Thứ Hai, 4 tháng 12, 2023

 

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề cao quan hệ truyền thống vĩ đại Việt - Lào

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ hội đàm với Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane sáng 4.12.2023.

Theo TTXVN, sáng 4.12, tại thủ đô Vientiane, Lào, ngay sau lễ đón chính thức diễn ra trang trọng tại Nhà Quốc hội Lào, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã hội đàm với Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane.

Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane bày tỏ vui mừng được đón tiếp Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng đoàn đại biểu cấp cao của Quốc hội Việt Nam sang tham dự Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV) lần thứ nhất và thăm Lào; đánh giá cao ý nghĩa của chuyến công tác lần này.

Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi nước, về quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian qua, đồng thời chia sẻ một số kết quả của Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Lào khóa IX và Quốc hội Việt Nam khóa XV.

Quang cảnh hội đàm. Ảnh: TTXVN
Quang cảnh hội đàm. Ảnh: TTXVN© Được Lao Động cung cấp

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao sự chuẩn bị chu đáo của nước chủ nhà trong việc tổ chức Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV) lần thứ nhất diễn ra từ ngày 5-6.12.2023 và các hoạt động bên lề khác; cho rằng Hội nghị này có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu việc lần đầu tiên trong lịch sử ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia có đủ các cơ chế gặp gỡ giữa lãnh đạo cấp cao nhất trên cả ba kênh Đảng, Quốc hội và Chính phủ.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao các chủ đề, nội dung, văn kiện chung của Hội nghị cấp cao CLV lần đầu tiên được Lào tổ chức; đánh giá cao vai trò Chủ tịch của Lào và cho rằng đây cũng là kinh nghiệm tốt cho Việt Nam trong việc tổ chức Hội nghị cấp cao CLV lần sau tại Việt Nam.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao sự chuẩn bị chu đáo của nước chủ nhà trong việc tổ chức Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam. Ảnh: TTXVN
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá cao sự chuẩn bị chu đáo của nước chủ nhà trong việc tổ chức Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam. Ảnh: TTXVN© Được Lao Động cung cấp

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, sự điều hành của Chính phủ, sự đồng hành và giám sát của Quốc hội, nỗ lực của người dân, doanh nghiệp, đất nước Lào anh em sẽ giành được nhiều thành tựu mới to lớn hơn nữa, triển khai thành công các biện pháp mở cửa, phục hồi kinh tế, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng XI và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ IX; đồng thời nhấn mạnh, tiếp tục khẳng định Việt Nam luôn dành ưu tiên cao nhất cho mối quan hệ truyền thống vĩ đại giữa hai nước, luôn sát cánh và ủng hộ mạnh mẽ, toàn diện công cuộc bảo vệ, xây dựng, đổi mới và phát triển của Lào.

Hai Chủ tịch Quốc hội bày tỏ vui mừng và đánh giá cao về những kết quả tích cực trong quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian gần đây, đặc biệt là giữa hai Quốc hội.

Hai bên tiếp tục duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao và các cơ chế hợp tác trên tất cả các kênh, trong đó có nhiều hoạt động trao đổi và hợp tác giữa các cơ quan lập pháp hai nước; phối hợp chặt chẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi để Chính phủ hai nước triển khai các thỏa thuận đã đạt được; tăng cường phối hợp giám sát việc thực hiện các thỏa thuận hợp tác song phương; thúc đẩy triển khai các dự án trọng điểm giữa hai nước.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, hai Quốc hội cần xây dựng thể chế, pháp luật để cùng nhau tạo đột phá cho hợp tác kinh tế - thương mại song phương.

Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane (giữa) phát biểu tại hội đàm. Ảnh: TTXVN
Chủ tịch Quốc hội Lào Saysomphone Phomvihane (giữa) phát biểu tại hội đàm. Ảnh: TTXVN© Được Lao Động cung cấp

Hai nhà lãnh đạo bày tỏ vui mừng hai nước vừa mở đường bay thẳng Thành phố Hồ Chí Minh - Vientiane dự kiến với 4 chuyến bay/tuần từ đầu năm 2024.

Về phương hướng hợp tác thời gian tới, hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác giữa hai Quốc hội thông qua trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm lập pháp, xây dựng hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật; phối hợp giám sát triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao đã ký, chuẩn bị tốt nội dung cho các hoạt động song phương quan trọng giữa lãnh đạo cấp cao hai nước; tăng cường đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là tại Hội đồng liên Nghị viện ASEAN (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Diễn đàn Nghị viện châu Á - Thái Bình Dương (APPF), Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (APF)…

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định, Quốc hội Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hỗ trợ tối đa để Lào đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA năm 2024.

CĐ,VS (st)

Đa đảng có phải là phép màu để chống tham nhũng?

 Lâu nay, các trang chống công liên tục công kích rằng, tham nhũng ở Việt Nam do độc đảng, chừng nào còn độc đảng thì không thể chống tham nhũng, do mâu thuẫn giữa thể chế chính trị với thể chế kinh tế thị trường. Gần đây, lợi dụng kết luận điều tra vụ án liên quan Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, SCB, RFA, thoibao.de,… lại đẩy mạnh công kích rằng: “Căn nguyên của vấn nạn tham nhũng và sự suy thoái kinh tế ở Việt Nam là sự níu kéo ý thức hệ”. Đây là những giọng điệu đòi Đảng, nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn và đi theo con đường khác – con đường “dân chủ” kiểu phương Tây, đồng thời lồng ghép thông tin sai sự thật, tạo dựng, xuyên tạc bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Kích động bài Trung – dã tâm hiểm ác!

 Trước thông tin Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sắp có chuyến thăm Việt Nam, Việt tân  và các trang chống phá Nhà nước thời gian qua liên tục tung ra các luận điệu bài xích mọi hoạt động đối ngoại giữa 2 nước, xuyên tạc mục đích Chuyến thăm Việt Nam của ông Tập Cận Bình, kích động tâm lý bài Trung, thoát Hoa, ngả Mỹ. Đây thực chất là một hành vi phá hoại nền hòa bình, ổn định của đất nước, chống phá đường lối đối ngoại Việt Nam nói chung và quan hệ Việt – Trung nói riêng.


Chỉ tư tưởng Việt Tân hay còn là thành viên của Việt Tân?

 Hôm 28.09.2021, Tre Làng Blog - một địa chỉ truyền thông có uy tín cao ở VN - đăng bài: Thái độ đểu giả của TS Chu Mộng Long. Bài báo cho biết, ông này là một kẻ chống nhà nước núp bóng giảng viên ĐH.


Xử lý nghiêm những kẻ cố ý chống phá đất nước

 Cuối tháng 10/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai hoàn thành bản kết luận điều tra vụ án Phan Thị Thảo cùng đồng phạm hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân xảy ra tại các tỉnh Gia Lai, Thừa Thiên Huế, Bà Rịa Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh.

 

Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học

(LLCT) - Để khoa học, công nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu, nhất là giảng viên tại các trường đại học và học viện phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong những năm qua, hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học các trường đại học ở Việt Nam chưa cao. Công trình nghiên cứu khoa học không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí đề tài nghiệm thu xong chỉ để “xếp ngăn kéo” diễn ra phổ biến. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp (cả vĩ mô và vi mô) để hướng đến mục tiêu “mỗi trường đại học là một viện nghiên cứu”, để những công trình nghiên cứu thực sự đem lại hiệu quả trong giảng dạy và ứng dụng thực tiễn là việc làm rất cần thiết.


Hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học là một trong các nhiệm vụ cơ bản, quan trọng không thể thiếu của đội ngũ các nhà khoa học, giảng viên, học viên, sinh viên; là một trong các nhiệm vụ chính, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mục tiêu hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học nhằm: Tạo ra tri thức, công nghệ, giải pháp, sản phẩm mới; góp phần hình thành và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên, nghiên cứu viên, người học; nâng cao chất lượng đào tạo. Ứng dụng tri thức, công nghệ mới và tạo ra phương thức, giải pháp mới  phục vụ phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, tạo cơ sở thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ. Góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, đóng góp và phát triển kho tàng tri thức, công nghệ của nhân loại.

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng đã có những đóng góp vào thành tích chung của ngành giáo dục và nền khoa học nước nhà. Những kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào các lĩnh vực  đã tạo hiệu quả nhất định trong đời sống kinh tế - xã hội... Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của đất nước như hiện nay thì hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa học nói chung, lực lượng giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng nói riêng, chưa đáp ứng được yêu cầu (cả về số lượng và chất lượng) để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.

Thứ nhất, tình trạng đối phó trong nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, học viện khá phổ biến

Nhiều trường đại học ở Việt Nam còn thiếu năng động dẫn đến hoạt động nghiên cứu khoa học kém hiệu quả. Có thể khẳng định, các trường đại học hiện nay không chỉ là trung tâm đào tạo mà còn phải hướng tới để trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại. Muốn đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tốt, các trường đại học cần chú trọng và ưu tiên cho công tác nghiên cứu. Tuy vậy, thời gian dành cho nghiên cứu khoa học tại các trường đại học ở Việt Nam còn rất ít, mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo có quy chế phân bổ thời gian nghiên cứu khoa học cho các giảng viên. Theo quy định của Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31-12-2014 quy định chế độ làm việc đối với giảng viên đã quy định về nghiên cứu khoa họcGiảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Mỗi năm, giảng viên phải hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao tương ứng với chức danh hoặc vị trí công việc đang đảm nhiệm. Kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên được đánh giá thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học cụ thể, tối thiểu là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở hoặc tương đương được nghiệm thu từ đạt yêu cầu trở lên hoặc một bài báo được công bố trên tạp chí khoa học có phản biện hoặc một báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học chuyên ngành. Nghiên cứu khoa học được xem là nhiệm vụ bắt buộc và là tiêu chí đánh giá lao động của giảng viên.

Tuy nhiên, công việc này của giảng viên hiện chưa được chú trọng đúng mức, chưa thật sự phát triển mạnh mẽ, diễn ra không đồng đều và gần như chỉ tập trung vào một số ít giảng viên. Nếu như ở các nước phát triển, đội ngũ giáo viên trải qua thời gian làm nghiên cứu rồi mới tham gia giảng dạy, còn ở Việt Nam, nhiều trường hợp tham gia giảng dạy mà không qua công tác nghiên cứu. Chính điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học và đào tạo. Ngoài ra, do áp lực phải thực hiện nên việc nghiên cứu còn mang tính hình thức, dựa trên áp dụng những thứ “có sẵn” nhằm giảm thiểu thời gian, chi phí thực hiện, dẫn tới rất nhiều công trình sau khi nghiệm thu chỉ  xếp vào tủ kính để “nhìn cho đẹp”.

Số lượng giảng viên tham gia nghiên cứu không nhiều, một tỷ lệ khá lớn trong số đó chưa thật nhiệt tình và say mê nghiên cứu dẫn đến một số công trình nghiên cứu, dù ở những cấp cao như đề tài cấp bộ... vẫn còn hạn chế về chất lượng với hàm lượng khoa học thấp. Vì thế, nhiều giảng viên chỉ thực hiện để cho đủ giờ, ít quan tâm đến chất lượng công trình mà mình công bố.

Thứ hai, sự gắn kết giữa nghiên cứu và giảng dạy còn thấp: Nhiều giảng viên theo đuổi hướng nghiên cứu khác xa với môn học do mình đảm nhiệm nên việc thực hiện nghiên cứu nhằm bổ sung cho nội dung giảng dạy sau khi nghiên cứu không đem lại kết quả. Một số trường đại học có các viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm nhưng việc gắn kết, sử dụng các kết quả nghiên cứu phục vụ giảng dạy và học tập còn chưa được thực hiện nhiều nhằm ứng dụng kịp thời những kết quả đó. Giảng viên vẫn chủ yếu giảng dạy lý thuyết trong giáo trình, quá trình giảng dạy - nghiên cứu tiến hành một cách độc lập, tách rời nhau.

Thứ ba, ở Việt Nam hiện nay, có một nghịch lý rất đáng quan tâm là trong khi nhiều đề án nghiên cứu thiếu kinh phí thực hiện thì ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học lại phân phối không hết. Cách thức quản lý khoa học như hiện nay chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Có thể nhìn cách phân bổ kinh phí hiện nay như một cuộc đấu thầu xây dựng và các đề tài nghiên cứu đôi khi không phải xuất phát từ nhu cầu thực tế. Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhưng phần ngân sách thực sự để làm nghiên cứu chỉ chiếm 10% tổng ngân sách nhà nước dành cho khoa học và công nghệ. Với con số đó (10% của 15.000 tỷ đồng) cho các loại chương trình, đề tài khoa học các cấp cũng có năm không tiêu hết tiền. Ngân sách nhà nước phân bổ cho hoạt động nghiên cứu khoa học - tức là ngân sách nhà nước do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý lớn gần gấp 3 lần ngân sách nhà nước dành cho Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý (năm 2012, của Bộ Giáo dục và Đào tạo là 5.800 tỷ đồng; trong khi đó cho Bộ Khoa học và Công nghệ là 15.000 tỷ đồng). Đây là điều bất hợp lý khi mà ngân sách nhà nước dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học không được phân bổ trực tiếp đến các trường đại học, mà chủ yếu thông qua cơ chế chương trình, đề tài cấp nhà nước.

 Thực trạng trên có một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Phân bổ đề tài chưa hợp lý. Một thực tế đang xảy ra trong thực tiễn là chủ nhiệm các đề tài thường là cán bộ lãnh đạo, quản lý nên thời gian dành cho nghiên cứu thường không nhiều. Bên cạnh đó năng lực nghiên cứu của giảng viên còn nhiều hạn chế.

- Không cân đối hợp lý thời gian giảng dạy và nghiên cứu. Định mức giờ chuẩn cho giảng viên trong một năm học là 270 giờ chuẩn; trong đó, giờ chuẩn trực tiếp trên lớp chiếm tối thiểu 50% định mức quy định. Trên thực tế, ở khá nhiều trường đại học, số giờ mà giảng viên thực dạy còn lớn hơn. Với số giờ giảng nhiều nên giảng viên không còn thời gian  dành cho việc nghiên cứu.

- Định hướng nghiên cứu chưa thực sự khoa học: Hiện nay, việc đăng ký đề tài mặc dù được thông qua hội đồng khoa học nhiều lần nhưng chủ yếu phụ thuộc vào người đăng ký, chưa theo hướng nghiên cứu để lựa chọn nơi thực hiện vì thế nhiều khi không xuất phát từ nhu cầu thực của trường, của các ngành học hay của xã hội.

- Thù lao được trả chưa xứng với công sức bỏ ra: Kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ còn có mức cao, nhưng với các công trình nghiên cứu cấp trường hoặc bài báo thì số kinh phí thường rất thấp (từ 15 - 20 triệu/đề tài và 500.000đ - 700.000 đ/bài báo); vì thế, không khuyến khích được giảng viên nghiên cứu...

Để khắc phục tình trạng yếu kém, lãng phí trong hoạt động khoa học và để phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, giảng viên cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, để nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học, học viện thì chính giảng viên - chủ thể của hoạt động này phải thay đổi cách thức nghiên cứu khoa học theo hướng giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra, các vấn đề nảy sinh đòi hỏi phải giải quyết qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu để tạo ra sản phẩm có tính ứng dụng và khả thi. Đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam có nhiều vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có những nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực, từ xã hội nhân văn đến các ngành khoa học kỹ thuật. Khi những nghiên cứu đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn thì sẽ không thể để trong ngăn kéo, mà cung cấp luận cứ khoa học trở thành lý luận soi đường cho công cuộc đổi mới, trở thành những sản phẩm có tính ứng dụng cao. Qua nghiên cứu, đội ngũ cán bộ giảng dạy luôn có cơ hội cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, góp phần làm cho bài giảng phù hợp với thực tế.

Hai là, để thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong trường đại học thì các chính sách, thể chế cũng cần đổi mới theo hướng xóa bỏ các rào cản hành chính để giảm thời gian làm thủ tục giấy tờ, tạo động lực thu hút người trẻ say mê với khoa học; cần bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong xét duyệt đề tài nghiên cứu và xem xét lại quy trình nghiệm thu đề tài với mục tiêu là hiệu quả nghiên cứu. Cải tiến thủ tục xét duyệt đề tài theo hướng đặt hàng hằng năm và liên kết các đơn vị sử dụng (doanh nghiệp, tổ chức) và các cơ quan nghiên cứu.

Chủ trương đổi mới cơ chế tài chính và quản lý hoạt động khoa học - công nghệ đã được khẳng định trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31-10-2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Việc xây dựng cơ chế đặc thù trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ; mở rộng áp dụng cơ chế tài chính của quỹ phát triển khoa học và công nghệ là cơ hội rất lớn để Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các cơ sở giáo dục đại học thoát ra khỏi cơ chế ràng buộc, phân bổ mang tính dự toán như trước đây về khai thác tiềm lực nguồn nhân lực về khoa học - công nghệ của các trường và tiến đến xây dựng các trường đại học nghiên cứu. Làm được điều đó sẽ hướng đến xây dựng được trường đại học nghiên cứu - nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ chính, một nguồn thu quan trọng cho hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học.

Thực hiện triển khai Luật Khoa học công nghệ năm 2013, Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang xây dựng những chính sách nhằm khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học, chính sách kinh phí và biên chế thỏa đáng cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Cùng với đó, việc thành lập các trung tâm ươm tạo và chuyển giao công nghệ trong trường đại học được triển khai sẽ là cầu nối giữa người nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp, hỗ trợ nuôi dưỡng các ý tưởng mới, hoàn thiện và thương mại hóa các ý tưởng, sáng kiến, kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, chính sách xác định phân chia lợi nhuận đối với tác giả, những người nghiên cứu khoa học cũng đang được xây dựng nhằm bảo đảm quyền lợi bản quyền chuyển giao một cách thích đáng cho người nghiên cứu. Với những chính sách đột phá sẽ tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học với nhiều thành tựu, ứng dụng mới.

Ba là, xây dựng cơ chế bắt buộc phải dành thời gian cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Ví dụ, 45% cho giảng dạy; 35% cho hoạt động nghiên cứu khoa học và 20% cho các hoạt động khác (tự học, tự bồi dưỡng). Điều này phải trở thành quy chế bắt buộc với tất cả các trường đại học. Không được phép chuyển đổi thời gian giảng dạy cho thời gian nghiên cứu khoa học.

Bốn là, định mức công trình nghiên cứu khoa học cộng với cơ chế tài chính đủ để tạo ra các công trình nghiên cứu có chất lượng. Giảng viên bắt buộc phải có bài báo được thẩm định công bố hằng năm trên tạp chí có uy tín, thương hiệu thuộc ngành, lĩnh vực.

Năm là, có cơ chế đặc thù để phát triển các cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ trọng điểm theo mô hình tiên tiến và triển khai những dự án khoa học, công nghệ quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thực hiện cơ chế đặt hàng, đấu thầu, khoán kinh phí theo kết quả đầu ra và công khai, minh bạch chi phí, kết quả nghiên cứu. Giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân chủ trì nghiên cứu, đồng thời có cơ chế phân chia lợi ích hợp lý. Nâng cao hiệu quả hoạt động các quỹ về phát triển khoa học, công nghệ; khuyến khích các quỹ đầu tư mạo hiểm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá độc lập, tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với hoạt động khoa học. Cơ chế đấu thầu đề tài khoa học sẽ chuyển giao cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo mô hình trường - liên kết với doanh nghiệp để bán sản phẩm nghiên cứu.

Kinh nghiệm của nhiều trường hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ dưới hình thức nghiên cứu ứng dụng triển khai (khoa học kỹ thuật nông nghiệp với nhiều giống hoa, lúa, rau; khoa học công nghiệp dân dụng: với nhiều sản phẩm điện điện tử, cơ khí, v.v..) đã đem lại lợi ích rất lớn cho xã hội và nhà khoa học. Xu hướng thế giới là đang chuyển dần các trường đại học thành đại học nghiên cứu, tức chú trọng đến hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, điều này đã và sẽ đặt ra cho các trường phải dành sự quan tâm, có hướng giải pháp kịp thời cho hoạt động này để mang lại hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực.

Cần tổ chức ứng dụng sản phẩm khoa học công nghệ đã nghiệm thu. Đối với nhóm ngành khoa học công nghệ - kỹ thuật: kế thừa thành tựu khoa học công nghệ của các nước trên thế giới và trong khu vực, về cơ bản, các sản phẩm nghiên cứu khoa học được nghiệm thu của nhóm ngành này được ứng dụng trong thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng; mặt khác sản phẩm nghiên cứu khoa học của nước ta với xu hướng xuất khẩu công nghệ và sản phẩm ứng dụng. Đối với nhóm ngành khoa học quản lý: nhóm ngành này thuộc chính sách của Nhà nước thuộc tầm vĩ mô, do vậy ứng dụng chủ yếu là các đề án.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

Tài liệu tham khảo:

1. ĐCSVN: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31-10-2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ: Thông tư 40/2014/TT-BKHCN ngày 18-12-2014 Quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ đột xuất có ý nghĩa quan trọng về khoa học và thực tiễn, nhiệm vụ khoa học và công nghệ tiềm năng do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ.

3. Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ: Thông tư liên tịch 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22-4-2015 Hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính: Thông tư liên tịch 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC ngày 22-4-2015 Quy định khoán chỉ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.

5.  Nguyễn Bích Thủy: “Thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong các trường đại học”, http://www.vietnamplus.vn, ngày 7-3-2014.

 

Nguồn: TS PHÙNG VĂN HIỀN

Học viện Hành chính Quốc gia

 

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường chính trị (qua thực tế Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng)

(LLCT) - Trong những năm qua, các Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong đó, công tác chủ nhiệm lớp luôn được lãnh đạo các nhà trường, coi là nhiệm vụ hàng đầu. Tuy vậy, công tác này cũng còn những hạn chế cần đổi mới, tăng cường.


Chủ nhiệm lớp là người được Ban Giám hiệu giao trách nhiệm chính trong việc quản lý toàn diện lớp đào tạo, bồi dưỡng theo nội quy, quy chế của nhà trường; góp phần bảo đảm chất lượng giảng dạy, học tập; bảo đảm thực thi trên thực tế các quyền và nghĩa vụ của giảng viên, học viên và nhà trường theo quy định của pháp luật. Đây làkênh quan trọng để thực hiện dân chủ trong nhà trường.

Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn đối với cán bộ, giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp ở các Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quy định theo Quyết định số 1855/QĐ-HVCTQG, ngày 21-4-2016 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Cụ thể tiêu chuẩn, nhiệm vụ như sau:

- Quy định về giáo viên chủ nhiệm lớp:

+ Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam;

 + Có trình độ đại học, Trung cấp lý luận chính trị - hành chính trở lên;

+ Có kiến thức và kinh nghiệm quản lý giáo dục, nắm vững chương trình đào tạo, quy chế, quy định về quản lý đào tạo, nội quy của nhà trường, các chế độ chính sách đối với giảng viên, học viên;

- Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp:

+ Chuẩn bị, quản lý hồ sơ lớp học, cùng phòng đào tạo xây dựng kế hoạch toàn khóa để Ban Giám hiệu phê duyệt;

+ Quản lý, điều hành quá trình học tập, rèn luyện của học viên theo đúng quy chế, quy định về quản lý đào tạo, chương trình kế hoạch toàn khóa…

+ Sau các phần học, kết thúc khóa học, báo cáo với Ban Giám hiệu (qua phòng đào tạo) về tình hình mọi mặt của lớp, chuẩn bị hồ sơ học viên, nhận xét học viên...

Công tác chủ nhiệm lớp tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng được chú trọng thực hiện:

Tiêu chuẩn giáo viên chủ nhiệm thực hiện nghiêm túc theo quy định của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Những cán bộ, giảng viên, chuyên viên được phân công làm chủ nhiệm lớp đều là đảng viên, có ít nhất một bằng đại học.

Việc phân công giáo viên chủ nhiệm lớp được thực hiện ngay từ đầu khoá học, tạo điều kiện cho chủ nhiệm lớp tiếp xúc với học viên sớm.

Đa số các giáo viên chủ nhiệm đã phát huy vai trò tự quản của lớp, trước hết là ban cán sự lớp; chú trọng phối hợp với giáo viên bộ môn trong việc quản lý lớp.

Do làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, quản lý học viên nên học viên tham gia đầy đủ các buổi học trên lớp, không tự ý bỏ học, nghỉ học không xin phép. Không còn tình trạng học viên không mang theo vở ghi chép, tài liệu học tập. Việc thông báo đến học viên những chủ trương của Nhà trường liên quan đến việc học tập của học viên bảo đảm kịp thời, chính xác.    

- Các giáo viên chủ nhiệm đã kịp thời tham mưu giúp Đảng ủy, Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo nắm bắt được tình hình của lớp để có điều chỉnh kịp thời.

Bên cạnh những ưu điểm, từ thực tế Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng cho thấy, công tác chủ nhiệm lớp và các công việc khác liên quan đến công tác chủ nhiệmở nhà trường vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục:

- Một số chủ nhiệm chưa thật sâu sát lớp học do mình phụ trách, chưa nắm chắc tình hình lớp học và học viên lớp mình; còn tình trạng khoán trắng việc quản lý lớp cho ban cán sự lớp, không tổ chức sinh hoạt lớp đầy đủ và theo đúng định kỳ;

- Chưa thật sự coi trọng việc quản lý lớp thông qua sổ đầu bài, thiếu phối hợp với các phòng, khoa trong quản lý lớp.

- Một số lớp không phát huy được vai trò tự quản của ban cán sự. Ban cán sự lớp không báo cáo kịp thời, chính xác tình hình và sĩ số lớp học cho chủ nhiệm lớp.Tình trạng dễ dãi với lớp mình phụ trách, như: nể nang, bao che cho học viên nghỉ học không phép, đối phó với điểm danh… nhất là khi xét điều kiện dự thi.

Những tồn tại trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là:

- Một số chủ nhiệm lớp là giảng viên, làm công tác giảng dạy và nghiên cứu nên có ít thời gian theo lớp, bám lớp;

- Lớp học đông, nhất là các lớp không tập trung; trình độ, độ tuổi của học viên không đồng đều…;

- Một số học viên (nhất là lớp không tập trung) đang nắm giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, điều hành tại cơ quan, địa phương, đơn vị, do vậy vừa học tập vừa phải trực tiếp giải quyết các công việc hàng ngày; một số lại tham gia nhiều chương trình học tập, đào tạo cùng lúc;

- Các chủ nhiệm lớp hầu hết chưa được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản về nghiệp vụ quản lý;

2Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp trong thời gian tới

Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các trường chính trị hiện nay, các trường chính trị cần thực hiện một số giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác chủ nhiệm lớp:

Một là, Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường cần quan tâm hơn nữa tới công tác chủ nhiệm lớp, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ nhiệm lớp hoàn thành tốt nhiệm vụ. Công tác quản lý lớp là trách nhiệm chung của cán bộ, giảng viên nhà trường, trong đó, đặc biệt quan trọng là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và Ban Giám hiệu. Trước yêu cầu ngày càng cao của công tác đào tạo, bồi dưỡng toan diện cán bộ, các trường chính trị càng cần đặc biệt quan tâm công tác quản lý lớp. Sự ủng hộ, phối hợp, giúp đỡ, kiểm tra, đôn đốc; cơ chế khen thưởng và kỷ luật kịp thời, công bằng và nghiêm minh của Đảng ủy, Ban Giám hiệu sẽ bảo đảm cho công tác chủ nhiệm lớp nền nếp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong điều kiện mới.

Hai là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của phòng đào tạo trong quản lý, theo dõi các lớp, giúp các giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động quản lý lớp. Phòng đào tạo cần có bộ phận hoặc cán bộ chuyên theo dõi công tác chủ nhiệm lớp. Sự phân công cần phải cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm, được thể chế hoá trong quy chế làm việc của phòng đào tạo. Phòng đào tạo cần tham mưu đề xuất cho lãnh đạo nhà trường những biện pháp, chế tài cụ thể đối với những vi phạm quy chế giảng dạy, học tập và điều kiện áp dụng để giúp chủ nhiệm lớp bảo đảm hiệu lực của công tác quản lý lớp. Thực tế hiện nay đã có chế tài quản lý học viên nhưng chưa được áp dụng, như thông báo về cơ quan, đơn vị đối với những học viên nghỉ học nhiều không lý do.v.v.

Phòng đào tạo phải duy trì họp các chủ nhiệm lớp đều đặn hằng tháng để kịp thời nắm bắt tình hình cụ thể từng lớp; đánh giá, nhận xét về công tác chủ nhiệm và có biện pháp tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình quản lý lớp của giáo viên chủ nhiệm. Đối với những vấn đề vượt quá phạm vi trách nhiệm quyền hạn, phòng đào tạo phải có kiến nghị, đề xuất và tham mưu với lãnh đạo nhà trường cho chủ trương giải quyết.

Bên cạnh đó, phòng đào tạo cần phải chú ý công tác kiểm tra hồ sơ chủ nhiệm, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ nhiệm lớp. Phòng đào tạo cần cung cấp đầy đủ, kịp thời các văn bản có liên quan đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường cho giáo viên chủ nhiệm. Cần nghiên cứu đổi mới việc xây dựng lịch thi và duyệt thi để bảo đảm cho các chủ nhiệm lớp có một thời gian hợp lý chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho việc thi, đồng thời, bảo đảm việc theo dõi lớp được thường xuyên, liên tục.

Trong việc xây dựng kế hoạch, phòng đào tạo cần bảo đảm chủ nhiệm lớp được biết từ khi có kế hoạch chiêu sinh và được tham gia từ giai đoạn chuẩn bị mở lớp để tăng tính chủ động, tạo thuận lợi cho giáo viên chủ nhiệm trong quá trình quản lý lớp sau này. Đồng thời, cần có cách thức lấy ý kiến đóng góp của học viên đối với công tác quản lý lớp của chủ nhiệm lớp.

Ba là, nhà trường cần xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các nội quy, quy chế, tạo cơ sở cho công tác chủ nhiệm lớp

Cụ thể là, sớm sửa đổi, bổ sung nội quy học viên, cụ thể hoá nội quy làm việc của phòng đào tạo, hoàn thiện hệ thống biểu mẫu, sổ sách...

Nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp phụ thuộc phần lớn vào ý thức trách nhiệm trong công việc của các giáo viên chủ nhiệm và việc thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ nhiệm lớp. Vì thế, cần xây dựng và ban hành bản quy định riêng về chủ nhiệm lớp ở Trường Chính trị, trong đó quy định rõ vị trí vai trò của chủ nhiệm lớp, quyền hạn và trách nhiệm của chủ nhiệm lớp trong từng hoạt động cụ thể như thiết lập, củng cố hệ thống sổ sách, hồ sơ chủ nhiệm, trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo, quản lý học tập và rèn luyện của học viên… Chi tiết hoá chế độ, quy trình làm việc, quyền hạn, trách nhiệm việc khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên chủ nhiệm. Đối với

Bốn là, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các khoa, phòng, các đơn vị hữu quan để có những biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ, khắc phục kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong công tác chủ nhiệm

Các khoa chuyên môn cần có sự phối hợp chặt chẽ với phòng đào tạo trong việc theo dõi, đánh giá công tác chủ nhiệm của các giảng viên thuộc quyền quản lý; tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ các giảng viên hoàn thành tốt công tác chủ nhiệm. Đồng thời, cần coi mức độ chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ công tác chủ nhiệm là một tiêu chí đánh giá thi đua đối với các giảng viên - chủ nhiệm lớp.

Phòng tổ chức - hành chính - quản trị cần phối hợp, hỗ trợ kịp thời cho các chủ nhiệm lớp trong hoạt động phục vụ lớp học, đặc biệt là đối với các lớp tập trung. Trong đó, nhiều công việc có ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng hoạt động quản lý lớp, như vệ sinh lớp học, môi trường sư phạm, chuẩn bị chỗ ăn, nghỉ cho học viên, nước uống học viên, giảng viên, sao chép, in ấn các giấy tờ, tài liệu phục vụ công tác quản lý lớp… Cần khắc phục tình trạng các chủ nhiệm lớp phải chạy theo, “nhờ vả” bộ phận hành chính, nhất là những lúc do tính cấp bách của công việc mà phải làm ngoài giờ.

Chủ nhiệm lớp cần phối hợp chặt chẽ với các Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị cấp huyện, với đồng chủ nhiệm (đối với các lớp tại chức đặt tại các huyện) và ban cán sự lớp trong quá trình quản lý lớp, báo cáo thường xuyên tình hình lớp học với ban chỉ đạo lớp để chỉ đạo kịp thời, thường xuyên. Đồng thời, nhà trường cần phối hợp, trao đổi với các huyện (thành phố, thị xã) trong bố trí thời gian học tập, công tác hợp lý cho người được cử đi học, để tạo điều kiện cho học viên tham dự đầy đủ, nghiêm túc kế hoạch học tập, bảo đảm tính hợp lý, hiệu quả của việc tăng cường quản lý học viên trên lớp. 

Năm là, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ chủ nhiệm lớp cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công tác quản lý lớp trong tình hình mớiTrước hết cần làm tốt những công việc sau:

Lãnh đạo nhà trường và cán bộ, giảng viên cần nhận thức đúng về vị trí, vai trò của chủ nhiệm lớp và công tác chủ nhiệm lớp; đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với các chủ nhiệm lớp. Công tác chủ nhệm có vai trò hỗ trợ hoạt động giảng dạy chứ không phải là “giúp việc” cho giảng viên. Cần có sự sàng lọc, phân loại giáo viên chủ nhiệm để có kế hoạch sắp xếp, bố trí, phân công chủ nhiệm cho phù hợp với yêu cầu của từng loại hình đào tạo, bồi dưỡng.

Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, cả về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, quản lý học viên và phương pháp giảng dạy, truyền đạt… Những chủ nhiệm lớp hoàn thành tốt công việc được giao cần được ưu tiên cử đi học nâng cao trình độ. Cần phải tạo được những động lực thực tế mang tính cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy không khí thi đua công tác, để các giảng viên trẻ cố gắng phấn đấu hơn nữa trong các hoạt động chuyên môn nói chung và trong công tác quản lý lớp nói riêng.

Phối hợp tốt với tổ chức Đảng, các đoàn thể như: Công đoàn,Thanh niên, Ban nữ công,… trong việc giáo dục nâng cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện của các chủ nhiệm lớp, đặc biệt là các giảng viên trẻ. Các cán bộ, giảng viên được phân công làm công tác chủ nhiệm phải không ngừng phấn đấu, nỗ lực, vượt mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Sáu là, chú trọng hình thức học tập, trao đổi kinh nghiệm quản lý lớp giữa các Trường Chính trị

Một số Trường Chính trị có truyền thống, kinh nghiệm quản lý cần được học tập, trao đổi kinh nghiệm. Nhiều kinh nghiệm quý của các trường thể hiện trong nhiều văn bản, biểu mẫu được hệ thống hóa, cần được vận dụng trong công tác chủ nhiệm như:

- Nội quy học viên;

- Danh mục nghỉ phép của học viên;

- Thông báo về việc học viên nghỉ học không có lý do;

- Thông báo việc thôi học của học viên về cơ quan, đơn vị;

- Thông báo xoá tên học viên;

- Bản nhận xét tổng hợp hàng tuần.v.v. 

Công tác chủ nhiệm lớp có vai trò quan trọng trong thực hiện quá trình quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nếu được thực hiện thường xuyên và đồng bộ những biện pháp nêu trên chắc chắn sẽ tạo nên những chuyển biến đáng kể trong công tác quản lý học viên. Điều đó sẽ góp phần thiết thực nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

 

nguồn: Liễu Văn Bảo

                                             Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng

 

Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu thực tế của các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp

(LLCT) - Hoạt động nghiên cứu thực tế của 6 lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận: từ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, địa bàn, thời gian cho đến công tác tổ chức thực hiện. Nhờ vậy, học viên tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích; đề xuất những kiến nghị thiết thực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Để hoạt động nghiên cứu thực tế của các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp sắp tới đạt hiệu quả cao hơn, cần: đa dạng hóa địa bàn nghiên cứu thực tế; xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ rõ ràng, khoa học; tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong nghiên cứu thực tế; đổi mới phương thức đánh giá kết quả nghiên cứu thực tế...

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dự nguồn chiến lược cho khóa XII, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các ban, bộ ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức 6 lớp bồi dưỡng nguồn cán bộ cao cấp (từ 27-3-2013 đến 2-7-2015). Học viên là cán bộ chủ chốt và diện quy hoạch dự nguồn cán bộ chủ chốt cấp chiến lược của các cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trong cả nước; bao gồm các đồng chí là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương (khoá XI); cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; cán bộ quy hoạch lãnh đạo chủ chốt các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giai đoạn 2015-2020.

Chương trình học tập gồm 6 học phần và nghiên cứu thực tế, trong đó: 5 học phần cơ bản, gồm: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (6 chuyên đề); Những vấn đề thế giới đương đại (5 chuyên đề); Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam (10 chuyên đề); Xây dựng Đảng và Nhà nước (7 chuyên đề); Khoa học lãnh đạo và quản lý (5 chuyên đề);học phần các chuyên đề bổ trợ, gồm 10 báo cáo của các chuyên gia trong và ngoài nước; chương trình nghiên cứu thực tế gồm 2 tuần.

1. Những kết quả đạt được

- Về mục đích nghiên cứu thực tế

Hoạt động nghiên cứu thực tế của học viên các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp nhằm:

- Đáp ứng phương châm quan trọng hàng đầu của nghiên cứu, giảng dạy, học tập lý luận chính trị là: lý luận liên hệ với thực tiễn; lý thuyết gắn với thực hành.

- Nhận thức rõ ràng và đầy đủ hơn các vấn đề trong các học phần lý thuyết, những nội dung trong các báo cáo bổ trợ.

- Có điều kiện đối chứng thực tiễn của địa phương, ngành... với các lĩnh vực công tác của học viên.

- Nắm bắt được những mô hình phát triển, rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng sáng tạo vào công tác lãnh đạo cấp chiến lược.

- Có điều kiện hiểu biết rõ hơn hiện thực cuộc sống, cảm thông, chia sẻ hơn với người dân; từ đó rèn luyện ý thức trách nhiệm, thái độ đúng đắn trong giao tiếp và ứng xử đối với người dân.

Kết quả nghiên cứu thực tế của học viên 6 lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp cho thấy: các mục đích nêu trên là hoàn toàn sát hợp và được thực hiện tốt. Sau khi đi nghiên cứu thực tế, học viên đều có những thay đổi tích cực về nhận thức; tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích; đặc biệt, gần gũi, cảm thông, chia sẻ với nhân dân hơn. Điều này sẽ ảnh hưởng tích cực tới việc tham gia vào công tác chỉ đạo chiến lược ở tầm vĩ mô sau này.

- Về nhiệm vụ nghiên cứu thực tế

Để đạt được các mục đích trên, học viên 6 lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội của địa phương (đặc biệt là ở cấp xã).

- Nghiên cứu tình hình và phân tích, đánh giá việc thực hiện chủ trương, chính sách về vấn đề nghiên cứu thực tế từ tỉnh đến xã.

- Khảo sát một số cơ quan, đơn vị điển hình trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về vấn đề nghiên cứu thực tế.

- Khảo sát, nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của nhân dân địa phương và quan điểm, thái độ của người dân trong quá trình thực hiện các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước.

- Tham gia lao động, sản xuất trực tiếp cùng với nhân dân địa phương.

- Viết báo cáo thu hoạch về vấn đề nghiên cứu; đề xuất các kiến nghị, giải pháp để giải quyết những khó khăn và các vấn đề đang đặt ra tại địa phương đến thực tế.

Tất cả các nhiệm vụ nói trên đều được các đoàn nghiên cứu thực tế thực hiện nghiêm túc và đạt được những kết quả tích cực. Các báo cáo thu hoạch được chuẩn bị công phu, với những đánh giá toàn diện và chính xác về tình hình địa phương, nêu được những vấn đề bức thiết đang đặt ra, đề xuất những kiến nghị có giá trị tham khảo thiết thực để giải quyết những vấn đề đó. Tất cả các nhóm nghiên cứu thực tế đều tham gia lao động sản xuất cùng nhân dân, với nhiều hình thức như: làm đường; vệ sinh môi trường; thu hoạch nông sản... Ân cần thăm hỏi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của bà con.

- Về địa bàn nghiên cứu thực tế

6 lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp đi nghiên cứu thực tế tại 54 xã vùng sâu, vùng xa (nhiều xã biên giới, hải đảo) có nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, thuộc 27 tỉnh nằm ở cả 3 khu vực Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, gồm: Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Điện Biên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Phú Thọ,Thanh Hóa, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Bến Tre, Cà Mau.

Địa bàn như vậy vừa có tầm bao quát lại vừa có tính điển hình, đáp ứng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu các nội dung nghiên cứu, do vậy, sát hợp với mục đích, nhiệm vụ của hoạt động nghiên cứu thực tế.

- Về nội dung nghiên cứu thực tế

Trong 2 ngày đầu của đợt nghiên cứu thực tế, các nhóm nghe báo cáo tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh và huyện; khảo sát một số cơ quan kinh tế, khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, văn hóa của tỉnh và huyện.

Trong 7 ngày kế tiếp, các nhóm nghiên cứu: tình hình kinh tế - xã hội; công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và phát triển đảng viên; hoạt động của chính quyền, của các tổ chức chính trị-xã hội trên địa bàn xã; trong đó đặc biệt chú ývấn đề xây dựng nông thôn mới; công tác xóa đói giảm nghèo và các vấn đề bức thiết mang tính đặc thù của địa phương cần sớm được giải quyết.

Trong 2 ngày cuối của đợt nghiên cứu thực tế, các nhóm báo cáo kết quả nghiên cứu tại huyện và tỉnh.

Nội dung và lộ trình thực hiện như vậy là khoa học, giúp học viên bám sát địa bàn nghiên cứu ở 3 cấp: tỉnh, huyện, xã theo một chu trình chặt chẽ; đồng thời, được kiểm chứng, đánh giá kết quả nghiên cứu trong điều kiện thuận lợi nhất.

- Về thời gian nghiên cứu thực tế

Thời gian đi thực tế là 2 tuần. Thời gian làm việc là 11 ngày. Trong đó: 2 ngày làm việc với tỉnh, 2 ngày làm việc với huyện, 7 ngày làm việc với xã và ở tại nhà dân hoặc địa điểm khác tùy điều kiện cụ thể.

Trong thời gian làm việc tại xã, đoàn có ít nhất 2 ngày trực tiếp lao động, sản xuất cùng với nhân dân.

Thời gian nghiên cứu thực tế như vậy là phù hợp so với chương trình chung của khóa học kéo dài 4 tháng. Sự phân bố thời gian ở tỉnh, huyện, xã cũng bám sát mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Phần lớn các nhóm học viên đều bảo đảm đúng thời gian nghiên cứu thực tế, tận dụng tối đa thời gian để hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra.

- Về tổ chức thực hiện

3 lớp đầu (từ lớp thứ nhất đến lớp thứ ba), mỗi lớp chia thành 4 đoàn, đi nghiên cứu thực tế tại 4 tỉnh; 3 lớp sau (từ lớp thứ tư đến lớp thứ sáu), mỗi lớp chia thành 5 đoàn, đi nghiên cứu thực tế tại 5 tỉnh; ở mỗi tỉnh nghiên cứu tại 2 huyện và 2 xã khác nhau.

Đối với 3 lớp đầu, mỗi lớp chia thành 8 nhóm; đối với 3 lớp sau, mỗi lớp chia thành 10 nhóm, mỗi nhóm nghiên cứu thực tế gồm 9-10 học viên. Việc chia nhóm được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm về cơ cấu: Trung ương/địa phương; vùng/miền; nam/nữ; chuyên môn, nghiệp vụ. Trong quá trình nghiên cứu thực tế, học viên thực hiện chế độ tự quản. Mỗi đoàn có Trưởng đoàn, mỗi nhóm có Trưởng nhóm để điều hành công việc chung. Học viên tự xây dựng chương trình, kế hoạch làm việc trong toàn bộ đợt đi thực tế; tự tổ chức việc sinh hoạt (ăn ở, đi lại, v.v.) của mình tại địa bàn xã.

Mỗi nhóm học viên có 1 cán bộ của Học viện đi cùng. Đó là những cán bộ cấp vụ, có trình độ chuyên môn tốt, có kỹ năng giao tiếp. Cán bộ Học viện tham gia các chuyến đi thực tế của học viên có trách nhiệm theo dõi tinh thần, thái độ và kết quả làm việc của học viên và thường xuyên báo cáo tình hình về Ban Tổ chức lớp học.    

Trước khi học viên đi nghiên cứu thực tế, Giám đốc Học viện chủ trì cuộc họp với sự tham dự của toàn thể học viên của lớp và các đối tượng có liên quan khác để chỉ đạo việc tổ chức kế hoạch nghiên cứu thực tế; trao đổi, giải đáp các nội dung học viên quan tâm.

Chương trình nghiên cứu thực tế như trên đã phát huy tốt hiệu quả. Các nhóm gồm 9-10 học viên đi nghiên cứu tại 1 xã sẽ tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, thảo luận; bố trí ăn ở, đi lại.

Các nhóm đã chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch khảo sát, nghiên cứu; có ý thức kỷ luật cao, tạo lập và giữ gìn quan hệ tốt đẹp với nhân dân địa phương.

Các cán bộ Học viện đi cùng các nhóm đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, vừa giám sát, hỗ trợ, lại vừa trực tiếp tham gia các hoạt động nghiên cứu của nhóm, thực sự là cầu nối quan trọng giữa các nhóm và Ban Tổ chức lớp học.

- Về sự phối hợp giữa Học viện Chính trị quốc gia và các tỉnh, thành phố là địa bàn nghiên cứu thực tế

Trước khi học viên đi nghiên cứu thực tế khoảng 2 tháng, Học viện gửi Công văn đến các tỉnh liên quan thông báo về nội dung chương trình nghiên cứu thực  tế. Tiếp đó, đoàn cán bộ Học viện đến làm việc trực tiếp với Tỉnh ủy các tỉnh liên quan để thống nhất kế hoạch phối hợp tổ chức nghiên cứu thực tế cho học viên.

Trong quá trình diễn ra hoạt động nghiên cứu thực tế, Giám đốc Học viện, Chủ nhiệm lớp tổ chức đi kiểm tra tình hình, nhất là ở các địa bàn khó khăn.

Tất cả 27 tỉnh có học viên tới nghiên cứu thực tế đều hợp tác chặt chẽ và hiệu quả với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: đón tiếp các đoàn tận tình, chu đáo; tạo các điều kiện thuận lợi và hỗ trợ về mọi mặt để các nhóm nghiên cứu hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra. 

Có những tỉnh, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp xuống địa bàn xã để kiểm tra và chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện nghiên cứu thực tế cho học viên.

Mỗi tỉnh đều cử ra một đồng chí cán bộ lãnh đạo cấp sở, ban, ngành làm đầu mối liên lạc để trao đổi các thông tin liên quan với Học viện; bố trí phương tiện đi lại, nơi ăn ở bảo đảm an toàn, thuận lợi cho học viên. Mỗi nhóm nghiên cứu đều có 1 cán bộ địa phương, thông thạo địa bàn, giàu kinh nghiệm thực tiễn đi cùng để hỗ trợ.

Các tỉnh đều tích cực tham gia đóng góp vào nội dung nghiên cứu thực tế của học viên. Nhờ đó, các báo cáo thu hoạch nhìn chung có chất lượng tốt, bám sát tình hình thực tiễn địa phương và đề xuất những kiến nghị thiết thực.

Các đợt nghiên cứu thực tế đã giúp củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa các tỉnh học viên tới nghiên cứu và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; đồng thời mở ra nhiều mối quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa các tỉnh nói trên và các tỉnh, thành phố, bộ, ban, ngành cử học viên đi học.

Sau khi các khóa học kết thúc, Học viện đã gửi phiếu thăm dò ý kiến của 350 đồng chí học viên về Chương trình bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp. Kết quả đánh giá của học viên hoạt động nghiên cứu thực tế như sau:

Với kết quả thu được, có thể khẳng định hoạt động nghiên cứu thực tế của học viên các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp đã được tổ chức thành công.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế, bất cập, đó là:

Phạm vi nghiên cứu thực tế còn tương đối hẹp cho nên nội dung nghiên cứu chưa phong phú, toàn diện, chưa khai thác hết tiềm năng của học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của nhiều lĩnh vực khác nhau.

Việc phân chia các nhóm nghiên cứu thực tế có lúc chưa hợp lý: Học viên cùng một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ tập trung vào một nhóm, trong khi vấn đề nghiên cứu là vấn đề tổng hợp, để tiếp cận và giải quyết hiệu quả cần kết hợp  nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau.

Kỷ cương, kỷ luật trong nghiên cứu thực tế có lúc còn chưa được thực hiện nghiêm túc. Có nhóm kết thúc đợt nghiên cứu thực tế sớm hơn so với thời gian quy định. Có học viên về cơ quan giải quyết công việc trong thời gian nghiên cứu thực tế.

Việc đánh giá kết quả nghiên cứu thực tế theo nhóm chưa phát huy được ở mức cao nhất năng lực và trách nhiệm của mỗi học viên.

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, đa dạng hóa địa bàn nghiên cứu thực tế.Các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp khóa XII nghiên cứu thực tế tại địa bàn cấp xã, ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn về mọi mặt. Với các lớp tổ chức sau này có thể khảo sát ở cấp tỉnh, hoặc ở các phạm vi, lĩnh vực khác như đặc khu kinh tế, khu công nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, v.v.. Khách thể nghiên cứu không nhất thiết chỉ là nơi khó khăn, là điểm nóng về chính trị-xã hội, mà còn là nơi có đời sống kinh tế-xã hội phát triển, có thể trở thành mô hình cho nơi khác học tập, chia sẻ kinh nghiệm và làm theo.

Thứ hai, xây dựng kế hoạch sớm, bảo đảm tính khoa học, cụ thể, chi tiết; phân công nhiệm vụ rõ ràng, chính xác. Học viên cần được trực tiếp tham gia vào xây dựng nội dung nghiên cứu thực tế để việc tổ chức triển khai sát hợp và hiệu quả.

Trước khi học viên đi nghiên cứu thực tế, cần có một buổi hướng dẫn về kỹ năng nghiên cứu và quy cách thực hiện Báo cáo cáo thu hoạch. Nên giới thiệu một báo cáo mẫu cho học viên tham khảo. Thực tế cho thấy, nhiều nhóm nghiên cứu có mô hình báo cáo tương tự nhau, nội dung dàn trải, chưa đi sâu vào những vấn đề trọng tâm của địa phương.

Thứ ba, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong nghiên cứu thực tế. Học viện cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan, đơn vị liên quan để tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện nội dung chương trình nghiên cứu thực tế. Kế hoạch thực tế phải được thực hiện theo đúng thời gian quy định. Học viên không được rời khỏi địa bàn nghiên cứu thực tế nếu không có sự cho phép của Ban Chỉ đạo lớp học. Những trường hợp vi phạm kỷ luật, cần có chế tài xử lý thỏa đáng.

Thứ tư, đổi mới phương thức đánh giá kết quả nghiên cứu thực tế. Kết quả nghiên cứu thực tế nên đánh giá theo từng học viên, không nên đánh giá theo nhóm. Như vậy, mỗi học viên phải có một báo cáo kết quả nghiên cứu thực tế của riêng mình. Báo cáo đó có thể được trình bày trước Hội đồng đánh giá (hình thức bảo vệ) hoặc được chấm 2 vòng độc lập (hình thức chấm). Trong số các thành viên của Ban đánh giá kết quả nghiên cứu thực tế, nên có đại diện lãnh đạo của cơ quan, đơn vị là nơi học viên đến nghiên cứu thực tế.

Thứ năm, kết quả nghiên cứu thực tế của học viên cần được xem xét, sử dụng một cách hiệu quả.

Trước hết, các bản kiến nghị của học viên với tư cách là sản phẩm của đợt nghiên cứu thực tế nên được các cơ quan, đơn vị liên quan (cả Trung ương và địa phương) nghiên cứu kỹ; tiếp thu và tổ chức thực hiện nghiêm túc đối với những nội dung phù hợp. Thực tế cho thấy, không ít những kiến nghị như vậy rất có giá trị đối với sự phát triển về mọi mặt của địa phương.

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu thực tế của các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp là tài liệu thiết thực, bổ ích, phục vụ trực tiếp cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Vì thế, cần tiến hành phân loại một cách khoa học và lưu trữ cẩn trọng; đồng thời tạo điều kiện để cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, học viên, sinh viên tiếp cận, khai thác và sử dụng.

Sắp tới, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tiếp tục được giao nhiệm vụ tổ chức các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp, chuẩn bị nhân sự cho khóa XIII và các khóa tiếp theo. Việc đánh giá khách quan và toàn diện hoạt động nghiên cứu thực tế của các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp vừa qua là căn cứ quan trọng để Học viện có những điều chỉnh, bổ sung cần thiết, tổ chức hiệu quả hơn các lớp sau.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2017

 

 

nguồn: PGS, TS Hoàng Anh

Vụ Quản lý đào tạo,

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay(*)

(LLCT) - Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới toàn diện và đồng bộ từ nhận thức, quy trình, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đến kiện toàn, tổ chức lại hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, phân cấp quản lý, xây dựng đội ngũ giảng viên, cơ chế quản lý kinh phí, hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Trong bối cảnh “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương”(1), cần nghiên cứu đổi mới toàn diện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) cán bộ, công chức (CBCC).

1. Đổi mới nhận thức về chức năng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Đổi mới nhận thức về chức năng ĐTBD CBCC, chuyển từ “vì mục tiêu quản lý con người” sang “vì công việc và chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ”. ĐTBD không phải chỉ vì để người CBCC đáp ứng những tiêu chuẩn do nhà quản lý đặt ra (dù những tiêu chuẩn đó cũng một phần vì công việc) mà là để nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. Theo đó, cần tách biệt chức năng “đào tạo” và chức năng “bồi dưỡng” như Nghị định số 101/NĐ-CP ngày 1-9-2017 của Chính phủ đã thể hiện. Đào tạo để đội ngũ CBCC có bằng cấp hoặc có bằng cấp cao hơn dành cho CBCC có năng lực cao và theo quy hoạch phát triển nhân lực. Bồi dưỡng là nhiệm vụ thường xuyên của tổ chức và việc tham gia các khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ, công vụ là quyền lợi và trách nhiệm của CBCC. Hoạt động bồi dưỡng tập trung vào việc cập nhật kiến thức mới, trang bị kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Và vì vậy, đó thường là những khóa bồi dưỡng ngắn ngày, thực hiện theo phương pháp tích cực, lấy người học và công việc của họ làm trung tâm.

Chú trọng ĐTBD kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức công vụ đối với CBCC. Đạo đức là yếu tố quyết định mức độ cống hiến của CBCC đối với tổ chức và người dân. Trong thiết kế, xây dựng chương trình, cần phải có các khóa học về đạo đức công vụ được thiết kế riêng hay lồng ghép với các khóa học khác; đa dạng hóa phương pháp bồi dưỡng đạo đức công vụ.

Giao quyền tự chủ cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp quản lý và sử dụng CBCC để bảo đảm tính chủ động, tính kịp thời, khả năng thích ứng của CBCC trước những thay đổi của nền công vụ. Cơ quan, đơn vị và địa phương sẽ quyết định về nội dung chương trình ĐTBD được xây dựng trên cơ sở nhu cầu bồi dưỡng các kỹ năng thực thi công vụ của CBCC. Ngoài chương trình ĐTBD áp dụng chung, tùy thuộc vào từng Bộ, ngành, địa phương mà các cơ sở ĐTBD của Bộ, ngành, địa phương xây dựng các học phần riêng phù hợp với thực tiễn của cơ quan, địa phương mình.

Tạo cơ chế và điều kiện để người CBCC được quyền chủ động trong việc lựa chọn các chương trình bồi dưỡng phù hợp với nhu cầu công việc đang đảm nhiệm; đa dạng hóa các chương trình bồi dưỡng dành cho các đối tượng khác nhau. Chương trình bồi dưỡng làm quen với công việc dành cho CBCC mới được tuyển dụng hoặc chuyển công tác sang môi trường công việc mới; Chương trình bồi dưỡng cơ bản để CBCC thích ứng với công tác của mình; Chương trình bồi dưỡng nâng cao bổ sung, giúp CBCC đạt hiệu quả cao nhất trong công việc; Chương trình bồi dưỡng mở rộng tạo điều kiện cho CBCC có thể đảm nhiệm các công việc vượt ra khỏi chức trách, nhiệm vụ thường xuyên của mình, có thể làm những công việc liên quan khi cần thiết; Chương trình bồi dưỡng tiếp tục không chỉ liên quan đến công việc hiện tại của người CBCC, mà còn nâng cao khả năng làm việc của họ trong tương lai.

2. Đổi mới quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Việc xây dựng quy trình ĐTBD khoa học có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần trực tiếp bảo đảm chất lượng và hiệu quả ĐTBD. Quy trình đúng, hợp lý thì chất lượng, hiệu quả ĐTBD được nâng cao và ngược lại, quy trình không hợp lý thì chất lượng và hiệu quả của công tác này không được bảo đảm. Một quy trình bồi dưỡng khoa học phải bảo đảm 4 thành tố cơ bản sau đây: 1) Xác định nhu cầu ĐTBD; 2) Xây dựng kế hoạch ĐTBD; 3) Thực hiện kế hoạch ĐTBD; và 4) Đánh giá ĐTBD.

Xác định nhu cầu đào tạo nhằm trả lời các câu hỏi chính như: những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà CBCC hiện có? Những kiến thức, kỹ năng còn thiếu của CBCC đối với vị trí công việc?. Để làm được việc này, đòi hỏi trước khi tổ chức biên soạn chương trình, tài liệu, cần phải khảo sát nắm rõ nhu cầu của người học; ngay cả khi chương trình, tài liệu đã được biên soạn theo nhu cầu khảo sát trước đó thì trong quá trình giảng dạy, giảng viên vẫn phải tiếp tục tìm hiểu nhu cầu của người học để hướng việc trao đổi, thảo luận theo đúng mục tiêu đề ra là “lấp khoảng trống” về năng lực cho học viên.

Điều đáng chú ý hiện nay trong đổi mới quy trình ĐTBD là hoạt động đánh giá chất lượng ĐTBD, tức là xác định mức độ đạt được của các mục tiêu ĐTBD đã đặt ra từ trước, giúp các nhà quản lý, cơ sở ĐTBD đưa ra các quyết định phù hợp để cải tiến công tác ĐTBD. Đánh giá chất lượng bồi dưỡng, giúp trả lời các câu hỏi cơ bản: 1) Hoạt động ĐTBD đã trang bị, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng liên quan đến công việc của CBCC như thế nào? 2) Hoạt động ĐTBD làm thay đổi thái độ và hành vi của CBCC trong công việc như thế nào? 3) Hoạt động ĐTBD giúp CBCC nâng cao năng lực, hiệu quả thực hiện công việc hay không? Kết quả trả lời các câu hỏi trên đây sẽ giúp nhà quản lý, cơ sở ĐTBD có những điều chỉnh hợp lý nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐTBD.

3. Đổi mới về nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Cần phân định rõ hai cấp độ đổi mới chương trình ĐTBD: 1) Đổi mới hệ thống chương trình ĐTBD và 2) Đổi mới kết cấu, nội dung từng chương trình ĐTBD cho từng đối tượng cụ thể. Theo đó, đổi mới chương trình theo hướng chọn lọc, thiết thực, sát hợp với đối tượng và mục tiêu ĐTBD; giảm thiểu những kiến thức chung, kiến thức kinh điển, tăng cường hướng dẫn kỹ năng, kinh nghiệm và những kiến thức, kỹ năng mới. Thiết kế và xây dựng chương trình ĐTBD CBCC theo hướng tích hợp, mang tính liên thông giữa các chương trình bồi dưỡng. Với cách thức này, CBCC được tạo điều kiện đến mức tối đa để tham gia học tập suốt đời, gắn liền với quá trình thăng tiến của họ. Cụ thể là: ĐTBD ban đầu mang tính định hướng, ĐTBD cơ bản, ĐTBD nâng cao, ĐTBD mở rộng, ĐTBD cập nhật kiến thức. Cả 5 giai đoạn này, tùy theo mức độ mà thiết kế nội dung chương trình khác nhau, nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau, giai đoạn sau bổ sung cho giai đoạn trước. Các khóa học phải được thiết kế tích hợp học phần thực tế tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, hoặc có thể được tham gia học các học phần và thực tập ở nước ngoài.

Chương trình ĐTBD đối với các CBCC lãnh đạo, quản lý nên có quy định điều chỉnh về các mặt hoạt động của cơ sở ĐTBD. Các trường được giao ĐTBD đối với CBCC quản lý, lãnh đạo phải đạt các điều kiện chuẩn về cơ sở vật chất với các trang thiết bị hiện đại; đội ngũ giảng viên có trình độ và giàu kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý; chương trình ĐTBD có tính cạnh tranh cao, được kiểm định chất lượng và xếp hạng bởi các tổ chức độc lập có uy tín cao.

Đổi mới chương trình phải đảm bảo tính liên thông, tránh trùng lắp giữa các chương trình và trong từng chương trình. Tổ chức nghiên cứu, biên soạn các chương trình bồi dưỡng về đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp theo hướng thiết thực, cụ thể, gắn chặt với từng loại hoạt động công vụ. Tăng cường biên soạn những chương trình bồi dưỡng ngắn ngày cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng theo nhu cầu; kỹ năng theo hướng “cầm tay chỉ việc”.

Đổi mới chương trình ĐTBD đi đôi với việc phân định rõ đối tượng, căn cứ vào đối tượng để xây dựng nội dung, chương trình ĐTBD cho phù hợp và đáp ứng với yêu cầu mới. Điều này đặc biệt thiết thực đối với hệ thống chương trình ĐTBD lý luận chính trị hiện nay. Vấn đề đặt ra là song song với việc xác định vai trò của các chương trình đào tạo lý luận chính trị trung cấp và cao cấp, cần nghiên cứu biên soạn bổ sung hệ thống chương trình bồi dưỡng theo chuẩn ngạch, tiêu chuẩn chức danh CBCCVC theo quy định của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 1-9-2017.

Xác định “hàm lượng” của các loại kiến thức mà CBCC thực sự cần. Có thể chia ra làm ba loại: 1) Loại kiến thức “nên biết” là kiến thức bổ trợ, người học có thể tự nghiên cứu và trang bị cho mình; 2) Loại “cần biết” là loại kiến thức mà giảng viên có thể gợi ý, giới thiệu để học viên nghiên cứu, mở rộng tầm hiểu biết, hỗ trợ cho việc thực hiện công vụ có hiệu quả hơn; 3) Loại “phải biết” là loại kiến thức nhất thiết phải được trang bị trong các khóa ĐTBD CBCC. Đó là loại kiến thức, kỹ năng cần để thực hiện đúng, thực hiện đủ và có hiệu quả nhiệm vụ được giao.

Nội dung chương trình phải cập nhật, có tính thực tiễn, cân đối giữa lý thuyết và thực tiễn, gắn kết với thực tiễn công việc của người học đang đảm nhận và những công việc dự kiến đảm nhận trong tương lai gần. Xây dựng kế hoạch ĐTBD theo 4 bước: tìm hiểu thực tế; đánh giá nhu cầu ĐTBD; xây dựng nội dung ĐTBD; tổ chức triển khai thực hiện. Nhu cầu ĐTBD được xác định dựa trên các yếu tố bên trong và bên ngoài. Yêu cầu ĐTBD của từng cá nhân CBCC và phải phù hợp, gắn kết với mục tiêu phát triển của cơ quan, đơn vị. Từ mục tiêu ĐTBD tiến hành lựa chọn nội dung ĐTBD cho sát hợp.

Việc xác định các kiến thức, kỹ năng như trên nhằm mục đích: Một là, giảm tải cho chương trình ĐTBD CBCC, thực hiện các chương trình bồi dưỡng ngắn ngày và tập trung vào các nội dung thiết thực, thiết yếu cho học viên; Hai là, phù hợp với đặc điểm công tác của CBCC; Ba là, đảm bảo sự linh hoạt trong việc biên soạn và thực hiện các chương trình bồi dưỡng.

4. Đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Phương pháp chủ yếu áp dụng cho các khóa ĐTBD đối với CBCC hiện nay, mặc dù bước đầu đã có đổi mới, song chủ yếu vẫn là phương pháp thuyết trình. Để đổi mới phương pháp ĐTBD đối với CBCC, cần tập trung vào các giải pháp sau:

Sử dụng những phương pháp ĐTBD tích cực, tiên tiến đối với từng đối tượng theo hướng: không giảng dạy theo kiểu “hàn lâm” mà gắn chặt với thực tiễn, vận dụng lý thuyết để giải quyết những vấn đề thực tế đang đặt ra; phương pháp xử lý các tình huống điển hình, tạo điều kiện để người học chủ động liên hệ, tư duy năng động, sáng tạo vận dụng vào thực tiễn; tăng cường thời lượng dành cho tham quan, trao đổi kinh nghiệm thực tế...

Đổi mới phương pháp ĐTBD lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ theo phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm. Nghiên cứu vận dụng những phương pháp ĐTBD CBCC mới, hiện đại của thế giới như ĐTBD tại chỗ và luân chuyển CBCC ở các vị trí chức danh.

Áp dụng phương pháp trao đổi CBCC như các nước tiến tiến đang thực hiện với nhiều hình thức khác nhau như: cử CBCC đến các cơ quan trung ương, chính quyền địa phương nước ngoài nghiên cứu; tiếp nhận công chức hoặc các chuyên gia nước ngoài đến trao đổi kinh nghiệm... Đây là một trong những phương pháp hiệu quả để bồi dưỡng công chức có kiến thức, kỹ năng xử lý các tình huống liên quan đến các vấn đề quốc tế.

5. Kiện toàn, tổ chức lại hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy cần thực hiện theo lộ trình, phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay có tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm của các nước.

Nghiên cứu sắp xếp hệ thống các cơ sở ĐTBD CBCC theo hướng tinh gọn, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quy mô, hình thức ĐTBD: không nhất thiết bộ, ngành nào cũng có cơ sở ĐTBD CBCC; không nhất thiết tỉnh nào, huyện nào cũng có trường, trung tâm ĐTBD. Cùng với việc kiện toàn hệ thống, tiến hành sắp xếp các tổ chức bên trong của từng cơ sở theo hướng không nhất thiết các cơ sở đều có cơ cấu tổ chức và biên chế như nhau; giảm dần đội ngũ giảng viên cơ hữu, về lâu dài chỉ có bộ máy quản lý, giáo vụ và giảng viên kiêm nhiệm, giảng viên thỉnh giảng.

Để bảo đảm cho việc thực hiện lộ trình kiện toàn hệ thống các cơ sở ĐTBD đạt hiệu quả, từng bước thực hiện thu hút và chuyển giao nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng CBCC cho các tổ chức cung ứng dịch vụ công trong và ngoài công lập theo tinh thần Nghị quyết số 18, 19 của Hội nghị Trung ương 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII). Nghiên cứu hình thành mạng lưới các cơ sở đào tạo, nghiên cứu có đủ năng lực tham gia các hoạt động ĐTBD CBCC; xây dựng cơ chế cho phép các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội tham gia hoạt động ĐTBD.

Xây dựng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trở thành trung tâm ĐTBD cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược ngang tầm khu vực và quốc tế; tiếp tục kiện toàn tổ chức và hoạt động của Học viện Hành chính quốc gia với vai trò là cơ sở ĐTBD CBCC đầu đàn của đất nước.

Các cơ sở ĐTBD CBCC cần mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về bồi dưỡng CBCC, tăng cường các hoạt động trao đổi giảng viên, báo cáo viên, tham gia diễn đàn, hội thảo, tọa đàm... với các cơ sở ĐTBD CBCC ở các quốc gia khác nhau trên thế giới.

6. Đổi mới và tăng cường phân cấp quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Mô hình đổi mới phân cấp quản lý hoạt động ĐTBD CBCC phải được thể hiện qua những nội dung cơ bản sau:

Một là, thống nhất một đầu mối quản lý công tác ĐTBD CBCC; khắc phục tình trạng manh mún, thiếu đồng bộ và chồng chéo như hiện nay.

Hai là, ĐTBD nâng cao năng lực làm việc của đội ngũ CBCC trước hết là trách nhiệm của cơ quan, đơn vị sử dụng CBCC. Và vì vậy, việc quyết định ai đi học? Học cái gì? Học ở đâu... phải do thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng CBCC quyết định. Như vậy, ở đây có sự chuyển đổi vai trò từ thủ trưởng quản lý CBCC sang thủ trưởng sử dụng CBCC chịu trách nhiệm về hoạt động ĐTBD.

Ba là, trao quyền được lựa chọn chương trình, nội dung ĐTBD theo nhu cầu công việc, yêu cầu vị trí việc làm cho CBCC.

Bốn là, nâng cao năng lực quản lý ĐTBD CBCC của các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương; năng lực xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng và phương pháp quản lý cho CBCC tham mưu quản lý công tác ĐTBD của các bộ, ngành, địa phương.

7. Xây dựng đội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ giảng viên là một trong những giải pháp có ý nghĩa quyết định đổi mới, nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC. Giảng viên các cơ sở ĐTBD phải có trình độ chuyên môn phù hợp, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm hoạt động thực tiễn quản lý và có năng lực sư phạm. Có kế hoạch thường xuyên cập nhật, nâng cao năng lực, trình độ và phương pháp sư phạm cho giảng viên các cơ sở ĐTBD. Nâng cao trách nhiệm của giảng viên với vai trò không chỉ là người thực hiện chương trình mà còn là người “biên tập lại”, “sáng tạo” chương trình ĐTBD.

Cơ sở ĐTBD phải xây dựng đội ngũ giảng viên thỉnh giảng; bảo đảm sau năm 2020, giảng viên thỉnh giảng đảm nhiệm từ 50% trở lên thời lượng của các chương trình ĐTBD mà cơ sở thực hiện. Tinh giảm dần đội ngũ giảng viên cơ hữu hiện có, tập trung xây dựng mạng lưới giảng viên thỉnh giảng gồm các chuyên gia, nhà quản lý có kinh nghiệm, giảng viên, nghiên cứu viên có trình độ và uy tín của các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ quan quản lý... trong và ngoài nước.

Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy chế quy định trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp tham gia giảng dạy cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp và trao đổi kinh nghiệm quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ phù hợp với bộ, ngành, địa phương.

Tăng cường tự bồi dưỡng và bồi dưỡng kỹ năng, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn cho giảng viên cơ hữu ở các cơ sở ĐTBD, tạo điều kiện cho giảng viên đi thực tế dài ngày tại các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương. Khuyến khích giảng viên tự học tập nâng cao trình độ và năng lực giảng dạy đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ hội nhập.

8. Đổi mới cơ chế quản lý kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động ĐTBD CBCC phải phù hợp với sự thay đổi về mô hình quản lý. Điều này có nghĩa là khi trách nhiệm quản lý được chuyển về cho thủ trưởng cơ quan sử dụng CBCC thì việc sử dụng kinh phí phải do thủ trưởng cơ quan sử dụng CBCC quyết định: mục đích sử dụng; đối tượng được cử đi học và nội dung học tập...

Song song với việc đổi mới cơ chế quản lý đó, việc sử dụng kinh phí cũng cần có sự thay đổi, theo hướng cấp theo nhu cầu, theo chất lượng và hiệu quả ĐTBD. Cấp theo nhu cầu trước hết thể hiện ở chỗ khi có nhiệm vụ đột xuất, nhu cầu ĐTBD sẽ tăng thêm, do đó kinh phí tăng thêm và ngược lại, khi công việc ổn định, kinh phí có thể giao ổn định hoặc có thể giảm. Mặt khác, nhu cầu ĐTBD của CBCC rất đa dạng; có những nội dung cơ sở ĐTBD có thẩm quyền không đáp ứng được. Trong trường hợp đó, cần nghiên cứu cho phép CBCC được lựa chọn những cơ sở ĐTBD có uy tín hơn, có năng lực cung cấp dịch vụ tốt hơn, chất lượng hơn với kinh phí đắt đỏ hơn. Để cơ chế quản lý kinh phí ĐTBD hiệu quả, cần tập trung:

Đổi mới “cách” giao kinh phí ĐTBD CBCC, cụ thể: a) phân định nguồn kinh phí bồi dưỡng theo tiêu chuẩn và bồi dưỡng theo nhu cầu. Kinh phí bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh là nguồn kinh phí “cứng” giao cho các cơ sở ĐTBD theo đơn đặt hàng của cơ quan quản lý CBCC. Kinh phí bồi dưỡng theo nhu cầu công việc, vị trí việc làm, cần đổi mới cách giao theo hướng tăng cường trách nhiệm của đơn vị sử dụng CBCC và bản thân CBCC trong việc sử dụng nguồn kinh phí này sao cho thiết thực, hiệu quả, phục vụ trực tiếp cho yêu cầu nâng cao năng lực làm việc của người CBCC; b) việc sử dụng kinh phí bồi dưỡng theo nhu cầu công việc, vị trí việc làm phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, từ lúc xác định nhu cầu với sự thống nhất bắt buộc giữa người sử dụng CBCC và bản thân CBCC căn cứ vào năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong năm của CBCC. Bên cạnh đó, cần bảo đảm quyền của CBCC được lựa chọn chương trình và cơ sở ĐTBD.

Trong những năm qua, hoạt động ĐTBD CBCC đã được quan tâm và bố trí kinh phí để thực hiện. Tuy nhiên, các Bộ, ngành, địa phương đều phản ánh là kinh phí được bố trí chưa đủ so với nhu cầu. Do đó, cần tiếp tục bổ sung kinh phí cho ĐTBD CBCC; đồng thời, tăng cường thu hút và đa dạng hóa nguồn kinh phí cho hoạt động ĐTBD để thúc đẩy các hoạt động ĐTBD CBCC.

9. Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Có cơ chế huy động các tổ chức, cá nhân có năng lực, uy tín nước ngoài tham gia giảng dạy cho các khóa ĐTBD CBCC, đặc biệt đối với các khóa cập nhật kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nâng cao năng lực hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức hợp tác trong lĩnh vực ĐTBD CBCC, kết hợp ĐTBD trong nước với học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, cử CBCC tham gia các khóa ĐTBD ở nước ngoài. Chú trọng ĐTBD đội ngũ CBCC lãnh đạo, quản lý và tham mưu xây dựng chính sách và đội ngũ giảng viên các cơ sở ĐTBD; tạo điều kiện cho các đối tượng này được tham gia các khóa học ở nước ngoài phù hợp với chức danh, chức vụ, vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Phối hợp với các cơ sở ĐTBD ở những nước phát triển trong việc thực hiện những nội dung như: chương trình bồi dưỡng, giảng viên, tài liệu, hoạt động học thuật... hướng đến việc giao lưu, hợp tác, liên kết giảng dạy, trao đổi giảng viên; trao đổi tài liệu ĐTBD. Ngoài ra, cần có chính sách thu hút giảng viên người nước ngoài tham gia giảng dạy tại các cơ sở ĐTBD CBCC ở Việt Nam; ứng dụng những phương pháp giảng dạy tiên tiến của nước ngoài trong ĐTBD và nghiên cứu khoa học.

Đa dạng hóa hình thức hợp tác quốc tế trong tổ chức các khóa bồi dưỡng, như: tổ chức các khóa bồi dưỡng kết hợp trong và ngoài nước; tổ chức các khóa bồi dưỡng trong nước có sự tham gia giảng dạy của các chuyên gia nước ngoài. Đây là những hình thức bồi dưỡng phù hợp với Việt Nam hiện nay nhằm tăng cường năng lực hội nhập trong điều kiện khả năng bố trí kinh phí cho hoạt động ĐTBD còn hạn chế.

_________________________

(*) Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp quốc gia “Nghiên cứu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trong hội nhập quốc tế”. Mã số KX.01.06/16-20.

(1) ĐCSVN: Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ: Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1-9-2017 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.

2. Trường Đại học Nội vụ Hà Nội: Báo cáo kết quả Dự án điều tra cấp bộ “Điều tra cơ bản thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước”.

 

Nguồn: PGS, TS Nguyễn Minh Phương

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội