Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 5 ĐẶC TRƯNG VÀ 10 BIỂU HIỆN!
Không thể đánh tráo bản chất, bôi đen Chiến thắng 30/4/1975
Gần nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng cứ mỗi dịp 30/4, khi nhân dân cả nước kỷ niệm, ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc thì trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị tái diễn điệp khúc xuyên tạc về tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975 cũng như bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.
Karl Marx đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và những vấn đề đặt ra hiện nay
Đã gần 180 năm kể từ khi còn là “bóng ma ám ảnh châu Âu” và trong suốt quá trình phát triển của mình, Chủ nghĩa Mác luôn vấp phải sự chống phá quyết liệt của những quan điểm phi mác-xít nói chung, của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói riêng.
Do vậy, Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Cuộc đấu tranh đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, đồng thời đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng ta trong cuộc đấu tranh chống lại những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa hiện nay.
Ổn định chính trị - Vốn quý để phát triển đất nước
Đối với đất nước ta, ổn định chính trị là tài sản vô giá. Điều này đã được minh chứng qua kết quả của gần 40 năm đổi mới, ổn định chính trị là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế đất nước, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.
SAO CÒN VẤN VƯƠNG TẤM ÁO LỖI THỜI?
Ngót nửa thế kỷ từ Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, song những luồng tư tưởng gợi lại tàn tích chiến tranh, kích động hận thù vẫn ẩn hiện đâu đó trong đời sống của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Điều đó đòi hỏi thế hệ ngày nay càng phải thể hiện trách nhiệm lớn hơn nữa trong việc phản đối những gì đi ngược lại với chính sách hòa hợp dân tộc mà Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện.
Không chỉ là những hành vi phản cảm
Lâu nay, một số cá nhân bất mãn và tổ chức, trong đó có các tổ phản động lưu vong ở nước ngoài, cùng các thế lực thù địch vẫn rắp tâm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn, mà một trong số đó là tổ chức mua bán, sưu tầm và mang mặc các trang phục từ thời ngụy quân, ngụy quyền.
Sẽ chẳng ai ý kiến gì nếu như trang phục mà một số cá nhân cổ xúy lại là bộ quần áo rằn ri mà lính Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam trước năm 1975. Những trang phục ấy thường được ăn vận trong các buổi tụ tập, lễ tưởng niệm hay diễu hành với các mác “phục quốc” hay “làm sống dậy” tinh thần của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Dù đó chỉ là những sự việc, hiện tượng nhỏ lẻ nhưng vẫn khiến bức xúc dư luận, tác động xấu đến nhận thức cộng đồng người Việt Nam ở trong và ngoài nước, bởi được lặp đi lặp lại vào những dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước suốt bao nhiêu năm qua.
Dĩ nhiên, mỗi người đều có quyền lựa chọn xu hướng, phong cách ăn mặc cho riêng mình, song việc khoác lên mình trang phục của kẻ xâm lược và chế độ tay sai bán nước, từng gieo tội ác với dân tộc mình cách đây gần nửa thế kỷ rõ ràng là hành vi khoét sâu vào vết thương chiến tranh trong quá khứ, gieo rắc lòng hận thù tới một bộ phận kiều bào đang sinh sống ở hải ngoại, nhất là giới trẻ hải ngoại. Cùng với đó là ảo vọng muốn thông qua trang phục, âm nhạc hay các hoạt động nghệ thuật để làm sống lại những giá trị đã lỗi thời và đã bị đào thải của chính quyền tay sai bán nước ở Sài Gòn trước năm 1975. Suy cho cùng, đó không đơn thuần là những hành vi mà thoạt nhìn đã thấy lố bịch, phản cảm.
Nhưng cũng không loại trừ khả năng họ chính là nạn nhân xúi giục của những kẻ luôn mang trong mình lòng hận thù, tư tưởng bất mãn, hoặc các tổ chức phản động lưu vong có tư tưởng thù địch với Việt Nam, muốn dựa vào những tàn tích quá khứ để bóp méo lịch sử, kích động hận thù, phá hoại chủ trương “hòa hợp dân tộc”, “khép lại quá khứ, mở ra tương lai” và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.
Theo dõi trên mạng xã hội có thể thấy, thời gian gần đây, việc mang mặc những trang phục như vậy thường bị dư luận nhận diện và phản đối một cách hết sức nhanh chóng, quyết liệt. Mừng vì điều đó càng chứng tỏ người Việt Nam ta ở trong nước cũng như nước ngoài giờ đây đều có chung quan điểm, đó là không thể cổ xúy những gì đã trở thành vô giá trị, những gì gợi lại quá khứ đau thương của dân tộc. Vẫn biết hòa hợp dân tộc là một quá trình lâu dài, bền bỉ, nhưng sẽ khó đi đến đích nếu chưa thoát khỏi chiếc áo nhuốm máu đồng bào, nhuốm màu thù hận, mặc cảm và định kiến.
Đặt niềm tin vào thế hệ kiều bào trẻ
Tính đến tháng 4-2023, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 5,3 triệu người Việt sinh sống, làm việc, học tập ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, dù còn một bộ phận vẫn giữ định kiến, nhận thức và hành động không phù hợp lợi ích quốc gia, song hầu hết đều có tư tưởng cởi mở hơn, có cái nhìn đúng đắn về lịch sử và đất nước, đặc biệt là thế hệ kiều bào trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh.
Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều người trong số những kiều bào trẻ đang đóng vai trò nòng cốt, có sức ảnh hưởng lớn trong việc tập hợp, đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước, đồng thời là những nhân tố quan trọng trong triển khai chính sách hòa hợp dân tộc và tác động lớn đến nhận thức, thái độ của cộng đồng nơi họ đang sinh sống. Họ cũng là nguồn lực quan trọng của quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, thể hiện qua những đóng góp cụ thể, thiết thực của mỗi người trên nhiều lĩnh vực như đầu tư, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo...
Có được những kết quả ấy là do Đảng, Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương, chính sách liên quan tới hòa hợp dân tộc và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, trong đó có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 (khóa IX) của Bộ Chính trị “Về công tác dân tộc”, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đặc biệt, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19-5-2015 của Bộ Chính trị “Về tăng cường công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” đã khẳng định đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xóa bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc...
Một trong những ví dụ điển hình là hiện nay, những người từng làm việc cho chế độ Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 được đối xử bình đẳng trong mọi hoạt động, từ xuất, nhập cảnh, hồi hương, quốc tịch đến về nước làm ăn, đầu tư kinh doanh...
Những năm gần đây, kiều bào còn tham gia nhiều hoạt động, sự kiện mang tinh thần hướng về quê hương, đất nước, gắn kết kiều bào với quê hương như Chương trình xuân quê hương, tham dự Giỗ Tổ Hùng Vương, thăm quân và dân huyện đảo Trường Sa, nhà giàn DK1... Đặc biệt, trong số những kiều bào tích cực tham gia những chương trình ấy có cả những người trước đây từng mang quan điểm khác biệt, nay đã thay đổi suy nghĩ và có cái nhìn đúng đắn về quá khứ cũng như thực tại của đất nước.
Qua đó cho thấy, trong quá trình triển khai chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ, nhất là người trẻ ở hải ngoại. Chính họ cũng là những người có tiếng nói trọng lượng nhất để phản bác quan điểm đòi “phục dựng” một chế độ đã “cáo chung” từ nhiều năm trước, từ đó tiếp tục hàn gắn vết thương chiến tranh và giúp cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài toàn tâm toàn ý đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước./.
VIỆT NAM CẦN TỪ BỎ CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG”?
Biển Đông hiện là một trong những điểm nóng về mặt an ninh trên thế giới liên quan đến vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, an ninh khu vực (an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, khai thác tài nguyên bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh nghề cá...) cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn. Chính vì vậy mà các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng vấn đề này để kích động tâm lý bài xích Trung Quốc, kêu gọi Việt Nam tham gia liên minh quân sự và từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không”. Có thể kể đến như, ngày 18/4/2024, trên trang blog Bauxite Việt Nam tán phát bài “Thế trận an ninh mới ở Á Châu: Việt Nam có thể bình thản được bao lâu?”, nội dung đưa ra các dự báo về tình hình trên Biển Đông nhằm gây hoang mang trong dư luận, kích động mâu thuẫn trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với quốc gia trong khu vực và trên thế giới; kêu gọi Việt Nam “thúc đẩy sự hiện diện của hải quân các nước trên Biển Đông” và “từ bỏ” chính sách quốc phòng bốn không.
Các quan điểm trên là hoàn toàn sai trái, không phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chính sách quốc phòng “hòa bình, tự vệ” của Việt Nam và đặc điểm tình hình thế giới hiện nay.
Là một quốc gia đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, nên Việt Nam luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hoà bình. Đồng thời, Việt Nam cũng đòi hỏi các quốc gia khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi quốc gia của mình. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Chính sách quốc phòng “bốn không” thể hiện rõ tính chất nhân văn, hòa bình, tự vệ của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.
Chính sách quốc phòng “bốn không” bao gồm: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Thứ nhất, không tham gia liên minh quân sự
Việt Nam nhất quán “thêm bạn, bớt thù”. Một khi tham gia liên minh quân sự, chúng ta sẽ phải gắn với một bên, phải san sẻ trách nhiệm tài chính, nhân lực; có thể phải nhân nhượng một số lợi ích, sẽ phải hy sinh một phần nhất định chủ quyền quốc gia, có thể phải đối đầu với bên khác, tức là “chuốc” thêm kẻ thù. Do đó, Việt Nam chỉ chọn đứng về hòa bình, lẽ phải, công lý, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc. Mặt khác, hiện nay, các nước đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, mỗi nước phải tự bảo vệ lợi ích quốc gia mình, không thể trông chờ và sẽ không có quốc gia nào bảo vệ lợi ích thay cho nước khác. Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải duy trì quan hệ cân bằng giữa các nước lớn, đặc biệt trong bối cảnh diễn ra cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn tại khu vực Biển Đông.
Thứ hai, không liên kết với nước này để chống nước kia
Nguyên tắc này giúp Việt Nam có vị thế phù hợp để đối thoại với các nước hay tham gia vào các cơ chế đối thoại an ninh, quan sát viên các hội nghị, các cuộc tập trận ở khu vực. Việc thực hiện nguyên tắc này trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khu vực hiện nay. Nếu Việt Nam liên minh với bên ngoài, ưu tiên dùng biện pháp quân sự để giải quyết các tranh chấp, bất đồng thì sẽ khó được các nước khác ủng hộ.
Thứ ba, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác
Việt Nam khẳng định rõ ràng với thế giới là không chấp nhận cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, sử dụng một phần lãnh thổ Việt Nam để phát động chiến tranh xâm lược nước thứ ba.
Với quân cảng Cam Ranh, chúng ta xác định đây là căn cứ riêng của hải quân Việt Nam; đồng thời, Việt Nam đã cho xây dựng cảng quốc tế Cam Ranh để đáp ứng yêu cầu của không ít quốc gia muốn cho tàu chiến được ghé đậu quân cảng này. Như vậy, hoạt động của tàu chiến nước ngoài tại cảng quốc tế Cam Ranh không vi phạm nguyên tắc “không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác”.
Thứ tư, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Chủ trương này làm nổi bật bản chất phòng thủ và hòa bình trong chính sách quốc phòng Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam nỗ lực nâng cao năng lực quân sự của mình.
Sử dụng vũ lực và liên minh quân sự không phải là phương thức tối ưu trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mà chính đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ, hòa bình, chính nghĩa, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, mới là điều mà các quốc gia, dân tộc tiến bộ đều đang hướng tới. Vì vậy, chúng ta chủ trương không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va chạm không cần thiết, không để các đối tượng nước ngoài khiêu khích, kích động, thỏa hiệp xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc hoặc lôi kéo, khống chế, gây sức ép với nước khác phát động chiến tranh.
Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm, Việt Nam chủ trương không đe doạ hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trước trong quan hệ quốc tế. Nhưng sẵn sàng và kiên quyết giáng trả mọi hành động xâm lược. Đây là vấn đề rất quan trọng, để xây dựng lòng tin, là cơ sở để đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.
Trật tự thế giới đa cực hiện nay, các mối quan hệ quốc tế trở nên phức tạp hơn bao giờ hết; ranh giới giữa đối tượng và đối tác luôn luôn tồn tại và đan xen lẫn nhau. Trong cùng một chủ thể có những khía cạnh là đối tác để chúng ta tranh thủ hợp tác cùng phát triển, nhưng cũng có khía cạnh là đối tượng để đấu tranh. Việc nghiêng vào bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào cũng không phải là lựa chọn thích hợp. Chỉ có phát huy sức mạnh độc lập, tự chủ mới là cách thức tối ưu nhất để bảo vệ Tổ quốc./.
CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU GIẢ DANH PHẢN BIỆN XÃ HỘI
Phản biện xã hội là một hình thức thể hiện tự do ngôn luận, bày tỏ ý kiến một cách có cơ sở khoa học nhằm thực hiện quyền dân chủ và ý thức trách nhiệm của công dân. Ở Việt Nam, phản biện xã hội ngày càng được mở rộng nhằm thúc đẩy việc xây dựng nhà nước pháp quyền và quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, cũng như phát huy trí tuệ cộng đồng. Tuy nhiên một số tổ chức, cá nhân đã và đang lợi dụng quyền này để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước gây bức xúc dư luận, đòi hỏi cần phải kịp thời vạch trần và lên án.
Việc khuyến khích phản biện xã hội, tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân là để hoàn thiện thể chế, chính sách phục vụ nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, hiện nay, bên cạnh những đóng góp tích cực, có tính xây dựng của các tầng lớp nhân dân cũng đã xuất hiện một số đối tượng lợi dụng phản biện xã hội, quyền tự do dân chủ để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Các đối tượng đội lốt phản biện xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau như đóng góp ý kiến, bày tỏ quan điểm dưới danh nghĩa khoa học song thực chất biến việc làm này thành những diễn đàn công khai đưa ra các ý kiến trái chiều, cực đoan, đối lập, xuyên tạc, công kích chống đối chính quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trong thời gian gần đây, một số đối tượng (chủ yếu là các phần tử đối lập, chống phá cực đoan, phản động), đã lợi dụng việc Đảng và Nhà nước kêu gọi lấy ý kiến của nhân dân góp ý vào dự thảo các văn kiện, các dự thảo luật để đưa ra quan điểm, ý kiến trái chiều với mục đích không trong sáng.
Chẳng hạn, lợi dụng chủ trương lấy ý kiến góp ý của nhân dân về Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các đối tượng đã lập một số trang mạng xã hội, làm blog, vlog... trên đó đưa những hình ảnh, thông tin tiêu cực, sai sự thật. Với danh nghĩa góp ý vào Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), gợi ý, đề xuất các phương án để giải quyết những vướng mắc về vấn đề đất đai; vấn đề thu hồi, bồi thường đất phục vụ quy hoạch; sử dụng đất công; tranh chấp đất đai..., các đối tượng đã lồng ghép những tư tưởng phản động, xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Các đối tượng cố tình đánh tráo bản chất, làm cho người dân hiểu sai nội dung “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” thành “đất đai là độc quyền sở hữu của Nhà nước”, từ đây gây ra những phản ứng tiêu cực trong xã hội.
Các đối tượng còn bịa đặt, xuyên tạc rằng việc sửa luật nhằm tạo “lợi ích nhóm”, từ đó cố tình kích động hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Nhân việc góp ý Luật An ninh mạng, các phần tử bất mãn, thù địch lợi dụng danh nghĩa đóng góp ý kiến, nói lên tâm tư, nguyện vọng của người dân song mục đích là kích động người dân bằng những luận điệu sai sự thật như: Luật An ninh mạng vi phạm các điều ước quốc tế, làm hạn chế quyền sử dụng mạng của các tổ chức, cá nhân; Luật An ninh mạng là bịt miệng dân...
Tương tự, các đối tượng cố tình xuyên tạc nội dung cho thuê đất 99 năm trong dự thảo Luật Đặc khu là “bán nước”, biến nội dung đang thảo luận thành nội dung đã được Quốc hội và Chính phủ thông qua, từ đó kích động những người dân thiếu thông tin hoặc nhẹ dạ, cả tin biểu tình, bạo loạn, gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Mặt khác, một số đối tượng mượn danh nghĩa phản biện, nêu ý kiến riêng thông qua “thư ngỏ”, “thư kiến nghị” của cá nhân có tên hoặc nặc danh để gửi lên các cấp, ban, ngành, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời đăng tải, lan truyền trên mạng xã hội.
Về hình thức, nội dung các văn bản này thể hiện ra như là những ý kiến rất tâm huyết, những đóng góp mang tính khoa học liên quan đến những chủ trương, chính sách; hay sự phản biện về quan điểm, tư tưởng, góp ý về lối sống, đời tư của một số cán bộ cấp cao nhưng không ít trường hợp các đối tượng lồng ghép trong đó những tư tưởng phản động, nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật.
Một số khác lại đưa những tư tưởng tiêu cực, cái nhìn phiến diện của cá nhân nhưng mang danh nghĩa đại diện cho tập thể. Các đối tượng không ngừng thổi phồng những bất cập, hạn chế trong xã hội, quy chụp đó là do “bản chất của chế độ”, do sự yếu kém trong lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và năng lực của cán bộ...
Đồng thời, một số cá nhân lợi dụng phản biện xã hội, lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do đóng góp ý kiến để nêu quan điểm đòi “đa nguyên đa đảng”, cổ xúy, hình tượng hóa, biến tướng vấn đề về “xã hội dân sự”, yêu cầu Đảng ta phải có cơ chế khuyến khích “xã hội dân sự”...
Với vỏ bọc là góp tiếng nói đòi quyền dân chủ cho nhân dân, một số phần tử xúi giục người dân viết “đơn kiến nghị” đòi thành lập các đảng phái chính trị đối lập, tự do thành lập hội mà không tuân theo quy định pháp luật; đòi đa nguyên, đa đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngoài ra, có một số cá nhân là người từng có vị trí trong xã hội nhưng vì lợi ích của bản thân hay vì mâu thuẫn riêng cho nên bất mãn, dễ dàng bị lôi kéo, kích động… Từ đó họ dùng danh nghĩa “nhà khoa học”, “nhà lý luận”, lợi dụng phản biện xã hội, lấy cớ góp ý kiến với Đảng, Nhà nước để truyền bá quan điểm cực đoan, phản động về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; hay đưa ra những lập luận, nhận thức sai lệch, phiến diện để phủ nhận những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhen lên tư tưởng chống đối trong xã hội, chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chính sách của Nhà nước.
Thực tiễn đã cho thấy, những hiện tượng lợi dụng phản biện xã hội như trên chính là “biến tướng”, “núp bóng” phản biện xã hội, để phục vụ mục đích cá nhân, phục vụ âm mưu “diễn biến hòa bình”. Điều này gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; làm giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ; làm cản trở sự phát triển của đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã chọn.
Với những tác động tiêu cực từ việc lợi dụng phản biện xã hội cùng những biểu hiện đa dạng, phức tạp như hiện nay, vấn đề quan trọng là phải nhận diện chính xác đâu là phản biện xã hội đích thực và đâu là những hoạt động “núp bóng” phản biện xã hội để chống phá. Từ đó, phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ của phản biện xã hội là nhằm xây dựng đất nước, chế độ; đồng thời kiên quyết lên án, đấu tranh chống lại những hiện tượng giả danh phản biện xã hội.
Cần khẳng định, phản biện xã hội khi được thực hiện trên nền tảng tri thức, cơ sở khoa học đúng đắn, khách quan, trung thực, với mục đích tốt đẹp thì sẽ đem lại lợi ích to lớn đối với xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả của các chủ trương, chính sách cũng như khuyến khích thực hành dân chủ trong đời sống.
Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng phản biện xã hội, khuyến khích người dân tích cực tham gia phản biện xã hội trên tinh thần xây dựng, ý thức trách nhiệm, góp phần chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, nguyên nhân, giải pháp để hoàn thiện các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phục vụ thiết thực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng quyền tự do phản biện của các tầng lớp nhân dân. Tại Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội xác định rõ mục đích, tính chất của phản biện xã hội đó là: “Phản biện xã hội nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, Nhà nước; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội”.
Việc lấy ý kiến của nhân dân góp ý vào chủ trương, chính sách là những hoạt động mang tính cầu thị của Đảng, Nhà nước, thể hiện rõ quyền làm chủ của nhân dân nhằm phát huy trí tuệ cộng đồng chứ không phải chỉ mang tính hình thức, “chiếu lệ”, “bịt mắt” nhân dân như các thế lực thù địch cố tình rêu rao. Điều này đã được chứng minh rõ nét trong thực tiễn.
Trong giai đoạn từ năm 2018-2022, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tiến hành 14 hội nghị phản biện xã hội với quy mô đại biểu tham gia tương đối lớn và phản biện có chiều sâu; đã tập trung phản biện vào 42.051 văn bản dự thảo, trong đó có các dự án luật, đề án... liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của công dân, đóng vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội và được nhân dân quan tâm.
Ở địa phương, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố đã chủ trì tổ chức 23.869 hội nghị phản biện, trong đó cấp tỉnh 827 cuộc, cấp huyện 3.488 cuộc; cấp xã 19.554 cuộc...
Song song đó, cũng cần hết sức tỉnh táo phân biệt, nhận diện được việc lợi dụng phản biện xã hội để chống phá và có những biện pháp ngăn chặn kịp thời. Cần phân biệt rõ giữa xây dựng và phá hoại bởi nếu không tỉnh táo nhận diện, có thể sẽ bị dẫn dắt theo định hướng, nhận thức xuyên tạc, dẫn tới những quyết sách sai lầm.
Nếu không có nhận thức đúng, người dân sẽ dễ dàng tin theo, hiểu theo những phản biện sai trái, phản động, hiểu sai về chủ trương, chính sách, về bản chất của chế độ XHCN. Do đó, không chỉ đội ngũ cán bộ, đảng viên mà mọi người dân đều cần nâng cao nhận thức chính trị, cảnh giác, tỉnh táo trước những luận điệu giả danh phản biện xã hội. Đồng thời cần có những chế tài pháp luật để xử lý, nghiêm trị những hành vi lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để xuyên tạc chủ trương, đường lối, xâm phạm lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TIẾN BỘ - MỘT MẤU CHỐT THÀNH CÔNG TRONG ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
Trong bài viết quan trọng nhân dịp kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng (3-2-1930 - 3-2-2024), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ nhiều quan điểm lí luận mang tầm chiến lược về phát triển đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế”. Nghị quyết 42-NQ/TW ngày 24-11-2023 Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới khẳng định: thực hiện tốt chính sách xã hội là “thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm chính sách xã hội”. Những quan điểm trên đây thống nhất với đường lối cách mạng của Đảng ta từ khi ra đời và là một mấu chốt tạo nên thành công của cách mạng Việt Nam thời kỳ đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền (1930-1946).
Từ khi ra đời, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng đã chỉ rõ đường lối đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến: về kinh tế, tịch thu ruộng đất của tư bản Pháp và đại địa chủ để làm của công chia cho dân cày nghèo, bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang phát triển công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ. Hai khẩu hiệu ''Độc lập dân tộc'' và ''Ruộng đất dân cày'' được thể hiện rõ nét nhất trong cao trào cách mạng 1930-1931. Như vậy, ngay từ đầu, đường lối của Đảng đã nhấn mạnh đấu tranh thực hiện một chính sách xã hội tiến bộ, vì quyền lợi của đại đa số người lao động, vì đời sống giai cấp cần lao. Đó chính là một điểm mấu chốt thuyết phục, tập hợp quần chúng theo Đảng, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trong cao trào cách mạng 1936-1939, đường lối của Đảng tiếp tục với khẩu hiệu "Chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình". Đặc biệt, cao trào cách mạng 1939-1945, chủ trương tịch thu ruộng đất của thực dân đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng vẫn tiếp tục được thực hiện.
Ngay trước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng Tháng Tám, ngày 16, 17-8-1945 Quốc dân Đại hội đã họp tại Đình Tân Trào và thông qua Nghị quyết về Mười chính sách của Việt Minh, trong đó có bảy điều liên quan trực tiếp đến thực hiện chính sách xã hội tiến bộ, gồm: 1) Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo. 2) Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ. 3) Ban bố những quyền của dân cho dân: Nhân quyền, tài quyền (quyền sở hữu), dân quyền. 4) Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân. 5) Ban bố luật lao động; ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm. 6) Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở quốc gia ngân hàng. 7) Xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp. Kiến thiết nền văn hoá mới. Những chính sách này nhanh chóng được triển khai thực hiện rộng rãi ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, giành chính quyền trong cả nước. Trước tình hình nạn đói hoành hành dữ dội, làm chết hàng triệu người, Đảng đưa ra khẩu hiệu: “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”, vận động cứu đói dân nghèo để giải quyết khó khăn trước mắt, đồng thời, để xóa nạn đói bền vững, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Chính phủ và nêu 6 việc cấp bách cần phải làm ngay, trong đó có ba việc thuộc chính sách xã hội: 1) Phát động ngay một chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói, mở một cuộc lạc quyên để giúp đỡ người nghèo. 2) Phát động phong trào chống nạn mù chữ. 3) Bỏ ngay 3 thứ thuế: thuế thân, thuế chợ và thuế đò, cấm hút thuốc phiện. Đó là những nhiệm vụ trước mắt, nhưng cũng là những nhiệm vụ chiến lược, được nhân dân tuyệt đối tin tưởng, nhiệt liệt hưởng ứng, thu được kết quả rất to lớn trong chống giặc đói, giặc dốt, góp phần giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ vừa thành lập.
Các mục tiêu giành ruộng đất cho dân cày, tăng lương, giảm giờ làm, xóa mù chữ, thực hiện giáo dục phổ thông bắt buộc là những mục tiêu rất tiến bộ, trở thành động lực cách mạng lớn lao của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, phát huy nhân tài trong kháng chiến kiến quốc.
Giai đoạn ngay sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1946) mặc dù chính quyền cách mạng non trẻ vừa thành lập, gặp muôn vàn khó khăn, nguy hiểm, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, chủ trương, chính sách xã hội vì đời sống nhân dân vẫn được ban hành, thực hiện. Đường lối của Đảng, chính sách của Mặt trận Việt Minh và các chính sách của Chính phủ lâm thời đã đề ra vẫn được thống nhất thực hiện trong các vùng tự do và ngay trong hoàn cảnh kháng chiến. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sĩ, nhất là những chiến sĩ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Các chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sĩ được Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra kịp thời, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sĩ. Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL "Quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ". Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, tạo nên động lực lớn cho tinh thần cống hiến, hy sinh của nhân dân, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp sau này.
Trong mọi giai đoạn lãnh đạo giành và bảo vệ chính quyền, đề ra và thực hiện chính sách xã hội tiến bộ vì đời sống người lao động và nhân dân luôn được Đảng coi trọng. Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Chính sách xã hội phải luôn vì con người là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU XUYÊN TẠC PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”
Thời gian qua, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân đội với nhân dân. Vì vậy, cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết hiện nay.
Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống chuẩn mực, giá trị tư cách đạo đức của người quân nhân cách mạng. Phẩm chất đó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam, thấm đượm tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phản ánh sự tin yêu, quý trọng, thừa nhận, tôn vinh của nhân dân. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có ý nghĩa, vai trò quan trọng góp phần trực tiếp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, bảo đảm quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; là nhân tố quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.
Hiện nay, Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Trong khi đó, các thế lực thù địch cũng dùng mọi thủ đoạn, cách thức thâm độc và xảo quyệt nhằm xuyên tạc, bôi nhọ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, hạ thấp vai trò của quân đội. Chúng lợi dụng hiện tượng một số quân nhân vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quan hệ với nhân dân..., để đưa ra luận điệu “Quân đội đã hư hỏng, thoái hóa, biến chất”, “Quân đội không còn gắn bó máu thịt với nhân dân”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”, “không còn xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ”. Đó thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình” nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.
Với thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch cũng triệt để sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin xấu độc, nhằm tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong các hoạt động thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, dân vận, hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh...
Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã khẳng định: Dù ở điều kiện hoàn cảnh nào, quân đội luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đều son sắt thủy chung với Đảng, với Nhân dân; một lòng một dạ “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”.
Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch hiện nay, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chủ động, tích cực tổ chức tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân về “Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với vạch trần âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động để xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, không vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa khác trên mạng xã hội. Cấp uỷ, tổ chức đảng cần quan tâm và chủ động hơn nữa trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến giáo dục pháp luật cho mọi quân nhân, nhất là việc tổ chức quán triệt các quy định của Đảng, Nhà nước, Quân đội về công tác quản lý, sử dụng mạng internet, mạng xã hội nhằm nâng cao nhận thức và hành động đúng đắn cho mọi quân nhân. Thường xuyên, tăng cường chỉ đạo công tác giáo dục cảnh giác cho quân nhân có nhận thức đúng đắn về âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và phản động lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, thu thập tin tức tình báo, cùng các hành vi vi phạm pháp luật khác; từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh cho mọi quân nhân góp phần làm thất bại âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch.
Đặc biệt, cần tích cực đổi mới phương thức tuyên truyền của các cơ quan báo chí trong quân đội, phát huy lợi thế của mạng internet, tăng cường cung cấp, cập nhật thường xuyên các thông tin, quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước trên các báo điện tử, trang thông tin điện tử, mạng xã hội về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Qua đó, nâng cao nhận thức, ý thức chính trị, nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức và tăng cường hoạt động của lực lượng tham gia đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng internet, nhất là trên mạng xã hội. Các đơn vị tổ chức lực lượng đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng internet, cần thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức cho cán bộ, chiến sĩ tham gia.
Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nội bộ, nắm chắc tình hình quản lý, sử dụng, hoạt động trên internet nói chung cũng như tham gia mạng xã hội của quân nhân trong đơn vị nói riêng; kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin, hình ảnh... có nội dung tiêu cực, phản cảm và các biểu hiện lơ là, mất cảnh giác của quân nhân khi tham gia trên mạng xã hội; hạn chế các tác động tiêu cực của mạng xã hội đối với tư tưởng, nhận thức, hành động của quân nhân, góp phần tạo sự “miễn dịch” cho mọi quân nhân trước các tác động, ảnh hưởng tiêu cực của thông tin trên mạng xã hội, làm trong sạch nội bộ. Qua đó, tạo dựng, lan tỏa hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.
Các cơ quan chuyên môn cần chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản cảm, sai quy định ảnh hưởng tới hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi sai trái của quân nhân khi tham gia mạng xã hội. Khi có vụ việc, tình hình liên quan đến quân nhân vi phạm các quy định trên mạng xã hội, cần kịp thời chỉ đạo cơ quan nghiệp vụ đơn vị chủ động báo cáo, phối hợp với các cơ quan nghiệp vụ cấp trên và cơ quan chức năng có liên quan tiến hành các biện pháp xử lý, không để các thông tin, tài liệu, hình ảnh xấu liên quan đến quân nhân tán phát trên mạng xã hội, internet và để các thế lực thù địch, phản động và đối tượng xấu lợi dụng tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta./.
THÔNG ĐIỆP VỀ CHIẾN THẮNG CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM
Các nhà nghiên cứu văn hóa cũng như giới sử học Pháp chắc hẳn còn nhớ câu nói nổi tiếng của học giả Gustave Dumoutier (1850-1904), một trong những học giả am tường nhất về xứ Đông Dương, một người cộng sự uyên bác của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp với những khảo cứu nổi trội về khảo cổ học, địa lý học lịch sử, dân tộc học và truyền thống dân gian, khi được chứng kiến hội Gióng ở Gia Lâm (Hà Nội) đã phải thốt lên rằng: “Thử hỏi ở châu Âu cổ kính của chúng ta có một dân tộc nào có được một lễ hội như Gióng mà chúng tôi đang được chứng kiến hôm nay?”.
CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, TIẾN LÊN HIỆN ĐẠI
Cách đây tròn 70 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã lập thêm một chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc-Chiến thắng Điện Biên Phủ. Chiến thắng đó bắt nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc ta; từ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và tinh thần, ý chí quyết thắng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vì độc lập, tự do của Tổ quốc...
ĐIỆN BIÊN PHỦ - KỲ TÍCH VẺ VANG
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Năm tháng qua đi nhưng tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của chiến thắng Điện Biên Phủ thì ngày càng tỏa sáng. Nếu chúng ta nêu cao tinh thần yêu nước, có ý chí quyết tâm và tinh thần sáng tạo thì việc khó mấy chúng ta cũng làm được.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đặt dấu chấm hết cho chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta và bán đảo Đông Dương. Nếu không có Điện Biên Phủ thì không thể có Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Thắng lợi của chín năm kháng chiến trường kỳ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần to lớn bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo ra các tiền đề, điều kiện để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục vươn tới giành nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng XHCN miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiện mang tầm vóc thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên toàn cầu. Bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã nêu tấm gương sáng về lòng dũng cảm, tinh thần bất khuất, sức sáng tạo chống ngoại xâm trước toàn thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhưng trước hết đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta và Bác Hồ. Chiến thắng Điện Biên Phủ còn là chiến thắng của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự Việt Nam; là chiến thắng của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là thắng lợi của đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính…”. Cùng với nhân dân cả nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã vượt qua vô vàn gian nan, thử thách, chiến đấu kiên cường, bền bỉ, sáng tạo, góp phần quyết định làm nên chiến thắng...
Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, bài học kinh nghiệm của chiến thắng Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào giai đoạn lịch sử mới chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Với đường lối cách mạng đúng đắn, sự chỉ đạo tài tình của Đảng, quân và dân ta đã làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ mới với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã giành được những thành tựu hết sức quan trọng. Sự phát triển vượt bậc của đất nước đã tạo ra những động lực lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Nhân loại đã bước qua những thập niên đầu của thế kỷ 21. Tuy giành được những thành tựu rất đáng tự hào và phía trước có những thời cơ mới mở ra nhưng Việt Nam cũng đang gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta khơi dậy niềm tự hào dân tộc, kế thừa và phát huy cao độ những bài học quý báu của chiến thắng. Tình hình thế giới và khu vực đang đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, phát triển lý luận bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đẩy mạnh tuyên truyền về đường lối phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân cho toàn dân, chúng ta phải đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại để xứng đáng với vai trò nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân. Quân đội ta phải được giáo dục, huấn luyện chu đáo cả về bản lĩnh chính trị, lòng trung thành, tinh thần cảnh giác cách mạng; cả tư tưởng và tổ chức; cả trình độ kỹ thuật, nghệ thuật quân sự và vũ khí, trang bị - công nghệ quân sự... Có như vậy chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội mới không ngừng được nâng cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN và cuộc sống bình yên của nhân dân.
70 năm nhìn lại chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Sự đổi thay kỳ diệu của đất nước trong hòa bình nhắc nhở chúng ta phải ra sức phấn đấu để xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ cha, anh. Dù phía trước còn nhiều nguy cơ, thách thức nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống Điện Biên Phủ không ngừng được phát huy, công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Điện Biên Phủ mãi mãi xứng đáng với tầm vóc lịch sử của dân tộc Việt Nam./.







