Hay
như Điều 331 "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" thuộc Chương XXII
về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính...
Thực chất, việc kêu
gọi xóa bỏ các điều luật này xuất phát từ các đối tượng có âm mưu, hoạt động
chống phá Đảng, Nhà nước. Vậy, mục đích của các đối tượng kêu gọi xóa bỏ các
điều luật này là gì?
Thứ nhất, các đối
tượng đang muốn đưa mình thoát khỏi “vùng cấm” của luật pháp, muốn đứng ngoài
vòng pháp luật để dễ bề hoạt động chống phá mà không bị chế tài pháp luật xử
lý. Các đối tượng đang cố gắng tạo cho mình một vành đai an toàn, nằm trong “nhóm
lợi ích” vượt ra ngoài sự quản lý của pháp luật để tiến hành các hoạt động
chống phá Nhà nước như: Tuyên truyền chống Nhà nước; thành lập các tổ chức
chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam… mà không bị pháp luật
cấm đoán.
Thứ hai, các đối
tượng muốn gây sự chú ý từ bên trong lẫn bên ngoài, thông qua các hoạt động
tuyên truyền kêu gọi, tẩy chay, đòi xóa bỏ các điều luật nhằm gây sự chú ý cho
dư luận trong nước cũng như cộng đồng quốc tế, nhất là các tổ chức theo dõi
nhân quyền, các cơ quan truyền thông thiếu thiện chí, thường xuyên có các bài
viết chống phá Việt Nam như đài RFA, RFI... Các hoạt động kêu gọi nhằm đánh lạc
hướng dư luận để tạo suy nghĩ rằng môi trường chính trị của Việt Nam đang “rối
ren”; tâm lý người dân bất ổn, hoang mang, qua đó hòng tạo áp lực dư luận để
đòi hỏi phải thay đổi các quy định hoặc xóa bỏ các điều luật này.
Thứ ba, tất cả các
hoạt động kêu gọi xóa bỏ các quy định của điều luật trên không nằm ngoài âm mưu
tạo ra môi trường thuận lợi để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà
nước, mục đích hướng đến là thay đổi nhận thức của đông đảo quần chúng toàn xã
hội, tiến tới xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc
kêu gọi xóa bỏ một số điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt Nam nhằm xuyên tạc,
vu khống, hạ bệ hình ảnh Việt Nam, cho rằng chúng ta vi phạm dân chủ, nhân
quyền; vu cáo nhà nước sử dụng các điều luật này để “bóp nghẹt” quyền tự do dân
chủ, các quyền căn bản của công dân được Hiến định.
Các đối tượng chống
phá muốn xóa bỏ các điều luật nói trên đều nằm trong âm mưu, ý đồ hoạt động xâm
phạm an ninh quốc gia và đây không phải là thủ đoạn mới. Các Bộ luật Hình sự
trước đây khi ban hành và thực thi thì các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động
cũng tìm cách đả phá, đòi huỷ bỏ những điều luật mà họ cho rằng “lạc hậu”, “trói
cột”, “bịt miệng”…
Thời gian qua, đã có
nhiều đối tượng phạm tội, bị truy tố theo các tội danh quy định tại Điều 109,
Điều 117, Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Trong đó,
phạm tội quy định tại Điều 117 “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền
thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam” có thể kể đến các đối tượng như: Nguyễn Đình Thành (SN 1991, trú tại
xã Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên, Bình Dương), Nguyễn Năng Tĩnh (SN 1976, trú tại
xóm 11, xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An), Nguyễn Đức Hùng (trú tại
phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh)… Các đối tượng này đều có hành vi
làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm
chống Nhà nước Việt Nam. Những hành vi này ảnh hưởng đến an ninh trên lĩnh vực
văn hóa, tư tưởng, tác động đến đời sống tinh thần và sự thống nhất về nền tảng
tư tưởng chính trị, làm ảnh hưởng đến niềm tin của quần chúng nhân dân vào hệ
thống chính trị… Hành vi phạm tội của các đối tượng đều bị truy tố, xử lý theo
tội danh, điều khoản tương ứng, đúng quy định pháp luật.
Thực tế, không phải
vì nhận thức thiếu hiểu biết dẫn tới phạm pháp mà hầu hết các đối tượng đều hiểu
rõ những hành động của mình là trái với quy định của pháp luật, là phạm tội,
nhưng với các động cơ khác nhau, họ vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
Thậm chí không ít đối tượng dù bị cơ quan chức năng nhiều lần cảnh cáo, nhắc
nhở hay xử phạt hành chính, xử lý hình sự nhưng sau đó vẫn bất chấp, cố tình
thực hiện hành vi, thách thức pháp luật. Do đó, việc xử phạt với các điều khoản
tương ứng hành vi, tính chất phạm tội là việc làm đương nhiên của cơ quan bảo
vệ pháp luật. Điều đó càng cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật và việc xử lý
đó được cộng đồng xã hội đồng tình ủng hộ (ngoại trừ các phần tử tham gia các
tổ chức phản động, chống phá Nhà nước).
Một nguyên tắc trong
xây dựng nhà nước pháp quyền là phải thượng tôn pháp luật, không ai có thể đứng
ngoài pháp luật. Dù là ai, vị trí nào, gia thế ra sao thì khi vi phạm đều xử lý
bình đẳng và pháp luật hình sự cũng quy định rõ các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo đó, những ai chủ mưu, cầm đầu, cố tình thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội, phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm… thì sẽ bị
tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngược lại, những ai vì nhận thức thấp kém, phạm
tội do bị rủ rê, lôi kéo; biết ăn năn, hối lỗi, thành khẩn khai báo… thì được
giảm nhẹ hình phạt. Khi xét xử, luận tội, toà án xem xét công và tội rõ ràng,
công minh.
Việc điều tra, truy
tố, xét xử các bị can, bị cáo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ
luật Tố tụng hình sự, quá trình xét xử đảm bảo việc tranh tụng dân chủ trước
toà. Các vụ án xét xử bị cáo theo các tội danh mà các đối tượng thường xuyên có
hoạt động kêu gọi xóa bỏ như Điều 109, Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự cũng
đảm bảo theo quy định, nguyên tắc đó. Các hoạt động tố tụng đều thực hiện theo
các trình tự, thủ tục được luật pháp quy định, thể hiện sự công khai, minh
bạch, trách nhiệm trong các hoạt động công tố và các bản án được xem xét khách
quan, người dân ủng hộ, điều này cũng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân
đối với Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Ổn định chính trị - xã hội là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Bài học từ một số quốc gia vùng Trung Đông, Bắc Phi, Nam Mỹ… cho thấy, khi xã hội bất ổn, rối ren, hậu quả khủng hoảng đến với người dân là không thể lường, sự bất ổn đó tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, làm đảo lộn đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Và một trong những nguyên do dẫn tới sự bất ổn đó là có bàn tay chống phá của các thế lực xấu, sự bào mòn các giá trị căn bản của luật pháp và xã hội.
Do đó, bảo vệ sự ổn định chính trị - xã hội, tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật là yếu tố căn bản, góp phần tạo nên một xã hội công bằng, bền vững, loại trừ các nguy cơ can thiệp, chống phá, lật đổ chính quyền nhân dân, đó là mục tiêu tối thượng trong công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Việc đòi bỏ điều luật này, điều luật kia dưới vỏ bọc dân chủ, nhân quyền chỉ là chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực chống phá nhằm gây rối ren, bất ổn xã hội.
CẦN CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG ÂM MƯU KÍCH ĐỘNG KỲ THỊ DÂN TỘC PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối
xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân
tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân
tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.
Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã
thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ,
Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị,
xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia
cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực
hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ
xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam.
Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư
của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu
nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên
truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân
tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và
bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.
Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cho thấy, các thế lực
thù địch triệt để sử dụng con bài kỳ thị chủng tộc đến chủ nghĩa dân tộc cực
đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Các thế lực thù địch không chỉ áp dụng thủ
đoạn này đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung
Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Nam Tư trong vấn đề Kosovo...
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà
nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc
rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng
cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh
chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen
kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa,
vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam
không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.
Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc
của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ,
vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào
các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên
truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở
Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...
Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái
cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về
“một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng
có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời
giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối
gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự
trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh
chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để
kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ
biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin
tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc,
phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài
của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”,
thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...
Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã
được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong
pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ
mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được
170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể
hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành
tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả
trên bình diện quốc tế và quốc gia.
Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về
xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo
quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc
biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về
xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực
hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công
ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói
giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu
trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật,
các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh
tế - xã hội...
Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với
cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần
đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định
về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc
không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn
bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn,
thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam.



















