Nhận thức đúng về quy chế dân chủ ở cơ sở giúp ý thức dân chủ và trình độ làm chủ của quân nhân được nâng cao; góp phần tăng cường đồng thuận, đoàn kết, kỷ luật nội bộ và niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào cấp ủy, chỉ huy các cấp; tạo không khí phấn khởi thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao...
Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024
ĐỂ CHIẾN SĨ MỚI THỰC HIỆN TỐT QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
NHẬN THỨC ĐÚNG, THỰC HIỆN TỐT
Nhận thức đúng và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa, vai trò quan trọng, góp phần giữ vững niềm tin, ổn định tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, góp phần để cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.
"XA XỈ THÌ NHIỀU BỆNH, CẦN KIỆM THÌ SỐNG LÂU"
Trong bài viết với bút danh C.B được Báo Nhân dân, số 367 đăng ngày 04/3/1955, nói về vấn đề sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối liên hệ giữa đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên với sức khỏe của nhân dân. Người coi trong đó đạo đức, lối sống là nhân tố rất quan trọng, có ảnh hưởng đến sức khỏe con người và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, nhất là khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta mới giành thắng lợi, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hết sức khó khăn, nền kinh tế lạc hậu, đội ngũ cán bộ chủ yếu chưa được đào tạo căn bản. Vì vậy, để đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện thống nhất nước nhà, bảo đảm cho nhân dân có sức khỏe tốt, có cuộc sống tốt đẹp, cần chú trọng trong công tác đào tạo và xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, quan tâm đến sức khỏe của nhân dân; cán bộ, đảng viên cần ra sức rèn luyện, phấn đấu, tránh những thói hư, tật xấu; nhân dân hăng say rèn luyện sức khỏe nâng cao tuổi thọ… Qua đó, cùng góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp thống nhất nước nhà.
NHỮNG LÁ ĐƠN RỰC CHÁY KHÁT VỌNG
Hơn một năm trước, bố mẹ của Hoàng Lương Phú (Hoằng Xuân, Hoằng Hóa, Thanh Hóa) không may qua đời do bị ngạt khí than. Anh trai đi làm ăn xa, chị gái đã lập gia đình, Hoàng Lương Phú sống nương tựa vào những người thân ở gần nhà.
Làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình"
Ngăn chặn âm mưu dùng sách, báo xấu độc để chuyển hóa tư tưởng lệch lạc
BÁC VẪN CÙNG CHÚNG CHÁU HÀNH QUÂN
Bác Hồ là người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và cũng là người Việt Nam đầu tiên trở thành người cộng sản chân chính, đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là thành viên của Quốc tế Cộng sản. Cùng với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, Bác cũng là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và trực tiếp gieo “hạt giống cộng sản” để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là tài sản vô cùng quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
VIỆT TÂN LỢI DỤNG CHUYỆN PHÁO HOA ĐỂ CHIA RẼ QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN
Thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam các thế lực thù địch, phản động, chúng luôn tìm cách chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân bằng những luận điệu xuyên tạc, hòng làm suy yếu lực lượng vũ trang, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu này chúng triệt để lợi dụng các sự kiện, sự việc liên quan, bới lông, tìm vết để bóp méo, xuyên tạc chống phá. Bằng chứng là mới đây tổ chức khủng bố Việt Tân phát tán tài liệu “Anh bán pháo, em… hỏi hóa đơn”, đề cập đến việc sản xuất và kinh doanh pháo hoa trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Trong nội dung tài liệu này, Việt Tân xuyên tạc, chỉ trích cho rằng việc Nhà máy Z121 thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng sản xuất pháo hoa “thu lợi khủng cho Quân đội”, vì thế Công an “muốn chia phần” nên quy định người đốt pháo hoa do Nhà máy Z121 sản xuất phải có hóa đơn…
AI CÒN NHỚ VỊ TƯỚNG PHONG TRÀO!
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (Nguyễn Vịnh) sinh 1914 tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Không chỉ có tài thao lược, tham gia chỉ đạo nhiều cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, đồng chí còn là vị tướng của các phong trào. Khi giao nhiệm vụ đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng chí: “Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên”.
"QUẢ BÓNG" TRÁCH NHIỆM
Sau bữa cơm tối, ông Nam sang nhà đồng chí bí thư chi bộ thôn để bàn bạc một số công việc của chi bộ trong tháng tới. Vừa nhấp chén trà còn nóng hổi, ông Nam thở dài kể lại chuyện hôm đầu tuần lên UBND xã nhưng không được việc.
QUAN TÂM HƠN NỮA HẬU PHƯƠNG QUÂN NHÂN
Những ngày qua, cả nước nô nức ngày hội giao, nhận quân. Từ đây, những thanh niên được tuyển chọn sẽ bước vào môi trường quân ngũ đầy vinh quang nhưng cũng nhiều thử thách, đòi hỏi sự cống hiến, hy sinh.
Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác
“Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn
mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi
có chuyên môn”. Đây là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, đầu tháng 8 năm 1959.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người
thầy, nhà giáo dục vĩ đại. Cả cuộc đời Người đã đào tạo biết bao thế hệ cán bộ,
những chiến sĩ ưu tú cho cách mạng và dành nhiều tình cảm quan tâm đến với các
thầy, cô giáo. Bác đặc biệt đề cao vai trò của người thầy, bởi người thầy không
chỉ dạy chữ mà còn dạy người, không chỉ truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, khơi
nguồn sáng tạo mà còn là tấm gương mẫu mực về đạo đức cho học sinh noi theo qua
từng giờ lên lớp. Người thầy là những người “đạo cao”, “đức trọng”, người
có uy tín được xã hội tôn kính. Có thể nói, ở bất cứ xã hội nào nghề dạy học
luôn được coi là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất
trong các nghề sáng tạo. Do vậy, người thầy phải có lập trường tư tưởng đúng, bản
lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có chuyên môn giỏi và không ngừng được
phát triển, sáng tạo thì mới hoàn thành trọng trách vẻ vang mà xã hội tin tưởng
trao gửi.
Thấu triệt lời Bác dạy, cấp ủy,
chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn khắc ghi
tinh thần “chính trị là linh hồn” mà
Bác đã huấn thị “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân. Nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự” và các nghị quyết,
chỉ thị của Đảng về xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tập
trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội; phù hợp với
yêu cầu, nội dung của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.
Trong giai đoạn mới, nhiệm vụ
xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,
phải tập trung giáo dục, rèn luyện bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin
tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu;
nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất
sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên
trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết
lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ
đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ
phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm
nguy. Nói và làm đúng nghị quyết; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao
đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ
vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ
Hồ”, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững
mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc.
Sưu tầm
Nâng cao nhận thức trước âm mưu lôi kéo thanh niên trốn tránh thực hiện Nghĩa vụ quân sự
Một mùa xuân mới bắt đầu cũng là thời điểm
các địa phương trên cả nước đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị tổ chức
lễ giao, nhận quân năm 2024. Lợi dụng vấn đề này, trên các trang mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân
đối lập về ý thức hệ móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, những đối
tượng bất mãn cố tình cắt ghép, ngụy tạo những hình ảnh, clip xuyên tạc, bôi
nhọ việc tham gia nghĩa vụ quân sự đăng tải trên các trang mạng xã hội, nhất là
facebook và blog.
Đặc
biệt chúng còn đưa ra những cách để các thanh niên trốn tránh thực hiện nghĩa
vụ quân sự. Thực chất, đây là âm mưu vô cùng nham hiểm, thâm độc nhằm bôi nhọ
bản chất, truyền thống, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo dư luận xã hội gây tâm lý
hoang mang, lo sợ. Từ đó, thoái thác về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với
Tổ quốc.
Quan
sát trên các trang mạng xã hội, rất dễ nhìn thấy các bài viết, status đăng các
dòng trạng thái của thanh niên sắp thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2024. Vì vậy,
các phần tử cơ hội chính trị với ý đồ xấu tiến hành bình luận, comment lôi kéo,
dụ dỗ thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự gây tâm lý hoang mang, lo sợ.
Nguyên nhân dẫn đến tâm lý “sợ”
và trốn tránh nghĩa vụ quân sự xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, điển hình như:
Tâm lý nghe những người khác nói, bình luận rằng trong môi trường quân ngũ là
một môi trường khắc nghiệt, bản thân không thể thích nghi. Thời gian tham gia
quân ngũ là 2 năm, một số người sợ rằng sau khi xuất ngũ thì sẽ không thể tiếp
tục lại được công việc hiện tại, tâm lý ngại học tập do một thời gian dài sẽ
quên đi kiến thức. Do một phần được gia đình nuông chiều, che chở nên sợ “chịu
khổ” khi bước vào môi trường quân ngũ kỷ luật trong 2 năm. Sự tác động của các
mặt tiêu cực xã hội cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều thanh niên không còn
khát khao cống hiến cho Tổ quốc thay vào đó là tư tưởng thực dụng, lựa chọn
những cái có lợi cho bản thân mình.
Theo Luật Nghĩa vụ quân sự
(NVQS) năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 quy định: “Nghĩa vụ quân sự là
nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội Nhân dân”; “Công
dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành
phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú
phải thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Luật cũng chỉ rõ, hành vi trốn tránh, chống
đối, cản trở, gian dối trong khám sức khỏe, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm
trái quy định về nghĩa vụ quân sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Do đó, mọi thanh niên cần nhận
thức rõ việc tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm, nghĩa vụ
thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam vì bảo vệ Tổ quốc chính là bảo vệ gia
đình của chúng ta. Một số chính sách, ưu đãi khi tham gia thực hiện NVQS mà
thanh niên cần nắm chắc như: Khi tham gia NVQS ngoài được cộng điểm khi thi
tuyển sinh vào các trường đại học, học viện, hỗ trợ đào tạo học nghề, tạo công
ăn việc làm… Khi xuất ngũ được hưởng trợ cấp (4 tháng); trợ cấp việc làm (6 tháng);
trợ cấp bảo hiểm (4 tháng); thanh toán nghỉ phép; quà tết; phụ cấp; thẻ học
nghề giúp thanh niên lập thân, lập nghiệp.
Ngoài ra, thanh niên cần nắm
chắc các trường hợp tạm hoãn gọi nhập ngũ để tránh vi phạm pháp luật. Theo Điều
41 Luật Nghĩa vụ quân sự và Thông tư 148/2018/TT-BQP quy định một số trường hợp
tạm hoãn gọi nhập ngũ, cụ thể là:
a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại
ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.
b) Là lao động duy nhất phải
trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi
lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn,
thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
(sau đây gọi chung là cấp xã) xác nhận.
c) Con của bệnh binh, người
nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.
d) Người thuộc diện di dân,
giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển
kinh tế – xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định.
e) Cán bộ, công chức, viên
chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có
điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
g) Đang học tại cơ sở giáo dục
phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục
đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong
thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.
Mỗi
thanh niên cần nâng cao nhận thức, sức đề kháng trước các quan điểm xuyên tạc,
kích động của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng. Xây dựng
niềm tin, ý chí quyết tâm thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm, nghĩa vụ
thiêng liêng của công dân, nối tiếp truyền thống của các thế hệ cha anh đi
trước, xứng đáng với niềm tin của Đảng và Nhân dân, ra sức tu dưỡng, rèn luyện
phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và đó cũng là minh chứng quan trọng đập tan
mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, thù
địch.
Sưu tầm
Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự
Đã thành thông lệ, hàng năm, sau khi vui Tết, đón xuân, thanh niên trên
cả nước hăng hái nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc. Âm vang của “Ngày hội tòng quân” vẫn
còn trong mỗi người dân. Tuy nhiên trên các trang mạng xã hội, một số tổ chức,
cá nhân thù địch móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, đối tượng bất mãn
cố tình cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip xuyên tạc, việc tham gia
nghĩa vụ quân sự của thanh niên.
Với chiêu bài “dân chủ, nhân
quyền” để bàn về việc nước, các thế lực thù địch cho ra những bài viết luận bàn
về chính sách của các nước trên thế giới quan tâm chăm lo đào tạo cho thanh
niên lập nghiệp, làm ăn phát triển kinh tế còn Việt Nam thanh niên phải tham
gia nghĩa vụ quân sự. Nguy hiểm hơn, lợi dụng mạng xã hội, chúng đăng tải những
hình ảnh, video được cắt ghép, dàn dựng để bóp méo sự thật, xuyên tạc về đạo
đức, tác phong và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, nhằm kích động
một số người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết chia sẻ trên mạng xã hội, gây
hoang mang cho thanh niên và gia đình có con em nhập ngũ.
Mục đích của chúng là nhằm bôi
nhọ hình ảnh, bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội, gây ngờ vực trong
Nhân dân. Từ đó, tạo luồng tư tưởng xấu khiến cho thanh niên trong độ tuổi nhập
ngũ “tự diễn biến”, buông lỏng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình với Tổ quốc.
Thực tiễn lịch sử cho thấy,
dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc, đó
chính là truyền thống quý báu của tổ tiên ta. Ðảng ta đã vận dụng, phát triển
thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với
lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến trong
lịch sử Việt Nam đã có chính sách “ngụ binh ư nông”. Đó là sự kết hợp nhiệm vụ
duy trì lực lượng quốc phòng với sản xuất, sẵn sàng chuyển hóa lực lượng quân
sự từ sản xuất sang chiến đấu khi cần thiết và ngược lại, chuyển lực lượng
chiến đấu về sản xuất trong thời bình.
Bảo vệ Tổ quốc không chỉ chiến
đấu khi có kẻ thù xâm lược mà phải chuẩn bị lực lượng, tổ chức phòng thủ, phòng
ngừa từ trước, từ sớm, từ xa; chủ động chuẩn bị về mọi mặt, bao gồm chính trị,
kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... ngay từ thời bình.
Thực hiện nghĩa vụ quân sự
không chỉ đơn thuần là chấp hành pháp luật của Nhà nước, mà còn là nghĩa vụ
thiêng liêng của công dân đối với Tổ quốc, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc ta.
Biết bao thế hệ ông cha đã ngã xuống cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh
phúc của Nhân dân. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tinh thần
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, ý chí
“xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” còn vọng lại, hàng triệu thanh niên Việt Nam
xếp bút xung phong lên đường chiến đấu, trở thành những chiến sĩ kiên trung,
bất khuất.
Trong thời bình, hình ảnh cán
bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam sát cánh cùng Nhân dân vượt qua thiên tai, dịch bệnh
để bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân; đồng hành cùng người dân ở những
nơi khó khăn trên biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa phát triển kinh tế,
chung tay xây dựng nông thôn mới, chung tay vì người nghèo không để ai bị bỏ
lại phía sau, thể hiện rõ mệnh lệnh trái tim người chiến sĩ.
Thanh niên lên đường làm nghĩa
vụ quân sự không chỉ là nghĩa vụ, trách nhiệm, mà trên hết đó còn là niềm tự
hào của tuổi trẻ Việt Nam góp phần bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ
gìn bản sắc, truyền thống dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Sưu tầm
Việt Nam tích cực thực hiện Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
Ngày
19/12/2023, ngành Ngoại giao tổ chức Hội nghị lần thứ 32. Tới dự và phát biểu
tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Có thể nói, chưa bao giờ
vị thế, uy tín và hình ảnh một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng
động, là bạn bè thuỷ chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích
cực và có trách nhiệm lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện
nay”.
Nhận định của Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng chính là sự ghi nhận kết quả đạt được sau một quá trình
bước ra hội nhập với sân chơi thế giới của Việt Nam. Về mặt đối ngoại, với tư
cách là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã cố gắng hoàn thành trách
nhiệm và nghĩa vụ của nước thành viên. Hiện nay, Liên hợp quốc có 24 công ước
quốc tế liên quan đến quyền con người, trong đó có 9 công ước được coi là quan
trọng và cơ bản nhất.
Việt Nam đã tham gia phê
chuẩn và cam kết thực hiện 7/9 công ước có liên quan đến quyền con người, gồm:
Công ước về quyền dân sự và chính trị, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và
văn hoá, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xoá
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em,
Công ước về quyền của người khuyết tật, Công ước chống tra tấn và các hình thức
đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người.
Trong Chương trình bình
luận “Việt Nam bảo vệ quyền con người” (Thứ bảy ngày 10/12/2022, trên kênh VTV1
- Đài Truyền hình Việt Nam), PGS,TS Nguyễn Thị Thanh Hải - Phó Viện trưởng Viện
Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhận xét, nếu so sánh
cuối những năm 1980, thời kỳ bắt đầu công cuộc Đổi mới với hiện nay thì có thể
thấy rất rõ sự phát triển trong cách tiếp cận, quan điểm của Việt Nam về quyền
con người.
Nếu những năm đầu Đổi
mới, quyền con người là vấn đề “nhạy cảm”, thậm chí là cấm kỵ thì hiện nay đã
được thừa nhận rộng rãi trong quan điểm, trong hệ thống văn bản của Đảng, Nhà
nước ta, là nội dung giảng dạy trong trường học. Từ chỗ quyền con người được
tiếp cận thụ động, thậm chí mang tính chất đối phó với những phê phán, chỉ
trích từ bên ngoài thì nay đã được coi là mục tiêu cốt lõi của quá trình phát
triển của Việt Nam.
PGS,TS Nguyễn Thị Thanh
Hải còn cho rằng, sự thừa nhận và đảm bảo quyền con người là một chỉ báo đánh
giá sự phát triển văn minh, tiến bộ của mỗi xã hội, là cơ sở để Nhà nước ghi
nhận và đảm bảo quyền cho người dân.
Trên quan điểm như vậy,
trong các công ước quốc tế Việt Nam đã phê chuẩn và tham gia có một công ước
quan trọng, trực tiếp liên quan đến quan hệ giữa các dân tộc, đó là Công ước
quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc.
Ra đời từ năm 1965, Công
ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) lên án nạn phân biệt chủng
tộc và xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp
cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân
biệt dựa trên chủng tộc, màu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.
Việt Nam tham gia Công ước CERD
từ năm 1982 và từ đó đến nay, luôn là một thành viên có trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế, đã và đang thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD;
đồng thời thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm thể hiện sự tôn trọng,
bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số.
Ông Y Thông - Thứ
trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc khẳng định, tham gia Công ước quốc tế về
xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Việt Nam có cơ hội giúp bạn bè quốc
tế có cái nhìn đúng đắn, những đánh giá, nhận định khách quan về chủ trương,
đường lối công tác dân tộc và những thành tựu đạt được trong thực hiện chính
sách dân tộc, đồng thời đón nhận những tri thức quốc tế để xem xét vận dụng vào
quá trình hoạch định chính sách dân tộc phù hợp với thực tiễn của đất nước.
Song, tham gia Công ước
cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ phù hợp
với cơ chế Công ước như: Nội luật hoá các quy định, nguyên tắc về quyền của
người dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, truyền thống
lịch sử, văn hoá; đảm bảo tiến bộ thực sự về nhân quyền cho mọi tầng lớp nhân dân,
không phân biệt chủng tộc, dân tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, chính kiến,
nguồn gốc xuất thân…; định kỳ thực hiện Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện
Công ước; thực hiện các khuyến nghị, trả lời kháng thư về quyền con người;
triển khai các hoạt động giáo dục, thông tin về quyền con người và một số thủ
tục khác theo yêu cầu của Uỷ ban Công ước CERD.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và
hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, vấn đề đảm bảo quyền con người của các dân
tộc thiểu số ở Việt Nam luôn không tách rời các hoạt động giám sát của các cơ
quan của Liên hợp quốc, của các cơ quan điều ước quốc tế về quyền con người.
Tham gia Công ước CERD,
Việt Nam chấp nhận sự giám sát quốc tế về quyền của người dân tộc thiểu số
thông qua các hình thức: Xem xét báo cáo quốc gia theo cơ chế đánh giá định kỳ;
Thực hiện các thủ tục đặc biệt nhằm điều tra, đánh giá các vấn đề, tình huống
về quyền con người cụ thể; Đưa ra các bình luận, khuyến nghị đối với Việt Nam
liên quan trực tiếp đến các quyền của người dân tộc thiểu số…
Ngoài cơ chế giám sát
của các cơ quan của Liên hợp quốc, của các cơ quan điều ước quốc tế về quyền
con người, ở cấp độ song phương, Việt Nam hiện có cơ chế Đối thoại nhân quyền
chính thức với 5 đối tác là: Mỹ, EU, Thuỵ Sĩ, Na Uy và Australia. Việt Nam cũng
có nhiều kênh trao đổi không chính thức về các vấn đề quyền con người, tham gia
nhiều diễn đàn liên quan đến các khía cạnh khác nhau của quyền con người.
Ở đây, cũng cần nói thêm
rằng trong lĩnh vực nhân quyền “vẫn đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa lực lượng
tiến bộ nhằm phát huy những giá trị cốt lõi thuộc về con người với các thế lực
lợi dụng nhân quyền để thực hiện ý đồ chính trị”.
Nhìn chung, trong các
hoạt động hợp tác song phương cũng như tại các diễn đàn đa phương về quyền con
người, Việt Nam luôn tích cực, chủ động và có những đóng góp thiết thực nhằm
thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên
tinh thần đối thoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
Đấu tranh trên lĩnh vực
nhân quyền nói chung, quyền của người dân tộc thiểu số nói riêng có ý nghĩa rất
quan trọng, nhất là khi một số lực lượng chính trị, xã hội quốc tế sử dụng nhân
quyền như một công cụ để thực hiện các cuộc “cách mạng màu” nhằm lật đổ các chế
độ xã hội mà họ coi là “không phù hợp” với quan điểm của họ, với các giá trị
nhân quyền phổ biến thì cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này đã mang những nội dung
và tính chất mới đối với nhiều quốc gia - dân tộc nhằm bảo vệ nguyên tắc bình
đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của các thành viên Liên
hợp quốc.
Đấu tranh trên lĩnh vực
quyền con người ở Việt Nam có nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ các quan điểm của
Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người, bảo vệ các thành quả về quyền con
người mà nhân dân Việt Nam nói chung, cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam
nói riêng đã đạt được trong hơn 9 thập niên qua; đồng thời kiên quyết chống lại
các luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo của một số thế lực thù địch nhằm lợi
dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, tạo sự bất ổn về chính trị, xã hội ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm suy giảm lòng tin của đồng bào
vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước…
Thực hiện Công ước CERD,
Chính phủ Việt Nam đã giao Uỷ ban Dân tộc chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ
Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan xây dựng báo cáo quốc gia và tổ chức bảo
vệ tại Ủy ban Công ước CERD, hướng tới mục tiêu đóng góp vào việc ngăn chặn và
chống lại sự phân biệt chủng tộc.
Việt Nam đã 4 lần bảo vệ
thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000
và 2012. Tại khóa họp lần thứ 111 (ngày 29, 30/11/2023), Việt Nam trình bày báo
cáo quốc gia định kỳ từ lần thứ 5 theo hướng dẫn của Ủy ban Công ước CERD.
Báo cáo tập trung thể
hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013 - 2019, cụ thể là các
nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền
của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; Định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh
giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt
Nam; Vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân
tộc trong việc xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Kết quả thực hiện các
cam kết cấm và xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo
quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; Các
biện pháp đảm bảo cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ
hành động phân biệt chủng tộc nào.
Ngoài việc bảo vệ báo
cáo quốc gia trước Uỷ ban Công ước CERD, Việt Nam còn tham gia tích cực các
phiên đối thoại với các Ủy ban Công ước CERD và nghiêm túc xem xét các khuyến
nghị, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch triển khai tăng cường thực thi các Công ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên./.
Sưu tầm