Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2023

TINH THẦN NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9 ĐỜI ĐỜI BẤT DIỆT

 


Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Cũng với Tuyên ngôn 2-9, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà mình dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Cuối tháng 1- 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng trong giai đoạn chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám do Hồ Chí Minh chủ trì, đã khẳng định rằng cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, theo tinh thần dân chủ mới; và chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới sẽ là của chung của toàn thể dân tộc.
Năm 1945, tình hình trong nước biến chuyển rất mau lẹ. Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Quân Đồng minh chuẩn bị kéo vào nước ta để giải giáp vũ khí của Nhật. Thực dân Pháp cũng đang ráo riết chuẩn bị quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Tình thế lúc này là vô cùng khẩn cấp, nhưng cũng là thời cơ ngàn năm có một, nếu để trôi qua thì sẽ không bao giờ trở lại. Cần phải chớp thời cơ, dũng cảm và kiên quyết, kịp thời tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chiếm thế thượng phong trước các thế lực đang nhăm nhe thôn tính Việt Nam, xác lập địa vị làm chủ đất nước của chính quyền nhân dân trước khi Đồng minh kéo vào nước ta và thực dân Pháp quay trở lại. Với nhãn quan cách mạng vô cùng sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho bằng được nền độc lập cho Tổ quốc.
Trong hai ngày 16 và 17-8-1945, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Tổng bộ Việt Minh tổ chức khai mạc Quốc dân Đại hội Tân Trào. Đại hội đã thông qua chủ trương phát động tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. Đại hội cũng thông qua nhiều chính sách lớn về đối nội, đối ngoại; thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, bao gồm 15 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch.
Với sự lãnh đạo tài tình của Hồ Chí Minh, Tổng khởi nghĩa Mùa thu tháng Tám 1945 đã giành thắng lợi vang dội, xoá bỏ ách thống trị của phong kiến, thực dân; quyền làm chủ đất nước lần đầu tiên được trao về tay nhân dân lao động.
Sau khởi nghĩa, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã đã bổ sung thêm nhiều nhân sỹ, trí thức có tâm huyết và tinh thần yêu nước, thành lập Chính phủ Lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 2-9-1945, trên lễ đài lớn tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân, bao gồm hàng trăm ngàn đồng bào Hà Nội và cả nước đổ về tụ hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt đầu từ nay Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra đời. Tuyên ngôn nhấn mạnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Tất cả các quyền đó đều là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc trên thế giới. Tuyên ngôn khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xit mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!
"...Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”
Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Cũng với Tuyên ngôn 2-9, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà mình dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Và cũng bắt đầu từ Tuyên ngôn 2-9, người dân Việt Nam bắt đầu một cuộc sống mới. Phấn khởi và tự hào, tất cả mọi công dân Việt Nam bắt tay vào sự nghiệp đấu tranh đầy gian khổ hy sinh, không tiếc của cải và cả xương máu của mình, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. 69 năm qua là cả một quá trình phấn đấu hy sinh không gì so sánh nổi của cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam hôm nay.
Ngày nay đất nước ta đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần; Việt Nam đã trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế. Kỷ niệm 69 năm ngày Quốc khánh 2-9, mỗi người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu, ngay trong lòng đất mẹ hoặc ở xa Tổ quốc, cũng không khỏi xúc động bồi hồi, khi nhớ lại khí thế đầy hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày đầu cách mạng, đặc biệt là ngày Quốc khánh 2-9-1945 lịch sử, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất lên giọng nói ấm áp của Người, đọc Tuyên ngôn 2-9, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, tinh thần của ngày Quốc khánh 2-9 sẽ đời đời bất diệt./.
ST

DẤU ẤN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI ĐIỆN BIÊN PHỦ

 Từ ngày 24-8 đến 5-9, Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên) tổ chức Triển lãm ảnh “Dấu ấn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Điện Biên Phủ”. Đây là hoạt động thiết thực kỷ niệm 112 năm Ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25-8-1911/25-8-2023), chào mừng kỷ niệm 78 năm Quốc khánh 2-9.

Triển lãm được chia thành 3 phần, trưng bày 66 bức ảnh tư liệu quý về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Phần 1 với chủ đề “Quê hương, gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp”. Ở phần này giới thiệu về quê hương, gia đình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; khắc họa chân dung người chiến sĩ cách mạng kiên trung, người học trò xuất sắc, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Phần 2 với chủ đề “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Chiến dịch Điện Biên Phủ”. Ở phần này giới thiệu những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khởi đầu từ năm 1944, với sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Quân đội ta đã trải qua những năm tháng “Chiến đấu trong vòng vây” của kẻ thù, trưởng thành vượt bậc qua từng trận đánh, từng chiến dịch.
Đặc biệt là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Tổng tư lệnh, Chỉ huy trưởng mặt trận - Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đã đánh bại Quân đội Pháp để làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Phần thứ 3 với chủ đề “Tình cảm của nhân dân Điện Biên với Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, giới thiệu những hình ảnh thể hiện tình cảm gắn bó giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Điện Biên, cũng như tình cảm, sự trân trọng của nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Theo bà Vũ Thị Tuyết Nga, Giám đốc Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thông qua triển lãm nhằm tuyên truyền, giới thiệu tới công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất của Quân đội và nhân dân Việt Nam.
Đồng thời, triển lãm khẳng định tài thao lược, nghệ thuật quân sự tài tình và những đóng góp to lớn của Đại tướng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung và Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng. Qua đó, tôn vinh những chiến công hiển hách của quân và dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ; khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất, vượt qua khó khăn, thử thách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bác Nguyễn Văn Huề (thôn Yên Bình, xã Hưng Đông, TP Vinh, tỉnh Nghệ An) chia sẻ: “Tôi lên đây để thăm các cháu đang sinh sống và làm việc tại TP Điện Biên Phủ. Thông qua người thân biết được về triển lãm nên tôi tranh thủ tới đây. Xem lại những hình ảnh về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi thực sự xúc động và tưởng nhớ, biết ơn những công lao to lớn của Đại tướng đối với Tổ quốc và nhân dân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là học trò xuất sắc của Bác Hồ, một nhân cách lớn, một nhà cách mạng kiên trung của Đảng, nhà quân sự thiên tài của dân tộc Việt Nam. Chiều nay, tôi dự định sẽ tiếp tục đi thăm Khu tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ tại Mường Phăng”./.
ST

NHỮNG LƯU Ý VỚI THÍ SINH KHI NHẬP HỌC CÁC TRƯỜNG TRONG QUÂN ĐỘI

 


Thí sinh thi vào các trường quân đội cần lưu ý bên cạnh thủ tục xác nhận nhập học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đồng thời hoàn thiện các thủ tục nhập học theo quy định của nhà trường quân đội.

Khối trường quân đội: Điểm chuẩn cao, nhiều tiêu chí phụ
Năm 2023, các trường Quân đội xét tuyển theo 3 hình thức: Xét tuyển thẳng học sinh giỏi quốc gia, quốc tế; xét tuyển học sinh giỏi bậc học trung học phổ thông và xét tuyển từ kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Điểm chuẩn trúng tuyển vào đào tạo tại 17 học viện, nhà trường quân đội đã được Ban Tuyển sinh quân sự, Bộ Quốc phòng công bố. Theo bảng điểm chuẩn này, nhiều ngành năm nay tiếp tục có mức điểm chuẩn cao so với mặt bằng điểm chuẩn chung của các trường dân sự. Bên cạnh đó, nhiều ngành đào tạo có thêm tiêu chí phụ lựa chọn thí sinh trúng tuyển.
Ở mức dưới 20 điểm, chỉ có một số ít trường đào tạo đặc thù như: Sĩ quan đặc công (nam miền bắc), Sĩ quan công binh (nam miền bắc), Sĩ quan chính trị (tổ hợp A00), Sĩ quan lục quân 2 (nam quân khu 5). Các trường, ngành còn lại đều lấy điểm chuẩn trên 20 điểm.
Nhiều trường duy trì mức điểm chuẩn cao như: Học viện Khoa học Quân sự, Trường Sĩ quan chính trị, Học viện Biên phòng và Học viện Quân y,...
Cao điểm nhất là Học viện Khoa học quân sự, tuyển thí sinh nữ chuyên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc, ngành Quan hệ quốc tế có điểm chuẩn là 27,97 điểm; ngành Ngôn ngữ Anh cũng lấy tới 27,46 điểm.
Trường Sĩ quan Chính trị, thí sinh miền Bắc, tổ hợp C00 có điểm chuẩn 27,62.
Học viện Biên phòng, ngành Luật tuyển thí sinh nam miền Bắc, khối C00 có điểm trúng tuyển là 27,47 điểm, tiêu chí phụ là thí sinh phải có điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn lớn hơn hoặc bằng 8,0 điểm; môn Lịch sử 10 điểm.
Học viện Quân y điểm chuẩn trúng tuyển ngành bác sĩ đa khoa với thí sinh nữ miền bắc là 27,17 điểm.
Nhiều trường, ngành bên cạnh mức điểm chuẩn cao (trên 25 điểm) còn áp dụng các tiêu chí phụ như: ngành Luật tuyển thí sinh nam miền bắc, khối C00 của Học viện Biên phòng; Trường Sĩ quan chính trị tuyển thí sinh nam miền nam tổ hợp C00. Học viện Kỹ thuật quân sự tuyển thí sinh nữ miền bắc; Ngành Trinh sát kỹ thuật tuyển thí sinh nam miền bắc của Học viện Khoa học quân sự.
Lưu ý đối với thí sinh khi nhập học
Cũng như những thí sinh các trường khối dân sự, thí sinh khối trường quân sự khi đã có kết quả trúng tuyển cần thực hiện việc xác nhận trúng tuyển và làm thủ tục nhập học.
Riêng thí sinh trường quân đội cần lưu ý thực hiện đồng thời việc xác nhận nhập học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hoàn thiện các thủ tục nhập học theo quy định của nhà trường quân đội.
Thí sinh có đủ điều kiện trúng tuyển bắt buộc phải xác nhận nhập học theo hình thức trực tuyến trên hệ thống tuyển sinh chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thời gian xác nhận từ khi công bố điểm chuẩn cho đến trước 17 giờ ngày 8/9.
Thí sinh cần hoàn thiện các thủ tục nhập học theo quy định của trường Quân đội. Các học viện, nhà trường quân đội sẽ tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển đến nhập học từ ngày 9 đến hết ngày 12/9. Các nhà trường sẽ thông báo lịch cụ thể trong giấy báo trúng tuyển gửi đến thí sinh.
Thí sinh trúng tuyển trường quân đội cần thực hiện đồng thời việc xác nhận nhập học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hoàn thiện các thủ tục nhập học theo quy định của nhà trường quân đội.
Nếu thí sinh không xác nhận nhập học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì nhà trường quân đội không tiếp nhận thí sinh cho dù có đủ các tiêu chuẩn trúng tuyển.
Hồ sơ nhập học đối với thí sinh trúng tuyển vào các trường quân đội gồm các giấy tờ: Bản chính giấy chứng nhận kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2023; bản chính giấy chứng nhận đoạt giải học sinh giỏi hoặc IELTS (đối với thí sinh xét tuyển học sinh giỏi bậc trung học phổ thông); bản chính giấy báo nhập học; bản chính giấy báo kết quả sơ tuyển; giấy chứng nhận được hưởng đối tượng ưu tiên (một bản sao công chứng và bản gốc để đối chiếu); bằng tốt nghiệp trung học phổ thông (một bản sao công chứng và bản gốc để đối chiếu) hoặc bản chính giấy chứng nhận tốt nghiệp trung học phổ thông tạm thời (đối với thí sinh tốt nghiệp năm 2023); học bạ trung học phổ thông (một bản sao công chứng và bản gốc để đối chiếu); lệnh gọi nhập ngũ và lý lịch nghĩa vụ quân sự (đối với thí sinh ngoài quân đội); hồ sơ quân nhân, giấy cung cấp tài chính, sổ quân trang, tiền ăn đến hết tháng 9/2023 (đối với quân nhân tại ngũ); giấy khai sinh (một bản sao công chứng và bản gốc để đối chiếu); sổ đoàn viên (đối với đoàn viên) hoặc hồ sơ đảng viên (đối với đảng viên); chứng minh thư hoặc thẻ căn cước công dân (một bản sao công chứng và bản gốc để đối chiếu) và hai ảnh cỡ 4cmx6cm để dán vào phiếu phúc tra sức khỏe./.

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG KHÔNG PHẢI LÀ "SỰ ĂN MAY"

 


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả tất yếu của một quá trình chuẩn bị lâu dài, trải qua 3 cuộc vận động cách mạng lớn để khi tình thế trực tiếp xuất hiện, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, toàn thể nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân.

Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, tạo thế, tạo lực và nắm bắt đúng thời cơ mà chỉ trong vòng hai tuần (từ ngày 14 đến 28-8-1945), cuộc tổng khởi nghĩa đã nổ ra và giành thắng lợi trên phạm vi cả nước. Sự thật lịch sử là như vậy. Ấy thế mà gần 8 thập niên trôi qua kể từ khi diễn ra sự kiện này, vẫn còn có những ý kiến cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam bùng nổ và thành công nhanh chóng chẳng qua là một “sự ăn may” do khách quan mang lại, nhờ vào cái gọi là “khoảng trống quyền lực” và nhờ vào việc “quân đội Nhật Bản đã đầu hàng quân Đồng minh”... Trong số đó, có người chưa hiểu thấu đáo, nhưng cũng có người cố tình không hiểu nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, hạ thấp vai trò của quần chúng nhân dân trong cuộc cách mạng vĩ đại này, làm lu mờ ý nghĩa to lớn của nó. Vậy đâu là sự thật lịch sử?
Trước hết, cần phải khẳng định, trong khoảng thời gian từ khi quân Nhật làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp (9-3-1945) đến ngày Hà Nội tổng khởi nghĩa thành công (19-8-1945), ở Việt Nam không hề tồn tại một “khoảng trống quyền lực” nào cả.
Như nhiều người đã biết, ngay sau cuộc đảo chính lật đổ quân Pháp, Tập đoàn quân 38 của Nhật đã nhanh chóng thiết lập bộ máy thống trị giành quyền kiểm soát trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và Đông Dương. Các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng... đều đặt dưới sự kiểm soát của quân Nhật. Chính phủ Trần Trọng Kim-một bộ máy chính quyền do Nhật dựng lên-tuy không nắm thực quyền nhưng vẫn là một chính phủ đầy đủ ban bệ. Chính phủ này cho đến ngày 17-8 vẫn còn cử người liên lạc, “mặc cả” với Việt Minh đòi chia sẻ quyền lực.
Trước đó, ngày 14-8, một ngày sau khi Ủy ban khởi nghĩa phát đi bản Quân lệnh số 1, Chính phủ Trần Trọng Kim còn ra tuyên bố “Nhất quyết không chịu lùi một bước trước một khó khăn nào để làm tròn sứ mệnh...” và họ cam đoan “vẫn hợp tác chặt chẽ với nhà đương cục Nhật”(1). Ngay trong ngày 19-8, tại Hà Nội vẫn còn diễn ra một cuộc “dàn xếp thỏa hiệp” giữa chính phủ Trần Trọng Kim với chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật. Tuy nhiên sự thỏa hiệp đó bất thành.
Để tăng thêm phần thuyết phục, có người lý giải nguyên nhân dẫn đến “khoảng trống quyền lực” ở Việt Nam thời điểm này là do “Chính sách của đồng minh đối với Đông Dương trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8-1945 là ngu dốt và quên lãng; còn chính sách của Pháp thì bối rối và bất lực”(2). Thực tế có phải vậy?
Qua các nguồn tư liệu cho thấy, lúc bấy giờ cả Anh, Mỹ và Pháp đều thừa hiểu sớm muộn gì thì phát xít Nhật cũng lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương. Mặc dù vậy, họ đều không thể làm gì được để xoay chuyển tình thế vì lúc bấy giờ cả Anh và Mỹ còn có những tính toán và theo đuổi mục tiêu khác quan trọng hơn. Vào thời điểm này (sau ngày 9-3) trên thực tế đồng minh chưa đủ sức để có thể đánh bại được đạo quân Nhật ở Đông Dương. Còn phía Pháp thì “lực bất tòng tâm”. Sau đảo chính, phần lớn quân Pháp bị Nhật bắt và giải giáp, một số chạy thoát được sang Lào thì rệu rã, giảm sút nhuệ khí. Pháp gần như không còn có vai trò đáng kể ở Việt Nam kể từ sau sự kiện ngày 9-3. Đến tận ngày 17-8, Pháp mới quyết định bổ nhiệm D’Argenlieu làm Cao ủy và Leclerc làm Tổng chỉ huy chuẩn bị đưa quân trở lại Đông Dương và tới ngày 12-9, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời được 10 ngày thì đơn vị quân Pháp đầu tiên mới theo gót quân Anh tới Sài Gòn. Có thể nói, đối tượng chính của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là phát xít Nhật và bộ máy chính quyền tay sai do Nhật dựng lên chứ không phải là Pháp.
Chưa dừng lại ở những luận điểm nêu trên, một số người còn cho rằng Cách mạng Tháng Tám đã bùng nổ sau khi Nhật Bản chấp nhận đầu hàng không điều kiện các lực lượng Đồng minh chống phát xít và quân đội Nhật ở Việt Nam đã mất nhuệ khí, không còn chống cự.
Sự thật không phải như vậy, mà thực tế là: 12 giờ ngày 15-8, qua đài Tokyo, Nhật hoàng Hirohito đọc chiếu chỉ “xin chấp nhận bản Tuyên bố Postdam ngày 26-7”. Điều đáng nói đây chưa phải là một tuyên bố chấp nhận “đầu hàng vô điều kiện”, mà mới chỉ là một đề nghị ngừng bắn. Hơn nữa, bản chiếu chỉ đó cũng chưa được chuyển đạt tới cho Tập đoàn quân 38 của Nhật ở Đông Dương.
Theo ông Lê Trọng Nghĩa (Ủy viên Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội năm 1945, sau này là Cục trưởng Cục Quân báo), người được giao trực tiếp đi gặp Đại sứ Nhật Bản Tsukamoto vào tối 19-8-1945 thì phải đến ngày 21-8, tức là hai ngày sau khi Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội, chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật ở Việt Nam mới nhận được lệnh “đình chỉ chiến tranh”. Khi chiếc máy bay chở Thiếu tá Patti, chỉ huy đội “tiền trạm” của quân đồng minh vừa vào tới vùng trời Hà Nội định đáp xuống sân bay Bạch Mai thì bị lực lượng phòng không của Nhật nã đạn buộc phải quay trở lại Côn Minh.
Ngày 22-8, chiếc máy bay này tiếp tục đáp xuống sân bay Gia Lâm trong khi các sĩ quan Nhật tại đây vẫn chưa nhận được chỉ thị gì cả. Trước đó, trong các ngày 17, 18-8, tại Hà Nội, quân Nhật vẫn rất hung hăng, xe tăng, các chốt kiểm soát vẫn luôn sẵn sàng nã đạn gây tình hình rất căng thẳng. Tại nhiều địa phương đã nổ ra những cuộc đụng độ giữa các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân và LLVT cách mạng Việt Nam với quân Nhật…
Điểm qua một số sự kiện như trên để thấy rằng Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam nổ ra và thành công trong bối cảnh quân đội Nhật Bản ở Đông Dương vẫn chưa đầu hàng các lực lượng Đồng minh chống phát xít và đạo quân phương Nam của Nhật ở Đông Dương tuy có suy giảm về tinh thần nhưng thực lực vẫn còn đang sung sức.
Thời cơ tổng khởi nghĩa chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng đó là “thời cơ vàng” mà Đảng ta, đứng đầu là Bác Hồ đã kịp thời chớp lấy, lãnh đạo toàn dân dốc toàn lực tung ra đòn quyết định giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh nhất. Tổng khởi nghĩa nổ ra vào thời điểm khi mà ở trong nước, cao trào kháng Nhật, cứu nước đã phát triển lên đến đỉnh cao, chỉ huy Tập đoàn quân 38 của Nhật tuy chưa nhận được lệnh ngừng bắn nhưng tỏ ra bối rối trước diễn biến của tình hình; chính quyền tay sai hoang mang và tỏ ra bất lực; quân Nhật ở Đông Dương tuy còn đông và trang bị mạnh nhưng nhuệ khí và tinh thần chiến đấu đã suy giảm; quân đội Anh, Pháp, Tưởng thì chưa kịp kéo vào.
Phải một tuần sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, ngày 9-9 phái đoàn tiền trạm của Trung Hoa Dân quốc do Tiêu Văn dẫn đầu mới tới Hà Nội, sau đó, ngày 14-9 là bộ sậu của Lư Hán và tới ngày 28-9-1945, lễ đầu hàng của quân đội Nhật Bản mới chính thức diễn ra tại Hà Nội. Đây là thời cơ ngàn năm có một cho Tổng khởi nghĩa. Bởi nếu Tổng khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, khi Nhật chưa chấp nhận bản Tuyên bố Postdam của đồng minh thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Nhưng nếu nổ ra muộn hơn, khi quân Anh, Pháp và Tưởng đã kéo vào núp dưới cái ô “giải giáp quân Nhật” thì thời cơ thuận lợi nhất có thể sẽ trôi qua. Không phải ngẫu nhiên mà lúc này, lãnh tụ Hồ Chí Minh mặc dù đang ốm nặng vẫn cố gượng dậy căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.
Cách mạng Tháng Tám diễn ra và kết thúc nhanh gọn trên phạm vi cả nước. Có được điều kỳ diệu đó “căn bản là do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy cơ hội thuận lợi nhất, khởi nghĩa giành chính quyền nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng LLVT và thành lập các khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị, và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi, không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng không thể mau chóng giành được thắng lợi”(3).
Quá trình tạo thế, tạo lực để đón thời cơ đã được Đảng ta chuẩn bị từ rất sớm, ngay từ Hội nghị Trung ương 6 (1939), Hội nghị Trung ương 7 (1940) và đặc biệt là Hội nghị Trung ương 8 (1941)-hội nghị hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Với nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8, công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trở thành nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng và toàn dân Việt Nam. Mặt trận Việt Minh ra đời. Việc xây dựng LLVT được định hình cụ thể cùng với việc xây dựng và mở rộng các căn cứ địa cách mạng... Tất cả đều nhằm sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của tình thế, để không bỏ lỡ thời cơ chiến lược một khi nó xuất hiện.
Như vậy, có thể khẳng định, nhờ có một quá trình chuẩn bị chu đáo, tạo thế, tạo lực cho cách mạng, khi tình thế biến chuyển, thời cơ xuất hiện, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời nắm bắt thời cơ, phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa mới là nhân tố chính đưa đến thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chứ tuyệt nhiên không phải là một “sự ăn may”, “do yếu tố khách quan mang lại” như một số ý kiến đã ngộ nhận./.
ST

QUY ĐỊNH VỀ XIN LỖI VÀ PHỤC HỒI QUYỀN LỢI CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG, ĐẢNG VIÊN BỊ KỶ LUẬT OAN

 Ngày 18-8-2023, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai đã ký ban hành Quy định số 117-QĐ/TW về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.

Quy định gồm 4 chương; quy định về nguyên tắc, trách nhiệm, trình tự, thủ tục xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Sau đây là nội dung chi tiết của Quy định này:
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Phạm vi điều chỉnh
Quy định này quy định về nguyên tắc, trách nhiệm, trình tự, thủ tục xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
2. Đối tượng áp dụng
- Tổ chức đảng bị kỷ luật oan (bao gồm cả tổ chức đảng đã giải tán, giải thể, kết thúc hoạt động, thay đổi do chuyển giao, chia tách, sáp nhập về tổ chức).
- Đảng viên bị kỷ luật oan (bao gồm cả đảng viên không còn sinh hoạt đảng, đã qua đời, mất năng lực hành vi dân sự, toà án tuyên bố mất tích).
- Tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan (bao gồm cả tổ chức đảng giải quyết khiếu nại kỷ luật).
- Tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan (cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra có thẩm quyền giải quyết đối với quyết định của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan).
- Các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
1. Kỷ luật oan là việc tổ chức đảng, đảng viên không vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhưng tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận có vi phạm và thi hành kỷ luật.
2. Xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan là việc tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan tổ chức xin lỗi và cải chính công khai đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
3. Phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan là việc tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền phục hồi quyền lợi chính đáng, hợp pháp của tổ chức đảng, đảng viên.
Điều 3. Nguyên tắc
1. Thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải kịp thời, công khai, khách quan. Tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan chịu trách nhiệm tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
2. Chỉ thực hiện xin lỗi, phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan một lần khi có kết luận hoặc quyết định của cấp có thẩm quyền xác định kỷ luật oan.
3. Tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan phải chủ động, kịp thời báo cáo ban thường vụ cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp; phối hợp với tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên; quyết định bãi bỏ, thu hồi quyết định kỷ luật oan; xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên tham mưu, quyết định kỷ luật oan.
4. Trường hợp tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan đã giải tán, giải thể, kết thúc hoạt động, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì tổ chức đảng tiếp nhận hoặc tổ chức đảng cấp trên trực tiếp chịu trách nhiệm xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
5. Đảng viên bị kỷ luật oan đã qua đời, toà án tuyên bố mất tích, mất năng lực hành vi dân sự thì tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan tổ chức xin lỗi đối với thân nhân đảng viên. Khi toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc tuyên bố mất tích thì tổ chức đảng kỷ luật oan xem xét phục hồi quyền lợi cho đảng viên theo quy định.
6. Việc bồi thường về vật chất và các lợi ích hợp pháp cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 4. Căn cứ để xin lỗi và phục hồi quyền lợi
1. Kết luận hoặc quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
2. Kết luận, quyết định, bản án của cơ quan pháp luật xác định đảng viên bị điều tra, truy tố, xét xử oan dẫn đến tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan.
Điều 5. Trường hợp không thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi
Đảng viên bị kỷ luật oan không được xin lỗi và phục hồi quyền lợi trong các trường hợp:
1. Sau khi bị kỷ luật oan đã không giữ được tư cách, phẩm chất, tiêu chuẩn đảng viên hoặc vi phạm bị kỷ luật.
2. Nhận lỗi thay cho người khác dẫn đến bị kỷ luật oan.
3. Từ chối việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
4. Tự ý bỏ sinh hoạt đảng.
5. Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và trách nhiệm của đảng viên theo quy định tại Điều 8 Quy định này.
Chương II
QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN
Điều 6. Trách nhiệm của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan
1. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến kỷ luật oan theo yêu cầu của tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan.
2. Xây dựng kế hoạch, tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan; phối hợp với các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có liên quan phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
3. Quyết định theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định bãi bỏ hoặc thu hồi quyết định kỷ luật oan, phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
4. Quyết định theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền kiểm điểm, xem xét trách nhiệm tổ chức, cá nhân tham mưu, quyết định kỷ luật oan.
5. Khi nhận được kết luận hoặc quyết định của tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan phải tổ chức hội nghị xin lỗi và phục hồi quyền lợi cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
Điều 7. Trách nhiệm của tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan
1. Xem xét, giải quyết theo thẩm quyền và ban hành kết luận hoặc quyết định xác định kỷ luật oan, gửi tổ chức, cá nhân liên quan.
2. Quyết định hoặc chỉ đạo tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan bãi bỏ quyết định kỷ luật oan và tổ chức xin lỗi, phục hồi quyền lợi cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
3. Quyết định hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
4. Chỉ đạo kiểm điểm, xem xét trách nhiệm tổ chức, cá nhân tham mưu, quyết định kỷ luật oan.
5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kết luận, quyết định giải quyết, xác định kỷ luật oan; việc xin lỗi, phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
Điều 8. Quyền và trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan
1. Được yêu cầu (bằng văn bản) cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, kết luận, quyết định bị kỷ luật oan hướng dẫn việc xin lỗi và phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc thi hành kỷ luật oan theo yêu cầu của tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết, xác định kỷ luật oan.
3. Phối hợp thực hiện các trình tự, thủ tục có liên quan đến việc giải quyết kỷ luật oan.
Chương III
TỔ CHỨC XIN LỖI VÀ PHỤC HỒI QUYỀN LỢI
Điều 9. Thời hạn
1. Trong thời hạn 90 ngày, tính từ ngày cấp có thẩm quyền ban hành kết luận hoặc quyết định xác định tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan thì tổ chức đảng đã kỷ luật oan, các tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
2. Trường hợp bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh…) thì thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn thực hiện xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
Điều 10. Trình tự, thủ tục
1. Ngay sau khi ban hành kết luận, quyết định xác định việc kỷ luật oan thì tổ chức đảng phải gửi văn bản đến tổ chức, cá nhân liên quan theo quy định.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kết luận, quyết định của cấp có thẩm quyền thì tổ chức, đảng viên bị kỷ luật oan gửi văn bản đề nghị xin lỗi, phục hồi quyền lợi đến tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
3. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được kết luận, quyết định về việc đã kỷ luật oan thì tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan có trách nhiệm:
- Thông báo bằng văn bản đến tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan (hoặc thân nhân đảng viên) về việc tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi.
- Thu hồi, bãi bỏ quyết định kỷ luật oan; đồng thời gửi đến cơ quan, tổ chức nơi đảng viên đang công tác, sinh hoạt để thu hồi, xoá bỏ quyết định kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể đối với đảng viên (nếu có).
- Phục hồi quyền lợi hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền phục hồi quyền lợi của tổ chức, đảng viên bị kỷ luật oan.
4. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện phục hồi quyền lợi của tổ chức, đảng viên theo quy định.
Điều 11. Hình thức xin lỗi
1. Tổ chức hội nghị công khai xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan.
1.1. Chủ trì tổ chức hội nghị:
- Đại diện tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
- Tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan hoặc tổ chức đảng tiếp nhận chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hết nhiệm kỳ hoạt động của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
1.2. Nơi tổ chức hội nghị:
- Đối với tổ chức đảng bị kỷ luật oan: Tổ chức đảng bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì việc xin lỗi thực hiện tại tổ chức đảng đó; tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán thì thực hiện tại tổ chức đảng trực tiếp quản lý tổ chức đảng đó trước khi bị giải tán; tổ chức đảng đã kết thúc hoạt động, giải thể, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì thực hiện tại tổ chức đảng kế thừa, tiếp nhận tổ chức đảng đó.
- Đối với đảng viên bị kỷ luật oan: Đảng viên không giữ chức vụ thì việc xin lỗi thực hiện tại chi bộ đã hoặc đang quản lý đảng viên hoặc nơi cư trú; đảng viên là cấp uỷ viên, giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì thực hiện tại cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ trực tiếp quản lý đảng viên hoặc tổ chức đảng nơi đảng viên đó đã là thành viên; đảng viên đã qua đời, mất năng lực hành vi dân sự, toà án tuyên bố mất tích thì thực hiện tại tổ chức đảng đã hoặc đang quản lý đảng viên; đảng viên bị kỷ luật đã nghỉ việc, nghỉ hưu hoặc chuyển công tác, chuyển sinh hoạt đảng thì thực hiện tại tổ chức đảng đang quản lý đảng viên.
1.3. Thành phần hội nghị (tổ chức đảng tổ chức hội nghị xin lỗi căn cứ từng trường hợp quyết định) gồm:
- Đại diện tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
- Đại diện tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan hoặc tổ chức đảng được uỷ quyền
- Đại diện tổ chức đảng, đảng viên (hoặc thân nhân đảng viên) bị kỷ luật oan. Nếu tổ chức đảng bị kỷ luật oan đã giải tán, giải thể, kết thúc hoạt động, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì mời đại diện tổ chức đảng kế thừa, tiếp nhận tổ chức đảng đó.
- Đại diện tổ chức đảng đang quản lý đảng viên bị kỷ luật oan trong trường hợp đảng viên đã chuyển sinh hoạt đảng.
- Đại diện lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đảng viên bị kỷ luật oan và đang công tác; đại diện chi bộ nơi đảng viên cư trú.
1.4. Nội dung hội nghị:
- Công bố quyết định bãi bỏ quyết định kỷ luật oan; quyết định khôi phục hoạt động đối với tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán; quyết định phục hồi đảng tịch đối với đảng viên bị kỷ luật khai trừ hoặc bị xoá tên đảng viên do bị kỷ luật oan; quyết định phục hồi vị trí việc làm, chức danh, chức vụ lãnh đạo và các quyền lợi liên quan (nếu có).
- Chủ thể tổ chức xin lỗi ghi biên bản hội nghị và gửi báo cáo đến tổ chức đảng giải quyết, xác định kỷ luật oan trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày kết thúc hội nghị.
2. Công bố công khai việc xin lỗi:
Tổ chức đã quyết định kỷ luật oan công bố nội dung xin lỗi gửi các tổ chức đảng trực thuộc; đăng công khai trên báo chí của địa phương, trang thông tin điện tử (nếu có) của cấp uỷ cơ quan, đơn vị nơi tổ chức đảng, đảng viên đã bị kỷ luật oan, nơi đang cư trú hoặc làm việc.
Điều 12. Phục hồi quyền lợi
1. Đối với tổ chức đảng:
- Tổ chức đảng bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo xem xét lại việc đánh giá phân loại hằng năm và nhiệm kỳ; xem xét việc xếp loại danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng định kỳ, đột xuất (nếu có).
- Tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc thành lập lại, chỉ định nhân sự cấp uỷ lâm thời, chỉ đạo việc tổ chức đại hội cấp uỷ theo quy định (nếu có đủ điều kiện).
- Tổ chức đảng đã kết thúc hoạt động, giải thể, chuyển giao, chia tách, sáp nhập thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc xem xét, đánh giá phân loại hằng năm và nhiệm kỳ; xem xét lại xếp loại danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng định kỳ, đột xuất (nếu có) và thông báo cho tổ chức đảng kế thừa, tiếp nhận tổ chức đảng đó.
2. Đối với đảng viên:
- Đảng viên bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì được phục hồi lại các quyền lợi đã bị ảnh hưởng theo quy định (nhận xét, đánh giá, điều kiện quy hoạch, bổ nhiệm, nâng lương, khen thưởng…). Đảng viên bị kỷ luật cách chức hoặc cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm (nếu có)... thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, tình hình thực tế của cơ quan, địa phương, đơn vị để xem xét phục hồi chức vụ hoặc bố trí vào vị trí công tác, chức vụ tương đương.
- Đảng viên bị kỷ luật khai trừ hoặc đã ra khỏi Đảng thì tổ chức đảng có thẩm quyền phục hồi đảng tịch, phục hồi quyền đảng viên hoặc công nhận là đảng viên (nếu cá nhân có đơn). Tuổi đảng được tính liên tục trong cả thời gian bị kỷ luật oan (trường hợp bị kỷ luật khai trừ). Cơ quan, đơn vị căn cứ tình hình thực tế để bố trí vị trí công tác phù hợp, nếu không đủ tiêu chuẩn, điều kiện để bố trí công tác thì được nghỉ công tác và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định.
- Tổ chức đảng, cơ quan có thẩm quyền giải quyết, phục hồi quyền lợi hợp pháp cho đảng viên trong việc cử đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung quy hoạch, giới thiệu ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh và phụ cấp lương (nếu có); phong, xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu thi đua, khen thưởng theo quy định.
3. Tổ chức đảng có thẩm quyền kịp thời chỉ đạo việc cải chính các thông tin kỷ luật trong hồ sơ, lý lịch của đảng viên.
Điều 13. Kinh phí thực hiện
Kinh phí tổ chức thực hiện xin lỗi tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan sử dụng từ nguồn kinh phí hoạt động của cấp uỷ, tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 14. Tổ chức thực hiện
- Các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu, quán triệt và thực hiện nghiêm Quy định này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc và cần bổ sung, sửa đổi thì báo cáo Bộ Chính trị (qua Ủy ban Kiểm tra Trung ương) xem xét, quyết định.
- Ủy ban Kiểm tra Trung ương theo dõi, kiểm tra và hướng dẫn việc thực hiện Quy định; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Điều 15. Hiệu lực thi hành
Quy định này có hiệu lực từ ngày ký và được phổ biến đến chi bộ.
ST

Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người

 Thời gian qua, có nhiều quan điểm sai trái, thù địch xuất hiện cho rằng, sự ra đời tư tưởng và chế độ xã hội chủ nghĩa là một sai lầm của lịch sử. Rằng, không cần có chủ nghĩa xã hội thì con người vẫn có ấm no, tự do, hạnh phúc(?!) Đây thực chất là quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận bước tiến kiên quyết và tất yếu của lịch sử nhân loại. Bởi lẽ, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người.

Ấm no, tự do, hạnh phúc là mong muốn, khát vọng của con người từ khi con người xuất hiện trên trái đất. Tuy vậy, có thể nói, từ khi xã hội loài người được hình thành cho đến nay, chưa có giai đoạn nào loài người được thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc.
Giai đoạn xã hội chưa thành văn - xã hội nguyên thủy, mặc dù chưa xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, con người hoàn toàn bình đẳng nhưng không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi lẽ, thời kỳ này, sức sản xuất chưa phát triển nên con người chưa thể hiện được vai trò của mình trong lao động sản xuất, chiếm lĩnh tự nhiên. Năng suất lao động thấp, của cải làm ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao và phong phú, nên con người chưa thể có no ấm.
Mặt khác, từ khi loài người xuất hiện, con người luôn mong muốn khẳng định định vị trí, vai trò của mình trong sự phát triển thế giới. Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của lịch sử, khả năng hiểu biết của con người còn hạn chế, nên con người chưa nắm được các quy luật của tự nhiên. Con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Người nguyên thuỷ không nắm được quy luật tự nhiên, chưa hiểu biết về chính mình nên đã nảy sinh tâm lý sợ hãi, sự phụ thuộc, bị chi phối, mất đi vai trò chủ thể, tính chủ động, tích cực của chính mình. Con người thậm chí còn không dám tác động, chinh phục, cải biến tự nhiên. Khi tôn giáo xuất hiện, niềm tin tôn giáo xuất hiện, làm tăng thêm sự phụ thuộc vào những lực lượng xa lạ bên ngoài con người. Nếu hiểu tự do là nhận thức được các quy luật của cái tất yếu thì con người thời kỳ này chưa thể có tự do.
Không có ấm no, không có tự do thì con người không thể có hạnh phúc. Nói cách khác, con người chỉ hạnh phúc nếu có cuộc sống no ấm, được làm những gì mình muốn, thoát khỏi sự phụ thuộc, sự chi phối, khẳng định được vai trò chủ thể của mình trong xã hội.
Khi đồ sắt xuất hiện (khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN), làm cho sức sản xuất phát triển mạnh mẽ. Con người ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong thế giới, chinh phục được giới tự nhiên, tạo ra nhiều của cải để thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên, của cải dư thừa làm xuất hiện chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu xuất hiện làm xuất hiện những tập đoàn người có lợi ích đối kháng nhau, do sự khác nhau về địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội, khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, và khác nhau về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Những tập đoàn đó là những giai cấp trong xã hội. Đối kháng lợi ích giữa những giai cấp dẫn đến những cuộc đấu tranh giai cấp. Xã hội có giai cấp đầu tiên là xã hội chiếm hữu nô lệ (xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VIII TCN). Ph.Ăngghen viết: “toàn bộ lịch sử đã qua đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”.
Sự biến đổi căn bản nhất của xã hội loài người từ khi có giai cấp đó là xuất hiện tình trạng áp bức, nô dịch giữa người với người. Những người có quyền năng không chỉ chiếm đoạt của cải của cộng đồng tạo nên sự bất bình đẳng, bất công xã hội,mà còn nô dịch lao động của người khác. Lúc này, đa số những người bị chiếm đoạt, bị áp bức, nô dịch không thể có ấm no, tự do và hạnh phúc. Những điều này chỉ thuộc về thiểu số người trong xã hội.
Từ xã hội chiếm hữu nô lệ, trải qua chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa, điều này cũng không thay đổi. Ấm no, tự do, hạnh phúc vẫn thuộc về số ít giai cấp thống trị, đó là địa chủ, quý tộc, tư sản. Đa số các giai cấp lao động, bị áp bức vẫn không có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Năm 1844, trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C.Mác viết: trong xã hội tư bản, “Người công nhân sản xuất ra càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta ngày càng tăng thì anh ta càng nghèo. Người công nhân ngày càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng rẻ mạt. Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị”.
Trong xã hội tư bản, người lao động mất tự do trong lao động, trong cuộc sống: “Con người (công nhân) chỉ cảm thấy mình hành động tự do trong khi thực hiện những chức năng động vật của mình -ăn, uống, sinh con đẻ cái, nhiều lắm là trong chuyện ở, chuyện trang sức…, - còn trong những chức năng con người của anh ta thì anh ta cảm thấy mình chỉ còn là con vật. Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còn cái có tính người thì biến thành cái vốn có của súc vật”.
Trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh (1844 - 1845), Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc cuộc cách mạng công nghiệp, nội dung kinh tế và hậu quả xã hội của nó cũng như những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Bằng những chứng cứ sinh động của cuộc sống và những tài liệu phong phú của chính quyền tư sản, Ph.Ăngghen đã vẽ nên bức tranh hiện thực của cuộc đời những người lao động. Ông viết: “Tính tham lam bỉ ổi của giai cấp tư sản đã tạo nên bao nhiêu là bệnh tật! Phụ nữ mất khả năng sinh đẻ, trẻ con tàn tật, đàn ông yếu đuối xanh xao, nhiều người tàn phế, toàn bộ nhiều thế hệ có nguy cơ bị diệt vong, bị kiệt sức và ốm yếu, - mà tất cả chỉ là để nhét cho đầy túi của giai cấp tư sản!”.
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là chế độ tư hữu hoàn bị nhất. Vì vậy, các giai cấp lao động trong xã hội tư bản bị bóc lột triệt để nhất. Không chỉ áp bức, nô dịch lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã mở rộng sự áp bức, nô dịch ở các nước thuộc địa trên phạm vi quốc tế; bóc lột giữa tư bản và lao động nói chung. “Cùng với giai cấp tư sản, chế độ tư hữu cũng sẽ bị sụp đổ, và thắng lợi của giai cấp công nhân sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự thống trị giai cấp và đẳng cấp”.
Đến thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, đa số nhân dân lao động thế giới không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mong muốn có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc tiếp tục là khát vọng của nhân loại. Tuy nhiên,trong thời kỳ này,cuộc đấu tranh của các giai cấp bị áp bức, bóc lột đã giành được những thắng lợi to lớn. Cách mạng tháng Mười năm 1917 đã mở ra thời đại mới - thời đại đấu tranh, giải phóng cho khát vọng của nhân loại, để xây dựng chế độ xã hội - chế độ xã hội hướng đến sự giải phóng và phát triển toàn diện con người, hiện thực hoá khát vọng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại.
Chế độ xã hội chủ nghĩa, sau là chế độ cộng sản chủ nghĩa xoá bỏ chế độ tư hữu - tức là xoá bỏ sự khác nhau về địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội, xoá bỏ sự khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và xoá bỏ sự khác nhau về sự thụ hương lợi ích xã hội, tạo cơ sở thực hiện sự công bằng, bình đẳng cho mọi người trong xã hội.
Theo lý tưởng cộng sản, mọi đối kháng giai cấp trong xã hội cộng sản sẽ mất đi. Vì vậy, công cụ chuyên chính của các giai cấp thống trị là nhà nước sẽ mất đi, theo đó sẽ không còn áp bức, nô dịch giai cấp. Khi áp bức giai cấp bị xoá bỏ thì tình trạng nô dịch dân tộc sẽ mất đi.
C.Mác và Ph.Ăngghen từng nói: áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc; nên hãy xoá bỏ tình trạng giai cấp này đi áp bức giai cấp khác thì tình trạng dân tộc này đi áp bức giai cấp khác sẽ mất đi. Khi áp bức dân tộc không còn thì dân tộc được tự do. Con người trong xã hội đó được giải phóng thực sự. Mặt khác, khi con người được giải phóng, không bị giới hạn bởi những điều kiện ràng buộc, con người có thể phát huy tối đa mọi khả năng của mình, khẳng định tốt nhất những năng lực bản chất của mình. Khi đó con người có thể tạo ra của cải với năng suất rất cao, đáp ứng mọi nhu cầu của mình. Nghĩa là con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Đến hôm nay, chủ nghĩa xã hội mới đang trong quá trình xây dựng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như C.Mác khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản là hình thức kiên quyết của tương lai sắp đến”. “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Bởi đó là con đường duy nhất đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân lao động và cả xã hội loài người.
ST


NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO QUA TRIỂN LÃM ẢNH “HOÀNG SA - TRƯỜNG SA” TRONG LÒNG QUẢNG NGÃI”

 


💫 Diễn ra từ ngày 19 đến 23/8, triển lãm “Hoàng Sa - Trường Sa trong lòng Quảng Ngãi” do Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân phối hợp với Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi tổ chức, trưng bày nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị tuyên truyền chủ quyền biển đảo.
💫 Triển lãm ảnh “Hoàng Sa - Trường Sa trong lòng Quảng Ngãi” diễn ra tại công viên trung tâm thành phố Quảng Ngãi, nhân kỷ niệm 78 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9, trưng bày 110 tác phẩm, trong đó 60 tác phẩm của 3 nhiếp ảnh gia Nguyễn Đăng Lâm, Đinh Văn Hồng và Lê Hoàng Yến.
💫 Các tác phẩm tại triển lãm phản ánh về cuộc sống, sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tại quần đảo Trường Sa và những hình ảnh các đoàn công tác đến thăm, tặng quà cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tại các đảo, nhà giàn DK.
💫 Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân trưng bày 20 tác phẩm tại triển lãm lần này, có nội dung phản ánh sinh động, đầy đủ những hoạt động luyện tập, sẵn sàng chiến đấu; đấu tranh bảo vệ trên vùng biển Việt Nam, giúp đỡ, cứu hộ ngư dân khai thác thủy hải sản trên vùng biển Hoàng Sa.
💫 Triển lãm có 30 ảnh tư liệu về Hoàng Sa là bộ ảnh do Ban Tuyên giáo Trung ương cung cấp với mục đích tuyên truyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
💫 Theo Ban tổ chức, triển lãm góp phần nâng cao hiểu biết, nhận thức của cán bộ, đoàn viên thanh niên, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi về chủ quyền biển, đảo, qua đó bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, chung tay cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền, biển đảo của Tổ quốc.
ST

VIỆT NAM: LÀ BẠN, LÀ ĐỐI TÁC TIN CẬY CỦA TẤT CẢ CÁC NƯỚC TRÊN CƠ SỞ TÔN TRỌNG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA NHAU VÌ HÒA BÌNH - THỊNH VƯỢNG - ĐỘC LẬP DÂN TỘC, TIẾN BỘ CỦA NHÂN LOẠI!

 Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa trả lời báo chí về vệc nâng cấp mối quan hệ với Mỹ rằng: "Hai bên đang trao đổi các biện pháp để tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Việt - Mỹ theo hướng ổn định, thực chất, lâu dài, hướng tới tầm quan hệ mới khi điều kiện phù hợp, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại khu vực cũng như trên thế giới".

Tới đây Việt Nam dự kiến sẽ đón Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9/2023; đón Tổng thống Mỹ Joe Biden từ 10 đến 11/9/2023 và Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng sẽ dự kiến ghé thăm Việt Nam vào khoảng tháng 10 hoặc tháng 11/2023.
Việt Nam luôn hoan nghênh các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo Trung - Mỹ - Nga và đó là niềm vinh dự của Việt Nam khi được đón các cường quốc hàng đầu thế giới đến thăm và tăng cường ngoại giao.
Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia. Việt Nam luôn hướng theo lẽ phải của nhân loại: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều phải được Hòa Bình - Thịnh vượng - Độc lập dân tộc.
Đặc biệt Việt Nam không liên minh quân sự với bất kỳ quốc gia nào và cũng không theo nước này để chống lại nước khác! Ai, quốc gia nào chấp nhận điều đó đều đủ điều kiện là đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, là những người bạn đúng nghĩa của Việt Nam!
ST


NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 112 NĂM NGÀY SINH ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP: NGƯỜI THỰC HIỆN XUẤT SẮC TƯ TƯỞNG “CHÍNH TRỊ TRỌNG HƠN QUÂN SỰ” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

     Tư tưởng “chính trị trọng hơn quân sự” được lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ từ trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân!

Đó là sự phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề con người, là sự phát huy truyền thống của dân tộc. Để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vấn đề đầu tiên và trước hết phải từ con người. Do đó, yếu tố chính trị phải đặt lên hàng đầu, mục tiêu chính trị là trên hết. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thực hiện xuất sắc khi được giao nhiệm vụ xây dựng, chỉ huy Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Thứ nhất, đồng chí Võ Nguyên Giáp thực hiện xuất sắc tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh về đẩy nhanh việc tổ chức đội quân chủ lực đầu tiên với phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”.

Sau 30 năm ra nước ngoài tìm đường cứu nước, ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người lựa chọn địa điểm thuộc xã Nà Sác, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng làm căn cứ để cùng với cơ quan Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng. Đầu tháng 10-1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Vũ Anh gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh để báo cáo tình hình phong trào cách mạng ở vùng Cao-Bắc-Lạng và cả nước.

Sau khi nhận định, đánh giá tình hình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị: Phải thành lập đội vũ trang, lựa chọn các đội viên là những người kiên quyết, hăng hái trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu, có lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc vào đội. Phải cân nhắc từng người một, các cán bộ chỉ huy tiểu đội, trung đội chủ yếu lấy trong số cán bộ đi học quân sự ở nước ngoài về. Phải lựa chọn những người đã trải qua chiến đấu, ít nhiều biết về kỹ thuật và kinh nghiệm quân sự, phải có đủ thành phần dân tộc, người địa phương nào cũng có, nhằm phục vụ cho hoạt động được thuận lợi. Thời gian thành lập chậm nhất là vào hạ tuần tháng 12-1944 và khi thành lập phải có những lời thề danh dự... Thành lập xong, ra quân hành động có tính chất quần chúng; trận đầu mặc dù đội quân mới thành lập còn non yếu nhưng phải chiến thắng.

Thực hiện chỉ dẫn của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Lê Quảng Ba họp bàn, khẩn trương xây dựng tổ chức biên chế đội vũ trang theo đúng yêu cầu của Người. Về tên gọi của đội, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng với các đồng chí chủ trì thống nhất lấy tên là “Ðội Việt Nam Giải phóng quân”. Sau khi báo cáo, lãnh tụ Hồ Chí Minh thêm hai từ “tuyên truyền” vào tên đội và duyệt danh sách cán bộ, đội viên của đội. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền” ("Hồ Chí Minh toàn tập", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.3, tr.539).

Ngày 22-12-1944, tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, tỉnh Cao Bằng, đồng chí Võ Nguyên Giáp được Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh ủy nhiệm tuyên bố Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời chỉ có 34 đội viên, với các thành phần dân tộc trên địa bàn, vũ khí thô sơ, thiếu thốn về hậu cần, nhưng sau khi thành lập, Đội đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng). Sau hai trận này, quân số của Đội tăng lên thành đại đội, mở rộng các cơ sở cách mạng ở các khu vực khác như Hòa An, Nguyên Bình (Cao Bằng), Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Kạn)...

Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chia thành nhiều mũi, có mũi tiến xuống phía Nam đánh chiếm Ngân Sơn, Chợ Rã, Phủ Thông, Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Kạn), Chiêm Hóa (Tuyên Quang), có mũi tiến công Thất Khê, Bình Gia (Lạng Sơn), lại có mũi ngược lên biên giới Việt-Trung tiêu diệt nhiều đồn trại từ Trùng Khánh đến Bảo Lạc rồi phát triển sang tỉnh Hà Giang...

Tiến đến địa bàn nào thì vừa đánh thắng quân địch, vừa phát triển thêm lực lượng và tuyên truyền xây dựng niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ngày 15-5-1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân hợp nhất với Cứu quốc quân và một số đơn vị du kích thành lực lượng quân sự thống nhất, lấy tên mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đề xuất từ đầu khi gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh là “Việt Nam Giải phóng quân”.

Thứ hai, đồng chí Võ Nguyên Giáp là tấm gương mẫu mực gắn kết giữa vai trò Tổng chỉ huy kiêm Tổng chính ủy và thực hiện phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã hội tụ đầy đủ những phẩm chất, tư cách và thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của người chỉ huy, đặc biệt đối với vai trò Tổng chỉ huy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ủy quyền vào cuối năm 1946. Trong buổi trao sắc phong hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bác trao hàm Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà nhân dân phó thác cho”. Tại Hội nghị quân sự lần thứ V-năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra yêu cầu cao về phẩm chất, tư cách, nhiệm vụ của người tướng lĩnh với 6 phẩm chất: Trí-dũng-nhân-tín- liêm-trung. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương mẫu mực, thực hiện yêu cầu cao của Bác về những phẩm chất cần có đối với cấp tướng.

Trong hơn 30 năm trên cương vị Tổng chỉ huy của Quân đội ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên quán triệt và thực hiện xuất sắc quan điểm của Đảng, tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với mọi hoạt động của Quân đội là: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”, “người trước, súng sau”, phát triển rộng khắp cả hai lực lượng chính trị, quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân. Kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với sự nổi dậy của quần chúng trên các địa bàn, cả miền núi, miền xuôi, thành thị, nông thôn để tiến tới tổng khởi nghĩa, điển hình là cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; Phong trào Đồng khởi ở miền Nam năm 1960; Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, làm nên đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trên cương vị Tổng Tư lệnh, “biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”, nên khi lựa chọn phương án tác chiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn quán triệt, thực hiện đánh chắc thắng, không chắc thắng không đánh, giành thắng lợi cao nhất nhưng tổn thất phải thấp nhất. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, hơn 30 năm trực tiếp chỉ huy Quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra những quyết định quan trọng làm nên chiến thắng của một đội quân khởi đầu với chân đất, áo vải, vũ khí thô sơ trước đối phương hùng mạnh về trang bị, vũ khí hiện đại, được ví là “bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng”. Ông đã thực hiện xuất sắc quyết định của Bác Hồ và Trung ương Đảng, chỉ huy Quân đội từ những trận đánh đầu tiên là Phai Khắt, Nà Ngần, đến nhiều chiến dịch lớn mà điển hình là làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng thành công hình thái chiến tranh đặc sắc với tên gọi “Nhân trận-dựa vào dân, phát huy toàn dân đánh giặc, bằng mọi vũ khí, mọi lúc, mọi nơi”, buộc 10 danh tướng của Pháp, Mỹ (trong đó có 7 đại tướng Pháp, 3 đại tướng Mỹ) mắc sai lầm về chiến lược và thua trận. Ông đã chỉ huy Quân đội làm lực lượng nòng cốt để toàn dân đánh thắng hai đế quốc to trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng và Bác Hồ đề ra, đó là: Khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chuyển lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên cương vị là Bí thư Quân ủy đầu tiên, Tổng chính ủy của các chính ủy, luôn quán triệt, thực hiện phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”. Ông luôn chăm lo xây dựng QĐND Việt Nam thực sự vững mạnh về chính trị, tổ chức, chú trọng hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, nhằm giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Quân đội. Xây dựng Quân đội cách mạng, là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, của Nhà nước; là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; giữ vững mối quan hệ đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân. 

Đại tướng là Bí thư Quân ủy đầu tiên, thể hiện rõ vai trò chỉ đạo, định hướng cho cơ quan Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, cán bộ chính trị các cấp và trực tiếp thực hiện hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, bảo đảm cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; xây dựng các tổ chức, trong đó có tổ chức đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực hiện đoàn kết nội bộ; chăm lo giáo dục chính trị, công tác cán bộ, đặc biệt là học tập Bác Hồ về phát hiện, quý trọng và sử dụng nhân tài. Những lời hiệu triệu, kêu gọi, những mệnh lệnh của Đại tướng đưa ra thấm sâu vào tâm tư, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ như hồi trống trận, như tiếng kèn xung phong thôi thúc toàn quân suốt những năm tháng kháng chiến cho đến ngày toàn thắng, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Ngay từ giai đoạn đầu hình thành Quân đội, Đại tướng đã dạy cho các chiến sĩ về những điều cần làm và những điều cần tránh, về mối quan hệ mật thiết giữa quân với dân, để tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Đại tướng đến với các chiến sĩ, đồng chí, đồng bào bằng tình cảm của một người thân thiết, tập hợp được sức mạnh toàn quân. Ông là một tấm gương mẫu mực của Tổng Tư lệnh kiêm Tổng chính ủy, người Anh Cả của Quân đội nên có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, văn võ song toàn, quán triệt sâu sắc tư tưởng và phương pháp luận Hồ Chí Minh, là người cầm quân tiếp thu và thể hiện đầy đủ tư cách của vị tướng mà Bác Hồ đã dạy.

Thứ ba, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà lãnh đạo kiên trung của Đảng, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời cống hiến cho hạnh phúc của nhân dân, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân giao cho nhiều trọng trách... Ở bất kỳ cương vị công tác nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dĩ công vi thượng”, đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên hàng đầu. Ông là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn toát lên sự giản dị của một công dân mang đậm nét văn hóa yêu nước, công dân tiêu biểu qua hai thế kỷ 20 và 21, mãi mãi được vinh danh.

Những năm cuối đời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn đau đáu một tâm nguyện: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa là một nhà hoạt động chính trị, vừa là một vị tướng hàng đầu trong lịch sử chiến tranh vệ quốc của dân tộc Việt Nam. Đại tướng là một nhà cách mạng, nhà chính trị tài ba góp phần xứng đáng làm nên những bước ngoặt lịch sử oai hùng của dân tộc, chiến thắng hai đế quốc to trong thế kỷ 20, giành được độc lập, tự do cho Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thời gian càng lùi xa, những cống hiến đặc biệt xuất sắc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp càng trở nên vĩ đại hơn. Chúng ta mãi mãi khắc sâu công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với sự ra đời, trưởng thành và chiến thắng của QĐND Việt Nam, đồng thời cần ra sức học tập lý luận quân sự, tấm gương, đạo đức, phong cách của Đại tướng./.


Yêu nước ST.