Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2023

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

LTS: Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, như một ngọn cờ dẫn đường, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng, dân tộc và nhân dân ta.

Vì vậy, nhận thức đúng đắn những giá trị khoa học, giá trị cách mạng, giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chúng ta góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua đó bác bỏ, phủ nhận những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bài 1: Mệnh lệnh từ cuộc sống, sự thôi thúc từ trái tim

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, là sự thôi thúc và giục giã từ trái tim của mỗi chúng ta.

Khoa học, cách mạng, nhân văn là bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ Đại hội VII (năm 1991) của Đảng, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Nhận thức mới của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI (năm 2011), đã được ghi vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân trang trọng kỷ niệm Đại lễ nghìn năm Thăng Long.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(1).

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng cách mạng chân chính do Người sáng lập và rèn luyện, dạn dày kinh nghiệm và bản lĩnh trong đấu tranh cách mạng trước đây, trong đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, chúng ta kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm nhuần và thực hành lời dạy của Người “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nêu cao quyết tâm, tín tâm và đồng tâm (chữ dùng của Hồ Chí Minh), cố kết sức mạnh “ý Đảng-lòng dân-phép nước” để thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đó cũng là tâm nguyện, hoài bão và khát vọng phát triển của Người, được Người nêu rõ trong Di chúc thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước khi trở về với tổ tiên, với Mác-Lênin ở cõi vĩnh hằng: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(2).

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, như một ngọn cờ dẫn đường, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ảnh minh họa/tư liệu

Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với đạo đức và phong cách của Người trong một hệ thống chỉnh thể, hữu cơ không thể tách rời. Tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn thấm nhuần trong toàn bộ hệ thống chỉnh thể ấy, thể hiện nhất quán trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, nhất quán giữa tư tưởng và hành động, lời nói đi đôi với việc làm, suốt đời tranh đấu, hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Khoa học, cách mạng, nhân văn là bản chất và đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Người trên tư cách nhà tư tưởng mác xít sáng tạo, nhà tổ chức thiên tài của cách mạng Việt Nam.

Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh qua thử thách của thời gian trở thành những giá trị bền vững, được chứng nghiệm qua lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc ta trong thế kỷ 20 đã qua cũng như hiện nay và mai sau, là kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân trong đổi mới, hội nhập và phát triển.

Giá trị, sức sống và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được khẳng định ở trong nước mà còn có sức lan tỏa rộng lớn trong đời sống chính trị quốc tế, trong văn hóa của thế giới nhân loại. Việt Nam đến với thế giới và có mặt xứng đáng trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhờ có Hồ Chí Minh-biểu tượng kiệt xuất cho cuộc đấu tranh không mệt mỏi vì Độc lập-Tự do-Hạnh phúc của dân tộc và nhân loại.

Bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ chân lý và đạo lý

Thế giới hiểu Việt Nam, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, yêu mến, tin cậy và tự hào về Việt Nam là nhờ có Hồ Chí Minh-vĩ nhân và danh nhân ở tầm vóc tư tưởng và văn hóa, sứ giả của hòa bình và hữu nghị, một biểu tượng kiệt xuất của văn hóa hòa bình, văn hóa khoan dung.

Hồ Chí Minh đi vào lịch sử với dấu ấn không thể phai mờ, là một trong những lãnh tụ hiếm hoi đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống như đánh giá của bạn bè quốc tế.

Khi Người qua đời, 53 năm về trước (ngày 2-9-1969), hàng nghìn bức điện và thư chia buồn từ khắp nơi trên thế giới gửi tới Đảng và nhân dân ta, trong đó có Cuba anh em với đánh giá sâu sắc, thấm thía của đồng chí Fidel Castro Ruz: Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt...

“Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”, đó không chỉ là lời ngợi ca thành kính và thiêng liêng dành cho Người mà còn là chứng thực của lịch sử, vượt thời gian và không gian, từ dân tộc tới nhân loại. Đó cũng là sự khẳng định chân giá trị Hồ Chí Minh.

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng mà Người là một tấm gương cao cả để muôn đời noi theo mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, thôi thúc và giục giã tự trái tim của mỗi người chúng ta.

Cuộc sống mách bảo chúng ta, đó là điều cần thiết để phê phán và bác bỏ mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đời tư và phẩm hạnh của Người từ những kẻ chống đối, những thế lực phản động với dã tâm thâm độc, bất minh, bất chính.

Mọi sự xúc phạm Hồ Chí Minh là xúc phạm tới dân tộc, nhân dân và Đảng ta, tới lương tâm, lương tri của cả loài người tiến bộ đã từng tôn vinh những cống hiến vô giá của Người đối với lịch sử. Thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất, thước đo khách quan nhất của chân lý.

Thời gian là sự kiểm nghiệm, sự sàng lọc khách quan nhất, chân thực nhất giúp cho sự phân biệt tốt xấu, đúng sai, thật giả. Sự xuyên tạc thâm độc, thậm chí bỉ ổi của các thế lực thù địch, phản động, kể cả những kẻ phản bội, tự bán rẻ nhân cách của mình, tự tách mình ra khỏi cộng đồng nhân dân và dân tộc nhằm vào Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người không thể che lấp sự thật, không thể lung lạc được niềm tin và tình cảm của chúng ta đối với Hồ Chí Minh.

Đó là niềm tin khoa học bắt nguồn từ giác ngộ chân lý, là tình cảm bền chặt đã trở thành máu thịt làm nên sự sống, trong từng nhịp đập của trái tim, của tâm hồn mỗi người chúng ta.

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Đời Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Nó phản ánh lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Nó phản ánh cả một thời đại lịch sử đấu tranh cách mạng của nước ta và của thế giới”(3)...

Người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh, người đã sống, làm việc, chiến đấu bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều chục năm, người thấu hiểu và thấu cảm Hồ Chí Minh đã nói hộ lòng ta về niềm tin và tình cảm đối với Người...

Đấu tranh chống luận điệu “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

 

Đấu tranh chống luận điệu “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta.

Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".  

Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu quân đội từ gốc

Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.

Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.

Đấu tranh chống luận điệu “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân. Ảnh: tuyengiao.vn  

Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.

Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!).

 Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. 

Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2). Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.

Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.

Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.

Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.

Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(4). Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(5).

Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.

Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.

QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Chủ động phòng, chống sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập vào Quân đội

 

Chủ động phòng, chống sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập vào Quân đội

Trong bối cảnh hiện nay, ngoài những hiện tượng tiêu cực của xã hội tác động đến tâm lý, tình cảm của bộ đội, các thế lực thù địch cũng ra sức lợi dụng không gian mạng, dùng mọi thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm nhằm thẩm thấu những nội dung, sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội, hòng làm cho quân nhân chạy theo ham muốn tầm thường, từ đó nhạt phai lý tưởng, xa rời mục tiêu chiến đấu. Do đó, việc phòng, chống văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội là việc làm quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Các sản phẩm văn hóa xấu độc có nguy cơ làm tha hóa nhân cách quân nhân

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế”(1). Đảng ta cũng kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những nhận thức, hành vi phi giá trị, phản văn hóa (gọi chung là sản phẩm văn hóa xấu độc): “Đấu tranh, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, góp phần xây dựng xã hội an ninh, an toàn, dân chủ, tiến bộ”(2). Điều đó cho thấy, trong tiến trình phát triển văn hóa, con người Việt Nam, Đảng ta chủ trương thực hiện phương châm vừa “xây”, vừa “chống”; phải kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Chính vì vậy, phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào Việt Nam nói chung, vào các đơn vị Quân đội nói riêng là vấn đề quan trọng, cấp thiết hiện nay.

Có thể thấy sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị Quân đội thường thông qua một số con đường sau.

Thứ nhất, xâm nhập thông qua việc quân nhân sử dụng internet và mạng xã hội. Các thế lực thù địch tận dụng tối đa những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại để tán phát sản phẩm văn hóa xấu độc trên internet và mạng xã hội với nhiều chiêu thức mới, tinh vi. Thông qua internet và các nền tảng mạng xã hội mà quân nhân sử dụng, các sản phẩm văn hóa xấu độc trôi nổi tràn lan trên không gian mạng có thể thẩm thấu, tác động và gây ảnh hưởng xấu đến nhân cách quân nhân.

Chủ động phòng, chống sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập vào Quân đội
 Ảnh minh họa: Vov.vn

Thứ hai, xâm nhập thông qua hoạt động giải trí vào ngày nghỉ, giờ nghỉ. Tưởng chừng như sản phẩm văn hóa xấu độc không thể xâm nhập bằng con đường này vào đơn vị, nhưng thực tế vẫn xảy ra. Một bộ phận quân nhân vẫn lén lút, tùy tiện nghe, xem các sản phẩm nghệ thuật thiếu lành mạnh như xem phim bạo lực, khiêu dâm, sản phẩm nhạc chế với lời lẽ thô tục.

Thứ ba, xâm nhập khi cán bộ, chiến sĩ được đi phép, tranh thủ, làm nhiệm vụ độc lập và công tác xa. Đây là con đường xâm nhập nhanh nhất, có tính chủ động nhất và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của nhân cách quân nhân. Sau thời gian dài sống và làm việc trong môi trường chính quy, kỷ luật, khi được đi phép, tranh thủ, nếu không có bản lĩnh chính trị vững vàng thì quân nhân thường tìm cách để “xả hơi” và sẵn sàng tiếp cận, thu nạp các sản phẩm văn hóa xấu độc.

Về phương thức, cơ chế xâm nhập là “mưa dầm thấm lâu”, chủ yếu là bí mật (trong các hội nhóm kín trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến như Facebook, Zalo, Viber, Instagram...) trên điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay; các sản phẩm văn hóa xấu độc có cơ chế lây lan theo cấp số nhân với tốc độ nhanh và khó kiểm soát.

Các sản phẩm văn hóa xấu độc xâm nhập vào đơn vị Quân đội “ngấm” dần vào tâm lý, sở thích, kích thích những ham muốn vật chất tầm thường của mỗi quân nhân, qua đó từng bước làm thay đổi các thang giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, làm cho một số quân nhân xao nhãng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lơ là chức trách, nhiệm vụ được giao; khơi dậy bản năng thấp hèn, chạy theo lạc thú, lợi ích vật chất tầm thường.

Xây dựng “phòng tuyến” ngăn ngừa sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội

Quân đội là trường học lớn, nơi giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống tốt đẹp. Vì vậy, không thể để cho sự tồn tại của sản phẩm văn hóa xấu độc xuất hiện trong môi trường văn hóa quân sự.

Để phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội hiện nay, trước hết, các đơn vị cần tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”(3), các đơn vị cần tập trung giáo dục lòng tự hào, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và truyền thống lịch sử cách mạng vẻ vang của Quân đội, bồi đắp phẩm chất cao đẹp của người quân nhân cách mạng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, đấu tranh phê phán những biểu hiện lệch chuẩn, những thói hư tật xấu nảy sinh trong một bộ phận quân nhân.

Việc cần chú trọng hiện nay là các đơn vị tạo ra bước đột phá trong thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Cấp ủy, chỉ huy các cấp tăng cường lãnh đạo công tác tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Chú trọng đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quân nhân trên từng lĩnh vực công tác; cổ vũ, động viên những cách làm hay, gương người tốt, việc tốt trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội”, đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc, thực hiện phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Để cuộc vận động đi vào chiều sâu, cần tập trung xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú; hướng mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ tới những chuẩn mực giá trị văn hóa trong môi trường quân sự. Xây dựng các quan hệ văn hóa tốt đẹp, trong đó coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của cán bộ, chiến sĩ, mà cốt lõi là quan hệ cấp trên-cấp dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội. Tích cực xây dựng cảnh quan môi trường văn hóa hài hòa, thân thiện, tạo nên cả diện mạo cũng như chiều sâu của đơn vị chính quy, vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa lành mạnh, phong phú, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, tiếp nhận, hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của bộ đội.

Nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa nhân cách của cán bộ, chiến sĩ. Nhận rõ vai trò của nêu gương trong lãnh đạo, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Bởi vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, đi trước, làm gương cho quần chúng về đạo đức, bản lĩnh, phong cách và tinh thần trách nhiệm cao cả đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tạo sự lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp thẩm thấu vào nhân cách bộ đội.

Trong tình hình hiện nay, các đơn vị cần phối hợp với địa phương trong phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc. Đây là giải pháp nhằm ngăn ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài, kịp thời phát hiện, xử lý các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị. Trên cơ sở tiêu chí chung, các đơn vị cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ cho đơn vị, gắn kết giữa đề cao văn hóa, đạo đức với tuân thủ pháp luật, kỷ luật cho mọi quân nhân. Thực hiện tốt các quy chế, quy định trong giáo dục chính trị, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và các chế độ, quy định của đơn vị, nhất là quy định về tham gia mạng xã hội của quân nhân, giáo dục bộ đội không truy cập trang tin xấu độc, không tán đồng, ủng hộ quan điểm, luận điệu tiêu cực, sai trái trên các trang mạng xã hội.

Phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị Quân đội hiện nay là góp phần lưu giữ và nhân lên giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, qua đó góp phần “phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(4) mà Đảng ta đã xác định.

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2023

Vạch trần, đấu tranh với biểu hiện “giả nhân giả nghĩa” của kẻ “hai mặt”

 

Vạch trần, đấu tranh với biểu hiện “giả nhân giả nghĩa” của kẻ “hai mặt”

Cơ hội chính trị và bất mãn chính trị là hai khái niệm cùng loại, cùng bậc, xếp vào một hàng, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đều biểu hiện thái độ và tư tưởng chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước ta, đều nguy hại đối với việc xây dựng đoàn kết, thống nhất và củng cố chính trị nội bộ.

Vạch trần bản chất của những kẻ lươn lẹo “hai mặt”

Cơ hội chính trị tinh vi ứng biến với thời cuộc, diễn biến tình hình để lợi dụng “mặt tích cực” và né tránh “bất lợi” đối với bản thân; luôn mang trong mình mưu mô, toan tính và yếu tố bất mãn chính trị; ngược lại, bất mãn chính trị theo đuôi, đồng lõa với cơ hội chính trị và có thể chuyển hóa thành cơ hội chính trị. Xu hướng chung của các phần tử này là câu kết với nhau, dựa vào nhau và gắn bó chặt chẽ với các thế lực thù địch, hoặc bị các thế lực thù địch tìm mọi cách lôi kéo, mua chuộc, hà hơi, tiếp sức nhằm chống đối, cản trở cái tiến bộ, tích cực; thậm chí biến thành kẻ phản bội, phản động, đứng hẳn về phía đối lập, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

Từ sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng đến nay, ở nước ta, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng được tăng cường, bước đầu đạt những kết quả quan trọng, nhiều vụ án đã được đưa ra ánh sáng, được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng một số thiếu sót, khuyết điểm của cuộc đấu tranh này hoặc xuyên tạc, dựng chuyện để kích động, lôi kéo những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước ta. Các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị đã và đang nhận được sự hà hơi, tiếp sức của các thế lực phản động để đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phao tin đồn nhảm, tung tin xấu độc trên internet, mạng xã hội nhằm xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 

Vạch trần, đấu tranh với biểu hiện “giả nhân giả nghĩa” của kẻ “hai mặt”
Ảnh minh họa internet 

Dưới đây là một số biểu hiện của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị ở nước ta hiện nay.

Có quan điểm, tư tưởng, lập trường chính trị không vững vàng, luôn ba hoa, ba phải, lươn lẹo, dễ dao động, thiếu niềm tin, hoài nghi, bi quan, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, không tin vào tương lai, tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Do bản chất cơ hội, lập trường mơ hồ, thiếu kiên định cho nên khi cách mạng gặp khó khăn, bất lợi thì hoang mang, thỏa hiệp, phụ họa theo nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái, thù địch, quay lại chửi thề, phản ứng, chống phá Đảng, Nhà nước và chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nhưng khi nhận thấy tình thế đã đổi khác, thì theo đuôi, a dua "nói leo, ăn theo", ra sức tung hô, ủng hộ cách mạng, nói, viết như “đúng rồi” để che đậy dã tâm xấu xa của mình.

Biết chọn thời điểm, thời cơ viết bài, tung tin, phát ngôn và lợi dụng triệt để đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng, chủ tâm thu vén, vơ vét cho bản thân và gia đình. Họ thường che giấu bộ mặt thật, ít bày tỏ quan điểm, chính kiến rõ ràng, thái độ chính trị lờ mờ, trung dung, thỏa hiệp, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, dĩ hòa vi quý, chỉ làm việc gì thấy có lợi cho bản thân; lợi dụng hạn chế, khuyết điểm của đồng đội để đồn thổi, “bé xé ra to”, biến “con muỗi thành con voi”; từ đó lồng ý kiến cá nhân vào phê bình, tự phê bình để nịnh bợ, lấy lòng cấp trên, hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ không trong sáng, thậm chí sử dụng biện pháp triệt hạ đối phương.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hoặc bị kỷ luật, không còn giữ chức vụ, không có điều kiện để phô trương thanh thế, cho nên nảy sinh nhiều tâm tư, bất mãn, chán chường, bị thế lực cơ hội, bất mãn tác động, lôi kéo, mua chuộc, họ đã theo đuôi kẻ xấu. Hầu hết những phần tử này có tham vọng chính trị, chức quyền và khi tham vọng không được đáp ứng thì sinh ra bất mãn, thoái chí, phát ngôn thiếu trách nhiệm, không còn ý thức xây dựng cơ quan, đơn vị, chống đối những người đã ngồi vào ghế của mình. Họ lợi dụng xu thế dân chủ hóa, internet, mạng xã hội, tranh thủ sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn để thực hiện mưu đồ xấu xa, chống lại sự lãnh đạo của Đảng, cản trở sự tiến bộ xã hội.

Hám lợi, hám danh, thực dụng về kinh tế, đề cao vật chất, sùng bái đồng tiền và muốn thể hiện mình trước tổ chức, tập thể, thích nổi danh trên mạng xã hội và trước đám đông; không thừa nhận ai, nhất là cán bộ trẻ. Họ cố tình móc nối, liên kết với một số cán bộ, nhân viên “có ơn huệ với mình” để moi tin, truyền tin, xuyên tạc bản chất sự việc; sẵn sàng rẽ theo con đường khác, kể cả sai trái, miễn là có lợi ích kinh tế, thỏa mãn ý chí cá nhân. Họ thường tự coi là người có học, hiểu biết, tỏ ra nổi trội, luôn tự cho mình có công trạng, có đóng góp cho cách mạng, cho cơ quan, đơn vị nhưng bị bạc đãi, thiếu sự tôn trọng. Vì vậy, họ muốn “nổi sóng”, đưa ra “phát kiến” mới rồi lôi kéo, tổ chức, gây thanh thế, cốt để “đánh bóng tên tuổi” mình, gây khó dễ nhằm triệt hạ đối phương và những người mình không ưa thích. Khi mục đích không đạt được, vì nhiều nguyên nhân khác nhau khiến họ bức xúc, không thể kìm nén, đã phát ngôn thiếu trách nhiệm, xuyên tạc sự thật. Khi ý kiến, góp ý, kiến nghị của họ không được chấp nhận, hoặc mối quan hệ không trong sáng bị phát hiện, ngăn chặn, các phần tử này lập tức thể hiện thái độ chống đối, tìm mọi cách hạ thấp uy tín, danh dự của các cán bộ lãnh đạo cấp trên.

Đây chỉ là phác thảo ban đầu nhưng chỉ chừng ấy biểu hiện xấu đã khiến chúng ta phải đề cao cảnh giác, hết sức đề phòng sự phản trắc của những phần tử “hai mặt”, cơ hội chính trị này.

Kiên quyết đấu tranh đối với những kẻ “hai mặt”, cơ hội chính trị

Để đấu tranh, chặt đứt “cái vòi”, “chân tay”, “râu ria” của những kẻ cơ hội và bất mãn chính trị một cách hiệu quả, cần có các giải pháp toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, cơ chế, chính sách, pháp luật với quyết tâm cao. Muốn vậy, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Cần chú trọng thực hiện một số biện pháp sau.

Một là, thực hiện kiên quyết, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; không bị mắc mưu vào các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Đây là biện pháp cơ bản, toàn diện và bao trùm trong đấu tranh với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị ở nước ta hiện nay. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, bí thư cấp ủy phải quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng; đồng thời, nêu cao tinh thần trách nhiệm nêu gương của cán bộ chủ chốt các cấp. Cần phải nêu gương thật sự trong lời nói, hành động, công việc, cuộc sống và thực hiện nghiêm chế tài giám sát, kiểm soát sự nêu gương ấy.

Hai là, chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự trung thành, cần, kiệm, liêm, chính, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất đoàn kết. Thực hiện có nền nếp và chất lượng việc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chủ động ngăn chặn, ngăn ngừa xu hướng cơ hội, bất mãn chính trị. Đặc biệt là cần chú trọng việc nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, nâng cao trình độ lý luận, trình độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Ba là, chủ động, tích cực đấu tranh chống những biểu hiện của tư tưởng cơ hội và bất mãn chính trị trong cơ quan, đơn vị và các quan điểm sai trái, thù địch. Đề cao cảnh giác với các phần tử cơ hội chính trị muốn luồn sâu, leo cao vào bộ máy công quyền các cấp. Phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng chức năng nhằm phân loại và phát hiện kịp thời, đấu tranh hiệu quả với hoạt động phá hoại của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Bốn là, trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị, cần bám sát vào quan điểm, chủ trương, đường lối, kết luận, chỉ thị và hướng dẫn của Đảng và các cơ quan chức năng Trung ương. Dựa trên cơ sở khoa học xác đáng, với luận điểm đúng đắn, luận cứ rõ ràng, luận chứng sắc bén, có tính thuyết phục cao, nhất là đấu tranh bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt thông tin, bí mật Nhà nước, tình hình nội bộ của cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ các phương tiện thông tin truyền thông, nhất là internet và mạng xã hội; kiểm soát, tổ chức tốt việc thu hồi tài liệu, ấn phẩm mà các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị phát tán để xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Trong bối cảnh hiện nay, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; đặc biệt là những biểu hiện chống phá tinh vi, lươn lẹo của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Trên cơ sở đó có biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả, không để chúng “tác oai tác quái”, cản trở chúng ta thực hiện sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phủ nhận giá trị văn nghệ kháng chiến cách mạng là có tội với lịch sử

 

Phủ nhận giá trị văn nghệ kháng chiến cách mạng là có tội với lịch sử

Những gì văn nghệ cách mạng đã làm được với đất nước, nhân dân trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc không hề cũ vì nó đã khơi dậy sự đồng lòng, tình yêu Tổ quốc, nhân dân; nó có mặt ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc chiến đấu sinh tử ấy. Nền văn nghệ cách mạng vẫn là một trong những điểm tựa cho ý thức dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới.

1. Thời gian qua, có một số người phê phán, thậm chí phủ nhận quan điểm “nghệ sĩ là chiến sĩ, văn nghệ là một bộ phận của công tác tư tưởng-văn hóa Đảng”, vì họ cho rằng do xuất phát từ quan niệm này mà Đảng đã giao cho văn nghệ nhiệm vụ phản ánh những vấn đề của đời sống theo chủ trương của Đảng, chủ trương này đã làm hạn chế, thậm chí tước bỏ sự phong phú, đa dạng của đời sống văn nghệ.

Cần phải hiểu đúng bản chất của quan điểm nêu trên. Chủ trương là thế, còn chất lượng phản ánh thế nào lại phụ thuộc vào tài năng và năng lực sáng tạo của nghệ sĩ, vì trên định hướng ấy, chất lượng sáng tạo của nghệ sĩ rất khác nhau, nó phụ thuộc vào trí tuệ, tài năng, tâm huyết của cá nhân mỗi người. Văn học hiện thực đề cao nguyên tắc phản ánh, tái hiện đời sống dưới góc độ “như bản thân đời sống” và nhiều nhà văn hiện thực đã để lại cho đời những tác phẩm sống mãi với thời gian, đã đụng đến những vấn đề mang tầm vóc nhân loại, được mọi xu hướng khác chủ nghĩa hiện thực coi là mẫu mực của sự phản ánh. Suốt đời L.Tolstoy coi cái thật là cái đẹp, ông tìm kiếm và thể hiện nó theo cách của mình. Văn học cách mạng đề cao phản ánh những tấm gương lao động, chiến đấu vì đất nước, cộng đồng. Cũng không có nghệ sĩ nào cho rằng phản ánh đồng nghĩa với thấy gì ghi nấy, tác phẩm chỉ là sự sao chép đời sống mà thực ra từ bản chất, khi lựa chọn cái gì và phản ánh nó thế nào đã chứa đựng sự đánh giá, lựa chọn. Nhưng chất lượng của sự phản ánh phụ thuộc vào tài năng của nghệ sĩ và yêu cầu phản ánh không hề làm mất đi sự sáng tạo của chủ thể. Vấn đề là ở chỗ, tài năng của nghệ sĩ có đủ sức để phản ánh điều đó sâu sắc, đa dạng, hấp dẫn hay không, chứ không phải ở vấn đề phản ánh.

Có nhà nghiên cứu văn hóa dân gian từng nói, văn học cách mạng ít vấn đề vì nó chỉ lo phản ánh những gì diễn ra trong thực tiễn; ít chiều sâu mở rộng ra các khía cạnh nằm ở tầng sâu dưới bề mặt cuộc sống nên đơn điệu. Ông đã dẫn chuyện “Bà bủ” của nhà thơ Tố Hữu chỉ là một bài thơ mô tả giản đơn một cuộc sống không có xung đột, không ẩn chứa những vấn đề mang ý nghĩa triết học, nhân sinh thì có gì để nghiên cứu?

Thực ra trong bài thơ rất giản dị này của Tố Hữu vẫn phản ánh được mạch ngầm đang diễn ra của đời sống dưới cái bề ngoài giản dị không phải ai cũng nhận thấy; chiều sâu của đời sống, nhận thức và tình cảm con người giấu đi trong những biểu hiện chân chất, bình dị của chính đời sống lúc đó. Nhà thơ không chủ đích nói ra những điều ở đằng sau nhân vật trữ tình có phần đơn giản này, nhưng chỉ riêng sự miêu tả rất đúng tâm trạng của bà mẹ có con đi bộ đội trong một đêm mất ngủ vì lo cho con cũng thấy được cuộc sống đang chuyển động, ý thức con người đang thay đổi. Cái lo của bà bủ bắt đầu từ thương con “đánh giặc đường xa”, rồi đến thương những đồng đội của con mình. Nằm trong nhà nghe gió lạnh thổi ngoài hiên, bà nghĩ ngay đến những thiếu thốn mà con bà và đồng đội của nó đang phải chịu đựng. Cái mưa lạnh từ “chiến khu về” trong ý thức của bà có lý ở chỗ ấy chứ không phải sự gán ghép chính trị. Rồi bà căm thù thằng Tây bởi vì nó mà mẹ con bà xa nhau. Rồi bà tin con bà sẽ trở về. Nếu nhìn từ góc độ ấy (mà đó là điều có thực trong bài thơ, không cần bất cứ sự thêm thắt nào), sẽ thấy rằng văn học kháng chiến đã ghi lại được sự chuyển mình trong nhận thức của những người dân bình thường, điều trước đó chưa có. Đó là chiều sâu giá trị bài thơ “Bà bủ” của Tố Hữu.

Cũng không ai có thể phủ nhận giá trị của bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi bởi những cảm xúc và cách viết mới mẻ, pha trộn giữa nhận thức về chiều sâu của truyền thống, lịch sử với những khát vọng của cả một dân tộc trong cuộc chiến đấu vì hạnh phúc làm người. Cảm hứng làm chủ, tư thế chủ nhân của hình tượng thơ xuyên suốt bài thơ là điểm tựa cho những suy nghĩ, cảm xúc khác về đất nước, dân tộc, con người: Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta/ Những cánh đồng thơm mát/ Những ngả đường bát ngát/ Những dòng sông đỏ nặng phù sa. Điệp khúc “của chúng ta” lần đầu tiên ngân lên với cảm hứng ấy trong thơ lại không mang những phẩm chất mới sao? Trong thơ lãng mạn trước đó vài năm, người ta chỉ thấy tâm trạng cô đơn, chán chường, bế tắc thì những cảm hứng mới này là một luồng sinh khí mới làm thay đổi mạch chủ đạo của thơ ca. Mới về cảm xúc, mới về tình cảm mà nếu không có cuộc cách mạng làm thay đổi địa vị của người dân mất nước thành người tự do thì nhà thơ khó mà viết được thế.

Một vài ví dụ kể trên đều là sự phản ánh, là minh họa cho lòng yêu nước, cho phẩm chất chiến sĩ của người nghệ sĩ. Họ đi sâu vào đời sống, phát hiện ra những nét mới trong đời sống và ghi lại bằng những cảm xúc của mình cho mọi người thấy; động viên, cổ vũ cả dân tộc đứng lên chống kẻ thù chung lại không phải là giá trị sao? Có bao nhiêu nhà văn ở những nền văn học khác ở vào tình trạng tương tự đã làm được điều này?

Phủ nhận giá trị văn nghệ kháng chiến cách mạng là có tội với lịch sử

Ảnh minh họa tiết mục văn nghệ kháng chiến cách mạng. Ảnh: qdnd.vn

2. Cùng với hiện thực kháng chiến, các văn nghệ sĩ đã làm một cuộc “lột xác” để về với nhân dân. Họ hiểu ra nhiều vấn đề bản chất của xã hội bất công bắt đầu từ thân phận nô lệ của người dân, từ địa vị mất nước. Họ đứng về phía đám đông một cách tự nguyện, đem ngòi bút của mình phụng sự cuộc kháng chiến kiến quốc theo đúng nghĩa của từ này. Họ hiểu rằng, vai trò chiến sĩ của mình là cần thiết cả ở trên trận tuyến chống quân thù lẫn trong cuộc cách mạng văn hóa là thay đổi ý thức dân tộc, nhận thức của cộng đồng là một sứ mệnh vẻ vang. Về bản chất, từ thời cổ đại, văn nghệ luôn động viên con người đấu tranh chống lại bất công, chống lại cái xấu, cái ác, đề cao những giá trị nhân đạo. Lớp nhà văn đi theo cách mạng nhận thấy giữa lý tưởng xã hội và mục tiêu của văn chương gặp nhau. Để làm tốt điều đó, họ không thể cứ “khép phòng văn hì hục viết” mà phải “từ chân trời một người” đến “chân trời của tất cả”. Đó là một thực tế không thể chối cãi và điều này về bản chất là một bước tiến để đưa văn nghệ về với công chúng, gắn bó văn nghệ với đời sống của đại chúng, đất nước, phụng sự số đông chứ không phải chỉ là thú riêng của một nhóm người sống tách ra khỏi những vấn đề sống còn của xã hội.

Nói như Xuân Diệu thì quãng thời gian để từ chỗ “không quan tâm, không chủ nghĩa” đến chỗ hiểu được rằng: Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu;/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao là đoạn đường bỏ lại những “cái tôi riêng” nhỏ hẹp để đến với “cái ta chung” rộng lớn. Đó là một giá trị mà cuộc sống mới là nhân tố quan trọng thay đổi và đào luyện nên họ. Chính văn nghệ kháng chiến đã từ thực tế mà ghi lại được khoảnh khắc chân dung người lính đạt đến tầm vóc “tạc vào thế kỷ”, là “Dáng đứng Việt Nam” trong giai đoạn hào hùng nhất của lịch sử hiện đại.

3. Lại có người đã khoác cho quan niệm coi “nghệ sĩ là chiến sĩ đồng nghĩa với việc biến họ thành công cụ, thành kẻ phát ngôn cho quan điểm của Đảng, làm cho họ mất tự do, làm cho ngọn lửa sáng tạo trong họ mất đi”.

Nói thế rất võ đoán vì không có căn cứ, chưa nhìn thấy những quy luật sáng tạo đặc thù của văn nghệ; là đồng nhất định hướng tư tưởng chính trị với những quy luật sáng tạo đặc thù. Từ thời cổ đại, chưa bao giờ văn nghệ thoát ra khỏi những ràng buộc của hệ tư tưởng, thể chế. Họ là nghệ sĩ nhưng họ cũng là công dân. Cũng chưa từng có văn nghệ sĩ lớn nào tuyên bố rằng họ viết không bị câu thúc hay ràng buộc bởi các tư tưởng nào.

Đại văn hào H.Balzac (Pháp) từng nói: “Tôi viết dưới ánh sáng của hai chân lý vĩnh cửu: Chúa và nền quân chủ chuyên chế”. Nhà thờ Thiên Chúa giáo đã lập tòa và kết tội chết Galileo chỉ vì ông dám dùng khoa học chứng minh giáo lý về trái đất và sự ra đời của con người trái với những kết luận khoa học. Những nhà văn lớn khác như L.Tolstoy, F.Dostoevsky (Nga) lại không hơn một lần bị chính quyền gây phiền phức, thậm chí bắt bỏ tù vì những quan điểm chính trị, xã hội trái với quan điểm của nhà cầm quyền. Thế mà những người thổi phồng một cách sai lầm về chuyện tự sáng tạo của nghệ sĩ lại cố tình quên đi những sự thực ấy, họ chỉ vin vào một số hạn chế của văn nghệ thời kỳ kháng chiến rồi “kết tội chính quyền, hạ thấp uy tín nhà văn” là không thỏa đáng, trái với bản chất khoa học và cũng rất thiếu nhân văn.

Định hướng về vai trò chiến sĩ của người cầm bút không nên chỉ hiểu họ như một người lính chỉ biết phục tùng mệnh lệnh. Hiểu thế là thô thiển, sai lầm. Người nghệ sĩ thời nào cũng cần đứng ở tuyến đầu trong cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, trong sự động viên mọi người vươn tới những gì tốt đẹp nhất vì đó là sứ mệnh, thiên chức của họ. Đó là một đòi hỏi chính đáng, là một nhiệm vụ cao cả mà xã hội, bạn đọc giao cho họ và kỳ vọng ở họ. Về bản chất, văn nghệ chân chính phải thuộc loại hàng hóa cao cấp, thuộc giá trị tinh hoa mà từ xưa đến nay chỉ có giới tinh hoa mới có thể dẫn dắt xã hội. Ở thời đại nào cũng thế.

4. Chúng ta chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống thực dân, đế quốc xâm lược không phải chỉ bằng phương tiện mà cái chính vẫn là con người, là tình yêu Tổ quốc, là sự yên ổn trong tâm hồn người lính, họ sẽ trở về vì ở hậu phương người thân của họ đang chờ. Cả hậu phương hướng ra tiền tuyến và ở tiền tuyến, mọi người cũng nghĩ đến hậu phương. Đó là điểm tựa tinh thần quan trọng, là niềm tin để họ chiến thắng. Văn nghệ kháng chiến đã làm được điều này và đó là một giá trị quốc gia, dân tộc, cộng đồng rất lớn, không mấy nền văn nghệ có được.

Cái không khí nhà nhà ra trận, người người ra trận như ở bài thơ “Đường ra mặt trận” của Chính Hữu là thế. Nó không hề giả tạo mà nó nói được cái khí thế cả nước đánh giặc của một thời. Thậm chí, ở một bài thơ về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa rừng Trường Sơn của nhà thơ với cô gái trên đường ra trận trong cánh rừng lá đỏ ào ào rụng xuống, không đao to búa lớn gì nhưng người đọc vẫn cảm thấy cả quê hương cùng ra trận và điểm hẹn gặp nhau ở Sài Gòn là hoàn toàn tự nhiên vì đó là cái đích của cuộc chiến, ai ra trận cũng hiểu, ai cũng mong góp phần vào ngày tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Nói như Tố Hữu: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận”, tư tưởng ấy thấm sâu vào mọi người dân, đạo đức xã hội lúc đó là hiểu thấu nghĩa vụ và trách nhiệm trước lịch sử.

Vì vậy, có thể khẳng định rằng, văn nghệ thời kháng chiến cách mạng đã làm rất tốt nghĩa vụ là một bộ phận của cuộc cách mạng và đội ngũ văn nghệ sĩ đã hoàn thành xuất sắc trách nhiệm công dân trước đất nước. Xét từ cơ sở xã hội, tư tưởng triết học đến những vấn đề về đạo đức xã hội hay mỹ học thì văn nghệ cách mạng đã tạo ra những hệ giá trị cho thời đại. Làm được như thế là một kỳ tích của văn nghệ cách mạng. Giá trị ấy không bao giờ cũ.

Hiện nay, chúng ta đang xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu của cả xã hội, nhưng những đường hướng đến đích cần phải được tất cả mọi người dân đồng lòng. Thực hiện nhiệm vụ này có vai trò to lớn của văn nghệ. Trách nhiệm xã hội và về bản chất của văn nghệ điều này chưa hề cũ.

Chúng ta xây dựng hệ giá trị mới là do yêu cầu của hiện tại và tương lai, nhưng cũng phải căn cứ vào truyền thống để hoạch định bước đi cho cả dân tộc. Có những giá trị chỉ có ý nghĩa trong những thời điểm cụ thể, nhưng cũng có những giá trị không thay đổi. Những gì văn nghệ cách mạng đã làm được với đất nước, với nhân dân trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc không hề cũ vì nó đã khơi dậy sự đồng lòng, tình yêu Tổ quốc, nhân dân; nó có mặt ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc chiến đấu sinh tử ấy thì không bao giờ cũ. Nền văn nghệ cách mạng vẫn là một trong những điểm tựa cho ý thức dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới.