Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, TIẾN LÊN HIỆN ĐẠI

 Cách đây tròn 70 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã lập thêm một chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc-Chiến thắng Điện Biên Phủ. Chiến thắng đó bắt nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc ta; từ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và tinh thần, ý chí quyết thắng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vì độc lập, tự do của Tổ quốc...

Bảy thập niên đã trôi qua, nhưng âm hưởng, ý nghĩa và bài học lịch sử từ Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, trong đó có bài học về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, với những nội dung chủ yếu sau:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nghị quyết của Đảng về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.
Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội là nguyên tắc, vấn đề có tính quy luật quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của Quân đội. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng được thể hiện rõ nét, là nhân tố quyết định thắng lợi. Ngay từ tháng 1-1953, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định: Phương hướng chiến lược trong thời gian tới là tạm thời “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do; đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch. Đây là quyết sách cực kỳ quan trọng của Đảng để đưa cuộc kháng chiến tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới trên mặt trận quân sự.
Trước tình hình thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch Navarre, cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp, phân tích, đánh giá tình hình địch-ta và xác định chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 với phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”. Bộ Chính trị nhấn mạnh các nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo tác chiến là: “Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt; chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng”. Đến đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào-Đông Bắc Campuchia, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó.
Quyết tâm chiến lược và tư tưởng chỉ đạo “đánh chắc thắng” của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là cơ sở để Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp quyết định đề xuất chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, trực tiếp đưa đến Chiến thắng Điện Biên Phủ. Đây chính là thành công nổi bật, là bài học quan trọng nhất về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự chấp hành, triển khai thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng.
Hiện nay và trong thời gian tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là chủ đạo, nhưng tiếp tục có những diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột quân sự, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ... Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xuất hiện nhiều loại vũ khí mới, hiện đại; chiến tranh công nghệ cao và chiến tranh phi tiếp xúc ngày càng phổ biến; các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp. Đối với nước ta, sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, tạo nền tảng vững chắc tiếp tục phát triển đất nước. Tuy nhiên, đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội... Tình hình trên đặt ra yêu cầu rất cao đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, bài học về giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội từ Chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn vẹn nguyên giá trị.
Để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, phải tiếp tục quán triệt, nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng Quân đội. Trước hết, phải tổ chức quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17-1-2022 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 2-4-2022 của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch số 1228/KH-BQP ngày 25-4-2022 của Bộ Quốc phòng về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo... Trên cơ sở đó, chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể, phương pháp tiến hành chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi cụ thể, phù hợp để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.
Hai là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, có bản lĩnh, tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cao luôn được chú trọng. Sau Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 3-1953, Tổng Quân ủy ra nghị quyết về chỉnh quân chính trị. Qua chỉnh quân chính trị, Quân đội được giác ngộ giai cấp và nâng cao một bước về trình độ hiểu biết Chủ nghĩa Mác-Lênin. Sức mạnh về chính trị tư tưởng được tăng lên gấp bội, là cơ sở thúc đẩy sự trưởng thành của Quân đội về mọi mặt.
Chuẩn bị bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cờ “Quyết chiến, quyết thắng” cho Quân đội. Thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lệnh động viên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được phổ biến khắp mặt trận, tạo ra không khí phấn khởi, thi đua lập công trên khắp các trận địa, góp phần củng cố tinh thần, quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Khi thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, phải chuẩn bị lại chiến trường cũng như trong quá trình chiến đấu vô cùng gian khổ, nhiều tình huống khó khăn. Song, được giáo dục, động viên kịp thời, cán bộ, chiến sĩ ta vẫn giữ vững ý chí, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, sáng tạo ra nhiều cách đánh độc đáo, hiệu quả, đưa chiến dịch đến toàn thắng.
Hiện nay, bài học xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cần tiếp tục được vận dụng và phát huy trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, bởi đây là nguyên tắc xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta nhằm giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng là nhân tố quyết định việc hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Theo đó, phải quán triệt sâu sắc đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội, lấy xây dựng chính trị làm nền tảng. Xây dựng Quân đội phải toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực và trên mọi nhiệm vụ; phát huy cao độ nhân tố chính trị tinh thần. Chú trọng tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Tích cực, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Xây dựng cho quân nhân có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thấm nhuần đạo đức cách mạng, gắn bó chặt chẽ với nhân dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích quốc gia-dân tộc.
Ba là, thường xuyên xây dựng, kiện toàn tổ chức, biên chế của các cơ quan, đơn vị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Chiến thắng Điện Biên Phủ bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó có kết quả của việc xây dựng, từng bước hoàn chỉnh tổ chức LLVT, nòng cốt là QĐND. Ngay sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đặc biệt coi trọng xây dựng LLVT nhân dân. Ngày 22-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71/SL ấn định Quy tắc Quân đội quốc gia, quy định về tổ chức biên chế thống nhất từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, liên đoàn, tập đoàn của bộ binh, các đơn vị chuyên môn và hỏa lực trợ chiến. Căn cứ điều kiện thực tế, đến tháng 11-1946, ta chủ trương tập trung xây dựng, củng cố các đơn vị bộ đội quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến là phải tiến lên vận động chiến, mở những chiến dịch lớn, ngày 28-8-1949, Đại đoàn 308-đại đoàn chủ lực đầu tiên-chính thức làm lễ thành lập. Từ năm 1950 đến năm 1952, có 5 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công binh-pháo binh tiếp tục được thành lập. Đây là “những binh đoàn cơ động-quả đấm chiến lược” để thực hiện các chiến dịch lớn, các đợt hoạt động mang tầm chiến lược, tạo chuyển biến trên chiến trường. Đến năm 1953, chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, cùng với giáo dục chính trị tư tưởng, toàn quân thực hiện chỉnh đốn về tổ chức. Các đơn vị được bổ sung, kiện toàn tổ chức biên chế, củng cố thêm chất lượng của LLVT, sẵn sàng bước vào chiến dịch.
Trên cơ sở các đơn vị chủ lực được tổ chức xây dựng và rèn luyện trong chiến đấu qua nhiều chiến dịch lớn, được củng cố trong chỉnh huấn chính trị, quân sự; trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Tổng Tư lệnh đã sử dụng lực lượng nhiều đại đoàn chủ lực mạnh: 308, 312, 316, 304 (thiếu), 351, tạo sức mạnh đột phá, đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất, kiên cố nhất của địch. Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch luôn kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức, kịp thời kiện toàn tổ chức biên chế lực lượng của các đơn vị, đáp ứng kịp thời yêu cầu tác chiến.
Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, trên cơ sở biểu tổ chức, biên chế mới, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) hiện có và với nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam trong điều kiện mới. Trước hết, triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kế hoạch về tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo. Khối cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược tập trung rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng giảm đầu mối trung gian và quân số phục vụ, bảo đảm, nhằm tăng cường quân số cho khối đơn vị. Khối đơn vị chiến đấu, điều chỉnh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh, khả năng cơ động lực lượng, sẵn sàng chiến đấu cao. Sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sản xuất quốc phòng; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế một số nhà trường Quân đội phù hợp với tổ chức của Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh.
Bốn là, thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ; đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo; đẩy mạnh nghiên cứu phát triển lý luận quân sự, quốc phòng và khoa học quân sự hiện đại.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ trong toàn quân. Đến Chiến dịch Điện Biên Phủ, Quân đội ta đã có đội ngũ cán bộ lớn mạnh, có khả năng, trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu. Chỉ huy các cấp đã được đào tạo, rèn luyện, thử thách, trải qua nhiều cương vị công tác, nhiều chiến dịch lớn, nhiều đồng chí có thành tích xuất sắc qua thực tiễn chiến đấu và chỉ huy chiến đấu. Với năng lực, kinh nghiệm dày dạn trận mạc và được đào tạo, bồi dưỡng, việc chỉ huy, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu trong chiến dịch đã diễn ra chặt chẽ, nhịp nhàng, quyết đoán, đưa đến thắng lợi vang dội. Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhiều đồng chí tiếp tục có những đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trở thành những nhà quân sự, chính trị xuất sắc, cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Cùng với xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, công tác huấn luyện được đặc biệt chú trọng nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội. Từ tháng 9-1953, sau chỉnh huấn chính trị, Quân đội ta tiến hành chỉnh huấn quân sự, rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, nâng cao trình độ đánh công kiên cũng như đánh vận động, cả ban ngày và ban đêm... Các đơn vị tiến hành luyện tập thực tế, coi thao trường như chiến trường, huấn luyện như chiến đấu. Qua chỉnh huấn quân sự, khả năng chiến đấu hiệp đồng binh chủng, trình độ chỉ huy, chiến thuật, kỹ thuật, tác phong chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao, đặc biệt là đánh tập đoàn cứ điểm.
Với đội ngũ cán bộ được xây dựng, bồi dưỡng và rèn luyện, toàn quân được chỉnh huấn quân sự, trong Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc. Về chỉ đạo chiến lược, với 5 đòn tiến công chiến lược trên khắp chiến trường Đông Dương, ta đã phá được kế hoạch tập trung khối cơ động mạnh, làm đảo lộn thế bố trí của quân Pháp, từ đó buộc Pháp phải thay đổi bố trí lực lượng trên chiến trường và chấp nhận một trận chiến quyết định với ta ở Điện Biên Phủ. Về nghệ thuật chiến dịch, ta đã sớm hình thành thế bao vây, tiến công và bao vây, ngày càng siết chặt từng cứ điểm, cụm cứ điểm và cả Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chia cắt thế liên hoàn của tập đoàn cứ điểm địch. Với hỏa lực mạnh, ta tổ chức tập trung đánh chắc thắng, tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm theo kiểu “bóc vỏ” từ ngoài vào trong, từng bước uy hiếp tiến tới tiêu diệt khu vực trọng yếu nhất của địch. Về chiến thuật, ta đã tổ chức thành công các trận công kiên hiệp đồng binh chủng lớn có hỏa lực pháo binh yểm trợ; tiến hành các trận chiến đấu phòng ngự trận địa dài ngày, sáng tạo ra cách đánh “vây, lấn” độc đáo, hiệu quả, gây bất ngờ cho địch.
Hiện nay, để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, việc xây dựng nhân tố con người vẫn luôn là yếu tố có ý nghĩa quyết định theo đúng quan điểm “người trước, súng sau”. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ; đề ra chủ trương, giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết số lượng, điều chỉnh cơ cấu, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ.
Cùng với đó, đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện-đào tạo, tạo nguồn cán bộ các cấp có đủ phẩm chất cách mạng, tư duy, năng lực chuyên môn, trình độ chỉ huy, quản lý... Xây dựng hệ thống nhà trường tinh, gọn, mạnh, hiện đại; chương trình đào tạo sát thực tiễn hoạt động của đơn vị. Việc tổ chức huấn luyện phải chặt chẽ, đúng phương châm, quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp; chú trọng truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn kết hợp với việc làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại, áp dụng khoa học kỹ thuật. Tập trung nâng cao chất lượng các cuộc diễn tập, hội thao, hội thi, diễn tập hiệp đồng quân, binh chủng...
Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu, phát huy nghệ thuật quân sự độc đáo, đặc sắc Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính, phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đánh thắng kẻ thù trên các mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vận dụng linh hoạt “thế, lực, thời, mưu” với nhiều cách đánh sáng tạo để giành thắng lợi với tổn thất ít nhất. Phát triển lý luận và thực tế về tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo điều hành chiến tranh, chỉ huy tác chiến và tiến hành chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới, phù hợp với các hình thái chiến tranh, đối tượng tác chiến, loại hình tác chiến chiến lược, VKTBKT hiện đại. Phát triển nghệ thuật tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, tác chiến liên hợp. Phát triển tư tưởng, phương châm chỉ đạo, phương thức tiến hành, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam...
Năm là, tiếp tục nghiên cứu công tác hậu cần-kỹ thuật (HC-KT) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng với các mặt công tác khác, công tác bảo đảm HC-KT được gấp rút triển khai. Hội đồng Cung cấp mặt trận ở Trung ương, các khu và các tỉnh từ Thanh Hóa trở ra được thành lập để huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến dịch. Ngành hậu cần đã huy động toàn bộ lực lượng, bảo đảm cho hơn 87.000 người tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, bao gồm cả lực lượng chiến đấu và dân công, với 12 triệu ngày công phục vụ chiến dịch; khối lượng vật chất phục vụ chiến dịch hơn 20.000 tấn. Công tác kỹ thuật đã tổ chức, huy động phương tiện và bảo đảm kỹ thuật tốt cho lực lượng vận tải cơ giới; bảo đảm an toàn, bí mật, đầy đủ vũ khí, đặc biệt là vũ khí pháo binh; đồng thời triệt để tận thu vũ khí, trang bị của địch, thực hiện “lấy của địch đánh địch”.
Vận dụng bài học về công tác HC-KT từ Chiến dịch Điện Biên Phủ trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại cần xây dựng hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý chỉ đạo công tác HC-KT bảo đảm thống nhất, đồng bộ, tinh, gọn, hiệu quả, phù hợp với tổ chức lực lượng Quân đội, phát huy được sức mạnh của các cấp, các ngành và của toàn dân. Có đội ngũ cán bộ, nhân viên HC-KT chất lượng cao, đủ khả năng làm chủ phương tiện, trang bị kỹ thuật hiện đại. Kiện toàn tổ chức ngành kỹ thuật theo hướng “tinh, gọn, mạnh, thống nhất”, phù hợp với tính năng công nghệ của VKTBKT và nhiệm vụ của từng cấp. Đổi mới phương thức bảo đảm kỹ thuật đối với VKTBKT thế hệ mới, công nghệ cao.
Kết hợp tốt các phương thức bảo đảm truyền thống với ứng dụng khoa học-công nghệ, tổ chức triển khai bảo đảm linh hoạt, kịp thời, đầy đủ cho các nhu cầu của Quân đội cả thời bình và thời chiến, trong mọi tình huống chiến tranh hiện đại, công nghệ cao, trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và các thách thức an ninh phi truyền thống khác. Có các cơ sở bảo đảm HC-KT nòng cốt, đồng bộ với khu vực phòng thủ, tạo thế liên hoàn vững chắc theo hướng bố trí chiến lược tại các vùng, miền gắn với phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, đồng thời tổ chức bảo đảm HC-KT theo phương thức hiện đại để nâng cao chất lượng công tác bảo đảm.
Sáu là, đẩy mạnh công tác đối ngoại, phát triển công nghiệp quốc phòng, hiện đại hóa VKTBKT.
Để đi đến Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã từng bước chuẩn bị một cách toàn diện, kỹ càng cả về nhân lực, vật lực và trong quá trình đó, sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế là hết sức quan trọng. Quán triệt quan điểm “Đông Dương là một chiến trường”, Quân đội ta đã xây dựng được khối đoàn kết, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Từ năm 1950, sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô, chúng ta đã nhận được từ những quốc gia này sự giúp đỡ cả về vật chất và chính trị, trong đó có nhiều loại hỏa lực hiện đại, tạo sức mạnh đánh bại đối phương. Bên cạnh nguồn viện trợ, ta rất chú trọng và nỗ lực xây dựng, phát triển ngành quân giới, vừa sửa chữa, vừa sản xuất một số loại vũ khí, bảo đảm một phần VKTBKT cho LLVT.
Hiện nay, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một bộ phận quan trọng của ba trụ cột đối ngoại, nhằm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình, đồng thời, góp phần củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, phục vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Thời gian tới, toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh, triển khai thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Kết luận số 53-KL/TW ngày 28-4-2023 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
Qua hoạt động đối ngoại quốc phòng và hợp tác quốc tế, huy động các nguồn lực quốc tế phục vụ sự nghiệp hiện đại hóa Quân đội, phát triển công nghiệp quốc phòng, kỹ thuật quân sự. Triển khai và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26-1-2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, tiếp tục xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đạt trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại, gắn phát triển công nghiệp quốc phòng với công nghiệp quốc gia, ưu tiên hướng tới những công nghệ hiện đại, có hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bảo đảm VKTBKT cho LLVT nhân dân. Kết hợp phát triển công nghiệp quốc phòng để tự trang bị với mua sắm vũ khí, khí tài mới, hiện đại gắn với nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao, đổi mới công nghệ, nhất là các công nghệ mới, hiện đại, làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại.
Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm bảo đảm cho Quân đội ta có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 70 năm đã trôi qua, nhưng những bài học từ Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 vẫn còn nguyên giá trị trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Những bài học đó cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng và phát huy, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng Quân đội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
St

 ĐIỆN BIÊN PHỦ - KỲ TÍCH VẺ VANG

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Năm tháng qua đi nhưng tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của chiến thắng Điện Biên Phủ thì ngày càng tỏa sáng. Nếu chúng ta nêu cao tinh thần yêu nước, có ý chí quyết tâm và tinh thần sáng tạo thì việc khó mấy chúng ta cũng làm được.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đặt dấu chấm hết cho chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta và bán đảo Đông Dương. Nếu không có Điện Biên Phủ thì không thể có Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Thắng lợi của chín năm kháng chiến trường kỳ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần to lớn bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo ra các tiền đề, điều kiện để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục vươn tới giành nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng XHCN miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiện mang tầm vóc thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên toàn cầu. Bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã nêu tấm gương sáng về lòng dũng cảm, tinh thần bất khuất, sức sáng tạo chống ngoại xâm trước toàn thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhưng trước hết đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta và Bác Hồ. Chiến thắng Điện Biên Phủ còn là chiến thắng của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự Việt Nam; là chiến thắng của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là thắng lợi của đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính…”. Cùng với nhân dân cả nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã vượt qua vô vàn gian nan, thử thách, chiến đấu kiên cường, bền bỉ, sáng tạo, góp phần quyết định làm nên chiến thắng...

Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, bài học kinh nghiệm của chiến thắng Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào giai đoạn lịch sử mới chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Với đường lối cách mạng đúng đắn, sự chỉ đạo tài tình của Đảng, quân và dân ta đã làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ mới với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã giành được những thành tựu hết sức quan trọng. Sự phát triển vượt bậc của đất nước đã tạo ra những động lực lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Nhân loại đã bước qua những thập niên đầu của thế kỷ 21. Tuy giành được những thành tựu rất đáng tự hào và phía trước có những thời cơ mới mở ra nhưng Việt Nam cũng đang gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta khơi dậy niềm tự hào dân tộc, kế thừa và phát huy cao độ những bài học quý báu của chiến thắng. Tình hình thế giới và khu vực đang đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, phát triển lý luận bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đẩy mạnh tuyên truyền về đường lối phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân cho toàn dân, chúng ta phải đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại để xứng đáng với vai trò nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân. Quân đội ta phải được giáo dục, huấn luyện chu đáo cả về bản lĩnh chính trị, lòng trung thành, tinh thần cảnh giác cách mạng; cả tư tưởng và tổ chức; cả trình độ kỹ thuật, nghệ thuật quân sự và vũ khí, trang bị - công nghệ quân sự... Có như vậy chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội mới không ngừng được nâng cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN và cuộc sống bình yên của nhân dân.

70 năm nhìn lại chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Sự đổi thay kỳ diệu của đất nước trong hòa bình nhắc nhở chúng ta phải ra sức phấn đấu để xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ cha, anh. Dù phía trước còn nhiều nguy cơ, thách thức nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống Điện Biên Phủ không ngừng được phát huy, công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Điện Biên Phủ mãi mãi xứng đáng với tầm vóc lịch sử của dân tộc Việt Nam./.



GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA, HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY

  Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề về văn hoá luôn có một vị trí quan trọng. Những quan điểm của Người về văn hoá đã góp phần vào sự tiến bộ và phát triển nền văn minh của nhân loại, đồng thời là kim chỉ nam để Đảng ta hoạch định đường lối, chính sách phát triển văn hoá qua các giai đoạn xây dựng đất nước. Hồ Chí Minh chính là điểm hội tụ những giá trị cao đẹp nhất trong lịch sử hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam, cũng là điển hình của sự kết hợp hài hòa giữa đạo lý của dân tộc với tinh hoa của nhiều dòng văn hóa Đông - Tây. Người đã sớm nhận thức rất rõ mối quan hệ giữa dân tộc và bản sắc dân tộc.

1. Hồ Chí Minh với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Ngay từ khi còn hoạt động ở Pháp, nhìn thấy ánh sáng văn hoá mới của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh kịch liệt lên án chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa, vạch trần tâm địa xấu xa, bỉ ổi của cái gọi là “khai hóa văn minh”. Để thay thế văn hoá nô dịch của chủ nghĩa thực dân bằng một nền văn hoá mới cách mạng, ngay sau khi vừa giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt. Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem đói nghèo cũng như những tập tục lạc hậu cũng là một loại kẻ thù và một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Người khẳng định văn hoá là tinh hoa của dân tộc, văn hoá phải góp phần khẳng định vị thế của một dân tộc.
Người cho rằng càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu. Người đòi hỏi phải biết giữ gìn vốn văn hoá quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hoá dân tộc, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân.
Tư tưởng về bảo tồn văn hoá dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phủ nhận sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau của văn hoá các dân tộc mà ngược lại, khẳng định sự giao hoà giữa các nền văn hoá của các dân tộc khác nhau chính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển văn hoá của mỗi dân tộc, làm cho nó hoàn thiện hơn, phong phú hơn. Người cho rằng: “Văn hoá Việt Nam ảnh hưởng lẫn nhau của văn hoá Đông phương và Tây phương chung đúc lại…lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”.
Đề cao truyền thống, bản sắc dân tộc nhưng không tự bó mình vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận. Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa chủ nghĩa chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế trong lĩnh vực văn hóa. Người khâm phục nền văn hoá phát triển của các dân tộc khác, không kể đó là những dân tộc có bọn thực dân đang là kẻ thù xâm lược nước ta. Tư duy văn hóa Hồ Chí Minh là tư duy mở rộng để thâu hóa, nó rất xa lạ với mọi thứ kỳ thị văn hóa. Một nhà báo Mỹ đã nhận xét: “Cụ Hồ không phải là một người dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi, mà cụ là một con người yêu mến văn hoá Pháp trong khi chống thực dân Pháp. Một con người biết coi trọng những truyền thống cách mạng Mỹ, khi Mỹ phá hoại đất nước cụ”.
Bản thân Hồ Chí Minh là đỉnh cao của sự kết tinh văn hóa hóa nhân loại, đúc kết trong kho tàng tri thức của mình tinh hoa văn hoá đông, tây, kim, cổ. Người đề ra chủ trương kế thừa, bảo tồn truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại. Nội dung tiếp thu nền văn hóa nhân loại là rất toàn diện. Trước hết là tiếp thu cả đông, tây, kim, cổ, tìm mẫu số chung của nền văn hóa trên thế giới. Tính toàn diện còn thể hiện ở việc tiếp thu nhiều mặt: tư tưởng Khổng giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, văn hóa châu âu, tư tưởng Tôn Trung Sơn, đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin, ngoài ra còn tiếp thu nền nghệ thuật, âm nhạc, hội họa…
Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích của tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là để làm giàu cho văn hóa Việt Nam, xây dựng nền văn hóa Việt Nam hợp với tinh thần dân chủ. Tiêu chí tiếp thu là tiếp thu cái hay, cái tốt, tiếp thu có chọn lọc, tiếp nhận những cái phù hợp với thuần phong mỹ tục đất nước, loại bỏ sự ảnh hưởng của những thứ phản văn hóa. Chính vì thế phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lấy văn hóa dân tộc làm gốc, giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc và coi nó như một tấm lá chắn vững chắc để đi tới tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại. Người dạy, tiếp thu văn hóa nhân loại không có nghĩa là bê nguyên xi một cách thô thiển, có vay mà ko có trả. Phải học tập một cách sáng tạo chứ ko phải chạy theo sau thiên hạ một cách kệch cỡm, mà phải từ tầm cao của tinh hoa nhân loại mà vươn lên cao hơn, bằng thành tựu của mình góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm kho tàng nhân loại; tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tốt, cái đẹp để làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc, biến chúng thành những cái bên trong, tự nhiên như những yếu tố nội sinh của văn hóa Việt Nam. Đứng vững trên cái nền dân tộc để chiếm lĩnh, tiếp thu những giá trị văn hóa bên ngoài, bản lĩnh đó của dân tộc Việt Nam đã được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm qua. Ngoài ra, trong quá trình tiếp thu, học tập kinh nghiệm, phải chú ý đến đặc điểm của dân tộc mình, nếu không sẽ phạm phải sai lầm, giáo điều. Do đó, Người chỉ rõ những người làm văn hóa - văn nghệ phải có kiến thức, phải chịu khó học hỏi, trau dồi, mở rộng kiến thức, am hiểu văn hóa thế giới, có như thế mới có thể tiếp thu của người ta và quảng bá văn hóa của mình.
Như vậy có thể thấy, trong việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt chăm lo giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, mặt khác Người quan tâm chống nguy cơ bảo thủ, khép kín, tức là Người đã nhìn thấy phép biện chứng giữa tính dân tộc và tính nhân loại như là một quy luật trong xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam.
2. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trải qua các kỳ đại hội của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định xây dựng nên văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực, là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Chúng ta cần hiểu rằng, bản sắc dân tộc không phải là cái nhất thành bất biến, mà là một sản phẩm gắn với từng bước phát triển của cộng đồng dân tộc, tức là luôn có xu thế hướng tới hiện đại, và nó chịu tác động của quá trình biến đổi của nền kinh tế - xã hội của một quốc gia. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin - truyền thông, con người và những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam ít nhiều đã bị tác động và biến đổi. Bên cạnh những nhân tố tích cực thúc đẩy nền văn hóa phát triển hiện đại, tạo ra những công cụ, phương tiện để giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thì cũng tồn tại nhiều nhân tố tác động xấu khiến cho giá trị văn hóa truyền thống trở nên lạc hậu hoặc bị mai một, bị biến dạng.
Trước hoàn cảnh đó, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, xây dựng được một nền văn hóa giàu bản sắc dân tộc. Đó là nền văn hóa bao gồm sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hóa của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, của các vùng, các địa phương trong nước; tính phong phú đa dạng đó được nhân lên gấp nhiều lần do được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc, biểu hiện cụ thể ở những giá trị văn hóa bền vững, là tổng hợp các giá trị tinh thần tiêu biểu của dân tộc, như: Tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tính cộng đồng gắn kết giữa cá nhân, gia đình, quê hương, tổ quốc, tinh thần nhân nghĩa, nhân ái thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc, tinh thần lao động cần cù sáng tạo, lối sống tinh tế, khiêm tốn, giản dị và trung thực...
Chúng ta đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới, xây dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam thân thiện trong mắt bạn bè quốc tế, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành cơ sở để liên kết xã hội và liên kết các thế hệ tạo nên sức mạnh tinh thần của cả dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử.
3. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập quốc tế hiện nay
Để tiếp tục sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, các nghị quyết của Đảng tiếp tục đề cao nhiệm vụ văn hóa với những phương châm, giải pháp cụ thể.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ;… Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; khẳng định và biểu dương các giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phản văn hoá...”.
Nghị quyết trung ương 9, khóa XI của Đảng về xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã nhấn mạnh nhiệm vụ: Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Kế thừa, phát triển quan điểm chỉ đạo, những định hướng lớn của Đảng và tình hình phát triển văn hóa Việt Nam thời gian qua, tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Bởi vì giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không có nghĩa là đóng cửa, khép kín, “nhốt” nền văn hóa dân tộc khỏi sự ảnh hưởng của bên ngoài mà nó còn đồng nghĩa với việc giao lưu hợp tác văn hóa để tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại tiến bộ làm cho nền văn hóa dân tộc giàu có hơn, hiện đại hơn, có sức sống mãnh liệt hơn, đề kháng trước những yếu tố phản văn hóa; giáo dục chủ nghĩa yêu nước, trang bị tri thức văn hóa dân tộc cho mỗi người dân Việt Nam để mỗi người Việt Nam dù ở trong nước hay nước ngoài đều cảm thấy tự hào về đất nước ngàn năm văn hiến đồng thời nâng cao trách nhiệm, tính tích cực, tự giác trong giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trước bối cảnh mới của dân tộc và thời đại.
Tóm lại, trước xu thế toàn cầu hóa của thế giới hiện nay, không một quốc gia nào có thể phát triển trong sự tách biệt với thế giới. Hội nhập kinh tế, giao lưu về văn hóa giữa các nước đang diễn ra hết sức sôi động. Nhưng nếu không có một bản lĩnh vững vàng, một chiến lược phát triển đúng đắn thì việc giao lưu đó sẽ dẫn đến nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Để mở rộng giao lưu, hội nhập mà không đánh mất bản sắc của mình, chúng ta phải trở về với Tư tưởng Hồ Chí Minh: Bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, những phải lấy bản sắc văn hóa dân tộc làm nền tảng, làm bản lĩnh. Nền tảng có vững chắc, bản lĩnh có vững vàng mới tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại một cách đúng đắn, mới chủ động, tự tin hội nhập và làm giàu thêm, sáng lên đặc trưng văn hóa dân tộc./.
St

QUY ĐỊNH CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ THÍ ĐIỂM GIAO QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CHO NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ

 Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai đã ký ban hành Quy định số 142-QĐ/TW (ngày 23-4-2024) quy định thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ (Quy định số 142).

Quy định này quy định phạm vi, đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện thí điểm về công tác cán bộ, gồm: Giới thiệu nhân sự bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của người đứng đầu; bầu bổ sung ủy viên ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp thuộc thẩm quyền quản lý.
Quy định thực hiện thí điểm đối với các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị từ cấp huyện trở lên (đối với Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương có quy định riêng).
Theo Quy định số 142, căn cứ chủ trương của cấp có thẩm quyền, tại bước 1 của quy trình nhân sự theo Điều 21, Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, người đứng đầu được giới thiệu nhân sự như sau:
Trường hợp nhân sự từ nguồn tại chỗ, người đứng đầu căn cứ số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn, điều kiện, yêu cầu nhiệm vụ và danh sách nhân sự trong quy hoạch lựa chọn, giới thiệu 1 nhân sự cho 1 chức danh để cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét đưa vào danh sách, tiến hành các bước tiếp theo.
Trường hợp nhân sự từ nguồn ở nơi khác, người đứng đầu căn cứ số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn, điều kiện, yêu cầu nhiệm vụ giới thiệu 1 nhân sự cho 1 chức danh để cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét tiến hành quy trình nhân sự.
Theo Điều 4, Quy định số 142, khi khuyết số lượng ủy viên ban thường vụ thì người đứng đầu căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, đề án công tác nhân sự đại hội, danh sách quy hoạch để lựa chọn, giới thiệu nhân sự cho tập thể ban thường vụ xem xét, trình ban chấp hành giới thiệu bổ sung ủy viên ban thường vụ; nếu nhân sự được ban chấp hành thống nhất giới thiệu, ban thường vụ trình xin ý kiến cấp có thẩm quyền trước khi tiến hành bầu cử.
Theo Điều 5, người đứng đầu được quyền xem xét bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng của tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp hành chính do mình trực tiếp quản lý theo quy định, như sau:
Căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, yêu cầu, nhiệm vụ, sau khi trao đổi, thống nhất ý kiến với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị có thẩm quyền, người đứng đầu quyết định bổ nhiệm cán bộ.
Khi có căn cứ xem xét miễn nhiệm cán bộ theo quy định thì trong thời hạn 15 ngày làm việc, người đứng đầu ban hành quyết định miễn nhiệm cán bộ và gửi văn bản đến cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ.
*Trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu
Điều 6, Quy định số 142 nhấn mạnh về trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu.
Theo đó, người đứng đầu bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của nhân sự do mình giới thiệu; thực hiện nghiêm các quy định về công tác cán bộ, quy định về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.
Người đứng đầu chịu trách nhiệm về quyết định của mình kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu trong các trường hợp sau:
Giới thiệu cán bộ để bầu cử, bổ nhiệm thiếu công tâm, khách quan, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác.
Miễn nhiệm cán bộ không bảo đảm căn cứ, thủ tục theo quy định.
Việc xem xét xử lý trách nhiệm của người đứng đầu trong trường hợp vi phạm quy định này được thực hiện theo quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và các quy định có liên quan.
Quy định số 142 cũng nêu rõ, thời gian thực hiện thí điểm là 5 năm kể từ khi ban hành Quy định./.
St

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ "QUYẾT ĐỊNH LỊCH SỬ" THAY ĐỔI VẬN MỆNH DÂN TỘC

 Soi lại lịch sử dân tộc, có những sự kiện dường như có sự song trùng ngẫu nhiên, điển hình như năm 1911. Năm ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Văn Ba quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc tại Bến Nhà Rồng, cũng là năm Đại tướng Võ Nguyên Giáp cất tiếng khóc chào đời trong một gia đình nhà nho yêu nước tại Quảng Bình. Để rồi sau này, lịch sử đưa hai người ở hai thế hệ cùng chung chí hướng, mục tiêu lý tưởng trở thành đồng chí, thầy trò, cùng nhau thay đổi vận mệnh của dân tộc với huyền thoại Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Trước khi trở thành “Anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự thời đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là thầy giáo dạy lịch sử ở Trường tư thục Thăng Long. Năm 1940, thầy giáo Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc để gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong quá trình cùng hoạt động cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ở Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự và sau này, chính Người đã giao trọng trách cho Đại tướng thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam; là Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với cương vị Tổng Tư lệnh kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ cùng ý chí, tinh thần kiên trung, bản lĩnh của người cộng sản, ông trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Linh hồn ấy đã kết tinh và tỏa sáng ở “quyết định lịch sử” trong trận quyết chiến chiến lược giữa ta và địch ở Điện Biên Phủ. Trong trận đánh quyết định này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao trọn niềm tin cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Đây không chỉ là sự tin tưởng tuyệt đối của Đảng và Bác Hồ, mà cao hơn là trọng trách của người cầm quân! Vận mệnh cả dân tộc đặt trọn niềm tin vào chiến thắng này, đòi hỏi ở Đại tướng một ý chí, tinh thần thép, bản lĩnh của người chỉ huy cao nhất trên chiến trường.
Cuối năm 1953, sau khi thị sát Nà Sản và phân tích, đánh giá tình hình địch ở Ðiện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc cân nhắc, đưa ra hai phương án: Ðánh nhanh và đánh chắc để phân tích. Qua trao đổi, Trưởng và Phó Đoàn chuyên gia Trung Quốc là Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh đều chọn phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”, dùng mũi thọc sâu “tạo nên sự rối loạn ở trung tâm phòng ngự địch ngay từ đầu, rồi từ trong đ.ánh ra từ ngoài đ.ánh vào, tiêu diệt địch trong thời gian tương đối ngắn” và quyết định nổ s.úng vào 17h ngày 25-1-1954. Tất cả đều chuẩn bị nhanh chóng cho chiến dịch Điện Biên Phủ.
Nhưng, gần ngày ấy, với linh tính của một vị trướng và theo dõi sát tình tình thay đổi trên thực tiễn chiến trường, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định hoãn thời gian nổ s.úng 24 tiếng trong khi các đơn vị đã sẵn sàng chờ lệnh. Trong Hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Tôi cảm thấy như cả tháng đã trôi qua. Nhưng tính lại từ khi trao nhiệm vụ chiến đấu tới đó, chỉ mới có mười một ngày. Mỗi ngày, tôi càng nhận thấy rõ là không thể đánh nhanh được. Lời Bác dặn trước lúc lên đường và nghị quyết Trung ương hồi đầu năm lại văng vẳng bên tai: “Chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn!”.
Đêm ngày 25 tháng 1 năm 1954, tôi không sao chợp mắt được. Đầu đau nhức. Đồng chí Thùy, y sĩ, buộc trên trán tôi một nắm ngải cứu. Tôi đã hiểu vì sao mọi người đều muốn đánh nhanh... Lý do chính là e thời gian chuẩn bị kéo dài... tập đoàn cứ điểm ngày càng mạnh... ta mất cơ hội tiêu diệt địch... Đặc biệt, mọi người đều tin vào khí thế của bộ đội… Nhưng... Không phải chỉ với... tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng... Chúng ta cũng không thể giành chiến thắng với bất cứ giá nào, vì phải giữ gìn vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài.
Khi nghe anh Thái nói lần đầu ở Tuần Giáo về khả năng đánh nhanh thắng nhanh, tôi đã cảm thấy làm như vậy là mạo hiểm. Từ đó đến nay, tình hình địch đã thay đổi nhiều. Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có...
Ba khó khăn hiện lên rất rõ.
Thứ nhất, bộ đội chủ lực ta... (ngay) ở Nà Sản (tương đối yếu hơn hẳn) vẫn có những trận đánh không thành công, bị thương vong nhiều. Thứ hai, trận này... đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà lại chưa qua diễn tập. Vừa qua, có trung đoàn trưởng xin trả pháo vì không biết phối hợp thế nào! Thứ ba,... Trận đ.ánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15km và rộng 6-7km... Tất cả những khó khăn đó đều chưa được bàn bạc kỹ và tìm ra cách khắc phục. Nhưng giải quyết ra sao bây giờ? Pháo đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đ.ánh một lần nữa sẽ tác động tới tinh thần bộ đội như thế nào?
Tôi cảm thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đ.ánh khác dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh thắng nhanh” sang phương án “đánh chắc tiến chắc”. Thời gian chuẩn bị sẽ kéo dài. Ngoài công tác chuẩn bị đánh địch ở Điện Biên Phủ, bộ đội ta cần có những hoạt động tạo nên bất ngờ mới cho địch. Tôi nghĩ trước mắt sẽ điều ngay một cánh quân sang Thượng Lào thu hút quân địch về hướng này, có thể quét sạch hàng lang Điện Biên Phủ - Luông Pha Băng chúng mới lập ở lưu vực sông Nậm Hu. Và cần nhắc Liên khu Năm triển khai nhanh chiến dịch ở Tây Nguyên.
Phải họp ngay Đảng ủy Mặt trận... Suốt đêm tôi chỉ mong trời sáng.
Văn phòng thông báo cuộc họp Đảng ủy mặt trận... Tôi trình bày những suy nghĩ đã có từ lâu... Mặc dù trong buổi họp nhiều ý kiến chưa thông suốt với cách chuyển hướng chiến lược trận đánh, nhưng trước lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh… cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công... Trong ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình".
Đưa ra “quyết định lịch sử”, Đại tướng suy xét, phân tích tổng hợp lý luận và thực tiễn, so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch: Quân đội Pháp đến thời điểm đó không còn ở trạng thái lâm thời phòng ngự như trước mà đã trở thành “tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố”, pháo đài “bất khả xâm phạm”, được trang bị vũ khí tối tân, có máy bay, xe tăng và đặc biệt pháo binh Pháp - binh chủng hàng thế kỷ thiện chiến dạn dày kinh nghiệm. Họ khảo sát tính toán kỹ sơ đồ, địa hình từng khoảng đất vùng núi lòng chảo Điện Biên Phủ.
Về phía ta, khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành, trong đó có sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc về vũ khí đạn dược, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, không thể so sánh với xe tăng, máy bay, pháo binh, quân đội nhà nghề của thực Pháp tập kết ở Điện Biên Phủ cũng như lực lượng thường xuyên tăng viện cho pháo đài bất khả xâm phạm dưới lòng chảo Điện Biên... Những thuận lợi và khó khăn, sự thành công và thất bại của chiến dịch hiện lên trước mặt Đại tướng, trong đó, ông luôn đặt lên trên hết tính mạng từng người lính, chiến sĩ trên chiến trường, không thể mạo hiểm, dốc toàn lực lượng quân đội “đánh nhanh, thắng nhanh”. Đặc biệt, nếu chúng ta “đ.ánh nhanh, thắng nhanh” lúc này, càng tạo thêm thuận lợi, giúp thực dân Pháp thành công âm mưu “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, giành thế thắng trên chiến trường.
Vì vậy, trước giờ phút hệ trọng đi đến quyết định khai chiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp linh giác và nhớ như in lời dặn của Bác: “tướng quân tại ngoại”, “trao cho chú toàn quyền quyết định”! 11 ngày “mất ăn, mất ngủ” và một đêm thức trắng với nắm ngải cứu thường trực trên đầu, Đại tướng đưa ra quyết định cuối cùng “đánh chắc, tiến chắc”, quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của Đại tướng.
“Quyết định lịch sử” này là sự kế thừa và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam “đánh lâu dài” lên tầm cao mới, đồng thời phù hợp với đường lối, chủ trương kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng tại Hội nghị lần thứ IV của Ban Chấp hành Trung ương (khóa II), ngày 25 đến 30-1-1953 tại Tỉn Keo: “Ta không chủ quan khinh địch, không nóng vội, không mạo hiểm. Ðánh ăn chắc tiến ăn chắc. Chắc thắng thì kiên quyết đánh cho kỳ thắng. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh. Nếu chủ quan, mạo hiểm mà một lần thua nặng, thì sẽ tai hại lớn. Chiến trường của ta hẹp, người của ta không nhiều, nên nói chung ta chỉ có thắng chứ không được bại, vì bại là hết vốn” và lời căn dặn của Bác Hồ “Trận này rất quan trọng, phải đ.ánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đ.ánh”. Sáng ngày 26-1-1954, Đại tướng lệnh hoãn tiến công, thu quân về vị trí tập kết, chuẩn bị lại theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định này được Bộ Chính trị và Bác Hồ đồng tình ủng hộ.
Với phương châm mới, thời gian mở chiến dịch lùi lại, giờ G được chọn bắt đầu nổ s.úng trong chiến dịch Điện Biên Phủ vào ngày 13-3-1954. Trải qua “56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt/ M.áu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn!”, dân tộc Việt Nam đã viết nên thiên anh hùng ca chiến thắng, Điện Biên Phủ trở thành sự kiện “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sử gia Phương Tây W.Burchett đã thừa nhận trong Hồi ký của mình: “Điện Biên Phủ thắng lợi hoàn toàn một ngày trước khi hội nghị đó khai mạc nhờ thời điểm tuyệt diệu của ông Giáp”.
Vậy mà, nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - điểm hẹn lịch sử, được tổ chức tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), đã có tham luận của một sinh viên Trung Quốc cho rằng, nhân tố quyết định thắng lợi của Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ là nhờ phương châm tác chiến của chuyên gia Trung Quốc. Tham luận ấy đã được một bạn sinh viên Khoa Sử K46 tiếp lời, lật ngược lại vấn đề và khẳng định bằng nhiều luận cứ, chứng cứ rõ ràng, xác thực, đanh thép, khẳng định chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thuộc về dân tộc Việt Nam, thể hiện văn hóa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó, nhân tố quyết định trực tiếp là “quyết định lịch sử” thay đổi cách đánh từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đ.ánh chắc, tiến chắc” của Đại tưỡng Võ Nguyên Giáp.
Tư tưởng “đ.ánh chắc thắng” là bất biến, là truyền thống đ.ánh g.iặc giữ nước ngàn năm của ông cha ta truyền lại và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp kế thừa và phát huy, không chỉ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ mà còn thể hiện đậm nét trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này. “Quyết định lịch sử” chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đ.ánh chắc, tiến chắc” không chỉ là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của trận Ðiện Biên Phủ mà còn làm thay đổi vận mệnh dân tộc, kết thúc chặng đường lịch sử vẻ vang trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đánh giá “quyết định lịch sử” này, Đại tướng Lê Trọng Tấn từng ca ngợi: “Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ”. Còn Trung tướng Vương Thừa Vũ nhận định: “Nếu lần đó cứ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” thì cuộc kháng chiến có thể lùi lại mười năm”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với “Quyết định lịch sử” trong sự nghiệp cầm quân lừng lẫy của Người là tài sản vô giá, là bệ đỡ vững chắc để dân tộc Việt Nam tiếp tục dệt thêu nên những huyền thoại có thật ở thế kỷ XXI này./.
St

 ⭐"GỬI LẠI MAI SAU" 🇻🇳

🍁🍁🍁

Vô tình "Gửi lại mai sau"

Những trang nhật ký thấm màu m.áu tươi.


Những người lính tuổi hai mươi

Trước khi ngã xuống tiếng cười còn vang...


Viết gì giấy trắng sang trang?

Bao nhiêu chữ nghĩa xếp hàng điểm danh...


Gọi h.ồn các chị, các anh

Bao người nằm xuống đủ thành núi sông?


Bao người chưa vợ, chưa chồng

Chưa yêu đã ch.ết vẫn không tiếc đời.


Như mây trắng gửi lại trời

Những người lính ấy đã vời vợi xa...

- - -

💥💥💥

Ảnh: Phục dựng màu chân dung Liệt sĩ Nguyễn Minh Sơn, 1930 - 1967,  bút danh Nguyễn Hải Trường - Tác giả Nhật ký "Gửi lại mai sau"




NỮ SINH VIÊN VƯỢT GẦN 2.000KM ĐẾN ĐIỆN BIÊN PHỦ LÀM "LÍNH DU KÍCH"

  Lê Phương Thảo cùng 91 cô gái khác từ TP.HCM bay ra Hà Nội rồi lên TP Điện Biên Phủ tham gia đội hình diễu binh, diễu hành. Họ là những cô gái có trình độ học vấn từ bậc THPT trở lên. Nhiều nữ du kích là công chức, viên chức hành chính, hay đang học đại học đã xung phong nộp đơn đăng ký, sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Tất cả đều chưa lập gia đình.

Phương Thảo là sinh viên năm 3, quê ở Hóc Môn, đang theo học tại một trường đại học ở TP.HCM. Bởi hay tham gia công tác đoàn đội ở trường, trước đó Thảo được bạn bè gửi cho mẫu đơn đăng ký lên đường đi Điện Biên Phủ làm du kích. Không ngần ngại, cô gái "nhỏ bé" quyết định tham gia luôn.
"Mới đầu em cứ đăng ký bởi nghĩ đây là một sự kiện rất lớn. Nếu được đứng trong hàng ngũ diễu binh hẳn sẽ là trải nghiệm đáng nhớ của cuộc đời mình. Việc học thì rất quan trọng nhưng lễ diễu binh, diễu hành mừng chiến thắng này với em cơ hội thì chỉ có một lần. 10 năm trước thì em còn quá nhỏ, 10 năm sau thì em lại quá tuổi để tham dự. Vậy nên em không muốn bỏ lỡ", Phương Thảo tâm sự.
Sự ấm áp cô gái 21 tuổi nhận được sau những giờ tập dài là tình cảm của người dân Điện Biên. Những gia đình, các em nhỏ luôn có mặt đứng xem cả đội tập luyện hàng giờ, có khi tặng nước uống, bánh trái... Xa nhà vài tháng, 92 cô gái cũng bởi vậy mà bớt nỗi nhớ gia đình.
Tại khu ở, căn phòng nơi 8 cô gái trẻ sinh sống cũng luôn được giữ gọn gàng, sạch sẽ, thực hiện nếp sống không khác gì những binh sĩ chuyên nghiệp. Cả phòng cùng nhau quét dọn, lau rửa mỗi ngày. Mỗi khi dùng bữa trưa xong, họ sẽ phân công nhau tự rửa bát. Thời gian rảnh rỗi, các cô gái mỗi người một thú vui giải trí hoặc kiểm tra tư trang, gấp gọn đồ đạc.
Lần này tham gia đã có thêm nhiều kinh nghiệm, Thảo mong chờ vào những đợt diễu binh sau này. Nếu được, cô gái nhỏ sẽ tiếp tục đăng ký lên đường. "Em thấy tự hào vì được tham gia diễu binh lễ kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và hạnh phúc khi được gia đình mình ủng hộ hết lòng. Như vậy là quá trọn vẹn với em rồi", nữ sinh viên bày tỏ./.
St

 ❤️❤️Cái nắm tay nghĩa tình của chiến sĩ Điện Biên ngày hội ngộ 🇻🇳


Dù bước chân không còn vững, mắt không còn nhìn rõ nhưng các cựu chiến binh Điện Biên vẫn cùng nhau tới Nghĩa trang liệt sĩ A1 thăm đồng đội đã anh dũng hy sinh. 


Những người lính Điện Biên năm xưa nắm tay nhau ôn lại những kỷ niệm, xúc động nhớ thương đồng đội cũ.  









CÁC ĐẠI ĐOÀN NHẬN NHIỆM VỤ TỔNG CÔN.G KÍC.H

 Ngày 5-5-1954, từ Sở Chỉ huy Mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp liên tiếp nhận được báo cáo chiến thắng. Bộ Chỉ huy quyết định đẩy nhanh tốc độ tiến côn.g, hoàn thành gấp rút đợt 3 để sớm chuyển sang tổng côn.g kíc.h vào tối ngày 7-5.

Trên các mặt trận, quân ta đang thắng như chẻ tre
Ngày 5-5, ta đẩy mạnh nhịp độ tấ.n côn.g làm cho địc.h càng thêm bối rối. Đại đoàn 316 đán.h mạnh cứ điểm C2. Đại đoàn 312 tiê.u diệ.t các cứ điểm 506, 507, qué.t sạch địc.h ở tả ngạn sông Nậm Rốm. Đại đoàn 308 đán.h vị trí Nà Nọong (cứ điểm 310) chỉ cách Sở chỉ huy của De Castries 200m. Đại đoàn 304 biệt phái một tiểu đoàn chốt chặn ở Nà Tu, bịt đường sang Lào, đề phòng địc.h rút chạy. Đúng là ngay từ lúc này dù De Castries có "di tản" cũng khó thoát.
Từ Sở Chỉ huy Mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp liên tiếp nhận được báo cáo chiến thắng. Bộ Chỉ huy quyết định đẩy nhanh tốc độ tiế.n côn.g, hoàn thành gấp rút đợt 3 để sớm chuyển sang tổng côn.g kíc.h vào tối ngày 7-5.
Nhiệm vụ cụ thể của các đại đoàn bước vào tổng côn.g kíc.h được quy định cụ thể như sau: Đại đoàn 316 được tăng cường Trung đoàn 9 thuộc Đại đoàn 304, có nhiệm vụ tiê.u diệ.t nốt các cứ điểm C2 và A1 là điểm cao cuối cùng ở khu Đông; Đại đoàn 312 tiê.u diệ.t các cứ điểm ở chân đồi phía Đông tiến sát đến bờ sông Nậm Rốm; Đại đoàn 308 tiê.u diệ.t Nà Nọong ở phía Tây; Đại đoàn 351 bắ.n phá.o yểm trợ cho các đại đoàn tiê.u diệ.t địc.h, bắ.n má.y ba.y kiểm soát chặt chẽ vùng trời Điện Biên Phủ.
Địc.h bị dồ.n vào chân tường, tìm đường tháo chạy
Ngày 5-5, cả Langlais và Bigeard đều kéo tới Eliane. Họ đã biết rõ số phận của phân khu Trung tâm sẽ được kết thúc trên hai cao điểm còn lại ở phía Đông. Tại A1, Tiểu đoàn 1, Bán lữ đoàn lê dương 13 đã bị tổ.n thấ.t nặng sau một thời gian dài phòng ngự. Langlais quyết định chuyển những lính lê dương xuống Eliane 3 dưới chân đồi làm lực lượng dự bị và điều Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 vừa được tăng viện lên thay thế.
Tiểu đoàn dù 1 do Đại úy Bazin chỉ huy, nhận lệnh khẩn trương nhảy xuống Mường Thanh, nhưng sau 3 đêm chỉ mới tới được hơn hai đại đội và bộ phận chỉ huy tiểu đoàn. Bazin chưa kịp làm gì thì đã trún.g một mản.h đạ.n phá.o bị thươn.g. Đại úy Jean Ponget, Đại đội trưởng Đại đội 3, được chỉ định nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn. Cách đây không lâu, Jean Ponget còn là sĩ quan tùy tùng của Navarre, thường xuất hiện phía sau tổng chỉ huy trong những bức ảnh. Jean Ponget đã mất gần 6 giờ đưa đơn vị vượt qua quãng đường 1.500m từ Epervier tới Eliane trong những chiến hào ngập bùn, luôn luôn bị đạ.i bá.c ta bắ.n chặn. Sau khi nhận bàn giao từ Coutant chỉ huy Tiểu đoàn lê dương 1, Jean Ponget đi quan sát vị trí rồi quyết định chia lực lượng bố trí thành ba nơi tại Eliane 2. Đại úy Edme, chỉ huy Đại đội 2 phụ trách tuyến lô cốt và chiến hào phía Đông và phía Nam cứ điểm đối diện với lực lượng ta. Jean Ponget cùng với Đại đội 3 giữ đỉnh đồi có hầm ngầm và mặt Tây Nam tiếp giáp với A3, nơi có một mũi chiến hào của ta chạy men theo đường 41, đang trực tiếp đ.e dọ.a con đường nối A1 với Mường Thanh. Chỉ một ngày sau, Jean Ponget mới biết sự phân công này mang tính định mệnh.
Cogny dự định né.m xuống Điện Biên Phủ một tiểu đoàn để tiếp sức cho toán quân còn lại của De Castries phá vây chạy sang Thượng Lào. Hai tiểu đoàn dự bị còn lại cũng sẽ né.m nốt xuống để tạo thành một hành lang từ Lào đến giáp Điện Biên đón toán quân rút chạy. Do chiến sự đang diễn ra á.c liệ.t, các cụm cứ điểm đều bị Việt Minh chi.a cắt, khó tập hợp quân, De Castries đề nghị đến 20 giờ ngày 7-5 sẽ bắt đầu thực hiện kế hoạch di tản. De Castries tình nguyện ở lại với số thươn.g bin.h, vì nếu đưa cả hàng ngàn thươn.g bin.h đi thì sẽ khó rú.t chạ.y. Cogny hoàn toàn đồng ý./.
St

HUY HIỆU CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN PHỦ

 Chiếc Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên đối với ai đã từng được gắn trên ngực áo là niềm tự hào, kỷ niệm không bao giờ quên vì được sống, chiến đấu, hi sinh trong giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn từ ngày 13/3/1954, công tác chuẩn bị bắt đầu từ trước đó gần 3 tháng, tuy nhiên phải đến đầu tháng 4/1954, khi chiến dịch đã bước sang đợt tấn công thứ hai, ý tưởng về việc thiết kế một tấm huy hiệu mang biểu tượng của chiến dịch Điện Biên Phủ mới được hình thành nhằm cổ vũ, nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội ta. Không ai khác, chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh mặt trận chính là người nghĩ ra ý tưởng đó.
Họa sĩ Mai Văn Hiến và Nguyễn Bích, (lúc này chỉ khoảng 20 tuổi) đang công tác tại Báo Quân đội Nhân dân đóng tại mặt trận, chuyên sáng tác tranh cổ động, tranh biếm họa được giao trọng trách này, ngay sau đó nhanh chóng bắt tay vào công việc sang tác. Trong điều kiện ta vừa kết thúc đợt tấn công thứ nhất, với sự lập công xuất sắc của đơn vị pháo binh, tiêu diệt Trung tâm đề kháng Him Lam, Độc Lập, bức hàng địch tại đồn Bản Kéo, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bốn yêu cầu được đặt ra đối với tấm huy hiệu:
1. Có hình rừng núi (phù hợp với địa hình lòng chảo Mường Thanh);
2. Có chiến sĩ với mũ nan ở tư thế xung phong;
3. Có pháo binh trong đó có cả cao xạ vì đó là vũ khí lần đầu xuất hiện ở Điện Biên;
4. Có chữ Quyết chiến quyết thắng trên quân kỳ và chiến sĩ Điện Biên Phủ, hình thức cô đọng, gọn nhẹ, khái quát cao trên nền xanh và màu sáng.
Nhiều ngày cặm cụi, miệt mài với 10 mẫu thiết kế, hình mẫu Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên mà chúng ta thấy ngày nay được hoàn thành, chuyển về địa phương và gửi đi nước bạn sản xuất hàng loạt. Trong một hình tròn nhỏ, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng với dòng chữ "Quyết chiến, quyết thắng" nổi bật phía trên một chiến sĩ quả cảm, đội mũ nan lưới đang cầm súng hướng về phía trước. Bên trái nòng pháo cao xạ giương lên sẵn sàng nhằm thẳng quân thù mà bắn. Trên huy hiệu còn có hình ảnh rừng núi và dòng chữ “Xuân 1954” để ghi đấu trận đánh quan trọng này. Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định sẽ tặng cho các chiến sĩ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng còn chờ thời cơ.
56 ngày đêm máu lửa, xe tăng, đại bác, pháo, máy bay ném bom giày xéo lòng chảo Mường Thanh, Điện Biên Phủ trở thành chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta. Ngày 07/5/1954 lịch sử, niềm vui vỡ òa trong nước mắt khi tin bắt sống De Castries và toàn bộ quân địch tại Điện Biên được loan đi khắp mặt trận và hậu phương. Không thể đếm hết những hi sinh, chẳng thể kể hết những tấm gương chiến đấu anh dũng, trải qua bao khó khăn, gian khổ, ta đã khiến cả thế giới nghiêng mình thán phục vì đã đánh bại một trong những quân đội hùng mạnh nhất trên thế giới. Các nước thuộc địa Pháp thêm một niềm tin để đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc mình.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tuy không trực tiếp ra mặt trận nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dõi theo và sống từng phút, giây với các chiến sĩ. Ba lần người gửi thư thăm hỏi và động viên chiến sĩ, lần cuối khi ta vừa giành được thắng lợi, Bác viết:
Thư gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ
Ngày 12 tháng 5 năm 1954
Trước hết Bác gửi lời thân ái thăm các chú thương binh.
Toàn thể các chú cũng như cán bộ, chiến sĩ ở toàn quốc đã quyết tâm giành được thắng lợi lớn để chúc thọ Bác.
Bác quyết định khao các chú. Khao thế nào tùy theo điều kiện, nhưng nhất định khao.
Thế là Bác cháu ta cùng vui. Vui để cố gắng mới, để khắc phục khó khăn mới và để tranh thắng lợi mới.
Bác và Chính phủ định thưởng cho tất cả các chú huy hiệu "Chiến sĩ Điện Biên Phủ". Các chú tán thành không?
Bác dặn các chú một lần nữa:
Chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch, phải luôn luôn sẵn sàng làm trọn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho các chú.
Bác hôn các chú
HỒ CHÍ MINH
Chiến tranh kết thúc, người còn, người mất. 70 năm qua, chiếc Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên trở thành báu vật được nâng niu, gìn giữ bởi những người ở lại, đó không chỉ là kỷ niệm, mà còn là sự ghi nhận, tri ân với những người lính Điện Biên; là kỳ tích được lập nên từ lòng yêu nước dưới thời đại Hồ Chí Minh./.
St

SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ - TINH THẦN, NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954

 Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954 là sự kết tinh cao nhất sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta là một trong những nhân tố cơ bản và là động lực góp phần quyết định thắng lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Sự thống nhất về tinh thần và chính trị của nhân dân và Quân đội xung quanh Đảng và Chính phủ đã giúp chúng tôi vượt qua những thử thách, khó khăn không thể tưởng tượng được và tạo ra những điều kiện về chính trị, kinh tế và quân sự để chiến thắng”.
Khi phân tích những nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Nhân tố quyết định thứ hai của Chiến thắng Điện Biên Phủ và nói chung là của các chiến thắng Đông Xuân là tinh thần quyết chiến, quyết thắng, là tinh thần đoàn kết chiến đấu của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội đã chỉ rõ, sức mạnh của mỗi bên tham chiến trong chiến tranh là sức mạnh tổng hợp cả lực lượng vật chất và lực lượng tinh thần. Giành được ưu thế về tinh thần trong chiến tranh là giành được một trong hai ưu thế cơ bản của sức mạnh, giành được một trong những nhân tố quyết định thắng lợi. Lênin chỉ rõ: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rút cuộc thắng lợi tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”. Giành được ưu thế trong chiến tranh là giành được nguồn động lực to lớn về tinh thần, thúc đẩy sự phát triển các tiềm lực khác: Kinh tế, khoa học, quân sự,... Ưu thế tinh thần còn làm cho sức mạnh của từng tiềm lực và toàn bộ sức mạnh của một bên tham chiến được nhân lên, bền vững hơn, sử dụng hiệu quả hơn. Thực tế các cuộc chiến tranh đã chứng minh, ý chí, lòng dũng cảm sẽ giúp con người nhạy bén, sáng tạo, táo bạo, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để làm nên những chiến thắng vang dội.
Nắm vững và vận dụng sáng tạo lý luận đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta là một trong những nhân tố cơ bản quyết định chiến thắng của chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) của nhân dân ta nói chung, Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954) nói riêng chứng tỏ sức mạnh vượt trội của chúng ta so với thực dân Pháp xâm lược, nhưng không phải từ các loại vũ khí tối tân, từ một nền kinh tế hiện đại hay một đội quân chuyên nghiệp mà từ sức mạnh tổng hợp của tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến quyết thắng, xét đến cùng đó là sức mạnh chính trị - tinh thần.
Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt nguồn từ đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo và sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh đã được kiểm chứng từ cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Nhờ đó, chúng ta giành được thắng lợi ngày càng to lớn, giữ gìn nền độc lập dân tộc, đem lại lợi ích thiết thực cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là người lao động. Ngoài ra, sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn được bắt nguồn từ ý chí “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, từ khát vọng giành cho được độc lập tự do của cả dân tộc và truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm được hun đúc từ ngàn năm dựng nước và giữ nước. Ý chí, khát vọng đó đã thấm sâu vào toàn quân, toàn dân, trở thành quyết tâm sắt đá, thể hiện trong suốt chặng đường trường kỳ kháng chiến 9 năm, hội tụ trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Thực tiễn đã chứng minh, sức mạnh chính trị - tinh thần là ưu thế tuyệt đối của ta so với đối phương, giữ vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả sử dụng vũ khí trang bị, phát huy tinh thần sáng tạo trong chiến đấu, đồng thời là nhân tố góp phần quan trọng làm chuyển hóa lực lượng, tạo thế và lực hơn hẳn đối phương để giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. 56 ngày đêm đánh chiếm tập đoàn cứ điểm là những thử thách to lớn, khốc liệt hơn tất cả những chiến dịch mà quân và dân ta đã trải qua. Chính trong thử thách lớn lao đó, phẩm chất anh hùng của Quân đội, dân tộc ta lại càng ngời sáng, làm nên ưu thế tuyệt đối so với kẻ thù xâm lược và các thế lực phản động. Đó là ý chí quyết chiến quyết thắng, không ngại gian khổ, hy sinh; đoàn kết, kỷ luật cao nhưng đầy tính năng động, sáng tạo trong mọi nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến trường. Sức mạnh chính trị - tinh thần trở thành động lực mở ra một phong trào thi đua giết giặc lập công diễn ra sôi nổi khắp các mặt trận. Gian khổ, ác liệt nhưng bộ đội ta vẫn quyết giữ vững thế tiến công, không nao núng; một lòng một dạ trung thành với Đảng, với nhân dân; kiên cường chiến đấu vì độc lập - tự do của Tổ quốc.
Sức mạnh chính trị - tinh thần đã làm nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, trong thời đại Hồ Chí Minh; đã sản sinh ra các thế hệ anh hùng: Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng; Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai,... Những hành động anh hùng đó không chỉ có sức cổ vũ to lớn đối với Chiến dịch Điện Biên Phủ, mà còn lan tỏa trong toàn dân, toàn quân, trên khắp các mặt trận, trở thành nguồn sức mạnh to lớn động viên quân và dân ta ra sức giết giặc lập công, giành chiến thắng.
Sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn được thể hiện trong hành động xông pha lửa đạn, bất chấp mọi hiểm nguy của hàng chục vạn dân công, thanh niên xung phong. Đi dân công phục vụ chiến dịch đã trở thành phong trào rộng khắp, cả ở vùng tự do cũng như ở các vùng địch tạm chiếm. Các đoàn dân công, thanh niên xung phong được tổ chức chặt chẽ đã nô nức lên đường đưa lương thực, đạn dược, thuốc men đến mặt trận. Bộ đội và dân công ta chỉ dùng sức người lập nên kỳ tích chưa từng có trong lịch sử các cuộc chiến tranh: Đưa pháo lên đồi cao, vận chuyển quân trang, quân dụng, lương thực,… với nhiều tấm gương tiêu biểu: Với chiếc xe đạp thồ thô sơ, anh dân công hỏa tuyến Ma Văn Thắng (Phú Thọ) đã chở được 350kg gạo một chuyến lên chiến trường trong điều kiện gian khổ, ác liệt; chị Tô Thị Ngải (Hòa Bình) vận chuyển hàng suốt 10 ngày đêm không ngủ… Điều đó chỉ có thể có được nhờ sức mạnh chính trị - tinh thần, xuất phát từ lòng yêu nước với ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược của mỗi người dân, mỗi cán bộ, chiến sĩ.
Sức mạnh chính trị - tinh thần trong Chiến dịch Điện Biên Phủ được khơi dậy mạnh mẽ trong tất cả các tầng lớp nhân dân: Từ đồng bào ở miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ Bắc vào Nam, từ phụ nữ, trẻ em, người già, người trẻ đến đồng bào dân tộc thiểu số… “Hội mẹ chiến sĩ” với hơn 500.000 bà mẹ đã hăng hái tiếp tế, nuôi dưỡng bộ đội; phụ nữ đóng góp 2.381.000 ngày công (bằng 50% ngày công của dân công); các huyện Tuần Giáo, Điện Biên, Quỳnh Nhai và Thuận Chân đã đóng góp cho chiến dịch 7.500 tấn gạo (vượt mức huy động 1.500 tấn), gần 390 tấn thịt,... Chưa có một thời điểm nào của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sức người, sức của lại được huy động cao độ như Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ đã hội tụ các tiền đề và điều kiện cần thiết để sức mạnh chính trị - tinh thần của quân và dân ta được khơi dậy và phát huy cao độ; thể hiện rõ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược./.
ST