Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KIÊN ĐỊNH CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG - KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA!
"ĐỀ CAO ĐỂ HẠ BỆ"-THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM
Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ chính trị ở nước ta, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.
Một trong những luận điệu tinh vi mà chúng thường sử dụng là ra sức đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng lại đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm phá hủy gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, chống lại luận điệu xuyên tạc này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.
Sự tinh vi của những giọng điệu phản khoa học
Giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin tồn tại mối quan hệ biện chứng. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn lý luận cơ bản hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và đều là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điệu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin đều là phản khoa học, phản lịch sử.
Trước hết, họ phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh với lý do Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng. Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được thừa nhận bởi các học giả trong và ngoài nước, những kẻ xuyên tạc vẫn rêu rao rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Việc phủ nhận sự tồn tại và giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh không xuất phát từ lý do khoa học mà từ động cơ chính trị đen tối là làm mất đi sức mạnh nền tảng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các đối tượng chống phá còn có một giọng điệu hoàn toàn khác là ra sức ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Để hạ bệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, họ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau. Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ 19, cùng lắm là đầu thế kỷ 20, chỉ thích hợp với văn minh công nghiệp; còn bây giờ nhân loại đã ở thế kỷ 21, trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, sứ mệnh của giai cấp công nhân đã khác đi, vai trò của trí thức “lên ngôi” nên Chủ nghĩa Mác đã trở nên lỗi thời và bị lịch sử vượt qua. Đây cũng là cách lập luận rất hàm hồ bởi cho dù thời đại mà chúng ta đang sống khác rất nhiều so với thời đại mà Mác, Ăngghen, Lênin đã sống nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khám phá ra. Với đặc tính mở, Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa, học thuyết chính trị nào có thể thay thế.
![]() |
| Ảnh minh họa / tuyengiao.vn |
“Yếu tố địa lý” cũng là lý do để đối tượng chống phá ra sức phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là học thuyết “ngoại lai”, “nhập ngoại” từ phương Tây nên không phù hợp với Việt Nam. Những đối tượng đưa ra luận điệu trên đã cố tình không hiểu sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và tầm nhìn thời đại của lý luận Mác-Lênin. Mặc dù Chủ nghĩa Mác-Lênin có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ phương Tây nhưng đúng như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”(1), tức là ở phương Đông, nhất là khi nó đã được bổ sung bằng “dân tộc học phương Đông” như Nguyễn Ái Quốc từng nhấn mạnh và nỗ lực thực hiện.
Lý do thứ ba để họ phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, rằng sự sụp đổ đã chứng tỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin sai lầm từ bản chất chứ không phải là do nhận thức sai, vận dụng sai. Họ cố tình không hiểu rằng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa nhiều khuyết tật và chậm được sửa chữa chứ không phải sự sụp đổ của một học thuyết khoa học. Tính bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin so với các học thuyết khác nằm ở chỗ nó dựa trên một thế giới quan khoa học là phép biện chứng duy vật. Lý do thứ tư họ đưa ra để đòi hủy bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì Chủ nghĩa Mác chủ trương đấu tranh giai cấp, Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản; do đó, không có gì chung giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ còn cho rằng, trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tồn tại “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin” nhưng thực chất đó chỉ là sự đấu tranh giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với các quan điểm giáo điều, cứng nhắc trong vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin mà thôi.
Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện như vậy, họ đi đến kết luận: Lúc này chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và vì thế, cần loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.
Kiên định, kiên quyết bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Luận điệu “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh, đem tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn đối lập với tình cảm, tâm nguyện của bản thân Hồ Chí Minh.
Sinh thời, từ lúc trở thành người cộng sản (năm 1920) cho đến khi từ giã cõi đời, Hồ Chí Minh luôn gắn bó chặt chẽ và hết lời đề cao Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1927, Người đã khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin. Câu nói của Hồ Chí Minh, rằng “tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu Chủ nghĩa Các Mác”(2) đã nói lên sự lựa chọn kiên quyết của Người. Để nói về vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin với cách mạng Việt Nam, Người còn khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản".
Sự gắn bó không thể tách rời của Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện qua những tình tiết rất sinh động và cảm động. Khi viết Di chúc gửi lại, Người đã gọi việc từ giã cõi đời của mình là “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin” bởi giữa các bậc vĩ nhân ấy là sự đồng điệu về khát vọng giải phóng con người và “tình hữu ái vô sản” thiêng liêng. Trong lần trả lời phỏng vấn cuối cùng vào ngày 15-7-1969, Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin".
Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Luận cương” của Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh đều gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng trung thành trên tinh thần biện chứng. Do đó, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin là một sự xuyên tạc lịch sử mà Hồ Chí Minh là một nhân chứng sống động nhất.
Phải khẳng định rằng: Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin thực chất là một âm mưu đen tối, thủ đoạn tinh vi. Sự nguy hiểm của nó nằm ở tính ngụy biện, dễ làm người ta ngộ nhận, tin theo bởi nó “đánh vào” tình yêu lãnh tụ và tinh thần tự tôn dân tộc. Tuy nhiên, đây thực chất không phải là sự ca ngợi, không phải là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng giá trị của nó mà chỉ là thủ pháp “nâng lên để hạ xuống”, là tìm cách cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi ngọn nguồn lý luận chủ yếu của nó để qua đó làm suy yếu và tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Sâu xa hơn, những kẻ chống phá không chỉ phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin hay tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn muốn phủ nhận toàn bộ cương lĩnh, đường lối của Đảng được hoạch định trên nền tảng tư tưởng đó để đi đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ đang hiện hành, xóa bỏ định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Để chống lại giọng điệu xuyên tạc, xảo trá này, trước hết cần giáo dục nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin và động cơ đen tối của lực lượng chống phá khi phủ nhận mối quan hệ này. Phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấu hiểu rằng, quan hệ giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo so với Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng nó lại thống nhất với Mác-Lênin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con người cùng khổ.
Cùng với đó, cần tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên thấu hiểu nội dung, bản chất, giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện trạng “nhạt đảng, phai đoàn, khô lý tưởng” và căn bệnh lười học lý luận chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên chính là “mảnh đất màu mỡ” cho kẻ thù đẩy mạnh công tác phản tuyên truyền. Vì thế, làm tốt công tác giáo dục, tích cực bồi đắp tri thức khoa học cho cán bộ và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng, chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc.
Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta phải kiên định và tăng cường hơn nữa sự vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bởi thực tiễn là nơi kiểm nghiệm mọi chân lý một cách xác thực nhất. Ngược lại, mỗi hành vi sai trái của cá nhân và tổ chức đảng đều là sự tiếp tay cho các thế lực thù địch trong việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn chặt với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.
Lịch sử phát triển của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn song hành với cuộc đấu tranh bảo vệ chân giá trị của học thuyết và chống lại những quan điểm sai trái thù địch. Vì thế, đấu tranh chống lại quan điểm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin là việc làm mang tính quy luật nhằm gia tăng sức mạnh của Đảng và làm thất bại mưu đồ xuyên tạc, chống phá của các lực lượng thù địch. Bằng sự đúng đắn trong nhận thức cũng như trong hành động, mỗi cá nhân, tổ chức trong hệ thống chính trị phải có trách nhiệm tham gia vào việc khẳng định chân lý: Thế giới còn đổi thay nhưng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi.
Đấu tranh đẩy lùi thói Xu nịnh
Thông thường ai cũng muốn được khen ngợi. Lời khen thực hiện đúng lúc, đúng chỗ, đúng người, đúng mực, kịp thời sẽ có tác dụng khích lệ, động viên rất lớn. Tuy nhiên, nếu khen một cách dễ dãi, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành thì đó lại là a dua, nịnh bợ...
Xu nịnh là hành vi có tính toán của những kẻ kém tài, kém đức, sống thiếu trung thực, giả tạo, chủ yếu dùng xảo ngôn, miệng lưỡi “đường mật” để ca tụng, tâng bốc lấy lòng người khác nhằm mục đích vụ lợi cá nhân. Thói xu nịnh xuất hiện từ xa xưa và tồn tại cho đến ngày nay một phần là do không ít người luôn thích nghe những "lời có cánh” thay vì những lời thẳng thắn, thật lòng.
Thói xu nịnh biến hóa khôn lường với muôn hình vạn trạng. Nó không đơn thuần là cấp dưới nịnh bợ cấp trên mà nhiều khi cấp trên cũng nịnh cấp dưới... Hậu quả của việc này khiến những người được nịnh tự mãn, ảo tưởng, đồng thời những cán bộ, đảng viên chân chính sinh ra chán nản, giảm ý chí phấn đấu, không thiết tha cống hiến. Cơ quan, đơn vị có kẻ nịnh bợ thường dẫn đến cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, mất đoàn kết hoặc đoàn kết xuôi chiều, từ đó năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng giảm sút, chất lượng thực hiện nhiệm vụ thấp.
Theo Thượng tá Trần Kim Trọng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3): Hiện nay, đội ngũ cán bộ các cấp trong đơn vị đều được đào tạo cơ bản tại các trường sĩ quan, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng nên hiện tượng “nịnh hót” xuất hiện không nhiều song vẫn len lỏi đâu đó trong cuộc sống, sinh hoạt, công tác hằng ngày. Tuy biểu hiện chủ yếu chỉ dừng lại ở việc dùng những “lời có cánh” để lấy lòng cấp trên, đồng đội, nhưng nếu không được chấn chỉnh sẽ tạo ra dư luận xấu, ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Theo Trung tá Vũ Xuân Lợi, Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 405 (Quân khu 3): Các đợt sinh hoạt chính trị, phong trào thi đua, cuộc vận động, nhất là việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai rộng khắp, liên tục trong thời gian dài tại các cơ quan, đơn vị đã và đang tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ, đảng viên luyện rèn bản lĩnh, bồi đắp lý tưởng, tu dưỡng phẩm chất đạo đức. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị chú trọng mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở, đề cao tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt, học tập đã giúp cán bộ, chiến sĩ có điều kiện được bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình một cách thẳng thắn, cởi mở; giúp cho mối quan hệ cán-binh, cấp trên với cấp dưới ngày càng gắn bó, trong sáng trên tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội. Điều này đã góp phần tích cực vào ngăn chặn thói xu nịnh và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị.
Để có thể xóa bỏ thói xu nịnh, theo Đại tá Nguyễn Đình Khiêm, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Sư đoàn 395 (Quân khu 3): Quan trọng nhất là phải giáo dục, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, giàu lòng tự trọng. Bởi khi cán bộ, đảng viên có phẩm chất, lòng tự trọng sẽ luôn biết giữ gìn danh dự của bản thân, trung thực, giản dị, tỉnh táo, sáng suốt và không bị "mê hoặc" trước những lời lẽ vuốt ve, ca ngợi thái quá.
Đẩy lùi thói xu nịnh không phải vấn đề đơn giản, không phải là việc làm một sớm một chiều nên cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn thể hiện thái độ thẳng thắn, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với biểu hiện tiêu cực này. Trước hết, cần thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng động cơ làm việc đúng đắn, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức trong sáng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người chủ trì trong nhận xét, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ bảo đảm dân chủ, khách quan, đúng nguyên tắc và tuân thủ đúng quy trình; tạo môi trường làm việc lành mạnh, bình đẳng, công bằng để cán bộ, đảng viên cùng nhau nỗ lực rèn luyện, phấn đấu.
Phải chống Xu nịnh từ đâu?
Tôi cho rằng, thói xu nịnh xuất phát từ lợi ích, nảy sinh từ sự thiếu dân chủ, cấp dưới sợ cấp trên, người nịnh bợ được nâng đỡ, còn người thẳng thắn đóng góp ý kiến thì dễ bị mất lòng nếu cấp trên “tâm không trong, đức không sáng”. Bản chất của xu nịnh là dối trá, động cơ không trong sáng nên những kẻ xu nịnh sẽ không bao giờ trung thực, luôn “dối trên, gạt dưới”, “nịnh trên, nạt dưới”, gây mất đoàn kết nội bộ, mất lòng tin của mọi người. Đặc biệt, khi những kẻ xu nịnh nắm quyền lực sẽ chỉ lựa chọn, sử dụng những kẻ xu nịnh khác, bởi họ đồng đẳng và sẽ dẫn đến “lợi ích nhóm”, dễ làm hư hỏng bộ máy công quyền.
Thực tế cho thấy, do tác động của mặt trái cơ chế thị trường, hiện nay nịnh bợ đang là "căn bệnh" nan y, biến tướng dưới nhiều nội dung, hình thức. Không chỉ cấp dưới nịnh cấp trên, nhân viên nịnh thủ trưởng... mà còn có hiện tượng trên nịnh dưới, nhất là vào các dịp bỏ phiếu tín nhiệm, đánh giá cán bộ, chuẩn bị đại hội, bầu nhân sự ở các cấp, các ngành... Không chỉ cấp dưới trực tiếp nịnh thủ trưởng cấp trên mà còn nịnh gián tiếp qua vợ, con thủ trưởng. Không chỉ nịnh bằng lời lẽ ngon ngọt mà còn nịnh qua nhiều kênh, phương tiện, vật chất, cơ chế, chính sách.
Giải pháp quan trọng để đẩy lùi thói xu nịnh là cách hành xử đúng đắn của người lãnh đạo, quản lý, không chỉ ở điều hành cơ quan, đơn vị mà đặc biệt trong công tác cán bộ, phải có con mắt tinh đời để nhìn rõ “người ngay, kẻ gian”, tuyệt đối tránh “sa bẫy” của kẻ xu nịnh. Nếu người lãnh đạo, quản lý có tâm trong sáng, có tinh thần tập thể, coi trọng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị, dùng “tai mắt” của quần chúng nhân dân, dư luận trong cơ quan, đơn vị để xem xét, đánh giá con người trong công tác nhân sự thì thói xu nịnh sẽ không còn đất sống. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải là một tấm gương tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, thấy được thói xu nịnh là “căn bệnh” để chủ động phòng, chống. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức biết coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, biết đặt lợi ích tập thể lên trên hết thì sẽ đẩy lùi được thói xu nịnh, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ.
TÁC HẠI CỦA THÓI XU NỊNH
Thói xu nịnh tưởng chừng vô hại, nghe vui tai, nhưng thực chất lại nguy hại khôn lường vì nó dẫn tới sự mất tỉnh táo, bị nhầm lẫn bởi giá trị ảo, từ đó đưa ra những lựa chọn sai, những quyết định sai.
Một cơ quan, tổ chức bị lũng đoạn bởi thói xu nịnh sẽ suy thoái, đánh mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, không thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
Kể từ khi xuất hiện trên trái đất, để tồn tại và phát triển, con người luôn phải nhận thức đúng về thế giới xung quanh với khát khao tìm ra chân lý. Bởi chỉ khi nhận thức đúng, con người mới có thể ứng xử, tác động đúng đắn, hiệu quả nhất vào thế giới xung quanh. Thế nhưng, con đường tìm ra chân lý, sự thật không dễ. Với bản tính ưa nghe nói ngọt, thích nghe những lời đường mật, không thích lời nói trái tai, con người dễ bị dẫn dụ, huyễn hoặc bởi các giá trị ảo, ảo tưởng về bản thân, từ đó có những cách ứng xử sai lầm. Tại cơ quan công quyền, cái nhìn của nhà lãnh đạo nhiều khi bị che phủ bởi ngôn từ và hành vi xảo quyệt của những kẻ xu nịnh, dối trá.
Lịch sử thế giới ghi nhận tên nịnh thần Hòa Thân thời nhà Thanh ở Trung Quốc đã tham nhũng, lũng đoạn cả quốc gia. Trong lịch sử dân tộc ta, nhiều bậc danh nhân lớn như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn... đều khuyên can vua, chúa nghiêm trị bọn xu nịnh. Bởi thực tế chỉ ra, nịnh thần chính là gian thần. Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án gay gắt bệnh “xu nịnh, a dua”, “bốc thơm” cấp trên. Người cảnh báo: Mắc căn bệnh đó sẽ làm hư hỏng cán bộ, ảnh hưởng đến sự nghiệp chung. Từ đó, Người dạy cán bộ, đảng viên rằng: "Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn nịnh bợ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt".
![]() |
| Tranh minh họa / tuyengiao.vn |
Sự nguy hại và hậu quả của thói xu nịnh là đáng sợ, nhưng chúng ta chưa nhận diện đầy đủ, đấu tranh chống lại một cách thực sự quyết liệt. Vấn đề đặt ra là biểu hiện này không vi phạm pháp luật, chưa có chế tài xử lý mang tính định lượng, nhưng để tồn tại dai dẳng trong tổ chức là rất nguy hiểm.
Ngày 13-3, tại Hà Nội, chủ trì phiên họp của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng tiểu ban đã nhấn mạnh: Không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. “Phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã phạm sai lầm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên, nạt dưới, bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là tạo điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn”, Tổng Bí thư nêu rõ.
Thực tế chỉ ra rằng, lãnh đạo cơ quan mà ưa xu nịnh thì dần dần sẽ không biết được thực chất công việc, thực chất cơ quan, thực chất năng lực cũng như đạo đức của cán bộ dưới quyền và ngay cả thực chất chính bản thân mình. Một cơ quan, tổ chức để thói xu nịnh lộng hành, lấn lướt thì sẽ không còn những ý kiến ngay thẳng, không còn những tham mưu đúng đắn, mà tất cả chỉ nhất nhất lắng nghe lãnh đạo, làm theo ý lãnh đạo, bất chấp điều đó là hợp lý hay không hợp lý, đúng hay sai. Đó cũng chính là biểu hiện “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”.
Nịnh bợ là một tính cách và thủ đoạn xấu, là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội. Tuy nịnh bợ không được định danh như một hành vi phạm pháp, không có chế tài xử lý theo pháp luật nhưng nịnh bợ thường đi kèm với các hành vi vi phạm pháp luật khác như hối lộ, tham nhũng.
Vì có kẻ ưa nịnh nên mới có kẻ xu nịnh. Kẻ xu nịnh dễ được ưu ái, trọng dụng, cất nhắc, thăng quan tiến chức, lên lương, khen thưởng. Kẻ xu nịnh và kẻ ưa nịnh dễ liên kết với nhau thành lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực. Kẻ xu nịnh bất chấp thủ đoạn, miễn là đạt được mục đích, thường là chi nhiều tiền để hối lộ, không tiếc lời khen ngợi, "bốc thơm" kẻ ưa nịnh.
Có thể dễ dàng nhận ra những biểu hiện của kẻ xu nịnh. Trước tiên là thái độ xun xoe, chiều lòng cấp trên bằng mọi giá, coi mọi lời lãnh đạo nói ra đều là chân lý, ngợi ca lãnh đạo trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, cả trước mặt và sau lưng để cấp trên nghĩ rằng: Cậu ấy hay cô ấy là người tốt, là người tâm phúc, thẳng thắn, trước sau như một.
Thậm chí mọi thói quen, sở thích của lãnh đạo cũng được kẻ xu nịnh nghiên cứu rất kỹ, chăm sóc chu đáo, ngợi ca: Nào là đánh tennis “dũng mãnh”, đánh golf “thần sầu”, nào là câu cá “sát thủ”, nào là chơi đồ cổ “tinh tế”... rồi cung phụng nào là rượu ngon, xì gà xịn, tiệc tùng liên miên... Mọi việc của gia đình lãnh đạo sẽ được săn sóc chu đáo, tận tình từ giỗ, tết đến việc hiếu hỷ, ốm đau, những ngày kỷ niệm... Đặc biệt, những người thân của lãnh đạo sẽ được chiều chuộng hết mức để qua đó, kẻ xu nịnh lấy lòng sếp và người thân.
Kẻ xu nịnh và kẻ ưa nịnh đều tự hủy hoại nhân cách của mình, làm băng hoại đạo đức xã hội, làm hại người tốt, gây mất đoàn kết trong nội bộ cơ quan, tổ chức, gây ra tệ tham nhũng, tiêu cực, chạy chọt... Thủ trưởng ưa xu nịnh, lại chuyên quyền, công tác phê bình và tự phê bình kém hiệu quả là một trong những lý do dẫn tới sự tê liệt của các tổ chức đảng. Đến một ngày nào đó, chính lãnh đạo ưa nịnh sẽ "há miệng mắc quai" khi ngập sâu vào quan hệ tiền bạc và đặc biệt là một số quan hệ thầm kín, bất chính với kẻ xu nịnh, đành "đâm lao phải theo lao", chịu sự điều khiển của kẻ đã nịnh mình và thế lực xấu.
Khi kẻ xu nịnh được cất nhắc sẽ gây ra nhiều tác hại. Thứ nhất, vì thiếu tài, thiếu đức, kẻ xu nịnh tiến thân được chủ yếu bằng luồn lách, hối lộ nên khi đã lên chức thường sẽ tranh thủ kiếm chác, vơ vét, tham nhũng để bù lại chi phí đã “đầu tư” mà ít nghĩ đến lợi ích chung. Thứ hai, bản chất của xu nịnh là dối trá nên những kẻ xu nịnh không bao giờ trung thực, luôn "dối trên, gạt dưới", "nịnh trên, nạt dưới". Và như vậy sẽ làm hư hỏng bộ máy công quyền. Thứ ba, những kẻ xu nịnh khi nắm quyền lực sẽ chỉ lựa chọn những kẻ xu nịnh, hư hỏng khác, theo kiểu "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", hình thành nên nhóm lợi ích, làm cho môi trường công vụ tại cơ quan, tổ chức trở nên thiếu lành mạnh.
Do đó, nhận diện và có các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn thói xu nịnh trong cơ quan, tổ chức là vấn đề cấp thiết hiện nay. Để làm được điều đó cần phải quan tâm các nội dung: Thứ nhất, cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trong đó có tệ xu nịnh. Thứ hai, các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền và cơ quan, đơn vị làm công tác cán bộ phải kiên quyết đấu tranh chống tệ xu nịnh; không bố trí, đề bạt cán bộ xu nịnh và ưa nịnh. Tuy khó có thể xử lý hành vi nịnh bợ bằng quy định pháp luật nhưng có thể điều chỉnh bằng đạo đức công vụ và quy định của Đảng.
Thứ ba, đấu tranh chống tệ xu nịnh bằng việc thực hiện tốt công tác phê bình và tự phê bình, lấy dư luận xã hội rộng rãi lên án mạnh mẽ tệ nạn này. Tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức quần chúng, báo chí, văn học-nghệ thuật... cần có tiếng nói mạnh mẽ, trực diện trước những biểu hiện của tệ xu nịnh. Thứ tư, giải pháp quan trọng bậc nhất chính là cách hành xử đúng đắn của người lãnh đạo, quản lý. Đức độ và tài năng của người lãnh đạo không chỉ biểu hiện ở sự điều hành đơn vị, tổ chức cơ quan mà đặc biệt trong công tác cán bộ còn phải có con mắt tinh đời, nhìn rõ ngay-gian, phải nhanh chóng phát hiện ra những con sâu xu nịnh để phòng ngừa và loại bỏ chúng. Tuyệt đối tránh sa bẫy của kẻ xu nịnh. Và càng không bao giờ cất nhắc kẻ xu nịnh. Nhà lãnh đạo giỏi là người biết phát huy sức mạnh tập thể, coi trọng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, dùng tai mắt của quần chúng trong đơn vị, dư luận của nhân dân mà tham vấn, xem xét, đánh giá con người chứ không thể nhìn một chiều bằng cảm xúc cá nhân của mình trong công tác nhân sự.
Tóm lại, phải có giải pháp ngăn chặn để xu nịnh không thể trở thành một phong cách, một phương thức hữu hiệu đưa cán bộ có năng lực yếu, đạo đức kém tiến thân và là chất xúc tác cho tham nhũng, tiêu cực.
BÁC HỒ LÀ THẾ ĐẤY
Thời chống Mỹ. Một buổi trưa, Hồ Chủ tịch đang chuẩn bị nằm nghỉ thì cần vụ vào báo cáo Bác là có khách. Khách là một cụ già ở Hưng Yên. Cùng đi với cụ có một vị lãnh đạo tỉnh. Trên xe còn có một thùng cá khá nặng.


