Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 04/9


“Mong cán bộ ta cẩn thận từng lời nói, từng việc làm, thật thà “ba cùng”, làm đúng chính sách, để giành lấy kết quả tốt hơn trong công tác phát động quần chúng”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết “Những kinh nghiệm cần phải tránh trong công tác phát động quần chúng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 221, từ ngày 04 đến ngày 06 tháng 9 năm 1954, bút danh “C.B”. Đây là thời điểm miền Nam đang tiến hành đấu tranh chính trị, giữ gìn, phát triển lực lượng, chuẩn bị cho cao trào cách mạng mới; miền Bắc đang trong thời kỳ khôi phục, cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn thận trọng trong từng lời nói, việc làm, đặc biệt là phải luôn thật thà, khiêm tốn, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm huy động sức mạnh đông đảo của quần chúng cùng hướng vào thực hiện mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng. Lời kêu gọi trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ trở thành phương hướng hành động, mục tiêu phấn đấu, rèn luyện của cán bộ, đảng viên mà còn tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân, động viên, cổ vũ nhân dân thi đua lao động, sản xuất, kháng chiến thắng lợi.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi tình hình thế giới, khu vực, trong nước diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp, nhanh chóng đến mọi mặt đời sống xã hội, càng nhận thấy giá trị sâu sắc lời căn dặn của Bác năm xưa; đặc biệt, nó đã trở thành định hướng quan trọng để đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận hiện nay phải vươn lên để lãnh trách nhiệm trước Đảng, trước dân, khắc phục mọi khó khăn, yếu kém, nhạy bén, tham mưu giải quyết một cách kịp thời, có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, góp phần thiết thực vào việc củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để cho mọi người ai cũng phải làm dân vận, ai cũng biết làm dân vận và ai cũng được làm dân vận, chứ không phải là công việc riêng cán bộ chuyên trách.
Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, trong suốt hành trình hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, đã chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do của Tổ quốc, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, yêu mến trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, hằng năm có hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, nơi phức tạp về an ninh, chính trị, dân tộc, tôn giáo; các Đoàn kinh tế - quốc phòng đã tích cực giúp đỡ nhân dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng nông thôn mới, tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, giữ gìn an ninh chính trị… theo đúng phương châm “Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin” được cấp uỷ, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, tiếp tục giữ vững và phát huy tốt truyền thống tốt đẹp “đến dân mừng, đi dân nhớ, ở dân thương”.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH


Tọa lạc giữa trung tâm Thủ đô, nằm bên bờ hồ Gươm, cạnh đền Bà Kiệu và cổng đền Ngọc Sơn, tượng đài Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh hay tượng đài Quyết tử là địa danh ghi dấu nhiều ký ức của người dân Hà Nội.
Dạo quanh khu vực bờ hồ, chiều nào cũng đông chật người lớn, trẻ em đến đây vui chơi, nhất là vào mỗi dịp cuối tuần, khi những tuyến phố quanh Hồ Gươm trở thành không gian phố đi bộ với nhiều hoạt động vui chơi, giải trí dành cho người dân và du khách.
Được cố nghệ sĩ Kim Giao sáng tác năm 1984, công trình thể hiện hình ảnh 3 nhân vật: Ở giữa là người chiến sĩ Vệ quốc đoàn (Vệ quốc quân) cầm bom ba càng, hai bên là cô gái mặc áo dài cầm gươm và anh công nhân ngồi cầm súng. Ba hình tượng đều được thể hiện với tính chiến đấu cao, là đại diện cho 3 lực lượng tham gia cuộc toàn quốc kháng chiến ở Hà Nội vào cuối năm 1946 - đầu năm 1947.
Trong cuộc chiến ấy, Vệ quốc đoàn là lực lượng chủ chốt, đối đầu trực tiếp với quân Pháp trong những trận đánh ác liệt. Hình tượng người lính Vệ quốc đoàn được thể hiện với dáng đứng hiên ngang, vững chãi. Bàn tay trái của anh nắm chặt đầy quyết tâm, còn tay phải cầm bom ba càng - biểu tượng của tinh thần cảm tử trong những ngày toàn quốc kháng chiến. Công nhân là lực lượng sản xuất chính ở Hà Nội thời điểm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, họ lại trở thành những chiến binh đầy quả cảm.
Riêng giới trí thức, trong đó có rất nhiều phụ nữ, là tầng lớp tinh hoa của Hà Nội sau cách mạng. Nghe theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, họ xếp sách vở để dấn thân vào công cuộc cứu nước. Phía dưới 3 hình tượng này là bệ tượng đài được thể hiện như một khối thép nung đầy góc cạnh, như tinh thần yêu nước không thể nào lay chuyển của người Hà Nội trong những ngày toàn quốc kháng chiến.
Và khẩu hiệu “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” là lời trích từ bức thư động viên mà Bác Hồ gửi cho các chiến sĩ Vệ quốc đoàn ở Hà Nội những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Tượng đài Quyết tử là công trình mang tính tượng trưng cao, thể hiện tinh thần bất khuất, ý chí dũng cảm của quân và dân Thủ đô trong những tháng ngày hào hùng của cuộc kháng chiến toàn quốc.
Giữa cuộc sống hiện đại, Hà Nội đang thay đổi từng ngày với hình ảnh đông vui, nhộn nhịp. Đâu đó, những bước chân chậm rãi, thư thái, nụ cười, câu chuyện của nhiều thế hệ diễn ra ở một góc phố của Thủ đô khiến ai đi qua cũng phải dừng lại. Cũng trong nhịp sống hối hả ấy, những người con của Thủ đô luôn dành những khoảng lặng để nhớ về một thời đấu tranh hào hùng của dân tộc./.
ST
Tượng đài Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh thể hiện hình ảnh 3 nhân vật: Ở giữa là người chiến sĩ Vệ quốc đoàn cầm bom ba càng, hai bên là cô gái mặc áo dài cầm gươm và anh công nhân ngồi cầm súng.
Có thể là hình ảnh về tượng đài và văn bản

GIỮ MÃI PHẨM CHẤT ANH HÙNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG: LÀM ANH HÙNG KHÓ LẮM, GIỮ ĐƯỢC ANH HÙNG CÒN KHÓ HƠN

 

Cách nhà Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Đức Vai khoảng nửa km là nhà Anh hùng Hồ Kan Lịch, nữ Anh hùng LLVT nhân dân đầu tiên của đồng bào dân tộc Pa Kô. Điều đặc biệt là bà Kan Lịch là cháu ruột của Anh hùng Hồ Đức Vai và cũng là chị ruột của Anh hùng LLVT Hồ A Nun.
Hạnh phúc 7 lần được gặp Bác Hồ
Trước khi gặp Anh hùng Hồ Kan Lịch, chúng tôi được biết bà là nguyên mẫu trong ca khúc “Người con gái Pa Kô” của nhạc sĩ Trí Thanh:
“…Tuổi thanh xuân sáng ngời dũng sĩ,
Giữa nguy nan vững lòng bền chí.
Ơi, như cành hoa sim Kan Lịch ơi,
Thắm tươi rừng núi, không quản gì no đói,
Trong lửa khói giữ bao niềm tin (ế, ê, ế ê) cho mọi người...”.
Vậy nên, chúng tôi đến nhà bà trong tâm trạng háo hức. Nhà Anh hùng Kan Lịch nằm ngay bên con đường Hồ Chí Minh. Chúng tôi nghe nói, đoạn đường Hồ Chí Minh đi qua thị trấn A Lưới được xây dựng trên chính nền đường 1B cũ - con đường từng đã in dấu chân của đồng bào dân tộc Pa Kô tham gia làm Đường 559 trong chiến tranh.
Trong căn nhà khang trang của bà Kan Lịch, bàn thờ Bác Hồ được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Bà Kan Lịch cho biết, Tết nào bà cũng làm cơm cúng Bác, mời Bác về ăn Tết với gia đình. Với Kan Lịch, Bác Hồ như một người thân trong gia đình vậy.
So với chú Hồ Vai, Kan Lịch có may mắn được gặp Bác Hồ nhiều hơn. Năm 1967, sau những trận đánh lẫy lừng, nổi bật là việc Kan Lịch là người trực tiếp bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng trường (đây cũng là chiếc máy bay đầu tiên bị bắn rơi ở phía tây Thừa Thiên Huế), Hồ Kan Lịch vinh dự được Bác Hồ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, trở thành nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc Pa Kô. Lúc ấy Hồ Kan Lịch vừa tròn 25 tuổi.
Trung tuần tháng 5 - 1968, Hồ Kan Lịch được tổ chức đưa ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Gặp Bác, Bác khen Kan Lịch là người con gái dũng cảm, có lòng dạ kiên trung khiến người con của dân tộc Pa Kô vui không tả xiết.
Sau lần đầu tiên gặp Bác, Hồ Kan Lịch còn vinh dự có thêm 6 lần nữa được gặp Người, trong đó có nhiều lần được Bác mời cơm. Bà kể: Sau khi ra Hà Nội, khi tôi về Bác gửi 160 chiếc đồng hồ nữ Liên Xô làm quà cho chị em. Còn riêng tôi, Bác tháo chiếc đồng hồ đang đeo ở tay ra tặng và nói: “Cháu Kan Lịch à, đồng hồ này là nước ngoài tặng Bác, giờ Bác tặng lại cho cháu". Tiếc là, chiếc đồng hồ của Bác sau này bị thất lạc, không tìm thấy.
Ngoài ra, Bác còn tặng tôi một chiếc đài bán dẫn. Bác nói: “Cái đài này nước ngoài tặng cho Bác. Anh hùng cũng nhiều nhưng các đồng chí ý là người Kinh, còn cháu là nữ anh hùng dân tộc Pa Kô đầu tiên nên Bác tặng cho cháu để nghe tin tức trong miền Nam”. Giờ tôi đã bàn giao chiếc đài bán dẫn cho Bảo tàng Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế, nhờ họ trưng bày, gìn giữ”.
Đảng viên phải gương mẫu đi đầu
Trong những lần gặp Bác Hồ, Người dặn dò nhiều điều nhưng bà Kan Lịch nhớ mãi một câu Bác nói: “Làm Anh hùng khó lắm, nhưng giữ được Anh hùng khó hơn. Cháu phải cố gắng làm tốt mọi công việc của mình để phát huy tác dụng của một nữ anh hùng, đừng thỏa mãn và dừng tại chỗ”.
Khắc ghi lời Bác dạy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Hồ Kan Lịch luôn nỗ lực để không chỉ trở thành một cán bộ tốt, người vợ đảm đang, tháo vát, người mẹ, người bà tốt mà còn sống chan hòa, luôn giúp đỡ người dân trong vùng mỗi khi họ gặp khó khăn.
“Ngày còn nhỏ, thấy địch sát hại đồng bào, lòng căm thù giặc sôi sục, từ đó tôi không sợ chết, chỉ muốn đi đánh giặc… Năm lên 19 tuổi, tôi đã là Huyện đội phó. Được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ, tôi chỉ đạo chị em ở 3 xã xây dựng lực lượng du kích để vừa tham gia chiến đấu, vừa sản xuất. Đội du kích Hồng Bắc có 160 chị em, đều là đoàn viên, đảng viên, có nhiều người hơn tuổi tôi, có người đã lập gia đình. Phụ nữ Pa Kô rất gan dạ, dũng cảm, đoàn kết, luôn giúp đỡ nhau lúc khó khăn. Tuy nhiên, để chị em làm theo, là người lãnh đạo, mình phải gương mẫu đi đầu. Tôi nói và tôi làm trước, khó khăn tôi đi đầu. Nếu nói mà không làm, chị em không tin. Ví dụ khi tấn công đồn địch, tôi cầm súng đi trước, chị em nối bước theo sau”, bà Kan Lịch chia sẻ.
Nói về thành tích của mình, Anh hùng Kan Lịch cho biết, bà đã chỉ huy đánh 49 trận lớn nhỏ, bắn rơi 1 máy bay, bắt sống 2 giặc Mỹ và tiêu diệt 150 tên địch.
Sau này đất nước hòa bình, Kan Lịch về công tác tại Ban chỉ huy quân sự huyện A Lưới cho đến khi được Đảng, Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu. Trở về cuộc sống đời thường, bà lại vận động bà con bản làng lên nương rẫy. Vẫn phương châm “đảng viên đi trước”, bà Kan Lịch luôn làm người đi đầu trong mọi công việc.
Giải nghĩa cho tất cả sự dũng cảm, thậm chí hy sinh tính mạng trong chiến tranh và sự tận tụy, hết lòng với bà con trong thời bình, Anh hùng LLVT Nhân dân Hồ Kan Lịch chỉ một câu rất đơn giản: “Mình là đảng viên, được Đảng và Nhà nước tin cậy, thì dù có hy sinh cũng quyết chiến đấu và làm việc đến cùng”.
Giờ đây, Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Kan Lịch nay đã 80 tuổi và sống vui vầy, hạnh phúc cùng gia đình. Hằng ngày luôn có hai cháu gái ở bên cạnh bà, giúp bà mọi việc trong nhà, đôi khi trở thành “phiên dịch viên” tiếng dân tộc sang tiếng Kinh nếu như bà chưa nghe rõ câu hỏi của người đối diện.
Và niềm vui lớn nhất của bà đó là được nhìn thấy đất nước hòa bình, phát triển. “Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới đồng bào dân tộc, trong đó có người dân Pa Kô. Ngày nay, đời sống người dân ấm no hơn trước, có của ăn của để, có đường sá đi lại. Nhiều người được đi học đại học, trở thành bác sĩ, kỹ sư,.. Tôi rất mừng vì điều đó”, Anh hùng Kan Lịch nói./.
Báo QĐND

HÌNH THỨC DÂN VẬN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ Ý NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY


Công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn đặt công tác dân vận ở tầm chiến lược, đồng thời coi trọng các hình thức triển khai công tác dân vận thiết thực, cụ thể để tập hợp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết của toàn dân tộc. Nghiên cứu về các hình thức dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa rất thiết thực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác vận động quần chúng. Theo Người “Trong bầu trời, không gì quý bằng nhân dân”, dân là quý nhất, quan trọng nhất vì dân là gốc của nước, sức mạnh của quần chúng nhân dân sẽ được tăng lên gấp nhiều lần khi được tập hợp và cùng hướng tới một mục tiêu nhất định. Muốn vậy, Đảng cần phải làm thật tốt công tác dân vận, vì “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Công tác dân vận phải thông qua các hình thức cụ thể và thiết thực để vận động, thuyết phục, tổ chức Nhân dân, làm sao cho họ hiểu, đi theo cách mạng, tích cực và sẵn sàng xả thân vì nhiệm vụ cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng để công tác dân vận đạt hiệu quả cao phải có các hình thức tiến hành vừa phong phú, vừa thiết thực để tập hợp được tất cả lực lượng của toàn thể Nhân dân. Trong đó, Đảng vừa phải tiến hành tốt các hình thức tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ Nhân dân nhưng cũng phải tổ chức có hiệu quả các công tác trong thực tế để hướng dẫn, kiểm tra, giúp đỡ nhân dân, thông qua các tổ chức và phong trào cách mạng để tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của toàn dân vào thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng. Cụ thể là:
Thứ nhất, tuyên truyền vận động giác ngộ, thuyết phục nhân dân.
Khi đưa ra quan niệm: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, để vận động được Nhân dân phải sử dụng đa dạng các hình thức tuyên truyền. Tuy nhiên, Nhân dân có nhiều tầng lớp và nghề nghiệp, trình độ, năng lực cũng không giống nhau nên nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích cũng khác nhau. Trong tuyên truyền, giác ngộ và vận động Nhân dân cần phải xem xét trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, nguyện vọng thiết thực của họ: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định cách làm việc, cách tổ chức. Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”. Nếu công tác tuyên truyền, giác ngộ, vận động Nhân dân chỉ làm theo ý muốn chủ quan, rồi đem cột cho họ, thì chẳng khác nào “khoét chân cho vừa giầy”.
Sự đa dạng của tầng lớp dân cư, vùng miền, sự khác nhau về trình độ nhận thức, về giác ngộ cách mạng là yếu tố quyết định việc không thể chỉ sử dụng một hình thức tuyên truyền cho mọi đối tượng. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải nắm chắc đặc điểm của đối tượng tuyên truyền để quyết định sử dụng hình thức tuyên truyền phù hợp nhất. Thực tế cho thấy, Người đã căn cứ vào điều kiện cụ thể để vận dụng một cách linh hoạt, như sử dụng báo chí, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị, viết sách, viết kịch, viết báo, tổ chức các buổi nói chuyện, xem phim... Bằng các hình thức đa dạng đó, Người đã truyền bá được chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với Nhân dân, làm cho Nhân dân tin tưởng và hăng hái đi theo cách mạng.
Thứ hai, tập hợp quần chúng nhân dân vào các tổ chức cụ thể.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ, để huy động cao độ tiềm năng, lực lượng của quần chúng nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước thì phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ về lợi ích của tất cả các thành phần trong xã hội, phải làm cho các bộ phận cư dân trong xã hội sắp xếp theo một hướng nhất định. Vì vậy, phải đưa Nhân dân vào các tổ chức, các hội, nhóm. Người nói: “Có hội hè rồi trước là có tình thân ái, sau thì khuyên nhau học hành. Chúng ta đã biết “cách mệnh” tinh thần, “cách mệnh” kinh tế, thì “cách mệnh” chính trị cũng không xa”. Người đã xây dựng các hình mẫu về cách thức đoàn kết, tập hợp, tổ chức quần chúng, như thành lập Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng; thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất để tập hợp, giáo dục quần chúng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng chính quyền nhân dân để quản lý, điều hành xã hội.
Người yêu cầu đưa quần chúng nhân dân vào trong các tổ chức và đoàn thể cách mạng phù hợp với nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính… qua đó để giáo dục, giác ngộ quần chúng. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (tháng 5/1941), Người kêu gọi: “Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội””. Đồng thời, phải sắp xếp thành hệ thống trình tự các công việc và phụ trách các bước công việc cụ thể, hợp lý, khoa học. Người chỉ rõ: “Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp”.
Thứ ba, thông qua các hoạt động thực tiễn để tìm hiểu, hướng dẫn và giúp đỡ quần chúng nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, công tác dân vận là một nghệ thuật về tiếp cận và vận động con người nên không chỉ tuyên truyền suông bằng sách báo, mít tinh, khẩu hiệu mà phải bằng hành động cụ thể, thiết thực trong thực tiễn. Do vậy, Người luôn yêu cầu Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải làm việc một cách thật sự, phải cùng lao động, cùng hòa mình vào cuộc sống hàng ngày của Nhân dân, phải sâu sát cơ sở, am hiểu thực tiễn. Đến với Nhân dân để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, hướng dẫn Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách và giúp dân giải quyết các công việc cụ thể, đồng thời đề xuất hoặc điều chỉnh các chính sách cho phù hợp. Người cho rằng những cán bộ “chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh” thì không thể hiểu được Nhân dân, không thể hướng dẫn, giúp đỡ được Nhân dân và đó là một sai lầm rất to, rất có hại, vì vậy: “Cán bộ chính quyền và cán bộ đoàn thể địa phương phải cùng nhau bàn tính kỹ càng, cùng nhau chia công rõ rệt, rồi cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, tổ chức nhân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những điều khó khăn...”. Đối với cán bộ canh nông, phải hợp tác mật thiết với cán bộ địa phương, đi sát dân, thiết thực bày cho dân cách trồng trọt chăn nuôi. Những hội viên các đoàn thể phải xung phong thi đua, làm kiểu mẫu cho dân, giúp dân hiểu, dân mới làm được. Quá trình thực hiện, các lực lượng phải luôn theo dõi giúp đỡ, kiểm tra nhân dân thực hiện.
Trong thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với Nhân dân để vừa hòa vào dân, động viên phong trào, biểu dương thành tích và cố gắng của Nhân dân, vừa trực tiếp kiểm tra, nghiêm khắc phê bình những khuyết điểm để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân thấy rõ mà sửa chữa, làm cho chất lượng, hiệu quả công việc vì thế mà tốt hơn.
Thứ tư, thông qua “nêu gương” để Nhân dân tin tưởng, noi theo.
“Nêu gương’ là một vấn đề luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sát. Theo Người, khi làm công tác vận động quần chúng không được dùng mệnh lệnh, áp đặt ý chí, phải biết khích lệ, biểu dương và lắng nghe kinh nghiệm trong dân, học hỏi trí tuệ của dân, bàn bạc cùng Nhân dân thực hiện nhiệm vụ. Cán bộ, đảng viên phải làm gương cho quần chúng nhân dân, để quần chúng nhân dân noi theo. Một việc làm tốt của cán bộ, đảng viên ở một địa phương, đơn vị chỉ ảnh hưởng, tác động đến địa phương, đơn vị đó, nhưng những cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, có uy tín, có chức vụ thì càng cần phải nêu gương vì họ là những người được nhiều người biết đến, khi họ làm tấm gương thì sẽ có tác dụng khích lệ lớn. Trong tác phẩm “Đời sống mới” (tháng 3/1947), Người viết: “Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích” và cũng luôn nhấn mạnh: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Đặc biệt, đối với cán bộ, đảng viên, Người yêu cầu: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Khi cán bộ, đảng viên nêu gương thì Nhân dân sẽ tự giác làm theo thậm chí không cần nói. Do đó, khi làm công tác dân vận phải làm gương trong mọi công việc để dân tin theo. Người thường dạy bảo: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Nhân dân sẽ mất niềm tin vào những cán bộ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Vì thế, Người chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Người luôn viết thư khen ngợi, động viên, khuyến khích những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập, lao động, sản xuất, chiến đấu và đề nghị có mục “gương người tốt, việc tốt” trên báo để cổ vũ, động viên, khích lệ mọi người học tập, noi theo.
Thứ năm, thông qua tổ chức các phong trào cách mạng để đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của Nhân dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác dân vận phải tổ chức nhiều phong trào rộng lớn để tập hợp, đoàn kết và phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ, sự sáng tạo của Nhân dân, hướng vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Với phương châm: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Người chỉ rõ, công tác dân vận phải kịp thời biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể có cách làm hay, những giải pháp hiệu quả, thiết thực. Từ đó, nhân rộng ra thành phong trào chung của toàn xã hội.
Có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu về công tác dân vận khi vận dụng được tất cả các nhiệm vụ của dân tộc thành các phong trào quần chúng, phong trào của cả nước mà người dân đều được tham gia thi đua vì lợi ích của chính mình, như phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; hũ gạo cứu đói; tuần lễ vàng; phong trào bổ túc văn hóa xóa nạn mù chữ; phong trào đời sống mới; phong trào thi đua ái quốc, phong trào thi đua giết giặc, phong trào trồng cây, phong trào rèn luyện sức khỏe, phong trào thi đua lao động, sản xuất mỗi người làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt... Đó thực sự là các phong trào thi đua yêu nước được phát triển rộng rãi trên mọi lĩnh vực, đã đoàn kết và động viên được tất cả các lực lượng, trí tuệ, sáng kiến của Nhân dân để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng nước ta.
Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, các hình thức dân vận của Đảng ta càng được khẳng định đầy đủ hơn cả về lý luận và thực tiễn. Từ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XIII, Đảng ta đều bổ sung, cụ thể hóa tư tưởng của Người thành quan điểm, đường lối về công tác dân vận, trong đó có các hình thức dân vận. Tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta đã chỉ rõ cần thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nghị quyết cũng nhấn mạnh: “Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Sâu sát cơ sở, tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận…”. Đồng thời, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận phù hợp với nhiệm vụ cách mạng hiện nay nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận có giá trị lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn trong sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Từ đây, phong trào quần chúng được khởi phát, làm nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Công tác dân vận cần làm cho mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ, nhận rõ những thuận lợi và khó khăn, đoàn kết phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hơn lúc nào hết, hệ thống chính trị và toàn dân ta cần quán triệt sâu sắc trong nhận thức và hành động về hình thức dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh, với truyền thống cách mạng của Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sẽ có nhiều hình thức dân vận đa dạng và phong phú góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân vận, phát huy cao độ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa sự nghiệp đổi mới của Nhân dân ta giành nhiều thắng lợi mới./.
Tạp chí Tổ chức Nhà nước
Có thể là hình ảnh về 5 người

KHẮC PHỤC “CĂN BỆNH” NÉ TRÁNH, ĐÙN ĐẨY TRÁCH NHIỆM


Quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta xác định: Cán bộ, công chức là công bộc của Nhân dân và có trách nhiệm phục vụ Nhân dân. Tuy nhiên, hiện nay, ở không ít nơi, cán bộ, công chức lại co cụm, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không làm đúng, đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của mình. “Căn bệnh” này khiến việc giải quyết nhiều công việc chính đáng của người dân, doanh nghiệp bị đình trệ; làm kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
“Căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm đã được lãnh đạo Ðảng, Nhà nước nhận diện và chỉ rõ, đó là thường gặp ở những cán bộ có bổn phận thực thi, giải quyết những vấn đề, công việc thuộc phạm vi mình phụ trách nhưng lại trốn tránh trách nhiệm, tìm cách đẩy sang cho người khác, đẩy lên cho cấp trên, đẩy cho cấp dưới… Vậy điều gì khiến “căn bệnh” này tồn tại và thời gian gần đây càng trở nên nổi cộm, gây bức xúc dư luận? Phân tích, tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, “căn bệnh” này sinh ra từ nhận thức về quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, ý thức, trách nhiệm về vị trí công tác của một số cán bộ, công chức chưa cao.
Một số cán bộ lãnh đạo có tư tưởng sợ “mất phiếu”, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Trường hợp khác do năng lực, trình độ chuyên môn yếu, không đáp ứng được nhiệm vụ nên e dè, làm gì cũng sợ sai. Ngoài ra, hệ thống văn bản, quy định của Đảng, Nhà nước thường xuyên thay đổi, có sự chồng chéo, thiếu đồng bộ nên nhiều khi cán bộ, công chức chưa tiếp thu được đầy đủ, kịp thời, không dám làm vì sợ sai…
Sau 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy vậy, hiện tại, nước ta vẫn là nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, có khoảng cách khá xa với các nước phát triển. Kìm hãm sự phát triển của đất nước, như đã nói ở trên, có trách nhiệm của “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm.
Nhận thức rõ điều này, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành, thực hiện nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật nhằm nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đặc biệt, lãnh đạo Ðảng, Nhà nước đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu các cấp, ngành, đơn vị phải kịp thời đề ra những giải pháp ngăn chặn và tháo gỡ... Mới đây nhất (ngày 16/8), chủ trì phiên họp thứ 24 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thảo luận, cho ý kiến về kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo 6 tháng đầu năm 2023 và nhìn lại công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay; xác định nhiệm vụ trọng tâm công tác những tháng cuối năm và thời gian tới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chỉ đạo: “Các cơ quan chức năng làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng thêm một số quy chế cần thiết khắc phục ngay tình trạng né tránh, nể nang, đùn đẩy”.
Rõ ràng, để đất nước phát triển nhanh, bền vững thì việc cấp thiết và quan trọng là cần quyết tâm, quyết liệt, kiên trì chữa trị dứt điểm “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau. Trong đó, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ, đó là phải có những quy chế, chính sách kịp thời, đúng đắn. Quy chế cần cụ thể, cá thể hóa quyền hạn, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong từng khâu, tuyệt đối không để xảy ra việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.
Trường hợp đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm để xảy ra chậm trễ hoặc không quyết định những vấn đề, công việc thuộc thẩm quyền thì phải kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan theo đúng quy định. Bên cạnh đó, kịp thời rà soát, thay thế hoặc điều chuyển sang công việc khác đối với cán bộ, công chức năng lực yếu, không dám làm, né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, để trì trệ và không đáp ứng yêu cầu công việc. Ở chiều ngược lại, cần có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn và yêu cầu cán bộ, đảng viên phải hết sức nêu cao tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ, công việc được giao, dù là việc lớn hay việc nhỏ, việc đơn giản hay phức tạp, nhiệm vụ bình thường hay quan trọng, bí mật. Ðảng ta cũng đã ban hành nhiều quy định liên quan đến trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Hơn lúc nào hết, các công bộc của Nhân dân cần chấm dứt ngay việc đùn đẩy, nể nang, né tránh trách nhiệm, thay vào đó là tiên phong, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.
Khắc phục “căn bệnh” né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm, đồng nghĩa với việc xóa bỏ được những cản trở để đất nước ta phát triển nhanh và bền vững./.
Tạp chí Tổ chức Nhà nước
Có thể là hình vẽ ngẫu hứng

Lời Bác dạy ngày này năm xưa: Ngày 05 tháng 9

 “Những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô”, Bác nói ngày 05 tháng 9 năm 1954. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vừa mới kết thúc (07/5/1954), Hiệp định Giơnevơ được ký kết (21/7/1954). Để công tác tiếp quản Thủ đô được nhanh chóng, an toàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp và có những lời căn dặn quý báu đối với lực lượng bộ đội và công an thực hiện nhiệm vụ này. Theo đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô phải giữ vững lập trường, bản chất cách mạng, luôn kiên định, trách nhiệm với công việc được giao, không dao động trước sự phồn hoa của đời sống thị thành.

Lời căn dặn của Bác ngắn gọn, nhưng súc tích, là sự nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an cần phải giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, khí tiết của người chiến sĩ cộng sản; gương mẫu trong mọi lời nói, hành động và việc làm; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh chóng và chính xác, tránh sa vào những cạm bẫy của cuộc sống đời thường. Do vậy, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, góp phần bồi dưỡng đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp có thái độ giao tiếp, ứng xử chuẩn mực; có năng lực và tính chuyên nghiệp cao trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phát huy truyền thống tốt đẹp, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, không để rơi vào cạm bẫy, sa hoa; luôn kiên định với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; sẵn sàng xả thân hy sinh cứu dân, chung vai sát cánh cùng nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới, nông thôn mới; có lối sống văn minh, năng động, trí tuệ, đoàn kết và kỷ luật nghiêm.

-st-

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: QUAN TÂM ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP TRUNG TÁ TRỞ XUỐNG KHI THÔI PHỤC VỤ TẠI NGŨ!

         Theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam hiện hành, hạn tuổi cao nhất của sĩ quan phục vụ tại ngũ theo cấp bậc quân hàm: Đối với cán bộ cấp trung tá, thiếu tá, đại úy lần lượt là 51, 48 và 46 tuổi. Sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ theo một trong các hình thức: Nghỉ hưu; chuyển ngành; phục viên; nghỉ theo chế độ bệnh binh. Ở độ tuổi này và với lĩnh vực đào tạo đặc thù, khi nghỉ hưu, họ rất khó tìm được việc làm thêm để cải thiện thu nhập, trong khi vẫn phải lo toan, gánh vác kinh tế gia đình...

Mặc dù khoản 2 Điều 35 Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam quy định có 4 hình thức thôi phục vụ tại ngũ đối với sĩ quan nhưng thực tế hiện nay, phần lớn họ đều nghỉ hưu. Tại Quân khu 4, qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam và thực tế ở các đơn vị cho thấy, đời sống của hầu hết cán bộ cấp trung tá trở xuống khi nghỉ hưu còn nhiều khó khăn vì lương hưu hạn chế, khó tìm việc làm thêm, trong khi vẫn phải lo toan nhiều bề.
Theo Thượng tá Nguyễn Giang Nam, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 324 (Quân khu 4), khi được nghỉ hưu, sĩ quan cấp bậc trung tá, thiếu tá, đại úy thường có thời gian phục vụ trong Quân đội chưa đủ 35 năm, vì thế, lương hưu không được hưởng mức tối đa 75%, khiến cuộc sống của nhiều đồng chí rất khó khăn. Nếu chỉ dựa vào tiền lương hưu hằng tháng thì không thể bảo đảm nhu cầu cuộc sống bởi ở độ tuổi này, họ vẫn phải lo toan từ chi tiêu sinh hoạt, học tập của các con đến nuôi dưỡng cha mẹ già... Trong 10 năm (2013-2023), Sư đoàn 324 có 41 cán bộ là sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ, trong đó, quân hàm cấp trung tá trở xuống là 31 đồng chí.
Sau khi xuất ngũ, các đồng chí này thường đầu tư vào phát triển chăn nuôi, sản xuất, số ít làm bảo vệ tại các công ty, xí nghiệp... “Qua gặp gỡ và được nghe ý kiến của các cán bộ đã nghỉ hưu, Sư đoàn cũng hết sức băn khoăn. Tất cả ý kiến đều nêu lên những khó khăn, bất cập khi nghỉ hưu ở độ tuổi này. Bởi với chuyên ngành đào tạo đặc thù, họ rất khó kiếm việc làm phù hợp và cũng không thể đi học nghề ở độ tuổi này. Trước khi trao quyết định nghỉ chế độ cho cán bộ, chúng tôi cũng chỉ biết động viên anh em cố gắng khắc phục khó khăn, giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ để vươn lên trong cuộc sống”, Thượng tá Nguyễn Giang Nam cho biết thêm.
Tương tự như ở Sư đoàn 324, hằng năm, Bộ CHQS tỉnh Nghệ An làm thủ tục cho hàng chục sĩ quan, QNCN nghỉ theo chế độ, trong đó khoảng 75% có quân hàm trung tá trở xuống. Sau 28 năm công tác trong Quân đội, trải qua nhiều đơn vị, đầu tháng 8 vừa qua, Thiếu tá Nguyễn Thái Bình, Trợ lý động viên Ban CHQS huyện Tân Kỳ (Bộ CHQS tỉnh Nghệ An) nhận quyết định nghỉ hưu theo chế độ.
Trò chuyện với chúng tôi, Thiếu tá Nguyễn Thái Bình nói: “Chứng kiến nhiều đồng đội đi trước khi về hưu ở độ tuổi này rất khó tìm việc làm nên gần 5 năm qua, tôi đã đầu tư kinh phí, thời gian xây dựng trang trại của gia đình. Thu nhập từ chăn nuôi, sản xuất không cao nhưng cộng với lương hưu cũng tạm đủ trang trải cuộc sống gia đình”.
Thiếu tá Lê Xuân Long, nguyên Trợ lý binh chủng Ban CHQS thị xã Kỳ Anh (Bộ CHQS tỉnh Hà Tĩnh) có vợ là giáo viên tiểu học, hai con đang học đại học. Mỗi tháng, gia đình anh chi tiêu gần 20 triệu đồng. Thu nhập từ lương hưu của anh và lương giáo viên của vợ không đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt hằng tháng. Vì thế, sau khi nghỉ hưu, anh đã trải qua nhiều công việc. Nhưng ở tuổi 49, công việc bảo vệ ở ngân hàng có lẽ phù hợp nhất với anh. Đức tính kiên nhẫn, tác phong chính quy của người quân nhân đã giúp anh hoàn thành tốt nhiệm vụ của nhân viên bảo vệ.
Trò chuyện với chúng tôi, anh Long chia sẻ: “Độ tuổi 46-51 rất khó tìm công việc phù hợp. Tôi mong rằng hệ thống pháp luật có liên quan sớm được sửa đổi để tạo điều kiện cho đội ngũ sĩ quan khi nghỉ hưu được hưởng mức lương phù hợp, góp phần giảm bớt khó khăn”.
Những khó khăn, mong mỏi của đội ngũ cán bộ cấp trung tá trở xuống khi thôi phục vụ tại ngũ là xác đáng. Do đó, quá trình xây dựng pháp luật cần tính đến những chính sách đặc thù đối với cán bộ Quân đội để giải quyết tốt những vấn đề trên; chính sách pháp luật phải phản ánh được tính chất đặc thù, đặc biệt của lao động trong Quân đội là lao động xương máu, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm công tác, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đồng thời thu hút được người tài vào Quân đội./.

Yêu nước ST.

NGUY CƠ ĐÃ HIỂN HIỆN!

         Trước đây, chúng ta từng cảnh báo luận điệu cổ vũ xét lại lịch sử, đòi đánh giá lại công - tội của các nhân vật lịch sử còn đang gây tranh cãi thì hiện nay, nguy cơ đó đã hiển hiện trước mắt chúng ta với liên tục là những bài viết vinh danh những kẻ được coi là bán nước, “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ” như Nguyễn Ánh.

Họ đăng những dòng rất trịnh trọng, với những lời lẽ ca ngợi Nguyễn Ánh là người có công lớn với đất nước, kiểu như: “Kỷ niệm 260 năm ngày sinh vua Gia Long - vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn. Ông là vị vua có công rất lớn trong việc thống nhất, mở mang bờ cõi nước ta với vùng đất rộng lớn từ ải Nam Quan đến đất Mũi Cà Mau”. Hoặc là những thông tin mang tính câu khách, tâng bốc Nguyễn Ánh hết lời, xem như một vị vua anh minh bằng lối diễn đạt đánh lừa độc giả: “Phát hiện thú vị về vua Gia Long và những kế sách ngoại giao khôn khéo”.

Nguyễn Ánh tên thật là Nguyễn Phúc Ánh, sinh năm 1762, mất năm 1820, là kẻ đã năm lần bảy lượt cầu viện ngoại bang đem quân sang đánh nhà Tây Sơn, từ Xiêm La đến thực dân Pháp. Năm 1802, với sự suy yếu của vương triều Tây Sơn bắt đầu từ sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung (năm 1792), cùng sự giúp đỡ của thực dân Pháp, Nguyễn Ánh đã lật đổ nhà Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn (trước đây, tổ tiên của Nguyễn Ánh chỉ dám xưng chúa - sử gọi là chúa Nguyễn). Trong suốt quá trình từ khi lưu vong nhờ ngoại bang đến khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã phạm những tội lỗi không thể dung thứ đối với người thân, gia tộc và đất nước. Để phục vụ mưu đồ bá vương của mình, Nguyễn Ánh đã làm một việc thất đức là dùng chính con trai mình - hoàng tử Cảnh làm con tin để cầm cố cho Pháp; Ánh thậm chí còn giết con trai mình là hoàng tử Cải vì sợ bị tiếm quyền. Khi vợ là bà Phi Yến khuyên không nên cầu viện ngoại bang, Ánh đã giam bà đến chết. Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã cho phá thành Thăng Long để chở gạch ngói vào Phú Xuân xây kinh đô Huế.

Nếu cho rằng Nguyễn Ánh là người có công thống nhất giang sơn, xã tắc thì đó là sự hồ đồ về lịch sử, bởi vì vào cuối thời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh chiếm đoạt quyền hành nhà Lê ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn cát cứ lập vương triều độc lập ở Đàng Trong, đất nước chia 2 nửa Nam - Bắc phân tranh hơn 200 năm bất phân thắng bại. Chỉ đến khi anh em nhà Tây Sơn lãnh đạo nông dân khởi nghĩa thành công, đánh tan 2 tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn cùng nhà Hậu Lê, chấm dứt tình trạng chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài kéo dài suốt 2 thế kỷ, thống nhất Nam - Bắc, giang sơn liền dải. Cũng chính Quang Trung là người đã lần lượt đập tan các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La ở phía Nam và Mãn Thanh ở phía Bắc. Trong khi đó, giống như Lê Chiêu Thống ở phía Bắc đã rước 29 vạn quân Mãn Thanh vào giày xéo đất nước mình nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, gia đình, dòng tộc mình thì ở miền Nam, Nguyễn Ánh đã quỳ gối mời giặc Xiêm La vào nước ta. Sau khi Xiêm La bị thất bại, Nguyễn Ánh đã cầu viện giặc Pháp đánh nhà Tây Sơn hòng chiếm lại vương quyền. Thậm chí, khi nghe tin quân Thanh giúp Lê Chiêu Thống sang đánh Tây Sơn và đã tiến chiếm Thăng Long, Nguyễn Ánh từng sai chở 50 vạn cân gạo ra giúp quan quân Tôn Sĩ Nghị, tuy nhiên âm mưu bất thành do giữa đường đi bị sóng to, gió lớn đánh chìm.

Năm 1787, hầu tước Montmorin đại diện cho vua Louis XVI của Pháp và Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc) thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles. Hiệp ước này gồm 10 khoản, nội dung chính là vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 tàu chiến loại frégaté cùng 1.200 bộ binh, 200 pháo binh, 250 lính Cafres (lính da đen châu Phi) và các phương tiện trang bị vũ khí tương ứng; ngược lại, Nguyễn Ánh phải chấp thuận cắt cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp; cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam; phải cung cấp thủy thủ, tàu bè, lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông; mỗi năm phải đóng 1 chiếc tàu, y như tàu của nước Pháp đã cho sang giúp, để đem sang trả cho vua nước Pháp. Đổi lại, Pháp sẽ đưa quân đội, vũ khí sang giúp đánh nhà Tây Sơn. “Công lao” của Nguyễn Ánh chính là đã mở đường cho sự can thiệp của Pháp ở Việt Nam qua việc mời Pháp giúp xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện quân đội và khoan thứ cho việc truyền đạo Công giáo tại Việt Nam. Nguyễn Ánh nếu đem so với Lê Chiêu Thống thì cũng là kẻ tám lạng, người nửa cân, giống nhau như 2 giọt nước ở chỗ “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”, bán nước cầu vinh.

Nguyễn Ánh đã gây dựng nên triều đình nhà Nguyễn - một triều đình trong suốt thời gian tồn tại 143 năm - luôn thỏa hiệp và cắt đất cho ngoại bang để giữ vững ngai vàng của mình. Chẳng hạn như phủ Trấn Ninh gồm các huyện Khám Liên, Quảng, Khang, Cát, Xuy, Mộc và Liêm rộng khoảng 45.000km² được Nguyễn Ánh cống nạp cho vương quốc Vạn Tượng (nay là tỉnh Xiêng Khoảng của Lào) để nhận lấy sự ủng hộ của họ trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn. Năm 1827, nhà Nguyễn đã cắt huyện Sầm Nưa, phủ Trấn Biên, tỉnh Thanh Hóa cho nước Ai Lao; 3 huyện Cam Môn, Cam Cát, Cam Linh trước đây thuộc tỉnh Nghệ An nhưng đến năm 1840 nhà Nguyễn cũng cắt cho Ai Lao. Phủ Lạc Biên thuộc Việt Nam năm 1828, sau cũng được nhà Nguyễn cắt cho Lào, nay là Savannakhet. Hay cam tâm tình nguyện để thực dân Pháp ngang nhiên cắt đất của tổ tiên dâng cho nhà Thanh theo Công ước Pháp - Thanh năm 1887. Khôn ngoan đâu chưa thấy, song lãnh thổ của Tổ quốc mất về tay ngoại bang là có thật, là sự thật hiển nhiên đau lòng, là tội nhân thiên cổ của dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Ánh chính là kẻ đã thừa hưởng thành tựu thống nhất giang sơn của hoàng đế Quang Trung. Thế nhưng, vì sao ngày nay một số nhà sử học, trí thức “cấp tiến”, các tờ báo mạng lại trơ trẽn, tráo trở, bất trung, bất nghĩa vinh danh, ca ngợi Nguyễn Ánh? Mục đích cuối cùng của hành vi này là gì? Câu trả lời của trò “lật sử” này chỉ có thể là tạo tiền lệ công nhận và đạo đức hóa hành vi rước ngoại xâm vào lãnh thổ của ngụy Việt Nam Cộng hòa, cuối cùng là tấn công và phủ nhận các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta trong thế kỷ XX nhằm rửa mặt cho Mỹ và bọn bán nước cầu vinh Việt Nam Cộng hòa! Bọn chúng muốn hủy hoại lịch sử vẻ vang của nước ta. Giặc Xiêm La và các nhà truyền đạo phương Tây - công cụ hỗ trợ cho bọn thực dân kiểu cũ vào xâm lược Việt Nam cũng do một tay Nguyễn Ánh rước vào. Một số nhà sử học và thành phần “lật sử” khẳng định rằng, việc xây dựng cố đô Huế, giờ là di sản văn hóa thế giới chính là công lao của Nguyễn Ánh và nhà Nguyễn. Nhưng họ đã cố tình quên rằng, về cơ bản nó là di sản của nhân dân, nhà Nguyễn cũng chỉ dùng sức lực, trí tuệ, của cải của nhân dân để xây dựng mà thôi. 

Tóm lại, Nguyễn Ánh chỉ xứng để so sánh với Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Nguyễn Ánh cùng phần lớn con cháu của mình đã để lại hậu quả nặng nề cho sự phát triển của đất nước, ôm chân ngoại xâm để bảo vệ đặc quyền gia tộc mà bỏ qua lợi ích dân tộc. Mục đích của bọn “lật sử” khi hết lời ngợi ca Gia Long - Nguyễn Ánh đã rõ. Hãy luôn tỉnh táo để nhận rõ phải - trái, đúng - sai, công - tội nhằm đập tan âm mưu phủ định cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầy hào hùng của cha ông ta thế kỷ XX./.
Yêu nước ST.