Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KIÊN ĐỊNH CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG - KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA!

         Tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là một trong “bốn kiên định” thuộc quan điểm chỉ đạo phải quán triệt trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng qua gần 40 năm đổi mới đã giúp Đảng không ngừng nâng cao bản lĩnh, sức chiến đấu, đứng vững trước những biến động nhanh chóng của thời cuộc và đạt được những thành tựu quan trọng trong công tác xây dựng Đảng thời gian qua!

Trong hệ quan điểm chỉ đạo xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), cùng với tiếp tục khẳng định kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh  phải “kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng”(1).

Về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức, tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến sự rệu rã, giảm sút sức mạnh, thậm chí đứng trước nguy cơ tan rã của tổ chức. Cho đến trước Đại hội VII của Đảng (năm 1991), Đảng ta khẳng định trong Đảng có ba nguyên tắc: nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên tắc đoàn kết thống nhất. Đại hội VII của Đảng bổ sung hai nguyên tắc: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân và Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều lệ Đảng do Đại hội XI của Đảng thông qua khẳng định: “lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(2).

Trong công cuộc đổi mới gần 40 năm qua, để bảo đảm yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Đảng ta luôn kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng và đạt được những thành tựu quan trọng. Một là, giữ vững các nguyên tắc xây dựng Đảng ngay khi khởi đầu công cuộc đổi mới. Hai là, khẳng định tính đúng đắn và kiên quyết giữ vững các nguyên tắc xây dựng Đảng trong thời điểm đặc biệt: chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, đảng cộng sản và công nhân ở các nước này mất vị thế cầm quyền. Ba là, không chỉ giữ vững các nguyên tắc xây dựng Đảng đã được khẳng định, mà còn bổ sung các nguyên tắc mới cần thiết; đồng thời, không ngừng tổng kết thực tiễn, hoàn thiện các nguyên tắc xây dựng Đảng đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Bốn là, vừa kiên định, vừa không ngừng cụ thể hóa, hoàn thiện nội dung của từng nguyên tắc. Năm là, kiên quyết bảo vệ nguyên tắc, kịp thời đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Những kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng
Một là, gắn việc kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng với kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới.

Về bản chất, các nguyên tắc xây dựng Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam đều dựa chắc trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản và công tác xây dựng Đảng. Vì thế, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng đương nhiên gắn liền với kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xem đó như là một bộ phận hữu cơ của kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng nếu thoát ly những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản. Việc kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng có sự bổ sung, phát triển cũng chính là sự tuân thủ, nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tránh giáo điều, rập khuôn máy móc học thuyết Mác - Lê-nin.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở kiên định và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc xây dựng Đảng cốt để Đảng thực hiện tốt sứ mệnh lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và lãnh đạo đất nước giữ vững độc lập dân tộc, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, không ngừng phát triển, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ngày nay. Vì thế, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng phải gắn kết chặt chẽ với việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới. Sẽ là trống rỗng, không có sức sống, thậm chí mất định hướng, nếu việc duy trì các nguyên tắc xây dựng Đảng không giải quyết được các vấn đề đặt ra trong nội bộ Đảng và trong hoạt động lãnh đạo của Đảng ở từng thời kỳ cách mạng; không đặt trong việc thực hiện mục tiêu giải phóng, giành độc lập dân tộc và giành chính quyền trước đây, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN hiện nay. Ở đây, việc gắn kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng với kiên định đường lối đổi mới bao hàm sự kiên định các nguyên tắc trong công cuộc đổi mới đất nước đã được Đảng ta xác định; kiên định đường lối phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Hai là, kiên định nguyên tắc xây dựng Đảng bằng việc cụ thể hóa nguyên tắc trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận, quy chế, quy định, hướng dẫn của Đảng.

Các nguyên tắc xây dựng Đảng đều là những mệnh đề ngắn gọn, mang tính khái quát cao, trong khi hệ thống tổ chức của Đảng, thực tiễn công tác xây dựng Đảng và hoạt động của Đảng rất phong phú, đa dạng. Trên thực tế, không phải tất cả cán bộ, đảng viên đều có thể nhận thức đúng về các nguyên tắc; loại trừ những trường hợp cố tình vận dụng sai, vi phạm nguyên tắc vì mục đích cá nhân, “lợi ích nhóm”, có không ít trường hợp hiểu nguyên tắc chưa thật chuẩn xác, hoặc có các cách hiểu khác nhau. Cũng có nhiều tình huống thực tế mà các quy định của Đảng chưa bao quát hết, chưa cụ thể, hoặc bị lạc hậu... Do đó, để kiên định nguyên tắc, thì việc cụ thể hóa nguyên tắc trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận, quy chế, quy định, hướng dẫn của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt cần thiết; trong đó, cần coi trọng việc xây dựng, ban hành, thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của các cơ quan lãnh đạo đảng các cấp, quy chế quan hệ công tác giữa các cấp ủy, tổ chức đảng. Chẳng hạn, trong điều kiện có chính quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, các cấp ủy viên được bố trí đảm nhiệm cương vị người đứng đầu, các vị trí chủ chốt trong cơ quan nhà nước, nội dung “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trong nguyên tắc tập trung dân chủ cần được quy định phù hợp; cũng là cơ quan lãnh đạo đảng, nhưng đảng đoàn, ban cán sự đảng có nhiều đặc điểm khác cả về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động so với cấp ủy... Việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong các lĩnh vực tư tưởng, tổ chức và cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kinh tế, văn hóa, tư pháp, quốc phòng, an ninh cũng cần có quy định phù hợp.

Ba là, bám sát thực tế tổ chức và thực tiễn hoạt động của Đảng để kịp thời bổ sung, hoàn thiện nội dung của các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Các nguyên tắc xây dựng Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, việc thêm bớt nguyên tắc, điều chỉnh nội dung của từng nguyên tắc cần được cân nhắc kỹ lưỡng, hết sức thận trọng. Việc cụ thể hóa các nguyên tắc, nhất là bổ sung, hoàn thiện các nguyên tắc phải được nghiên cứu nghiêm túc, công phu, làm rõ và tạo được sự đồng tình cao về căn cứ lý luận và thực tiễn. Có những vấn đề cần soi chiếu với các nguyên lý của học thuyết Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản để khẳng định chắc chắn cơ sở lý luận, đồng thời chú trọng việc bám sát, tổng kết thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đảng. Qua tổng kết thực tiễn, những nội dung gì đã rõ, được thực tiễn khẳng định là đúng đắn, được đa số đồng tình thì đưa vào quy chế, quy định; những vấn đề gì thấy cần thiết sửa đổi, nhưng ý kiến còn khác nhau nhiều, thì tổ chức làm thí điểm, sau đó tiến hành tổng kết, kết luận; đối với những vấn đề quá mới, chưa rõ về căn cứ lý luận và thực tiễn, thì tổ chức tiếp tục nghiên cứu, chưa đưa vào quy chế, quy định. Quá trình sửa đổi Điều lệ Đảng, bổ sung, hoàn thiện quy chế, quy định cần được tổ chức thực hiện một cách hết sức dân chủ, khách quan, có sự đóng góp của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, cơ quan khoa học, kể cả cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng đã nghỉ hưu. Ngoài ra, cũng cần quan tâm nghiên cứu thực tế, kinh nghiệm của các đảng cộng sản cầm quyền để tham khảo chọn lọc những vấn đề thiết thực trong quá trình điều chỉnh những quy định liên quan đến nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.  

Bốn là, thường xuyên làm tốt công tác tư tưởng, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng về các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Các nguyên tắc xây dựng Đảng là vấn đề sống còn của Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn đề ra được cương lĩnh, đường lối đúng đắn; đoàn kết, thống nhất cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, ý chí và hành động; luôn trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tuyệt đối tin tưởng.

Một mặt, các nguyên tắc xây dựng Đảng đòi hỏi sự tuân thủ của tổ chức đảng và toàn thể đảng viên, trong đó có không ít quy định phòng ngừa, ngăn chặn sự tự do tùy tiện của những nhóm, cá nhân đảng viên muốn lợi dụng danh nghĩa Đảng để mưu cầu lợi ích riêng; mặt khác, sự nhận thức đúng đắn và đầy đủ, sự thông suốt tư tưởng của cán bộ, đảng viên về các nguyên tắc luôn là tiền đề đối với việc thực hiện nghiêm túc và sáng tạo nguyên tắc. Vì vậy, công tác tư tưởng của Đảng phải thường xuyên làm cho tất cả cán bộ, đảng viên nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của các nguyên tắc xây dựng Đảng, nội dung của từng nguyên tắc, mối quan hệ mật thiết giữa các nguyên tắc; xác định đúng trách nhiệm của tổ chức đảng, cá nhân trong thực hiện nghiêm các nguyên tắc; kịp thời phê phán nhận thức lệch lạc và đấu tranh, thi hành kỷ luật tổ chức, cá nhân cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc.

Năm là, xử lý hợp lý mối quan hệ giữa thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội.

Trong điều kiện Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, trong tất cả cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, quân đội, công an, các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn điều lệ đều có tổ chức đảng; đồng thời, hầu hết vị trí lãnh đạo chủ chốt của tổ chức, cơ quan đó do đảng viên đảm nhiệm. Trong sự nghiệp đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay thì việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng có ảnh hưởng lớn và sâu sắc đến tổ chức và hoạt động của các tổ chức khác, nhất là các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Về nguyên tắc, Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác tổ chức, lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị. Tuy nhiên, ở đây có những đặc điểm tạo nên sự khác biệt cần được quan tâm để xử lý đúng. Chẳng hạn, tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, cũng là nguyên tắc tổng quát trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, nhưng nhiều cơ quan nhà nước (bộ, cơ quan ngang bộ, kiểm toán nhà nước, cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân...) lại hoạt động theo chế độ thủ trưởng; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên, trong khi Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hành động. Cơ quan lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp do bầu cử lập ra, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Vì vậy, trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phải vừa bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, các tổ chức đảng trong các cơ quan, tổ chức đó thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc của Đảng, vừa phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, tuân thủ pháp luật, tôn trọng điều lệ và đặc điểm về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và từng tổ chức chính trị - xã hội.

Sáu là, kịp thời chấn chỉnh những nhận thức lệch lạc, xử lý những biểu hiện vi phạm nguyên tắc xây dựng Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, hòng phủ nhận, bác bỏ các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Trong các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết Hội nghị Trung ương chuyên đề về công tác xây dựng Đảng đều có nội dung phê phán những nhận thức lệch lạc và những biểu hiện vi phạm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Trong những năm gần đây, về nguyên tắc tập trung dân chủ, Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chỉ rõ: “Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân”(3). Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” phê phán khuyết điểm trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình: “Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao”(4). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ ra 1 trong 5 nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm của công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ vừa qua là: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”(5). Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” cũng chỉ ra một trong những nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là: “Không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân”(6). Từ hạn chế, khuyết điểm đó, Đảng kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp để khắc phục và phòng ngừa, không để tái phạm, kể cả xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm, tạo sự cảnh báo, răn đe.

Việc đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, bác bỏ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng được Đảng ta thường xuyên quan tâm. Trong những năm gần đây, nhất là từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, việc phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch và phê phán nhận thức lệch lạc của cán bộ, đảng viên về công tác xây dựng Đảng, trong đó có các nguyên tắc xây dựng Đảng, được đẩy mạnh, trở thành phong trào rộng khắp, đi vào chiều sâu, đem lại hiệu quả tích cực.

Những vấn đề đặt ra trong tiếp tục thực hiện kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng
Một là, thống nhất quan niệm về các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Cho đến trước Đại hội VII của Đảng, các văn kiện của Đảng dùng khái niệm “nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng”, vì ba nguyên tắc: tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất điều chỉnh các quan hệ nội bộ của Đảng. Từ Đại hội VII của Đảng, trong các văn kiện của Đảng dùng phổ biến cụm từ “các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”, vì đã bổ sung hai nguyên tắc: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật - các nguyên tắc điều chỉnh với nhân dân, với Nhà nước, dưới sự điều chỉnh của pháp luật. Cách diễn đạt như vậy là chính xác cả về lý luận và thực tiễn. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền, Đảng không chỉ xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, mà quan trọng là thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, cầm quyền đối với Nhà nước và xã hội. Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng cần có các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của Đảng, theo đó cần gọi đầy đủ là “nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”. Việc dùng thêm khái niệm “nguyên tắc xây dựng Đảng” như một cách gọi tắt của khái niệm “nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”, cần có sự giải thích để tạo sự thống nhất về nhận thức.

Về nguyên tắc tập trung dân chủ, cần thống nhất chỉ là “nguyên tắc tập trung dân chủ”, không nên viết kèm cụm từ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Chỉ nên gọi “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” là “chế độ” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dùng: “Những người cán bộ phải thực hành cho kỳ đúng cái chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(7).

Hai là, nghiên cứu sửa đổi Điều lệ Đảng.
Điều lệ Đảng hiện hành được Đại hội XI của Đảng (năm 2011) thông qua, các Đại hội XII và XIII của Đảng không sửa đổi Điều lệ Đảng. Thực tiễn xây dựng Đảng và hoạt động của Đảng trong hơn 10 năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề mới cần được chế định trong Điều lệ Đảng. Trong những năm qua, trong các nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị các khóa đã có các quy định mới, được thực tiễn ghi nhận là cần thiết và đúng đắn, nhưng cần được điều chỉnh bằng văn bản cao nhất là Điều lệ Đảng. Chẳng hạn, liên quan đến nguyên tắc tập trung dân chủ, cần hoàn thiện cách diễn đạt về việc lập cơ quan lãnh đạo của Đảng ở các cấp để bao quát cả các đảng đoàn, ban cán sự đảng, các đảng ủy quân sự, chế độ báo cáo và chịu trách nhiệm của các đảng đoàn, ban cán sự đảng...; trong nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân cần bổ sung nội dung đã được ghi trong Hiến pháp năm 2013: Đảng Cộng sản Việt Nam “gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”, cũng như quan điểm “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” - đã được Đại hội XIII của Đảng khẳng định.

Ba là, giải quyết hợp lý việc phân cấp, ủy quyền với giữ vững sự thống nhất trong thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng.
Đương nhiên, các nguyên tắc của Đảng có hiệu lực áp dụng chung trong toàn Đảng; trong khi đó, hệ thống tổ chức của Đảng có nhiều cấp, nhiều loại hình, nên phải thực hiện việc phân cấp, ủy quyền để phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của từng cấp phù hợp với đặc điểm của từng cấp, từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Các nguyên tắc xây dựng Đảng cũng được vận dụng thích hợp với cấp ủy, tổ chức đảng từng cấp, từng địa phương, cơ quan, đơn vị, trong đó có sự phân cấp, ủy quyền nhất định. Tuy nhiên, khi phân cấp, ủy quyền sẽ có thể phát sinh hai khuynh hướng: Hoặc phân cấp, ủy quyền quá hẹp khiến cấp dưới luôn bị động, phụ thuộc cấp trên, phải xin ý kiến cấp trên, cấp trên thành ra bao biện...; hoặc phân cấp, ủy quyền quá rộng dẫn đến cấp dưới có thể lộng quyền, lạm quyền, cấp trên không kiểm soát được. Vì vậy, trong các quy chế, quy định thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng cần đặc biệt quan tâm xử lý thỏa đáng việc phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ hơn, đồng thời vẫn giữ vững được sự thống nhất trong thực hiện các nguyên tắc của Đảng.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng.
Quyền lực trong Đảng phải được kiểm soát để tránh cả khuynh hướng lạm quyền, lộng quyền và khuynh hướng không thực hiện đầy đủ quyền hạn được giao. Theo đó, việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng cũng phải được kiểm tra, giám sát, kiểm soát một cách chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả. Các quy định của Ban Chấp hành Trung ương từng nhiệm kỳ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng(8) đã có nhiều quy định, chế tài liên quan đến kiểm soát quyền lực trong Đảng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hầu hết tổ chức đảng, cán bộ bị xử lý kỷ luật bằng các hình thức khác nhau trong thời gian qua đều do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; ở nhiều nơi, vẫn còn tình trạng thực hiện tự phê bình và phê bình chưa nghiêm túc, còn nể nang, né tránh, đoàn kết xuôi chiều; quan hệ của cấp ủy, cán bộ, đảng viên với nhân dân chưa thật chặt chẽ; một số cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng can thiệp không đúng thẩm quyền vào công việc của cơ quan nhà nước... Điều đó rõ ràng đòi hỏi tăng cường hơn nữa hoạt động kiểm soát quyền lực trong Đảng nói chung, kiểm soát việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng, trước hết là đối với các cơ quan lãnh đạo đảng và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng ở các cấp. Việc kiểm soát này cần được quy chế hóa thành các quy chế, quy định chặt chẽ, cụ thể, có chế tài xử lý vi phạm (nếu có) theo tinh thần “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, nhất là đối với những lĩnh vực, vấn đề dễ xảy ra sai phạm./.
Môi trường ST.

"ĐỀ CAO ĐỂ HẠ BỆ"-THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM

 Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ chính trị ở nước ta, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một trong những luận điệu tinh vi mà chúng thường sử dụng là ra sức đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng lại đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm phá hủy gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, chống lại luận điệu xuyên tạc này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Sự tinh vi của những giọng điệu phản khoa học

Giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin tồn tại mối quan hệ biện chứng. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cội nguồn lý luận cơ bản hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và đều là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điệu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin đều là phản khoa học, phản lịch sử.

Trước hết, họ phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh với lý do Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng. Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được thừa nhận bởi các học giả trong và ngoài nước, những kẻ xuyên tạc vẫn rêu rao rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Việc phủ nhận sự tồn tại và giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh không xuất phát từ lý do khoa học mà từ động cơ chính trị đen tối là làm mất đi sức mạnh nền tảng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các đối tượng chống phá còn có một giọng điệu hoàn toàn khác là ra sức ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Để hạ bệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, họ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau. Đầu tiên, họ vin vào “yếu tố thời đại”, rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ 19, cùng lắm là đầu thế kỷ 20, chỉ thích hợp với văn minh công nghiệp; còn bây giờ nhân loại đã ở thế kỷ 21, trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, sứ mệnh của giai cấp công nhân đã khác đi, vai trò của trí thức “lên ngôi” nên Chủ nghĩa Mác đã trở nên lỗi thời và bị lịch sử vượt qua. Đây cũng là cách lập luận rất hàm hồ bởi cho dù thời đại mà chúng ta đang sống khác rất nhiều so với thời đại mà Mác, Ăngghen, Lênin đã sống nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khám phá ra. Với đặc tính mở, Chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa, học thuyết chính trị nào có thể thay thế.

Nhận dạng chiêu trò "đề cao để hạ bệ"
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

“Yếu tố địa lý” cũng là lý do để đối tượng chống phá ra sức phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là học thuyết  “ngoại lai”, “nhập ngoại” từ phương Tây nên không phù hợp với Việt Nam. Những đối tượng đưa ra luận điệu trên đã cố tình không hiểu sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và tầm nhìn thời đại của lý luận Mác-Lênin. Mặc dù Chủ nghĩa Mác-Lênin có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ phương Tây nhưng đúng như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”(1), tức là ở phương Đông, nhất là khi nó đã được bổ sung bằng “dân tộc học phương Đông” như Nguyễn Ái Quốc từng nhấn mạnh và nỗ lực thực hiện.

Lý do thứ ba để họ phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, rằng sự sụp đổ đã chứng tỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin sai lầm từ bản chất chứ không phải là do nhận thức sai, vận dụng sai. Họ cố tình không hiểu rằng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa nhiều khuyết tật và chậm được sửa chữa chứ không phải sự sụp đổ của một học thuyết khoa học. Tính bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin so với các học thuyết khác nằm ở chỗ nó dựa trên một thế giới quan khoa học là phép biện chứng duy vật. Lý do thứ tư họ đưa ra để đòi hủy bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì Chủ nghĩa Mác chủ trương đấu tranh giai cấp, Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản; do đó, không có gì chung giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ còn cho rằng, trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tồn tại “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin” nhưng thực chất đó chỉ là sự đấu tranh giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với các quan điểm giáo điều, cứng nhắc trong vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin mà thôi.

Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện như vậy, họ đi đến kết luận: Lúc này chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và vì thế, cần loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng.

Kiên định, kiên quyết bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Luận điệu “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh, đem tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn đối lập với tình cảm, tâm nguyện của bản thân Hồ Chí Minh.

Sinh thời, từ lúc trở thành người cộng sản (năm 1920) cho đến khi từ giã cõi đời, Hồ Chí Minh luôn gắn bó chặt chẽ và hết lời đề cao Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ năm 1927, Người đã khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là Chủ nghĩa Lênin. Câu nói của Hồ Chí Minh, rằng “tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu Chủ nghĩa Các Mác”(2) đã nói lên sự lựa chọn kiên quyết của Người. Để nói về vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin với cách mạng Việt Nam, Người còn khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản".

Sự gắn bó không thể tách rời của Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện qua những tình tiết rất sinh động và cảm động. Khi viết Di chúc gửi lại, Người đã gọi việc từ giã cõi đời của mình là “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin” bởi giữa các bậc vĩ nhân ấy là sự đồng điệu về khát vọng giải phóng con người và “tình hữu ái vô sản” thiêng liêng. Trong lần trả lời phỏng vấn cuối cùng vào ngày 15-7-1969, Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin".

Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Luận cương” của Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh đều gắn bó với Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng tình yêu và lòng trung thành trên tinh thần biện chứng. Do đó, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin là một sự xuyên tạc lịch sử mà Hồ Chí Minh là một nhân chứng sống động nhất.

Phải khẳng định rằng: Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin thực chất là một âm mưu đen tối, thủ đoạn tinh vi. Sự nguy hiểm của nó nằm ở tính ngụy biện, dễ làm người ta ngộ nhận, tin theo bởi nó “đánh vào” tình yêu lãnh tụ và tinh thần tự tôn dân tộc. Tuy nhiên, đây thực chất không phải là sự ca ngợi, không phải là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng giá trị của nó mà chỉ là thủ pháp “nâng lên để hạ xuống”, là tìm cách cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi ngọn nguồn lý luận chủ yếu của nó để qua đó làm suy yếu và tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Sâu xa hơn, những kẻ chống phá không chỉ phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin hay tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn muốn phủ nhận toàn bộ cương lĩnh, đường lối của Đảng được hoạch định trên nền tảng tư tưởng đó để đi đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ đang hiện hành, xóa bỏ định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.   

Để chống lại giọng điệu xuyên tạc, xảo trá này, trước hết cần giáo dục nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin và động cơ đen tối của lực lượng chống phá khi phủ nhận mối quan hệ này. Phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấu hiểu rằng, quan hệ giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo so với Chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng nó lại thống nhất với Mác-Lênin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con người cùng khổ.

Cùng với đó, cần tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên thấu hiểu nội dung, bản chất, giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện trạng “nhạt đảng, phai đoàn, khô lý tưởng” và căn bệnh lười học lý luận chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên chính là “mảnh đất màu mỡ” cho kẻ thù đẩy mạnh công tác phản tuyên truyền. Vì thế, làm tốt công tác giáo dục, tích cực bồi đắp tri thức khoa học cho cán bộ và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng, chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta phải kiên định và tăng cường hơn nữa sự vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bởi thực tiễn là nơi kiểm nghiệm mọi chân lý một cách xác thực nhất. Ngược lại, mỗi hành vi sai trái của cá nhân và tổ chức đảng đều là sự tiếp tay cho các thế lực thù địch trong việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn chặt với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.  

Lịch sử phát triển của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn song hành với cuộc đấu tranh bảo vệ chân giá trị của học thuyết và chống lại những quan điểm sai trái thù địch. Vì thế, đấu tranh chống lại quan điểm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin là việc làm mang tính quy luật nhằm gia tăng sức mạnh của Đảng và làm thất bại mưu đồ xuyên tạc, chống phá của các lực lượng thù địch. Bằng sự đúng đắn trong nhận thức cũng như trong hành động, mỗi cá nhân, tổ chức trong hệ thống chính trị phải có trách nhiệm tham gia vào việc khẳng định chân lý: Thế giới còn đổi thay nhưng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi. 

Đấu tranh đẩy lùi thói Xu nịnh

Thông thường ai cũng muốn được khen ngợi. Lời khen thực hiện đúng lúc, đúng chỗ, đúng người, đúng mực, kịp thời sẽ có tác dụng khích lệ, động viên rất lớn. Tuy nhiên, nếu khen một cách dễ dãi, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành thì đó lại là a dua, nịnh bợ...

Xu nịnh là hành vi có tính toán của những kẻ kém tài, kém đức, sống thiếu trung thực, giả tạo, chủ yếu dùng xảo ngôn, miệng lưỡi “đường mật” để ca tụng, tâng bốc lấy lòng người khác nhằm mục đích vụ lợi cá nhân. Thói xu nịnh xuất hiện từ xa xưa và tồn tại cho đến ngày nay một phần là do không ít người luôn thích nghe những "lời có cánh” thay vì những lời thẳng thắn, thật lòng. 

Thói xu nịnh biến hóa khôn lường với muôn hình vạn trạng. Nó không đơn thuần là cấp dưới nịnh bợ cấp trên mà nhiều khi cấp trên cũng nịnh cấp dưới... Hậu quả của việc này khiến những người được nịnh tự mãn, ảo tưởng, đồng thời những cán bộ, đảng viên chân chính sinh ra chán nản, giảm ý chí phấn đấu, không thiết tha cống hiến. Cơ quan, đơn vị có kẻ nịnh bợ thường dẫn đến cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, mất đoàn kết hoặc đoàn kết xuôi chiều, từ đó năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng giảm sút, chất lượng thực hiện nhiệm vụ thấp.

Theo Thượng tá Trần Kim Trọng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3): Hiện nay, đội ngũ cán bộ các cấp trong đơn vị đều được đào tạo cơ bản tại các trường sĩ quan, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng nên hiện tượng “nịnh hót” xuất hiện không nhiều song vẫn len lỏi đâu đó trong cuộc sống, sinh hoạt, công tác hằng ngày. Tuy biểu hiện chủ yếu chỉ dừng lại ở việc dùng những “lời có cánh” để lấy lòng cấp trên, đồng đội, nhưng nếu không được chấn chỉnh sẽ tạo ra dư luận xấu, ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Theo Trung tá Vũ Xuân Lợi, Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 405 (Quân khu 3): Các đợt sinh hoạt chính trị, phong trào thi đua, cuộc vận động, nhất là việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai rộng khắp, liên tục trong thời gian dài tại các cơ quan, đơn vị đã và đang tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ, đảng viên luyện rèn bản lĩnh, bồi đắp lý tưởng, tu dưỡng phẩm chất đạo đức. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị chú trọng mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở, đề cao tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt, học tập đã giúp cán bộ, chiến sĩ có điều kiện được bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình một cách thẳng thắn, cởi mở; giúp cho mối quan hệ cán-binh, cấp trên với cấp dưới ngày càng gắn bó, trong sáng trên tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội. Điều này đã góp phần tích cực vào ngăn chặn thói xu nịnh và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị.

Để có thể xóa bỏ thói xu nịnh, theo Đại tá Nguyễn Đình Khiêm, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Sư đoàn 395 (Quân khu 3): Quan trọng nhất là phải giáo dục, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, giàu lòng tự trọng. Bởi khi cán bộ, đảng viên có phẩm chất, lòng tự trọng sẽ luôn biết giữ gìn danh dự của bản thân, trung thực, giản dị, tỉnh táo, sáng suốt và không bị "mê hoặc" trước những lời lẽ vuốt ve, ca ngợi thái quá. 

Đẩy lùi thói xu nịnh không phải vấn đề đơn giản, không phải là việc làm một sớm một chiều nên cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn thể hiện thái độ thẳng thắn, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với biểu hiện tiêu cực này. Trước hết, cần thường xuyên quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng động cơ làm việc đúng đắn, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức trong sáng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người chủ trì trong nhận xét, đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ bảo đảm dân chủ, khách quan, đúng nguyên tắc và tuân thủ đúng quy trình; tạo môi trường làm việc lành mạnh, bình đẳng, công bằng để cán bộ, đảng viên cùng nhau nỗ lực rèn luyện, phấn đấu. 

Phải chống Xu nịnh từ đâu?

 Tôi cho rằng, thói xu nịnh xuất phát từ lợi ích, nảy sinh từ sự thiếu dân chủ, cấp dưới sợ cấp trên, người nịnh bợ được nâng đỡ, còn người thẳng thắn đóng góp ý kiến thì dễ bị mất lòng nếu cấp trên “tâm không trong, đức không sáng”. Bản chất của xu nịnh là dối trá, động cơ không trong sáng nên những kẻ xu nịnh sẽ không bao giờ trung thực, luôn “dối trên, gạt dưới”, “nịnh trên, nạt dưới”, gây mất đoàn kết nội bộ, mất lòng tin của mọi người. Đặc biệt, khi những kẻ xu nịnh nắm quyền lực sẽ chỉ lựa chọn, sử dụng những kẻ xu nịnh khác, bởi họ đồng đẳng và sẽ dẫn đến “lợi ích nhóm”, dễ làm hư hỏng bộ máy công quyền.

Thực tế cho thấy, do tác động của mặt trái cơ chế thị trường, hiện nay nịnh bợ đang là "căn bệnh" nan y, biến tướng dưới nhiều nội dung, hình thức. Không chỉ cấp dưới nịnh cấp trên, nhân viên nịnh thủ trưởng... mà còn có hiện tượng trên nịnh dưới, nhất là vào các dịp bỏ phiếu tín nhiệm, đánh giá cán bộ, chuẩn bị đại hội, bầu nhân sự ở các cấp, các ngành... Không chỉ cấp dưới trực tiếp nịnh thủ trưởng cấp trên mà còn nịnh gián tiếp qua vợ, con thủ trưởng. Không chỉ nịnh bằng lời lẽ ngon ngọt mà còn nịnh qua nhiều kênh, phương tiện, vật chất, cơ chế, chính sách.

Giải pháp quan trọng để đẩy lùi thói xu nịnh là cách hành xử đúng đắn của người lãnh đạo, quản lý, không chỉ ở điều hành cơ quan, đơn vị mà đặc biệt trong công tác cán bộ, phải có con mắt tinh đời để nhìn rõ “người ngay, kẻ gian”, tuyệt đối tránh “sa bẫy” của kẻ xu nịnh. Nếu người lãnh đạo, quản lý có tâm trong sáng, có tinh thần tập thể, coi trọng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị, dùng “tai mắt” của quần chúng nhân dân, dư luận trong cơ quan, đơn vị để xem xét, đánh giá con người trong công tác nhân sự thì thói xu nịnh sẽ không còn đất sống. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải là một tấm gương tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, thấy được thói xu nịnh là “căn bệnh” để chủ động phòng, chống. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức biết coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, biết đặt lợi ích tập thể lên trên hết thì sẽ đẩy lùi được thói xu nịnh, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ.

TÁC HẠI CỦA THÓI XU NỊNH

Thói xu nịnh tưởng chừng vô hại, nghe vui tai, nhưng thực chất lại nguy hại khôn lường vì nó dẫn tới sự mất tỉnh táo, bị nhầm lẫn bởi giá trị ảo, từ đó đưa ra những lựa chọn sai, những quyết định sai.

Một cơ quan, tổ chức bị lũng đoạn bởi thói xu nịnh sẽ suy thoái, đánh mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, không thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.  

Kể từ khi xuất hiện trên trái đất, để tồn tại và phát triển, con người luôn phải nhận thức đúng về thế giới xung quanh với khát khao tìm ra chân lý. Bởi chỉ khi nhận thức đúng, con người mới có thể ứng xử, tác động đúng đắn, hiệu quả nhất vào thế giới xung quanh. Thế nhưng, con đường tìm ra chân lý, sự thật không dễ. Với bản tính ưa nghe nói ngọt, thích nghe những lời đường mật, không thích lời nói trái tai, con người dễ bị dẫn dụ, huyễn hoặc bởi các giá trị ảo, ảo tưởng về bản thân, từ đó có những cách ứng xử sai lầm. Tại cơ quan công quyền, cái nhìn của nhà lãnh đạo nhiều khi bị che phủ bởi ngôn từ và hành vi xảo quyệt của những kẻ xu nịnh, dối trá.

Lịch sử thế giới ghi nhận tên nịnh thần Hòa Thân thời nhà Thanh ở Trung Quốc đã tham nhũng, lũng đoạn cả quốc gia. Trong lịch sử dân tộc ta, nhiều bậc danh nhân lớn như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn... đều khuyên can vua, chúa nghiêm trị bọn xu nịnh. Bởi thực tế chỉ ra, nịnh thần chính là gian thần. Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án gay gắt bệnh “xu nịnh, a dua”, “bốc thơm” cấp trên. Người cảnh báo: Mắc căn bệnh đó sẽ làm hư hỏng cán bộ, ảnh hưởng đến sự nghiệp chung. Từ đó, Người dạy cán bộ, đảng viên rằng: "Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn nịnh bợ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt".

Thói xu nịnh và giá trị ảo
Tranh minh họa / tuyengiao.vn

Sự nguy hại và hậu quả của thói xu nịnh là đáng sợ, nhưng chúng ta chưa nhận diện đầy đủ, đấu tranh chống lại một cách thực sự quyết liệt. Vấn đề đặt ra là biểu hiện này không vi phạm pháp luật, chưa có chế tài xử lý mang tính định lượng, nhưng để tồn tại dai dẳng trong tổ chức là rất nguy hiểm. 

Ngày 13-3, tại Hà Nội, chủ trì phiên họp của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng tiểu ban đã nhấn mạnh: Không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. “Phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã phạm sai lầm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên, nạt dưới, bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là tạo điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn”, Tổng Bí thư nêu rõ.

Thực tế chỉ ra rằng, lãnh đạo cơ quan mà ưa xu nịnh thì dần dần sẽ không biết được thực chất công việc, thực chất cơ quan, thực chất năng lực cũng như đạo đức của cán bộ dưới quyền và ngay cả thực chất chính bản thân mình. Một cơ quan, tổ chức để thói xu nịnh lộng hành, lấn lướt thì sẽ không còn những ý kiến ngay thẳng, không còn những tham mưu đúng đắn, mà tất cả chỉ nhất nhất lắng nghe lãnh đạo, làm theo ý lãnh đạo, bất chấp điều đó là hợp lý hay không hợp lý, đúng hay sai. Đó cũng chính là biểu hiện “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”.

Nịnh bợ là một tính cách và thủ đoạn xấu, là một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội. Tuy nịnh bợ không được định danh như một hành vi phạm pháp, không có chế tài xử lý theo pháp luật nhưng nịnh bợ thường đi kèm với các hành vi vi phạm pháp luật khác như hối lộ, tham nhũng.

Vì có kẻ ưa nịnh nên mới có kẻ xu nịnh. Kẻ xu nịnh dễ được ưu ái, trọng dụng, cất nhắc, thăng quan tiến chức, lên lương, khen thưởng. Kẻ xu nịnh và kẻ ưa nịnh dễ liên kết với nhau thành lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực. Kẻ xu nịnh bất chấp thủ đoạn, miễn là đạt được mục đích, thường là chi nhiều tiền để hối lộ, không tiếc lời khen ngợi, "bốc thơm" kẻ ưa nịnh.

Có thể dễ dàng nhận ra những biểu hiện của kẻ xu nịnh. Trước tiên là thái độ xun xoe, chiều lòng cấp trên bằng mọi giá, coi mọi lời lãnh đạo nói ra đều là chân lý, ngợi ca lãnh đạo trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, cả trước mặt và sau lưng để cấp trên nghĩ rằng: Cậu ấy hay cô ấy là người tốt, là người tâm phúc, thẳng thắn, trước sau như một.

Thậm chí mọi thói quen, sở thích của lãnh đạo cũng được kẻ xu nịnh nghiên cứu rất kỹ, chăm sóc chu đáo, ngợi ca: Nào là đánh tennis “dũng mãnh”, đánh golf “thần sầu”, nào là câu cá “sát thủ”, nào là chơi đồ cổ “tinh tế”... rồi cung phụng nào là rượu ngon, xì gà xịn, tiệc tùng liên miên... Mọi việc của gia đình lãnh đạo sẽ được săn sóc chu đáo, tận tình từ giỗ, tết đến việc hiếu hỷ, ốm đau, những ngày kỷ niệm... Đặc biệt, những người thân của lãnh đạo sẽ được chiều chuộng hết mức để qua đó, kẻ xu nịnh lấy lòng sếp và người thân.

Kẻ xu nịnh và kẻ ưa nịnh đều tự hủy hoại nhân cách của mình, làm băng hoại đạo đức xã hội, làm hại người tốt, gây mất đoàn kết trong nội bộ cơ quan, tổ chức, gây ra tệ tham nhũng, tiêu cực, chạy chọt... Thủ trưởng ưa xu nịnh, lại chuyên quyền, công tác phê bình và tự phê bình kém hiệu quả là một trong những lý do dẫn tới sự tê liệt của các tổ chức đảng. Đến một ngày nào đó, chính lãnh đạo ưa nịnh sẽ "há miệng mắc quai" khi ngập sâu vào quan hệ tiền bạc và đặc biệt là một số quan hệ thầm kín, bất chính với kẻ xu nịnh, đành "đâm lao phải theo lao", chịu sự điều khiển của kẻ đã nịnh mình và thế lực xấu.

Khi kẻ xu nịnh được cất nhắc sẽ gây ra nhiều tác hại. Thứ nhất, vì thiếu tài, thiếu đức, kẻ xu nịnh tiến thân được chủ yếu bằng luồn lách, hối lộ nên khi đã lên chức thường sẽ tranh thủ kiếm chác, vơ vét, tham nhũng để bù lại chi phí đã “đầu tư” mà ít nghĩ đến lợi ích chung. Thứ hai, bản chất của xu nịnh là dối trá nên những kẻ xu nịnh không bao giờ trung thực, luôn "dối trên, gạt dưới", "nịnh trên, nạt dưới". Và như vậy sẽ làm hư hỏng bộ máy công quyền. Thứ ba, những kẻ xu nịnh khi nắm quyền lực sẽ chỉ lựa chọn những kẻ xu nịnh, hư hỏng khác, theo kiểu "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", hình thành nên nhóm lợi ích, làm cho môi trường công vụ tại cơ quan, tổ chức trở nên thiếu lành mạnh.

Do đó, nhận diện và có các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn thói xu nịnh trong cơ quan, tổ chức là vấn đề cấp thiết hiện nay. Để làm được điều đó cần phải quan tâm các nội dung: Thứ nhất, cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trong đó có tệ xu nịnh. Thứ hai, các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền và cơ quan, đơn vị làm công tác cán bộ phải kiên quyết đấu tranh chống tệ xu nịnh; không bố trí, đề bạt cán bộ xu nịnh và ưa nịnh. Tuy khó có thể xử lý hành vi nịnh bợ bằng quy định pháp luật nhưng có thể điều chỉnh bằng đạo đức công vụ và quy định của Đảng. 

Thứ ba, đấu tranh chống tệ xu nịnh bằng việc thực hiện tốt công tác phê bình và tự phê bình, lấy dư luận xã hội rộng rãi lên án mạnh mẽ tệ nạn này. Tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức quần chúng, báo chí, văn học-nghệ thuật... cần có tiếng nói mạnh mẽ, trực diện trước những biểu hiện của tệ xu nịnh. Thứ tư, giải pháp quan trọng bậc nhất chính là cách hành xử đúng đắn của người lãnh đạo, quản lý. Đức độ và tài năng của người lãnh đạo không chỉ biểu hiện ở sự điều hành đơn vị, tổ chức cơ quan mà đặc biệt trong công tác cán bộ còn phải có con mắt tinh đời, nhìn rõ ngay-gian, phải nhanh chóng phát hiện ra những con sâu xu nịnh để phòng ngừa và loại bỏ chúng. Tuyệt đối tránh sa bẫy của kẻ xu nịnh. Và càng không bao giờ cất nhắc kẻ xu nịnh. Nhà lãnh đạo giỏi là người biết phát huy sức mạnh tập thể, coi trọng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, dùng tai mắt của quần chúng trong đơn vị, dư luận của nhân dân mà tham vấn, xem xét, đánh giá con người chứ không thể nhìn một chiều bằng cảm xúc cá nhân của mình trong công tác nhân sự.

Tóm lại, phải có giải pháp ngăn chặn để xu nịnh không thể trở thành một phong cách, một phương thức hữu hiệu đưa cán bộ có năng lực yếu, đạo đức kém tiến thân và là chất xúc tác cho tham nhũng, tiêu cực. 

BÁC HỒ LÀ THẾ ĐẤY

 Thời chống Mỹ. Một buổi trưa, Hồ Chủ tịch đang chuẩn bị nằm nghỉ thì cần vụ vào báo cáo Bác là có khách. Khách là một cụ già ở Hưng Yên. Cùng đi với cụ có một vị lãnh đạo tỉnh. Trên xe còn có một thùng cá khá nặng.

 
- Thưa Bác, cháu xin thay mặt bà con ở địa phương lên thăm sức khoẻ Bác và có ít cá mới đánh đem lên biếu Bác. Cá loại này là cá tiến nổi tiếng ở đầm Dạ Trạch đấy ạ!
 
- Thưa cụ, cụ ngang tuổi tôi, xin cụ đồng xưng hô như thế!
 
- Vâng, nếu cụ cho phép...
 
- Ao nhà ta có rộng không mà cụ thả được nhiều cá vậy?
 
- Dạ thưa cụ, đây là cá của hợp tác xã.
 
- Cá của hợp tác xã là tài sản chung, của bà con, phải để bà con dùng chứ!
 
- Thưa cụ, nhờ có ông lãnh đạo tỉnh giao cho nên lần đầu tiên tôi mới được gặp Cụ Chủ tịch nước, thật may mắn cho tôi quá. Còn cá, đã trót mang lên đây rồi, xin Cụ vui lòng nhận cho, chúng tôi khỏi phải đem về.
 
Hồ Chủ tịch cho mời ông cán bộ phụ trách nhà bếp lên gặp Người.
 
- Loại cá này ở chợ Bắc Qua bán bao nhiêu một cân?
 
- Thưa Bác, một cân giá...
 
- Vậy chú cân lên xem tất cả là bao nhiêu cân, coi như nhập vào nhà bếp của cơ quan. Và chú tính xem bao nhiêu tiền để gửi cụ cầm về.
 
Quay sang vị khách quý Hưng Yên, Hồ Chủ tịch ân cần nói:
 
- Tôi xin đa tạ tấm lòng của cụ và bà con xã nhà đối với tôi. Quà cụ và bà con cho, tôi nhận rồi, còn đây là số tiền tôi gửi cụ đem về nộp vào quỹ hợp tác xã.
 
Trích trong Kể chuyện Bác Hồ , Sđd. t.4, tr.l14.